TẬP II
- THIÊN NHÂN DUYÊN
[12] Chương I
Tương Ưng
Nhân Duyên
IV.
Phẩm Kalara - Vị Sát Ðế Lị
I.
Sanh (Tạp 14.3 Tập sanh, Ðại 2,95b) (S.ii.47)
1)
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi.
I
2)
Rồi Thế Tôn gọi Tôn giả Sàriputta:
--
Này Sàriputta, trong kinh Paràyana, đoạn các câu hỏi của Ajita,
có bài:
Thuần
thục pháp hữu vi,
Ở
đây nhiều hữu học,
Trí
tuệ những vị ấy,
Trong
uy nghi của họ,
Hãy
đáp lời ta hỏi,
Nói
lên, này Thân hữu!
Này Sàriputta,
lời nói tóm tắt này, ý nghĩa cần phải được nhận hiểu
một cách rộng rãi như thế nào?
Ðược
nói vậy, Tôn giả Sàriputta giữ im lặng.
3)
Lần thứ hai, Thế Tôn gọi Tôn giả Sàriputta... (như trên)...
Lần thứ hai, Tôn giả Sàriputta giữ im lặng.
4)
Lần thứ ba, Thế Tôn gọi Tôn giả Sàriputta:
--
Này Sàriputta, trong kinh Karàyana, đoạn các câu hỏi của Ajita,
có bài:
Thuần
thục pháp hữu vi,
Ở
đây nhiều hữu học,
Trí
tuệ những vị ấy,
Trong
uy nghi của họ,
Hãy
đáp lời ta hỏi,
Nói
lên, này Thân hữu!
Này Sàriputta,
lời nói tóm tắt này, ý nghĩa cần phải được nhận hiểu
một cách rộng rãi như thế nào?
Lần
thứ ba, Tôn giả Sàriputta giữ im lặng.
II
5)
-- Này Sàriputta, Ông có thấy cái này được sinh thành? Này
Sàriputta, Ông có thấy cái này được sinh thành?
6)
-- Cái này được sinh thành. Bạch Thế Tôn, vị ấy với chánh
trí tuệ thấy như chơn cái này được sinh thành. Sau khi thấy
như chơn với chánh trí tuệ, lại thực hành sự yếm ly, ly
tham, đoạn diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy
thấy với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn.
Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một
loại đồ ăn, vị ấy lại thực hành sự yếm ly, ly tham,
đoạn diệt sự tục sanh do một loại đồ ăn.
Do
sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành
ấy phải bị sự đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với
chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái
được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt. Sau khi thấy như
chơn với chánh tri tuệ, vị ấy thực hành sự yếm ly, ly
tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt.
Như vậy, bạch Thế Tôn là bậc hữu học.
7)
Và bạch Thế Tôn, như thế nào là thuần thục pháp hữu vi?
Bạch Thế Tôn, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ
cái này được sinh thành. "Cái này được sinh thành"; sau khi
thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn
diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy được giải
thoát không có chấp thủ. Vị ấy thấy như chơn với chánh
trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như
chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn,
do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự tục sanh
do một loại đồ ăn, vị ấy được giải thoát, không chấp
thủ.
Do
sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành
ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh
trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được
sinh thành phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với
chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với
sự vật phải bị đoạn diệt, vị ấy được giải thoát,
không có chấp thủ. Như vậy, bạch Thế Tôn, là thuần thục
pháp hữu vi.
8)
Như vậy, bạch Thế Tôn, như đã được nói trong kinh Paràyana,
đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần
thục pháp hữu vi,
Ở
đây nhiều hữu học,
Trí
tuệ những vị ấy,
Trong
uy nghi của họ,
Hãy
đáp lời ta hỏi,
Nói
lên, này Thân hữu!
Bạch
Thế Tôn, lời nói tóm tắt này, con hiểu ý nghĩa một cách
rộng rãi như vậy.
III
9)
-- Lành thay, lành thay! Cái này được sinh thành, này Sàriputta,
vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Cái này được
sinh thành; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, lại thực
hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt, đối với cái được
sinh thành. Vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự
tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh
trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn, lại thực hành
sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự tục sanh do
một loại đồ ăn.
Do
sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành
ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh
trí tuệ. Do sự đoạn diệt với một loại đồ ăn, cái được
sinh thành ấy phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn
với chánh trí tuệ, vị ấy thực hành sự yếm ly, ly tham,
đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt.
Như
vậy, này Sàriputta, là bậc hữu học.
10)
Và này Sàriputta, như thế nào là thuần thục pháp hữu vi?
Này Sàriputta, cái này được sinh thành, vị ấy thấy như
chơn với chánh trí tuệ. Cái này được sinh thành; sau khi
thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn
diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy được giải
thoát, không có chấp thủ.
Vị
ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một
loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự
tục sanh do một loại đồ ăn, đối với sự tục sanh do một
loại đồ ăn, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt, vị ấy
được giải thoát, không chấp thủ.
Do
sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy
phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí
tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh
thành phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với chánh
trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự
vật phải bị đoạn diệt, vị ấy được giải thoát không
có chấp thủ.
Như
vậy, này Sàriputta, là thuần thục pháp hữu vi.
11)
Như vậy, này Sàriputta, như đã được nói trong kinh Paràyana,
đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần
thục pháp hữu vi,
Ở
đây nhiều hữu học,
Trí
tuệ những vị ấy,
Trong
uy nghi của họ,
Hãy
đáp lời ta hỏi,
Nói
lên, này Thân hữu!
Này Sàriputta,
lời nói tóm tắt này cần hiểu ý nghĩa một cách, rộng rãi
như vậy.
II.
Kalàra (S.ii,50)
1)
... Trú ở Sàvatthi.
I
2)
Rồi Tỷ-kheo Kalàra Khattiya (dòng Sát-đế-lỵ) đi đến Tôn
giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta
những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời
chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
3)
Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kalàra Khattiya nói với Tôn giả
Sàriputta:
--
Này Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo Moliyaphagguna đã từ bỏ học
tập và hoàn tục.
--
Vậy vị Tôn giả ấy, không tìm được sự an ủi trong Pháp
và Luật này?
4)
-- Vậy Tôn giả Sàriputta đã đạt được sự an ủi trong
Pháp và Luật này?
--
Này Hiền giả, tôi không có nghi ngờ gì!
5)
-- Này Hiền giả, còn đối với tương lai?
--
Tôi không có băn khoăn, này Hiền giả.
6)
Rồi Tỷ-kheo Kalàra Khattiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến
Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên.
7)
Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kalàra Khattiya bạch Thế Tôn:
--
Con được biết, bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta tuyên bố
được chánh trí như sau: "Sanh đã tận; Phạm hạnh đã thành,
những việc nên làm đã làm; không còn trở lại trạng thái
này nữa".
8)
Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
--
Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, gọi Sàriputta: "Hiền giả
Sàriputta, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả".
9)
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo
ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi
đến, nói với Tôn giả Sàriputta: "Bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền
giả".
10)
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn
giả Sàriputta vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
II
11)
Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi một bên:
--
Này Sàriputta, có đúng sự thật chăng là Ông có tuyên bố
đã chứng được chánh trí: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã
thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng
thái này nữa"?
--
Bạch Thế Tôn, không phải với những câu ấy, với những
chữ ấy, ý nghĩa ấy được con nói đến như vậy.
12)
-- Vậy với pháp môn nào, này Sàriputta, Thiện nam tử nói
đến sự chứng đắc trí, lời tuyên bố cần phải được
xem đúng như lời tuyên bố.
13)
-- Bạch Thế Tôn, chính con đã nói như sau: "Bạch Thế Tôn,
không phải với những câu ấy, với những chữ ấy, ý nghĩa
ấy được con nói đến như vậy".
14)
-- Nếu họ có hỏi Ông, này Sàriputta: "Ông biết như thế
nào, này Sàriputta, Ông thấy như thế nào mà Ông tuyên bố
trí đã được chứng đắc: 'Ta biết sanh đã tận, Phạm hạnh
đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui lại
trạng thái này nữa' ?" Ðược hỏi vậy, này Sàriputta, Ông
trả lời như thế nào?
15)
-- Nếu họ có hỏi con, bạch Thế Tôn: "Hiền giả biết như
thế nào, này Hiền giả Sàriputta, Hiền giả thấy như thế
nào mà tuyên bố trí đã được chứng đắc: 'Ta đã biết,
sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã
làm, không còn trở lại trạng thái này nữa'?" Ðược hỏi
vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như sau:
16)
"Vì rằng này Hiền giả, trong (danh từ) tận diệt, ta hiểu
được là sự tận diệt của nhân, chính do nhân ấy sanh sanh
khởi. Sau khi hiểu được nghĩa tận diệt trong (danh từ) tận
diệt, ta mới biết: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những
gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'
"
Ðược
hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
17)
-- Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: "Này Hiền giả Sàriputta,
sanh lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh,
lấy gì làm hiện hữu?" Ðược hỏi như vậy, này Sàriputta,
Ông trả lời như thế nào?
18)
-- Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: "Này Hiền giả Sàriputta,
sanh lấy gì làm nhân... (như trên)... lấy gì làm hiện hữu?"
Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như sau: "Sanh
lấy hữu làm nhân, lấy hữu tập khởi, lấy hữu tác sanh,
lấy hữu làm hiện hữu". Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn,
con trả lời như vậy.
19)
-- Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: "Này Hiền giả Sàriputta,
hữu lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh,
lấy gì làm hiện hữu?" Ðược hỏi vậy này Sàriputta, Ông
trả lời như thế nào?
20)
-- Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: "Này Hiền giả Sàriputta,
hữu lấy gì làm nhân... lấy gì làm hiện hữu?" Ðược hỏi
vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như sau: "Hữu lấy thủ
làm nhân, lấy thủ tập khởi, lấy thủ tác sanh, lấy thủ
làm hiện hữu". Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả
lời như vậy.
21)
-- Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: "Này Hiền giả Sàriputta,
thủ lấy gì làm nhân... (như trên)..".
22-23)
-- Và này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: "Này Hiền giả Sàriputta,
ái lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh,
lấy gì làm hiện hữu?" Ðược hỏi vậy, này Sàriputta, Ông
trả lời như thế nào?
24)
-- Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: "Này Hiền giả Sàriputta,
ái lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh,
lấy gì hiện hữu?". Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con
sẽ trả lời như sau: "Này Hiền giả, ái lấy thọ làm nhân,
lấy thọ tập khởi, lấy thọ tác sanh, lấy thọ làm hiện
hữu". Ðược hỏi vậy, Bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
25)
-- Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: "Làm sao, này Hiền giả
Sàriputta, Hiền giả biết như thế nào, Hiền giả thấy như
thế nào, cảm thọ diệu lạc ấy không tồn tại?" Ðược
hỏi vậy, này Sàriputta, Ông trả lời như thế nào?
26)
-- Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: "Này Hiền giả Sàriputta,
Hiền giả biết như thế nào, Hiền giả thấy như thế nào,
cảm thọ diệu lạc không tồn tại?" Ðược hỏi vậy, Bạch
Thế Tôn con trả lời như sau:
27)
"Này Hiền giả, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ,
khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ. Này Hiền giả, ba cảm thọ
này vô thường, khi biết được cái gì vô thường là khổ,
thời cảm thọ diệu lạc ấy không tồn tại".
Ðược
hỏi vậy, bạch Thế Tôn con trả lời như vậy.
28)
-- Lành thay, lành thay này Sàriputta! Pháp môn (phương tiện)
này, này Sàriputta, có thể trả lời tóm tắt như sau: Cái
gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ.
29)
-- Này Sàriputta, nếu Ông được hỏi: "Hiền giả được giải
thoát như thế nào, này Hiền giả Sàriputta, mà Hiền giả
tuyên bố trí đã được chứng đắc: 'Ta biết: Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn
trở lui trạng thái này nữa'?" Ðược hỏi vậy, này Sàriputta,
Ông trả lời như thế nào?
30)
-- Bạch Thế Tôn, nếu con được hỏi: "Hiền giả được
giải thoát như thế nào, này Hiền giả Sàriputta, mà Hiền
giả tuyên bố trí đã được chứng đắc: 'Ta biết: Sanh đã
tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không
còn trở lui trạng thái này nữa'?" Ðược hỏi vậy, bạch
Thế Tôn, con trả lời như sau:
31)
"Do tự giải thoát, chư Hiền giả, do đoạn diệt tất cả
chấp thủ, ta sống an trú chánh niệm như vậy. Nhờ sống
an trú chánh niệm như vậy, các lậu hoặc không còn tiếp
tục rỉ chảy, và ta không chấp nhận tự ngã".
Ðược
hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
32)
-- Lành thay, lành thay này Sàriputta! Pháp môn (phương tiện)
này, này Sàriputta, có thể trả lời tóm tắt như sau: Những
cái gì được vị Sa-môn gọi là lậu hoặc, ta không còn nghi
ngờ gì nữa, chúng đã được ta diệt tận. Ta không còn phân
vân gì nữa.
33)
Nói vậy xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh
xá.
III
34)
Rồi Tôn giả Sàriputta, sau khi Thế Tôn đi chẳng lao lâu, liền
bảo các Tỷ-kheo:
35)
-- Này chư Hiền giả, Thế Tôn hỏi ta câu hỏi thứ nhất
mà ta chưa được biết trước, lúc ấy trí ta còn chậm chạp.
Nhưng này chư Hiền giả, khi Thế Tôn tùy hỷ (trả lời câu)
hỏi thứ nhất của ta, ta suy nghĩ như sau:
36)
"Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn ngày với những văn cú
sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời
ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn
ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác.
37)
Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn đêm với những văn cú
sai khác, với những pháp môn (phương tiện) sai khác, thời
ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn
đêm với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương
tiện) sai khác.
38)
Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa trọn đêm và trọn ngày với
những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện)
sai khác, thời ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy
cho đến trọn đêm và trọn ngày với những văn cú sai khác,
với những pháp môn (phương tiện) sai khác.
39)
Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn hai đêm hai ngày, ta
có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn hai đêm hai
ngày.
40)
Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn ba đêm ba ngày, ta có
thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn ba đêm ba ngày.
41)
Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn bốn đêm bốn ngày,
ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy trọn bốn đêm
bốn ngày.
42)
Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn năm đêm năm ngày,
ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn năm đêm
năm ngày.
43)
Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn sáu đêm sáu ngày,
ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn sáu đêm
sáu ngày.
44)
Nếu Thế Tôn hỏi ta ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy ngày
với những văn cú sai khác, với những pháp môn (phương tiện)
sai khác, ta có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa này trọn
bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với những
pháp môn (phương tiện) sai khác".
IV
45)
Rồi Tỷ-kheo Kalàra Khattiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên.
46)
Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kalàra Khattiya bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta đã rống lên tiếng rống
con sư tử như sau: Này chư Hiền giả, Thế Tôn hỏi ta câu
hỏi thứ nhất, mà ta chưa được biết trước, lúc ấy trí
ta còn chậm chạp. Nhưng này chư Hiền giả, khi Thế Tôn tùy
hỷ (trả lời câu) hỏi thứ nhất của ta, ta suy nghĩ như
sau: "Nếu Thế Tôn hỏi ta về ý nghĩa này trọn ngày với
những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, ta
có thể trả lời Thế Tôn về ý nghĩa ấy cho đến trọn
ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác.
Nếu Thế Tôn hỏi ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm...
cho đến trọn đêm và trọn ngày... cho đến trọn ba... trọn
bốn..., cho đến trọn năm... trọn sáu... trọn bảy đêm ngày
với những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác".
47)
-- Này các Tỷ-kheo, pháp giới ấy (Dhammadhàtu) được Sàriputta
khéo thành đạt. Do khéo thành đạt pháp giới ấy, nếu Ta
hỏi Sàriputta về ý nghĩa này trọn ngày với những văn cú
sai khác, với những phương tiện sai khác, thời Sàriputta có
thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn ngày, với
những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác. Nếu
Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm với những
văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác, thời Saụriputta
có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm với
những văn cú sai khác, với những phương tiện sai khác. Nếu
Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn đêm và trọn
ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến
trọn đêm và trọn ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa
này cho đến trọn cả hai đêm và hai ngày, Sàriputta có thể
trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn cả hai đêm hai
ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn
cả ba đêm ba ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa
này cho đến cả ba đêm ba ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về
ý nghĩa này cho đến trọn bốn đêm bốn ngày, Sàriputta có
thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến bốn đêm bốn ngày.
Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này cho đến trọn năm đêm
năm ngày, Sàriputta có thể trả lời Ta về ý nghĩa này cho
đến trọn năm đêm năm ngày. Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý
nghĩa này cho đến trọn sáu đêm sáu ngày, Sàriputta có thể
trả lời Ta về ý nghĩa này cho đến trọn sáu đêm sáu ngày.
Nếu Ta hỏi Sàriputta về ý nghĩa này trọn bảy đêm bảy
ngày với những văn cú sai khác, với những pháp môn sai khác,
Sàriputta có thể trả lời cho Ta về ý nghĩa ấy cho đến
trọn bảy đêm bảy ngày với những văn cú sai khác, với
những pháp môn sai khác.
III.
Những Căn Bản Của Trí (Tạp 14.15 Chủng Trí, Ðại 2,
99c) (S.ii,56)
1)...
Ở Sàvatthi.
2).
.. Này các Tỷ-kheo. Ta sẽ thuyết về bốn mươi bốn căn bản
của trí cho các Ông. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
--
Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.
Các
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3)
Thế Tôn nói như sau:
--
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn mươi bốn căn bản của
trí?
4)
Già chết trí, già chết tập trí, già chết diệt trí, trí
về con đường đưa đến già chết diệt.
5)
Sanh trí, sanh tập trí, sanh diệt trí, trí về con đường đưa
đến sanh diệt.
6)
Hữu trí, hữu tập trí, hữu diệt trí, trí về con đường
đưa đến hữu diệt.
7)
Thủ trí, thủ tập trí, thủ diệt trí, trí về con đường
đưa đến thủ diệt.
8)
Ái trí, ái tập trí, ái diệt trí, trí về con đường đưa
đến ái diệt.
9)
Thọ trí, thọ tập trí, thọ diệt trí, trí về con đường
đưa đến thọ diệt.
10)
Xúc trí...
11)
Sáu xứ trí...
12)
Danh sắc trí...
13)
Thức trí...
14)
Hành trí, hành tập trí, hành diệt trí, trí về con đường
đưa đến hành diệt.
Này
các Tỷ-kheo, đây gọi là bốn mươi bốn căn bản của trí.
15)
Này các Tỷ-kheo, thế nào là già chết? Cái gì thuộc về
chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh
này hay bộ loại chúng sanh khác, bị già yếu, suy nhược,
răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ đồi bại, các căn
chín muồi; đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay
chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ
loại chúng sanh khác, bị một diệt, hủy hoại, tiêu mất,
tử vong, các uẩn tàn lụn, thân thể hoại diệt, vất bỏ;
đây gọi là chết. Như vậy là già, đây là chết. Này các
Tỷ-kheo, đây gọi là già chết.
16)
Do sanh tập khởi nên già chết tập khởi. Do sanh diệt nên
già chết diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến già
chết diệt; tức là chánh tri kiến... chánh định.
17)
Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử biết già chết như vậy,
biết già chết tập khởi như vậy, biết già chết diệt như
vậy, biết con đường đưa đến già chết diệt như vậy.
18)
Ðây là pháp trí của vị ấy. Vị ấy với pháp này được
thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến,
được thể nhập (pariyogathena) hướng dẫn thái độ (nayam)
của mình đối với quá khứ và tương lai.
19)
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã hiểu rõ già
chết, đã hiểu rõ già chết tập khởi, đã hiểu rõ già
chết diệt, đã hiểu rõ con đường đưa đến già chết diệt,
tất cả những vị ấy đều hiểu biết như vậy, như vậy;
như hiện nay Ta vậy.
20)
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ
(abhijanissanti) già chết, sẽ hiểu rõ già chết tập khởi,
sẽ hiểu rõ già chết diệt, sẽ hiểu rõ con đường đưa
đến già chết diệt, tất cả những vị ấy sẽ hiểu biết
như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy. Ðây tức là tùy
trí (anvaye nànam) của vị ấy.
21)
Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử được thanh tịnh
và thuần tịnh hai loại trí, pháp trí và tùy trí; này các
Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là Thánh đệ tử đạt tri kiến,
(dithisampanno) đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, đã
thấy diệu pháp này, đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy
đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh
minh đạt tuệ (nibbedhi kapanno), đã đứng gõ vào cửa bất
tử.
22)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh?...
23)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu?...
24)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ?...
25)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái?...
26)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ?...
27)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc?...
28)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ?...
29)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc?...
30)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức?...
31)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có ba hành này, này
các Tỷ-kheo, thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là hành.
32)
Do vô minh tập khởi, hành tập khởi. Do vô minh tập khởi
diệt, hành diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành, con đường
đưa đến hành diệt; tức là chánh tri kiến... chánh định.
33)
Vì rằng này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử biết hành như
vậy, biết hành tập khởi như vậy, biết hành diệt như vậy,
biết con đường đưa đến hành diệt như vậy. Ðây là pháp
trí của vị ấy, vị ấy với pháp này được thấy, được
biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể
nhập, hướng dẫn thái độ (nayam) của mình đối với quá
khứ, tương lai.
34)
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã hiểu rõ các
hành, đã hiểu rõ hành tập khởi, đã hiểu rõ hành diệt,
đã hiểu rõ con đường đưa đến hành diệt; tất cả những
vị ấy đều hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay
Ta vậy.
35)
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ
các hành, sẽ hiểu rõ hành tập khởi, sẽ hiểu rõ hành diệt,
sẽ hiểu rõ con đường đưa đến hành diệt, tất cả những
vị ấy sẽ hiểu biết như vậy; như vậy, như hiện nay Ta
vậy. Ðây tức là tùy trí của vị ấy.
36)
Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử được thanh tịnh,
thuần tịnh hai loại trí, pháp trí và tùy trí; này các Tỷ-kheo,
vị ấy được gọi là vị Thánh đệ tử đạt tri kiến,
đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, thấy diệu pháp này,
đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã
nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, đã đứng
gõ vào cửa bất tử.
IV.
Những Căn Bản Của Trí (Tạp 14.16 Chủng Trí, Ðại 2,
99c) ( S.ii.59)
1)
... Trú ở Sàvatthi.
2)
-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông bảy mươi bảy
căn bản của trí. Hãy nghe và khéo tư niệm... Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là bảy mươi bảy căn bản của trí?
3)
Trí biết rằng già chết do duyên sanh. Trí biết rằng không
có sanh thời không có già. Trí biết rằng trong quá khứ già
chết cũng do duyên sanh. Trí biết rằng không có sanh thời
không có già chết. Trí biết rằng trong tương lai già chết
cũng do duyên sanh. Trí biết rằng không có sanh thời sẽ không
có già chết. Phàm khi nào có trí về trú pháp, chỗ ấy cũng
có trí tận pháp, hoại pháp, ly tham pháp, diệt pháp.
4)
Trí biết rằng sanh do duyên hữu...
5)
Trí biết rằng hữu do duyên thủ...
6)
Trí biết rằng thủ do duyên ái...
7)
Trí biết rằng ái do duyên thọ...
8)
Trí biết rằng thọ do duyên xúc...
9)
Trí biết rằng xúc do duyên sáu xứ...
10)
Trí biết rằng sáu xứ do duyên danh sắc...
11)
Trí biết rằng danh sắc do duyên thức...
12)
Trí biết rằng thức do duyên hành...
13)
Trí biết rằng hành do duyên vô minh. Trí biết rằng không
có vô minh thời không có hành. Trí biết rằng trong quá khứ
hành cũng do duyên vô minh. Trí biết rằng không có vô minh
thời không có hành. Trí biết rằng trong tương lai hành cũng
sẽ do duyên vô minh. Trí biết rằng không có vô minh thời
sẽ không có hành. Phàm khi nào có trí về trú pháp, thời
cũng có trí về tận pháp, hoại pháp, ly tham pháp, diệt pháp.
14)
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bảy mươi bảy căn bản của
trí.
V.
Do Duyên Vô Minh (Tạp 14.17-8 Vô Minh Tăng, Ðại 2, 100a) (S.ii,60)
1)
... Trú ở Sàvatthi...
2)
-- Này các Tỷ-kheo, do duyên vô minh có hành; do duyên hành có
thức... như vậy là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
3)
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là già chết? Và già chết này
là của ai?
Thế
Tôn đáp:
--
Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: "Thế
nào là già chết, và già chết này là của ai?", hay này Tỷ-kheo,
Ông có thể nói: "Già chết là khác và người già và chết
là khác", hai câu hỏi này nghĩa là một, chỉ có văn sai khác.
Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: "Sinh mạng và thân thể
là một", chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ
nào có (tà) kiến: "Sinh mạng và thân thể là khác", chỗ ấy
không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan
này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo (và nói): "Do duyên
sanh nên có già chết".
4)
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là sanh và sanh này là của ai?
Thế
Tôn đáp:
--
Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: "Thế
nào là sanh, và sanh này là của ai?", hay này Tỷ-kheo, Ông có
thể nói: "Sanh là khác và người sanh là khác", hai câu hỏi
này có nghĩa là một, chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ
nào có (tà) kiến: "Sinh mạng và thân thể là một", chỗ ấy
không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến:
"Sinh mạng và thân thể là khác", chỗ ấy không có Phạm hạnh
trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết
pháp theo trung đạo (và nói): "Do duyên hữu nên có sanh".
5)
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là hữu và hữu này của ai?
Thế
Tôn nói:
--
Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể hỏi: "Thế
nào là hữu và hữu này của ai?", hay Ông có thể nói: "Hữu
khác và người có hữu này khác", hai câu hỏi này là một,
chỉ có văn sai khác. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến:
"Sinh mạng và thân thể là một", chỗ ấy không có Phạm hạnh
trú. Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: "Sinh mạng và thân
thể là khác", chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo,
từ bỏ hai cực đoan này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo
(và nói): "Do duyên thủ nên có hữu".
6)
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là thủ và thủ này của ai?...
(như trên)... Do duyên ái nên có thủ.
7)...
Do duyên thọ nên có ái...
8)...
Do duyên xúc nên có thọ...
9)...
Do duyên sáu xứ nên có xúc...
10)...
Do duyên danh sắc nên có sáu xứ...
11)...
Do duyên thức nên có danh sắc...
12)...
Do duyên hành nên có thức...
13)
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là các hành, và các hành này là
của ai?
Thế
Tôn đáp:
--
Câu hỏi không thích hợp. Này Tỷ-kheo, Ông có thể nói: "Thế
nào là các hành và các hành này là của ai?", hay này Tỷ-kheo,
Ông có thể nói: "Các hành là khác và người có các hành
này là khác", hai câu hỏi này là một, chỉ có văn sai khác.
Này Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: "Sinh mạng và thân thể
là một", chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, chỗ
nào có (tà) kiến: "Sinh mạng và thân thể là khác", chỗ ấy
không có Phạm hạnh trú. Này Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan
này, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo và nói: "Do duyên vô
minh nên có các hành". Này Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt
vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận (hý luận), dị
thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào (sẽ
được đoạn tận...).
14)
Như câu hỏi: "Thế nào là già chết và già chết này là của
ai?". Hay "Già chết là khác và người có già chết là khác?"
hay "Sinh mạng và thân thể này là một", hay "Sinh mạng và
thân thể là khác", tất cả đều được đoạn tận, cắt
đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không
thể hiện hữu, khiến cho tương lai không thể sanh khởi. Này
Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn,
các tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất
cứ loại nào (sẽ được đoạn tận...).
15)
Như câu hỏi: "Thế nào là sanh và sanh này là của ai?". Hay
"Sanh là khác và người có sanh là khác", hay "Sinh mạng và
thân thể là một", hay "Sinh mạng và thân thể là khác", tất
cả đều được đoạn tận, cắt đứt từ gốc rễ làm cho
như thân cây ta-la, làm cho không thể hiện hữu, khiến trong
tương lai không thể sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, do sự ly tham,
đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị
thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào (sẽ
được đoạn tận...).
16)
Thế nào là hữu...
17)
Thế nào là thủ...
18)
Thế nào là ái...
19)
Thế nào là thọ...
20)
Thế nào là xúc...
21)
Thế nào là sáu xứ...
22)
Thế nào là danh sắc...
23)
Thế nào là thức... Này các Tỷ-kheo, do sự ly tham, đoạn
diệt vô minh một cách hoàn toàn, các tạp luận, dị thuyết,
xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ loại nào (sẽ được
đoạn tận...).
24)
Như câu hỏi: "Thế nào là các hành và các hành này là của
ai?". Hay "Các hành là khác và người có các hành này là khác",
hay "Sinh mạng và thân thể là một", hay "Sinh mạng và thân
thể là khác"; tất cả đều được đoạn tận cắt đứt
từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể
hiện hữu, khiến cho trong tương lai không thể sanh khởi.
VI.
Do Duyên Vô Minh (S.ii,63)
1)
... Trú ở Sàvatthi.
2)
... Này các Tỷ-kheo, do duyên vô minh nên có các hành. Do duyên
hành nên có thức... như vậy là sự tập khởi của toàn bộ
khổ uẩn này.
3)
Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nói: "Thế nào là già chết
và già chết này của ai?" Hay này các Tỷ-kheo, các Ông có
thể nói: "Già chết là khác và người có già chết là khác"
hai câu này đồng một nghĩa, chỉ có văn sai khác. Này các
Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: "Sinh mạng và thân thể là
một", chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo,
chỗ nào có (tà) kiến: "Sinh mạng là khác, thân thể là khác",
chỗ ấy không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, từ bỏ
hai cực đoan ấy Như Lai thuyết pháp theo trung đạo, nói rằng:
"Do duyên sanh có già chết.."..
4)
Thế nào là sanh?...
5)
Thế nào là hữu?...
6)
Thế nào là thủ?...
7)
Thế nào là ái?...
8)
Thế nào là thọ?...
9)
Thế nào là xúc?...
10)
Thế nào là sáu xứ?...
11)
Thế nào là danh sắc?...
12)
Thế nào là thức?...
13)
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nói: "Thế nào là các
hành và các hành này là của ai?" Hay này các Tỷ-kheo, các
Ông có thể nói: "Các hành và người có các hành này khác",
hai câu hỏi ấy đồng nghĩa, chỉ có văn sai khác. Này các
Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: "Sinh mạng và thân thể là
một", chỗ ấy, này các Tỷ-kheo, không có Phạm hạnh trú.
Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: "Sinh mạng và thân
thể là khác", chỗ ấy, này các Tỷ-kheo, không có Phạm hạnh
trú. Này các Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết
pháp theo trung đạo nói rằng: "Do duyên vô minh, có các hành".
14)
Do sự đoạn diệt, ly tham vô minh một cách hoàn toàn, các
tạp luận, dị thuyết, xuyên tạc liên hệ ấy hay bất cứ
loại nào...
15)
Thế nào là sanh?...
16)
Thế nào là hữu?...
17)
Thế nào là thủ?...
18)
Thế nào là ái?...
19)
Thế nào là thọ?...
20)
Thế nào là xúc?...
21)
Thế nào là sáu xứ?...
22)
Thế nào là danh sắc?...
23)
Thế nào là thức?...
24)
"Thế nào là hành và những hành này là của ai?" Hay "Các hành
là khác và có ai có những hành này là khác", hay "Sinh mạng
và thân thể là một", hay "Sinh mạng và thân thể là khác";
tất cả những loại liên hệ này được đoạn tận, cắt
đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không
thể hiện hữu, khiến cho trong tương lai không thể sanh khởi.
VII.
Không Phải Của Ông (Tạp 12.13, Phi Nhữ Sở Hữu, Ðại
2, 84a) (S.ii,64)
1)
... Trú ở Sàvatthi.
2)
-- Này các Tỷ-kheo, thân thể này không phải của các Ông,
không phải của người khác.
3)
Thân này, này các Tỷ-kheo, phải được xem là do hành động,
do sắp đặt, do sự cố ý, do sự cảm thọ trong quá khứ.
4)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đa văn khéo léo
chân chánh suy nghiệm định lý duyên khởi như sau:
5)
"Cái này có mặt cái kia có mặt. Do cái này sanh khởi, cái
kia sanh khởi. Cái này không có mặt, cái kia không có mặt.
Do cái này diệt, cái kia diệt. "Tức là do duyên vô minh có
các hành. Do duyên hành có thức... như vậy là sự tập khởi
của toàn bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô
minh một cách hoàn toàn, các hành diệt. Do các hành diệt nên
thức diệt... như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ
uẩn này.
VIII.
Cetanà: Tư Tâm Sở (Tạp 14.19, Tư Lường. Ðại 2,100a) (S.ii,65)
1)
... Trú ở Sàvatthi.
2)
... Này các Tỷ-kheo, cái chúng ta tư niệm, tư lường, có thầm
ý, cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Khi nào sở
duyên có mặt thời thức có an trú. Do thức ấy an trú, tăng
trưởng, nên trong tương lai, tái hữu sanh khởi. Do sanh khởi
tái hữu có mặt trong tương lai, nên già chết, sầu, bi, khổ,
ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ
khổ uẩn này.
3)
Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, không có tư lường
nhưng nếu có thầm ý, (canuseti), cái ấy trở thành sở duyên
cho thức an trú. Khi nào sở duyên có mặt thời thức có an
trú. Do thức ấy an trú, tăng trưởng, nên trong tương lai,
tái hữu sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu có mặt trong tương
lai, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy
là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
4)
Này các Tỷ-kheo, nếu chúng ta không có tư niệm, không có
tư lường, không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức
an trú. Khi nào sở duyên không có mặt thời thức không an
trú. Do thức ấy không an trú và không tăng trưởng, nên trong
tương lai tái hữu không sanh khởi. Do sanh khởi tái hữu không
có mặt trong tương lai, nên sanh, già chết, sầu, bi, ưu, não
được đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn
bộ khổ uẩn này.
IX.
Tư Tâm Sở (Tạp 14.20 Tư Lường, Ðại 2, 100b) (S.ii,66)
1)
... Trú ở Sàvatthi.
2)
-- Này các Tỷ-kheo, cái gì chúng ta tư niệm, chúng ta tư lường,
chúng ta có thầm ý, cái ấy trở thành (sở duyên) cho thức
an trú. Do sở duyên có mặt nên thức có an trú. Do thức ấy
an trú và tăng trưởng nên có sự hạ sanh danh sắc.
3)
Do duyên danh sắc nên có sáu xứ. Do duyên sáu xứ nên có xúc.
Do duyên xúc nên có thọ... ái... thủ... hữu... sanh, già chết,
sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi
của toàn bộ khổ uẩn này.
4)
Này các Tỷ-kheo, nếu chúng ta không tư niệm, không tư lường
nhưng có thầm ý, thời cái ấy trở thành sở duyên cho thức
an trú. Do sở duyên có mặt nên thức có an trú. Do thức ấy
an trú và tăng trưởng nên có sự hạ sanh danh sắc.
5)
Do duyên danh sắc nên có sáu xứ... như vậy là sự tập khởi
của toàn bộ khổ uẩn này.
6)
Này các Tỷ-kheo, nếu chúng ta không tư niệm, không tư lường,
không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú.
Do sở duyên không có mặt nên thức không an trú. Do thức ấy
không an trú và không tăng trưởng nên danh sắc không hạ sanh.
Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt... như vậy là sự đoạn
diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
X.
Tư Tâm Sở (Tạp 14.21 Tư Lường, Ðại 2, 100b) (S.ii,66)
1)
... Trú ở Sàvatthi.
2)
... Này các Tỷ-kheo, cái gì chúng ta tư niệm, cái gì chúng
ta tư lường, cái gì chúng ta có thầm ý, cái ấy trở thành
sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên có mặt nên thức an
trú.
3)
Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có thiên về, hướng
về (hệ trước: nati). Do có thiên về, hướng về nên có
sự đi đến tái sanh. Do có sự đi đến tái sanh nên có từ
bỏ và sanh khởi. Do có từ bỏ và sanh khởi nên trong tương
lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh khởi. Như vậy
là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
4)
Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, không có tư lường,
nhưng chỉ có thầm ý, thời cái ấy là sở duyên cho thức
an trú. Do sự có mặt của sở duyên nên thức an trú.
5)
Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có thiên về, hướng
về. Do có thiên về, hướng về nên có sự đi đến tái sanh.
Do có sự đi đến tái sanh nên có từ bỏ và sanh khởi. Do
có từ bỏ và sanh khởi, nên trong tương lai sanh, già chết,
sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi
của toàn bộ khổ uẩn này.
6)
Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, tư lường, không
có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú. Do sở
duyên không có mặt nên thức không có an trú.
7)
Do thức ấy không an trú, không tăng trưởng nên không có thiên
về, hướng về. Do không có thiên về, hướng về nên không
có đi đến tái sanh. Do không có sự đi đến tái sanh nên
không có từ bỏ và sanh khởi. Do không có từ bỏ và sanh
khởi nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu,
não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ
khổ uẩn này.
V.
Phẩm Gia Chủ - Thứ Năm
I.
Năm Hận Thù Sợ Hãi (S.ii,68)
1)
Trú ở Sàvatthi...
2)
Rồi Gia chủ Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc) đi đến Thế Tôn;
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Thế
Tôn nói với Gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên
:
3)
-- Khi nào, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử nhiếp phục được
năm sợ hãi, hận thù, khi nào được đầy đủ bốn dự lưu
chi, khi nào Thánh lý (nàya) nhờ trí tuệ được khéo thấy,
được khéo thâm nhập, khi ấy, vị ấy nếu muốn có thể
tự mình tuyên bố cho mình: "Ta là người đoạn diệt được
địa ngục, đoạn diệt được bàng sanh, đoạn diệt được
ngạ quỷ, đoạn diệt được cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Ta là bậc Dự lưu, ta không còn bị đọa lạc, ta đã được
quyết định, Chánh Ðẳng Giác là mục tiêu tối hậu (của
ta)".
4)
Thế nào là năm sợ hãi, hận thù được nhiếp phục?
5)
Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người sát sinh, vì duyên
sát sinh đưa đến trong hiện tại; sợ hãi, hận thù đưa
đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy
cảm thọ. Ðối với vị đoạn tuyệt sát sanh, như vậy sợ
hãi, hận thù được nhiếp phục.
6)
Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người lấy của không cho,
vì duyên lấy của không cho đưa đến trong hiện tại; sợ
hãi, hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ,
tâm ưu người ấy cảm thọ. Ðối với vị đoạn tuyệt lấy
của không cho, như vậy sợ hãi, hận thù được nhiếp phục.
7)
Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người sống tà hạnh trong
các dục, vì duyên sống tà hạnh trong các dục đưa đến
trong hiện tại; sợ hãi, hận thù đưa đến trong tương lai,
kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Ðối với
vị đoạn tuyệt sống tà hạnh trong các dục vọng, như vậy
sợ hãi, hận thù được nhiếp phục.
8)
Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người nói láo, và duyên
nói láo đưa đến trong hiện tại; sợ hãi, hận thù đưa
đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy
cảm thọ. Ðối với vị đoạn tuyệt nói láo, như vậy sợ
hãi, hận thù được nhiếp phục.
9)
Này Gia chủ, sợ hãi, hận thù do người đắm say rượu men,
rượu nấu, và duyên đắm say rượu men, rượu nấu đưa đến
trong hiện tại; sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai,
kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Ðối với
vị đoạn tuyệt đắm say rượu men rượu nấu, như vậy sợ
hãi hận thù được nhiếp phục.
Năm
sự sợ hãi oán thù này được nhiếp phục.
II
10)
-- Thế nào là bốn Dự lưu chi được đầy đủ?
11)
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử đầy đủ lòng tin
bất động, đối với đức Phật: "Ðây là vị Ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Tuệ, Thế Gian Giải,
Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Tượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật,
Thế Tôn".
12)
Vị ấy đầy đủ lòng tin bất động đối với Pháp: "Ðây
là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có
quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng,
do người trí tự mình giác hiểu".
13)
Vị ấy đầy đủ lòng tin bất động đối với chúng Tăng:
"Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh, chúng Tăng
đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh, chúng Tăng đệ tử
Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn
là bậc Như pháp hạnh; tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng
Tăng đệ tử của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng
được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp
tay, là phước điền vô thượng ở trên đời".
14)
Vị ấy đầy đủ các giới đức, được bậc Thánh quý mến,
không bị bể vụn, không bị hủy hoại, không có tỳ vết,
không có vết nhơ, đưa đến tự do, được người trí tán
thán, không bị nhiễm trước, đưa đến Thiền định, bốn
Dự lưu chi này được đầy đủ.
15)
Thế nào là Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được
khéo thâm nhập?
16)
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử khéo chánh tư duy
định lý Duyên khởi như sau: "Do cái này có mặt, cái kia có
mặt. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái
này sanh, cái kia sanh. Do cái này diệt, cái kia diệt".
17)
Tức là do duyên vô minh có hành. Do duyên hành có thức... (như
trên)... Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn
này. Do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên
hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt... (như trên)... Như
vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Ðây
là Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm
nhập.
18)
Này Gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử nhiếp phục được
năm sợ hãi hận thù này, khi nào đầy đủ bốn Dự lưu chi
này, khi nào Thánh lý này nhờ trí tuệ được khéo thấy,
được khéo thâm nhập, khi ấy vị ấy nếu muốn, có thể
tự mình tuyên bố cho mình: "Ta là người đoạn diệt được
địa ngục, đoạn diệt được bàng sanh, đoạn diệt được
ngạ quỷ, đoạn diệt được cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Ta là bậc Dự lưu, ta không còn bị đọa lạc, ta đã được
quyết định; Chánh Ðẳng Giác là mục tiêu tối hậu của
ta".
II.
Năm Sợ Hãi Hận Thù (S.ii,70)
1)
... Trú ở Sàvatthi.
2)
Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn... (như trên)...
Thế Tôn nói như sau:
3)
-- Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Thánh đệ tử nhiếp phục
được năm sợ hãi hận thù, đầy đủ bốn Dự lưu chi, và
khi nào Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo
thâm nhập, khi ấy vị ấy nếu muốn, có thể tự mình tuyên
bố cho mình: "Ta là người đoạn diệt được địa ngục...
(như trên)... Chánh Ðẳng Giác là mục tiêu tối hậu của
ta".
Thế
nào là năm sợ hãi hận thù được nhiếp phục?
Này
các Tỷ-kheo, sợ hãi hận thù do người sát sanh... này các
Tỷ-kheo, sự sợ hãi, hận thù do người lấy của không cho...
Này
các Tỷ-kheo, sự sợ hãi, hận thù do người sống tà hạnh
trong các dục...
Này
các Tỷ-kheo, sự sợ hãi, hận thù do người nói láo...
Này
các Tỷ-kheo, sự sợ hãi, hận thù do người đắm say rượu
men, rượu nấu.
Năm
sự sợ hãi hận thù này được nhiếp phục.
4)
Thế nào là bốn Dự lưu chi được đầy đủ?
Ở
đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đối với Phật...
đối với Pháp... đối với chúng Tăng... Ðầy đủ các giới
đức được bậc Thánh quý mến...
Bốn
Dự lưu chi này được đầy đủ.
5)
Thế nào là Thánh lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được
khéo thâm nhập?
Ở
đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử khéo chánh tư duy
định lý Duyên khởi như sau:... Ðây là Thánh lý nhờ trí
tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập.
6)
Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Thánh đệ tử nhiếp phục được
năm sợ hãi hận thù, được đầy đủ bốn Dưu lưu chi, Thánh
lý nhờ trí tuệ được khéo thấy, được khéo thâm nhập,
vị ấy nếu muốn có thể tự mình tuyên bố cho mình: "Ta
là người đoạn diệt được địa ngục, đoạn điệt được
bàng sanh, đoạn diệt được ngạ quỷ, đoạn diệt được
cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, ta không còn
bị đọa lạc, ta đã được quyết định, Chánh Ðẳng Giác
là mục tiêu tối hậu của ta".
III.
Khổ. (S.ii,71)
1)
... Trú Tại Sàvatthi.
2)
-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng sự tập khởi và sự đoạn
diệt của khổ. Hãy nghe...
I
3)
-- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ tập khởi?
4)
Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái
tụ hội nên xúc khởi. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ
nên có ái. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ tập khởi.
5)
Do duyên tai và các tiếng...
6)
Do duyên mũi và các hương...
7)
Do duyên lưỡi và các vị...
8)
Do duyên thân và các xúc...
9)
Do duyên ý và các pháp, ý thức khởi lên. Do ba cái tụ hội,
nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có
ái. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ tập khởi.
II
10)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt?
11)
Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái
tụ hội, nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ
nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn
nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên
sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não
đều đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ
khổ uẩn này. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ đoạn diệt.
12)
Do duyên lỗ tai và các tiếng, nên nhĩ thức sanh khởi...
13)
Do duyên mũi và các hương, nên tỷ thức sanh khởi...
14)
Do duyên lưỡi và các vị nên thiệt thức sanh khởi...
15)
Do duyên thân và các xúc nên thân xúc sanh khởi...
16)
Do duyên ý và các pháp nên ý thức sanh khởi. Do ba cái tụ
họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên
có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn
nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên
sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não
đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ
uẩn này.
17)
Này các Tỷ-kheo, đây là khổ đoạn diệt.
IV.
Thế Giới (S.ii,73)
1)
... Trú ở Sàvatthi.
2)
... Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về sự tập khởi và sự
đoạn diệt của thế giới. Hãy nghe...
I
3)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thế giới tập khởi?
4)
Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái
tụ họp, nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ
nên có ái. Do duyên ái nên có thủ. Do duyên thủ nên có hữu.
Do duyên hữu nên có sanh. Do duyên sanh, nên có già chết, sầu,
bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Ðây là thế giới tập khởi.
5)
Do duyên lỗ tai và các tiếng...
6)
Do duyên lỗ mũi và các hương...
7)
Do duyên lưỡi và các vị...
8)
Do duyên thân và các xúc...
9)
Do duyên ý với các pháp, ý thức khởi lên. Do ba cái tụ họp
nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ... Do duyên sanh nên già
chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh khởi. Này các Tỷ-kheo,
đây là sự tập khởi của thế giới.
10)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thế giới đoạn diệt?
11)
Do duyên con mắt và các sắc, nhãn thức khởi lên. Do ba cái
tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ
nên có ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn
toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt... Ðây là
sự đoạn diệt toàn bộ khổ uẩn này. Ðây là thế giới
đoạn diệt.
12)
Do duyên lỗ tai và các tiếng...
13)
Do duyên lỗ mũi và các hương...
14)
Do duyên lưỡi và các vị...
15)
Do duyên thân và các xúc...
16)
Do duyên ý và các pháp, ý thức sanh khởi. Do ba cái tụ họp
nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có
ái. Do sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên
thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt... Ðây là sự đoạn
diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
17)
Này các Tỷ-kheo, đây là thế giới đoạn diệt.
V.
Nàtika (S.ii,84)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Nàtika, trong căn nhà gạch.
2)
Rồi Thế Tôn trong khi độc cư Thiền tọa tuyên thuyết pháp
môn này:
3)
-- Do duyên con mắt và các sắc nên nhãn thức sanh khởi. Do
ba cái tụ họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên
thọ nên có ái. Do duyên ái nên có thủ... Như vậy là sự
tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
4)
Do duyên lỗ tai và các tiếng...
5)
Do duyên lỗ mũi và các hương...
6)
Do duyên lưỡi và các vị...
7)
Do duyên thân và các xúc...
8)
Do duyên ý và các pháp nên ý thức khởi lên. Do ba cái tụ
họp nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duy