TẬP III
- THIÊN UẨN
[28] Chương VII
Tương Ưng
Sàriputta
I.
Lý (S.iii,235)
1)
Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại
Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2)
Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát,
đi vào Sàvatthi để khất thực.
3-4)
Ði khất thực xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất
thực về, Tôn giả đi đến Andhavana để nghỉ trưa. Sau khi
đi vào rừng Andha, Tôn giả đến ngồi nghỉ trưa dưới một
gốc cây.
5)
Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư
đứng dậy, đi đến Jetavana, vườn ông Anàthapindika.
6)
Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Sàariputta từ xa đi đến; sau
khi thấy, liền nói với Tôn giả Sàriputta:
--
Hiền giả Sàriputta, các căn của Hiền giả lắng dịu, sắc
mặt được thanh tịnh, trong sáng. Hôm nay, Hiền giả an trú
với sự an trú nào?
7)
-- Ở đây, này Hiền giả, ly dục, ly pháp bất thiện, tôi
chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ
lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Này Hiền giả, tôi không
khởi lên ý nghĩ: "Tôi đang chứng nhập Thiền thứ nhất",
hay "Tôi đã chứng nhập Thiền thứ nhất", hay "Tôi đã ra
khỏi Thiền thứ nhất".
8)
-- Như vậy chắc chắn Hiền giả trong một thời gian dài,
đã khéo nhổ tận gốc các tùy miên ngã kiến, ngã sở kiến,
ngã mạn. Do vậy, Tôn giả Sàriputta không khởi lên ý nghĩ:
"Tôi đang chứng nhập Thiền thứ nhất", hay "Tôi đã chứng
nhập Thiền thứ nhất", hay "Tôi đã ra khỏi Thiền thứ nhất".
II.
Không Tầm
1-5)
Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi...
6)
Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Sàriputta từ xa đi đến; sau
khi thấy, liền nói với Tôn giả Sàriputta:
--
Hiền giả Sàriputta, các căn của Hiền giả lắng dịu, sắc
mặt được thanh tịnh, trong sáng. Hôm nay Hiền giả an trú
với sự an trú nào?
7)
-- Ở đây, này Hiền giả, làm cho lắng dịu tầm và tứ,
tôi đã chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái
hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt
tâm. Tôi không có khởi lên ý nghĩ: "Tôi đang chứng nhập
Thiền thứ hai", hay "Tôi đã chứng nhập Thiền thứ hai", hay
"Tôi đã ra khỏi Thiền thứ hai".
8)
-- Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian dài,
đã khéo nhổ tận gốc các tùy miên ngã kiến, ngã sở kiến,
ngã mạn. Do vậy, Tôn giả Sàriputta không khởi lên ý nghĩ:
"Tôi đang chứng nhập Thiền thứ hai", hay "Tôi đã chứng nhập
Thiền thứ hai", hay "Tôi đã ra khỏi Thiền thứ hai".
III.
Hỷ
1-5)
Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Savatthi...
6)
Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Sàriputta từ xa đi đến; sau
khi thấy, liền nói với Tôn giả Sàriputta:
--
Hiền giả Sàriputta, các căn của Hiền giả lắng dịu, sắc
mặt được thanh tịnh, trong sáng. Hôm nay Hiền giả an trú
với sự an trú nào?
7-8)
-- Ở đây, này Hiền giả, ly hỷ và trú xả, chánh niệm tỉnh
giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là: "Xả niệm
lạc trú", tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Này Hiền
giả, tôi không khởi lên ý nghĩ: "Tôi đang chứng nhập Thiền
thứ ba", hay "Tôi đã chứng nhập Thiền thứ ba", hay "Tôi đã
ra khỏi Thiền thứ ba".
--
Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian... hay "Tôi
đã ra khỏi Thiền thứ ba".
IV.
Xả
1-5)
Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi...
6)
Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Sàriputta từ xa đi đến... với
sự an trú nào?
7)
-- Ở đây, này Hiền giả, xả lạc và xả khổ, diệt hỷ
ưu đã cảm thọ từ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền
thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Hiền
giả, tôi không khởi lên ý nghĩ: "Tôi đang chứng nhập Thiền
thứ tư", hay "Tôi đã chứng nhập Thiền thứ tư", hay "Tôi
đã ra khỏi Thiền thứ tư".
8)
-- Như vậy, chắc chắn Hiền giả... hay "Tôi đã ra khỏi Thiền
thứ tư".
V.
Không Vô Biên Xứ
1-6)
Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi...
...
Tôn giả Ananda thấy... với sự an trú nào?
7-8)
-- Ở đây, này Hiền giả, vượt lên hoàn toàn sắc tưởng,
đoạn diệt hữu đối tưởng, không tác ý các dị tưởng,
với ý nghĩ: "Hư không là vô biên", tôi chứng đạt và an
trú Không vô biên xứ. Này Hiền giả, tôi không khởi lên
ý nghĩ... hay "Tôi đã ra khỏi Không vô biên xứ".
--
Như vậy, chắc chắn Hiền giả... "Tôi đã ra khỏi Không vô
biên xứ".
VI.
Thức Vô Biên Xứ
1-6)
Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi...
...
Tôn giả Ananda thấy... với sự an trú nào?
7-8)
-- Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Không vô biên
xứ, với ý nghĩ: "Thức là vô biên", tôi chứng đạt và an
trú Thức vô biên xứ... hay "... đã ra khỏi Thức vô biên
xứ".
VII.
Vô Sở Hữu Xứ
1-6)
Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi.
...
Tôn giả Ananda thấy... với sự an trú nào?
7-8)
-- Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Thức vô biên
xứ, với ý nghĩ: "Không có vật gì", tôi chứng đạt và an
trú Vô sở hữu xứ... hay "... đã ra khỏi Vô sở hữu xứ".
VIII.
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ
1-6)
Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi.
...
Tôn giả Ananda thấy... với sự an trú nào?
7-8)
-- Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Vô sở hữu
xứ, tôi chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ...
hay "... đã ra khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ".
IX.
Diệt Tận Ðịnh (Tạp 18, Ðại 2, 131) (S.iii,238)
1-6)
Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi...
...
Tôn giả Ananda thấy... với sự an trú nào?
7-8)
-- Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Phi tưởng phi
phi tưởng xứ, tôi chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng
định. Nhưng này Hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ: "Tôi
đang chứng nhập Diệt thọ tưởng định", hay " Tôi đã chứng
nhập Diệt thọ tưởng định", hay "Tôi đã ra khỏi Diệt
thọ tưởng định".
--
Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian dài đã
khéo nhổ tận gốc các tùy miên ngã kiến, ngã sở kiến,
ngã mạn. Do vậy Tôn giả Sàriputta không khởi lên ý nghĩ:
"Tôi đang chứng nhập Diệt thọ tưởng định", hay "Tôi đã
chứng nhập Diệt thọ tưởng định", hay "Tôi đã ra khỏi
Diệt thọ tưởng định".
X.
Sùcimukhi (Tịnh Diện) (S.iii,238)
1)
Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana
(Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2)
Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi sáng. đắp y, cầm y bát,
đi vào Ràjagaha để khất thực. Sau khi đi khất thực từng
nhà một ở Ràjagaha (Vương Xá), Tôn giả ngồi dựa vào một
bức tường, dùng đồ ăn khất thực.
3)
Rồi một nữ du sĩ ngoại đạo Sùcimukhi đi đến Tôn giả
Sàriputta; sau khi đến, nói với Tôn giả Sàriputta:
4)
-- Này Sa-môn, có phải Ông ăn, cúi mặt xuống?
--
Này Chị, tôi ăn, không cúi mặt xuống.
5)
-- Vậy Sa-môn, Ông ăn, ngưỡng mặt lên?
--
Này Chị, tôi ăn, không ngưỡng mặt lên.
6)
-- Vậy Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương chính?
--
Này Chị, tôi ăn, không có hướng mặt về bốn phương chính.
7)
-- Vậy Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương phụ?
--
Này Chị, tôi ăn, không có hướng mặt về bốn phương phụ.
8)
-- Ðược hỏi: "Này Sa-môn, có phải Ông ăn, cúi mặt xuống?"
Ông trả lời: "Này Chị, tôi ăn, không cúi mặt xuống". Ðược
hỏi: "Vậy này Sa-môn, Ông ăn, ngưỡng mặt lên?" Ông đáp:
"Này Chị, tôi ăn, không ngưỡng mặt lên". Ðược hỏi: "Vậy
này Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về bốn phương chính?" Ông
đáp: "Này Chị, tôi ăn, không hướng mặt về bốn phương
chính". Ðược hỏi: "Vậy Sa-môn, Ông ăn, hướng mặt về
bốn phương phụ?" Ông đáp: "Này Chị, tôi ăn, không hướng
mặt về bốn phương phụ". Vậy này Sa-môn, Ông ăn, hành động
như thế nào?
9)
-- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng
những tà mạng như địa lý (nakkhattavijjà) và súc sanh minh
(nghề hèn hạ); này Chị, các vị ấy được gọi là các
Sa-môn, Bà-la-môn ăn cúi mặt xuống.
10)
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những
tà mạng như thiên văn (nakkhattavijjà) và súc sanh minh (nghề
hèn hạ); này Chị, các vị ấy được gọi là các Sa-môn,
Bà-la-môn ăn ngưỡng mặt lên.
11)
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những
tà mạng như đưa tin tức, làm trung gian môi giới; này Chị,
các vị ấy được gọi các Sa-môn, Bà-la-môn ăn hướng mặt
về bốn phương chính.
12)
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này Chị, nuôi sống bằng những
tà mạng như bói toán, và các nghề hèn hạ; này Chị, các
vị ấy được gọi những Sa-môn, Bà-la-môn ăn hướng mặt
về bốn phương phụ.
13)
Còn ta, này Chị, ta không nuôi sống bằng những tà mạng như
địa lý và các nghề hèn hạ; ta không nuôi sống bằng những
tà mạng như thiên văn và các nghề hèn hạ; ta không nuôi
sống bằng những tà mạng như đưa tin tức, làm trung gian
môi giới; ta cũng không nuôi sống bằng những tà mạng như
bói toán và các nghề hèn hạ. Ta tìm cầu món ăn một cách
hợp pháp. Sau khi tìm món ăn một cách hợp pháp, ta dùng các
món ăn ấy.
14)
Rồi nữ tu sĩ ngoại đạo Sùcimukhi đi từ đường này qua
đường khác, từ ngã tư này qua ngã tư khác ở thành Vương
Xá, và tuyên bố: "Sa-môn Thích tử dùng các món ăn một cách
hợp pháp. Sa-môn Thích tử dùng các món ăn một cách không
có lỗi lầm. Hãy cúng dường các món ăn cho Sa-môn Thích tử".
