C
Call
Me By My True Names (sách) Tuyển tập thơ bằng tiếng Anh của
Thầy Làng Mai do nhà Parallax ấn hành năm 1992 tại Hoa Kỳ.
Được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước
trên thế giới.
Cam
Lộ (điện đường, lễ lược, nhạc kinh) 1.
Tên một thiền đường thuộc Xóm Hạ. 2. Tên một đại giới
đàn được tổ chức tại Làng Mai trong khóa An Cư Kiết Đông
1992-1993. 3. Một nhạc kinh, lời của Thầy Làng Mai, nhạc sĩ
Anh Việt phổ nhạc. Tào Khê một dòng biếc. Chảy mãi về
phương đông. Quan Âm bình nước tịnh. Tẩy sạch dấu phong
trần. Cành dương rưới cam lộ. Làm sống dậy mùa xuân. Đề
hồ trong cổ họng. Làm lắng dịu muôn lòng. Nam Mô Bồ Tát
Cam Lộ Vị.
Các
khóa giảng căn bản của Làng Mai (khóa giảng) Đây là
những khóa giảng mà một vị giáo thọ được đào tạo tại
Làng Mai phải học qua và phải biết áp dụng vào sự thực
tập. Những khóa giảng này được các vị giáo thọ sử dụng
để hướng dẫn các học tăng trong chương trình bốn năm
của Viện Cao Đẳng Phật Học. Tất cả đều sẽ được
đưa lên mạng Làng Mai để các vị giáo thọ ngoài Làng Mai
có thể tải xuống để học hỏi, thực tập và sử dụng.
1.
Ba mươi bài tụng duy thức (an cư kết Đông 1988-1989). 2. Tạng
Kinh Nam Truyền (an cư kết Đông 1989-1990).
3.
Tạng Kinh Bắc Truyền, lịch sử tư tưởng Phật Giáo Đại
Thừa (an cư kết Đông 1990-1991 và 1991-1992). Từ khóa này đã
có những sách sau đây được phiên tả và ấn hành: Bộ Tát
Tại Gia, Bộ Tát Xuất Gia (Kinh Duy Ma Cật), Sen Nở Trời Phương
Ngoại (Kinh Pháp Hoa), Kim Cương Gươm Báu Chặt Đứt Phiền
Não (Kinh Kim Cương), tất cả đều do Lá Bối xuất bản.
4.
Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu (an cư kiết Đông 1992-1993, khóa
mùa xuân 1993).
5.
Trái Tim Của Bụt (Phật Pháp Căn Bản, an cư kết Đông 1993-1994),
khóa giảng này đã được phiên tả và xuất bản thành sách
Trái Tim Của Bụt (do nhà Lá Bối ấn hành).
6.
Tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc (Kinh Samidhi, khóa mùa Thu
1994). Nội dung khóa này đã được làm thành sách nhan đề
là Hạnh Phúc, Mộng và Thực (do nhà Lá Bối ấn hành) .
7.
Truyền thống sinh động của thiền tập (an cư kết Đông
1994-1995, 1995-1996, và 1996-1997). Khóa giảng này đã được
làm thành sách nhưng chưa xuất bản, sẽ được đưa lên mạng.
8.
Công Phu Nở Đóa Sen Ngàn Cánh (an cư kết Đông 1997-1998, khóa
mùa Xuân 1998, an cư kết Đông 1998-1999, khóa mùa Xuân 1999).
Khóa này giảng về tất cả sách kinh trong Nhật Tụng Thiền
Môn 2000, tương đương với sách Nhị Khóa Hợp Giải trong
truyền thống.
9.
Nhiếp Đại Thừa Luận (an cư kết Đông 2000-2001), nền tảng
của Duy Biểu Học.
10.
Trung Quán Luận, con đường vượt thoát Lưỡng Biên (an cư
kết Đông 2001-2002-2002-2003).
11.
Lâm Tế Lục (an cư kết Đông 2003-2004 và 2004-2005).
12.
Giới và Luật, lịch sử và hành trì (an cư kết Đông 2004-2005).
13.
Dị Bộ Tông Luân Luận (lịch sử và tông chỉ các bộ phái
Phật giáo, an cư kết Đông 2005-2006).
14.
Các Định đề giáo lý Làng Mai (khóa mùa Xuân 2006, khóa mùa
thu 2006 và an cư kết Đông 2006-2007).
Các
khóa tu hai mươi mốt ngày (khóa tu) Cứ hai năm một
lần, từ ngày 01 đến ngày 21 tháng 06, tại Làng Mai lại có
một khóa tu 21 ngày dành cho những vị giáo thọ xuất gia và
tại gia và những thiền sinh đã có nhiều kinh nghiệm tu học.
Năng lượng của các khóa tu này thường rất hùng hậu, những
bài giảng dạy và công phu tu tập được có dịp đi rất
sâu, hơn hẳn những khóa tu bảy ngày. (Không phải hùng hậu
bằng ba mà bằng bảy lần). Khóa đầu tiên có chủ đề là
Kinh Niệm Xứ và Tâm lý Học Phật Giáo – Tìm Lại Tự Do
(The Satipatthana Sutta and Buddhist Psychology – Reclaiming our True
Freedom), được tổ chức năm 1990; khóa thứ hai có chủ đề
Thiền Quán Chiếu Trong Truyền Thống Đại Thừa (Vipassana in
the Mahayana tradition), được tổ chức năm 1992. Các bài giảng
của khóa này đã được phiên ấn thành sách và được nhà
Parallax xuất bản dưới nhan đề Cultivating the Mind of Love (nuôi
dưỡng Tâm Bồ Đề); khóa thứ ba có chủ đề Trái Tim Của
Bụt (The Heart of the Buddha’s Teaching), được tổ chức năm
1996, đi sâu vào Phật Pháp căn bản. Những bài giảng của
khóa này đã được phiên ấn thành sách và được nhà Parallax
ấn hành dưới nhan đề The Heart of the Buddha’s teaching
( Trái Tim Của Bụt); khóa thứ tư (được tổ chức tại trường
đại học St. Michael’s College ở tiểu bang Vermont, Hoa Kỳ)
có chủ đề Con đường Giải Thoát (The Path of Emancipation),
đi sâu vào sự nghiên cứu Kinh An Ban Thủ Ý tụng bản Pali.
Những bài giảng của khóa tu này cũng đã được nhà xuất
bản Parallax in lại thành sách dưới nhan đề The Path of Emancipation.
khóa tu thứ năm có chủ đề Đôi Mắt Của Bụt (The Eyes of
the Buddha), được tổ chức năm 2000 tại Làng Mai; khóa tu thứ
sáu có chủ đề Bàn Tay Của Bụt (The Hand of the Buddha), được
tổ chức năm 2002; khóa tu thứ bảy có chủ đề là Đôi Chân
Của Bụt (The Feet of The Buddha), được tổ chức năm 2004; và
khóa tu thứ tám có chủ đề là Hơi Thở Của Bụt (The
Breath of The Buddha), được tổ chức năm 2006, đi sâu vào nghiên
cứu Kinh An Ban Thủ Ý trong các tụng bản chữ Hán. Tất cả
những khóa giảng này đều có thể tải xuống từ mạng Làng
Mai
Cánh
Đại Bàng (điện đường) Tên một thiền đường mới
được xây dựng năm 2006 tại tu viện Bát Nhã, tại Bảo Lộc,
Việt Nam. Thiền đường này có khả năng chứa được hai
ngàn người.
Cát
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên
đầy đủ là Chân Cát Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1978,
xuất gia năm 2001 tại Làng Mai, thuộc gia đình xuất gia Cây
Trà Mi.
Cảnh
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên
đầy đủ là Chân Cảnh Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1981,
xuất gia năm 2006 tại Việt Nam, thuộc gia đình xuất gia Cây
Hồng Giòn.
Câu
chuyện dòng sông (thuật ngữ) Hình ảnh được Thầy
Làng Mai thường sử dụng để giúp thiền sinh thấy được
cái mình đi tìm đã có sẵn trong tự thân mình. Đây là giáo
lý vô đắc. Tuổi trẻ được ví như một dòng suối, chảy
ào ạt, mau về tới biển. Đến khi thành dòng sông, nước
chảy chậm lại, và dòng sông chảy êm ả hơn. Dòng sông phản
chiếu các đám mây đủ sắc, và bắt đầu chạy theo các
đám mây. Đám mây tan biến thì dòng sông sầu khổ. Đến
khi nhận ra sự thật là đám mây và nước cùng một bản
thể thì dòng sông không còn rong ruổi nữa, và đạt tới
trạng thái Hiện Pháp Lạc Trú.
Câu
linh chú thứ năm (thuật ngữ) Đây là một lời trào phúng.
Một vị hành giả cư sĩ có một bà vợ hơi khó tính, sau
khi học hỏi về bốn câu linh chú (xem bốn câu linh chú) đã
nói: “tôi cần có câu linh chú thứ năm mới có thể được
yên nhà, yên cửa”. Đó là mỗi khi bà vợ nói gì thì anh
ta nói: Vâng, em nói đúng (yes, madam). Xem bốn câu linh chú.
Cần
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai,
tên đầy đủ là Chân Cần Nghiêm. Người Việt Nam, quốc
tịch Úc, sinh năm 1950, xuất gia năm 2002 tại Làng Mai, thuộc
gia đình xuất gia Cây Thốt Nốt.
Cẩm
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên
đầy đủ là Chân Cẩm Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1989,
xuất gia năm 2006 tại Việt Nam, thuộc gia đình xuất gia Cây
Hồng Giòn.
Cẩn
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên
đầy đủ là Chân Cẩn Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1985,
xuất gia năm 2006 tại Việt Nam, thuộc gia đình xuất gia Cây
Hồng Giòn.
Cẩn
Trọng (bài hát) Một bài hát do Thầy Làng Mai và bé
Trần Đông Phương viết lời và phổ nhạc. Qua ngõ vắng.
Lá rụng đầy. Tôi theo con đường nhỏ. Đất hồng như môi
son bé thơ. Bỗng nhiên tôi cẩn trọng. Từng bước chân đi.
Cậu
Đồng (sách) Một phóng tác kịch của Thầy Làng Mai từ
vở hài kịch Le Tartuffe của Molière, do nhà Sen Vàng xuất bản
năm 1958. Kịch này đã được Gia Đình Phật Tử Cầu Đất
trình diễn mùa Xuân năm 1959.
Cắm
rễ trong tăng thân (thuật ngữ) Tu học trong một đoàn
thể mà chấp nhận được đoàn thể ấy là gia đình tâm
linh của mình, thấy được mọi người trong tăng thân là
anh chị em của mình, không bao giờ có ý muốn rời tăng thân,
tin tưởng vào tăng thân, có hạnh phúc khi sống với tăng
thân.
Chánh
niệm (thuật ngữ, phép tu) Năng lượng giúp ta có mặt
thật sự trong giây phút hiện tại và nhận diện được những
gì đang xảy ra tại đây trong giây phút ấy. Năng lượng này
nếu được duy trì sẽ làm phát sinh ra năng lượng chuyên
chú, tập trung của tâm ý vào một đối tượng được lựa
chọn, gọi là chánh định. Năng lượng chánh định nếu đủ
hùng hậu sẽ giúp ta khám phá được thực chất của đối
tượng kia, gọi là tuệ. Niệm, định và tuệ là ba năng lượng
được chế tác trong khi tu tập. Chánh niệm được chế tác
không những trong thời gian thực tập thiền ngồi, thiền đi,
mà còn được chế tác trong bất cứ sinh hoạt nào của đời
sống hàng ngày như tưới rau, rửa bát, giặt áo, nấu cơm,
lái xe, lau nhà, ăn cơm, uống nước, làm việc, trong cả bốn
tư thế đi, đứng, nằm và ngồi. Có năng lượng chánh niệm
ta thật sự có mặt trong mỗi giây phút của đời sống hàng
ngày và sống được sâu sắc những giây phút ấy. Chánh niệm
giúp ta tiếp xúc được với những gì mầu nhiệm trong ta
và chung quanh ta, những gì có khả năng nuôi dưỡng, trị liệu
và chuyển hóa. Chánh niệm cũng giúp ta nhận diện và ôm ấp
những niềm đau trong ta, để ta có thể làm vơi nhẹ chúng,
và cùng với chánh định, giúp ta nhìn sâu vào thực chất
của niềm đau để thấy được gốc nguồn của nó và do
đó chuyển hóa được niềm đau. Chánh niệm là trái tim của
thiền tập. Chữ Phạn là Smrti, chữ Pali là Sati, dịch sang
tiếng Pháp là la pleine conscience, tiếng Anh là mindfulness, tiếng
Đức là achksamkeit. Kinh căn bản dạy về chánh niệm là kinh
Niệm Xứ, Satipatthana sutta.
Chân
An Hành (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Sue Bridge.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền
đăng như sau: An nhiên trên nẻo thiền Hành. Mây hồng mời
gọi trời xanh đón chào. Đêm nay mở hội ngàn sao. Trăng đi
theo nước cùng vào đại dương.
Chân
An Nguyên (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Marjolijn
Van Leeuwen. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với
bài kệ truyền đăng như sau: An vui tìm lại uyên Nguyên. Trăng
treo lối cũ về miền thảnh thơi. Ngựa ăn cỏ tuyết trên
đồi. Mài gươm bên suối, tiếng cười âm vang.
Chân
An Niệm (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên khai sinh
là Ernestine Enomoto. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002
với bài kệ truyền đăng như sau: Bước chân thuần nhất
trong An Niệm. Đầu ngõ tan sương nguyệt sáng lòa. Túc trái
tiền oan rơi rụng hết. Một vùng mây nước đẹp bao la.
Chân
An Quang (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Rochelle Griffin.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền
đăng như sau: An trú nơi hiện pháp. Quang minh chiếu đại thiên.
Lắng nghe đời than thở. Từ ái tỏa chân thiền.
Chân
An Thừa (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Jan Boswijk.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền
đăng như sau: Bước đi từng bước chân An lạc. Thượng Thừa
mở lối tới đài sen. Khúc hát mùa xuân vang bất tuyệt. Hào
quang đại địa chiếu tam thiên.
Chân
Bản Nguyên (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Peggy
Rowe. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ
truyền đăng như sau: Bản môn nở giữa lòng sen thắm. Nguyên
vẹn trăng thề trải mấy thu. Tuyết chở sương che tường
giới định. Hoa đào năm ngoái thắm như xưa.
Chân
Bảo (người) Một vị giáo thọ cư sĩ tên Reed Caitriona.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân tăng ở khắp chốn. Bảo sát tại trong
lòng. Nụ cười vừa nhẹ chớm. Thanh thoát khoảng trời trong.
Chân
Bảo Châu (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Patricia
Hunt-Perry. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài
kệ truyền đăng như sau: Bảo kiếm trao tay một sáng thu. Châu
về hợp phố thỏa nguyền xưa. Rừng tía bụi hồng nay đã
một. Giang đầu liễu gọi có oanh thưa.
Chân
Bảo Địa (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Shalom.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền
đăng như sau: Hạt giống gieo trồng nơi Bảo Địa. Đây rồi
cơ hội thấm mưa Xuân. Ngày đêm an trú trong địa xúc. Khắp
miền hoa nở sáng chân tâm.
Chân
Bảo Thể (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Ilona Schmied.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền
đăng như sau: Lên chơi ngọn bảo sơn. Tìm ra nguồn chân Thể.
Hai tay ôm mây hồng. Hát ca mừng nhân thế.
Chân
Bảo Tích (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, pháp danh Tâm
Cao Phong, tên Thân Trọng Nguyên. Được Thầy Làng Mai truyền
đăng năm 2002 với bài kệ truyền đăng như sau: Mỗi bước
đưa về kho Bảo Tích. Nương hơi thở nhẹ tới Lam điền.
Sáng nay nghe tiếng hoàng oanh gọi. Thông rung trống kệ, hải
triều lên.
Chân
Bi Nghiêm (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Johnson
Wendy. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 với bài kệ
truyền đăng như sau: Chân tính luôn từ ái. Bi Nghiêm hạnh
nguyện đầu. Chốn kỳ viên chăm sóc. Xanh tốt vạn đời
sau.
Chân
Bồ Đề (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn
Văn Minh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài
kệ truyền đăng như sau: Chân tâm gốc rễ vẫn tài bồi.
Bóng mát bồ đề rợp khắp nơi. Then cửa nhiệm màu tay nắm
giữ. Nhìn trong hiện pháp thấy tương lai.
Chân
Cảm Ứng (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Karl Riedl.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân tu tạo chân lực. Cảm Ứng xuất vạn năng.
Trí bi tráp lưỡng dực. Bằng trình siêu vạn tầm.
Chân
Cơ (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Trịnh Đình
Tấn. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ
truyền đăng như sau: Chân ý ngàn đời vẫn sáng trong. Cơ
duyên đốn ngộ ở ngay lòng. Một thấy trời cao lồng lộng
sáng. Tha hồ mây bạc cứ thong dong.
Chân
Diệu Từ (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Helga Riedl.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân niệm thường an trú. Diệu Từ là nguồn
vui. Hạt xuân gieo bất tận. Hoa nở độ muôn người.
Chân
Đắc (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Kotler Arnold.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân tông không Bắc cũng không Nam. Đắc pháp
truyền tâm thánh chuyển phàm. Thông điệp từ bi về vạn
nẻo. Nối liền Tịnh độ với nhân gian.
Chân
Đại Âm (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Larry Ward.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền
đăng như sau: Đại cổ vừa rung tiếng sấm ran. Âm thanh chấn
động ánh trăng vàng. Bốn phương chiếu dụng tâm thuần nhất.
Tiếng cầm tiếng sắt vẫn hiên ngang.
Chân
Đại Đồng (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Manfred
Folkers. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài
kệ truyền đăng như sau: Đại địa trình kiến giải. Đồng
tâm mạch sống dâng. Bảo tháp Như Lai hiện. Năm sắc chói
tường vân.
Chân
Đại Kiều (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Lisi
Hà Vĩnh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài
kệ truyền đăng như sau: Đại nghĩa xưa nay vững một lòng.
Vượt muôn Kiều lộ bước thong dong. Hành vân lưu thủy chân
thường tại. Hát khúc vô sinh mỗi sáng hồng.
Chân
Đại Tập (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Murray
Corke. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ
truyền đăng như sau: Đại hành vừa chuyển pháp luân. Năm
châu vân tập xa gần ngợi khen. Thiền ca một khúc tấu lên.
Địa cầu chấn động, chư thiên chúc mừng.
Chân
Đại Tuệ (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Hà Vĩnh
Thọ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ
truyền đăng như sau: Chí lớn nam nhi hướng đại đồng. Tài
bồi Tuệ nghiệp rạng tông phong. Lòng đất hạt thương lên
tiếng gọi. Rực rỡ hoa đào đón gió đông.
Chân
Đại Ứng (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Jerry
Brazza. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài
kệ truyền đăng như sau: Đại bi suối ấy đã lên đường.
Ứng hiện muôn ngày ức hóa thân. Dạt dào thấm nhuận cơn
mưa pháp. Đất lành gieo mãi hạt yêu thương.
Chân
Đăng (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Kiera Eileen.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân tính nào đâu có bớt thêm. Đăng tâm nối
sáng lửa chân truyền. Biển Đông một sáng bừng trang sử.
Mặt trời trí tuệ chiếu tam thiên.
Chân
Đạo (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Jean-Pierre
Maradan. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài
kệ truyền đăng như sau: Chân tướng vốn là vô tướng. Đạo
mầu trăng dạo thái không. Chim hót vọng từ đỉnh núi. Thông
reo pháp diễn diệu âm.
Chân
Đạo Hành (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, pháp danh
Tâm Vô Tướng, tên Hoàng Khôi. Được Thầy Làng Mai truyền
đăng năm 2002 với bài kệ truyền đăng như sau: Đạo xưa
tìm thấy nẻo vô Hành. Thanh khí tương tầm dặm liễu xanh.
Hoa đào suối cũ còn nguyên đó. Ngửng đầu bắt gặp ánh
trăng thanh.
Chân
Đạo Trị (người) Một vị giáo thọ xuất gia nam, tên
George Giroud. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1996 với
bài kệ truyền đăng như sau: Đạo tâm khơi mở nguồn an lạc.
Trị thế không ngoài hiểu với thương. Tiếp nối đèn tâm
truyền pháp lạc. Soi chiếu ngày mai lối tỏ tường.
Chân
Đạt (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Hữu
Chí. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ
truyền đăng như sau: Chân tính luôn có mặt. Đạt ngộ trong
tầm tay. Ngồi yên vững như núi. Ngoài kia trăng sáng đầy.
Chân
Định Trú (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Joseph Emet.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền
đăng như sau: Về đây ổn Định tâm ta. Về đây an Trú một
nhà tăng thân. Đếm chi số cát sông Hằng. Triều âm đã động,
chim bằng tung mây.
Chân
Đức (người) Xem Đức Nghiêm.
Chân
Đức Âm (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Lê Phương
Chi. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ
truyền đăng như sau: Hãy lắng lòng nghe khúc Đức Âm. Hải
triều xô vỡ khối trần tâm. Bụi hồng khép lại sau khung
cửa. Rừng tía đây rồi hiện pháp thân. Xem thêm Song Nghiêm.
Chân
Đức Nhãn (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Chung
Minh Fei. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài
kệ truyền đăng như sau: Đức hậu đương xuân phương thảo
thịnh. Nhãn minh vô xứ bất tri huyền. Dạ quang nguyệt sắc
vô nhân tảo. Nhất kiến đào hoa sự lý thuyên.
Chân
Đức Từ (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Brendan
Sillifant. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài
kệ truyền đăng như sau: Non cao lập Đức càng cao. Biển sâu
Từ ái không đào cũng sâu. Phút giây hiện tại nhiệm màu.
Uổng công tìm kiếm nơi đâu nhọc lòng?
Chân
Giác Hoa (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Jane Coates
Worth. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ
truyền đăng như sau: Giác Hoa nở khắp mọi miền. Thênh thang
gió đẩy hương thiền xa bay. Tăng thân tụ hội đông đầy.
Phật tâm nam bắc xưa nay vẫn đồng.
Chân
Giác Thọ (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Bettina
Romhardt. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài
kệ truyền đăng như sau: Giác Thọ dâng hoa trái. Gốc rễ
càng vững bền. Dòng thiêng còn tiếp nối. Khí hùng lực vô
biên.
Chân
Giải Thoát (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Schaibly
Robert. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 với bài
kệ truyền đăng như sau: Chân đạo từ tâm tỏ. Giải Thoát
cảnh hiện tiền. Sóng sinh tử vừa lặn. Trăng sáng rọi ngoài
hiên.
Chân
Giới Hương (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Annabelle
Zinser. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài
kệ truyền đăng như sau: Thiền duyệt tâm thành đốt Giới
Hương. Lửa hồng bếp cũ ấm hơi sương. Hồng chung ngân rã
trần gian mộng. Muôn hướng về chung một nẻo đường.
Chân
Hành Trì (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Travis Masch.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền
đăng như sau: Vững tin nơi pháp Hành Trì. Nước non đá tạc
vàng ghi có ngày. Hỏi thăm những nước cùng mây. Lời lời
châu ngọc giải bày thế gian.
Chân
Hảo (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Đào
Như Tuyền. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với
bài kệ truyền đăng như sau: Chân và tục hai đế. Hảo tướng
thường viên dung. Từng bước trên đất thật. Pháp giới
sáng vô cùng.
Chân
Hiện Quán (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn
Trung Quân. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với
bài kệ truyền đăng như sau: Tào khê xuất hiện một dòng
trong. Thiền quán vang rền tiếng Phạm Âm. Truyền đạt pháp
tài cho hậu thế. Quê hương nếp mới vẫn thơm nồng.
Chân
Hiện Quán (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn
Trung Quân. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với
bài kệ truyền đăng như sau: Phút giây Hiện tại vừa tham
Quán. Trăng thu đã dọi sáng bên thềm. Bài hát bản môn tuôn
bất tuyệt. Vườn xưa đào lý nở trang nghiêm.
Chân
Hòa (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Eveline Beumkes.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân tăng là vùng nương náu. Hòa bình tỏa rạng
mai sau. Đại bàng xòe hai cánh rộng. Bóng che mát quả địa
cầu.
Chân
Học (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Martin Pitt.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân pháp duy thân chứng. Học đạo cần nhất
tâm. Rừng thiền muôn chim hót. Hoa nở hiện chân nhân.
Chân
Hộ Tăng (người) Một vị giáo thọ cư sĩ tên Pritam Signh.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền
đăng như sau: Nguyền xưa bảo Hộ Tăng thân. Trời xưa đã
sáng hương trầm nhẹ bay. Biển xưa chẳng có vơi đầy. Vườn
xưa xanh tốt hạt cây nảy mầm.
Chân
Hội (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Tấn
Hồng. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài
kệ truyền đăng như sau: Chân lý trao truyền qua ngõ tâm. Hội
giải siêu nhiên vượt dị đồng. Hạt giống bồ đề gieo
rải khắp. Ngại gì hai nẻo sắc và không.
Chân
Huy (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Trần Minh Dũng.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân tâm một biểu lộ. Pháp giới sẽ quang
Huy. Tuệ nhật chiếu thật địa. Thong dong từng bước đi.
Chân
Huyền (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Hà Dương
Đỗ Quyên. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với
bài kệ truyền đăng như sau: Chân pháp vang rền tiếng diệu
âm. Huyền cơ soi thấu khối sơ tâm. Một buông pháp giới
bừng hương sắc. Linh Thứu tuy xa cũng thật gần.
Chân
Hương Sơn (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Ann Johnston.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền
đăng như sau: Vầng trăng trên biển bạc. Đã về ngự Hương
Sơn. Sóng không sinh chẳng diệt. Mưa biển lại về nguồn.
Chân
Hướng (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Lawler John
Joseph. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 với bài
kệ truyền đăng như sau: Chân nhân thường đối diện. Một
Hướng nẻo đại đồng. Nắm tay nhau cùng bước. Khúc hát
trời rạng đông.
Chân
Hữu (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Gia
Nam. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ
truyền đăng như sau: Chân Hữu là đây một cánh tay. Tình
sông nghĩa biển lượng đong đầy. Dậu thu vừa nảy dò sương
ấy. Thiền trà hương ngát chén hồng mai.
Chân
Khai (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Laurie Lawlor.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân tình tô thắm nước cùng mây. Khai bút trời
xuân hương thắm bay. Tuổi ngọc thấm nhuần ơn giáo dưỡng.
Pháp thân tỏa chiếu nước non này.
Chân
Không (người) Xem Không Nghiêm.
Chân
Kính (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên David Dimack.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân như trúc tím hoa vàng. Thủy chung một niệm
muôn vàn Kính thương. Sao mai vừa hiện tỏ tường. Ý đầu
tâm hợp muôn phương thái hòa.
Chân
Lạc (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Thi Joanne Friday.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền
đăng như sau: Hương quốc đi về an lạc. Thi ân chẳng bận
lòng ai. Huệ lan một nhà sực nức. Từ bi tiếp xử muôn loài.
Chân
Lương (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, pháp danh Tâm
Chất, tên Nguyễn Bạch Mai. Được Thầy Làng Mai truyền đăng
năm 1994 với bài kệ truyền đăng như sau: Chân pháp một lần
khám phá. Lương y sẵn có trong nhà. Đạt tới mùa xuân chuyển
hóa. Công phu chỉ tại lòng ta.
Chân
Lượng (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Fred Eppsteiner.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân quán luyện thành ngọc báu. Lượng từ
che chở cho nhau. Cánh cửa vô sinh đã hé. Nhất tâm thành tựu
đạo màu.
Chân
Minh Đăng (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn
Hữu Xương. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với
bài kệ truyền đăng như sau: Minh châu vạt áo đẹp tinh khôi.
Đăng hòa mười năm đã sáng trời. Cơ nghiệp tổ tiên cùng
dựng lại. Vườn xưa đào lý vẫn xinh tươi.
Chân
Minh Đức (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Trần
Kim Quế. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài
kệ truyền đăng như sau: Minh thấy vô minh chúm chím cười.
Đức nhà phân phát đủ muôn nơi. Huệ lan sực nức vườn
xuân mới. Bước chân đem tới một trời vui.
Chân
Minh Trí (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Hồ Văn
Quyền. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài
kệ truyền đăng như sau: Đông sơn vừa lộ ánh quang minh.
Trí đã bừng câu tráng sĩ hành. Khánh bạc chuông vàng phương
tiện cũ. Đường mây cao vút cánh chim xanh.
Chân
Minh Tuệ (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn
Viên. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ
truyền đăng như sau: Quang Minh vầng nhật chiếu trời sương.
Trí tuệ bừng lên tỏ ngọn nguồn. Diệu khúc muôn đời nên
cử xướng. Đường về quê cũ rạng yêu thương.
Chân
Môn (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Svein Myreng.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân nghĩa hùng lực lớn. Môn lưu ngàn thuở
truyền. Thân và tâm nhất quán. Diệu pháp thường có duyên.
Chân
Mỹ (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Thị
Tuyết Mai. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với
bài kệ truyền đăng như sau: Chân như cười nhẹ khung trời
nắng. Mỹ diệu trăng lồng một biển thu. Mây trắng đường
xưa luôn biểu hiện. Lối về quê cũ đẹp như thơ.
Chân
Ngộ (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Duy
Vinh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ
truyền đăng như sau: Chân nhân trước mặt cười không nói.
Ngộ đạo ngồi nhìn mây trắng bay. Trúc tím hoa vàng bày diệu
hữu. Trăng trong mây bạc vẫn còn đây.
Chân
Nguyện (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Công Huyền
Tôn Nữ Huyền Châu. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm
1994 với bài kệ truyền đăng như sau: Chân giải ý thâm diệu.
Nguyện phát túc siêu phương. Cước lập bản môn địa. Ưng
liễu thế vô thường. Xem thêm Quy Nghiêm.
Chân
Nguyên (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Cynthia Jurs.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân giác không ngoài cõi diệu tâm. Nguyên lưu
vằng vặc ánh trăng rằm. Lắng nghe được tiếng hoa đào
nở. Sẽ thấy trần gian Bụt giáng lâm.
Chân
Nguyệt Quang (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Claudia
Weiland. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài
kệ truyền đăng như sau: Chân nhật phá mây sầu ám. Nguyệt
Quang tiếp xúc địa cầu. Tăng thân bước về một hướng.
Ngàn đời ta vẫn còn nhau.
Chân
Nguyệt Tâm (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Terry
Barber. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài
kệ truyền đăng như sau: Lung linh bóng Nguyệt soi thềm. Cõi
Tâm mở sáng đêm đêm ngân hà. Nhiệm mầu tiếng hạc bay
qua. Vén mây trông rõ phá tòa nguyên sơ.
Chân
Nghĩa (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, pháp danh Tâm Khai
Ngộ, tên Lê Văn Đán. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm
2002 với bài kệ truyền đăng như sau: Chân Nghĩa thượng thừa
mong liễu ngộ. Thiền trà nên cạn chén hồng mai. Long lanh
đáy nước trăng vàng chiếu. Một thiên tuyệt bút để dành
ai.
Chân
Pháp (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Peen Kristen.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân tính không sinh diệt. Pháp giới vẫn hiện
tiền. Nước cam lồ một giọt. Rửa sạch mọi tiền khiên.
Chân
Pháp Kiều (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Richard
Brady. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ
truyền đăng như sau: Mưa pháp thấm nhuần cõi đất tâm. Đại
Kiều mong nối lại tình thâm. Một sân hòe quế ngày chăm
bón. Sạch hết bao nhiêu lớp cát lầm.
Chân
Pháp Lực (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Rowan Conrad.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền
đăng như sau: Tương thử sơ tâm chân Pháp Lực. Tiếp độ
lục đạo chư quần mê. Chưởng thượng minh châu thường
quảng nhiếp. Năng linh u xứ hướng bồ đề.
Chân
Pháp Nhãn (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Karl
Schmied. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài
kệ truyền đăng như sau: Chân quán vừa tùy thuận. Pháp Nhãn
đã trao truyền. Trên đường về tự tại. Cười dứt vạn
trần duyên.
Chân
Quang (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Therese Fitzgerald.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân tính vốn là ánh sáng. Quang minh soi chiếu
tỏ tường. Đất tâm gieo hạt giống quý. Hoa đàm nở ngát
mười phương.
Chân
Quang Đạo (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên John Barclays.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền
đăng như sau: Hào Quang sáng tỏ ngời chân Đạo. Hàng vạn
bông hoa ngoảnh mặt nhìn. Từng bước thảnh thơi trên cõi
Tịnh. Từng hơi thở nhẹ chở niềm tin.
Chân
Quang Lâm (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, pháp danh Firm
Virtue of the Source, tên Tony Mills. Được Thầy Làng Mai truyền
đăng năm 2004 với bài kệ truyền đăng như sau: Quang minh vầng
nguyệt chiếu Lâm tuyền. Lặng lẽ tinh cầu quán đại thiên.
Cát tường nở trắng bông tinh khiết. Thế giới ba ngàn đứng
lặng yên.
Chân
Quả (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nora Houtmann
De Graaf. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 với bài
kệ truyền đăng như sau: Chân tính không sinh diệt. Quả báo
trong tầm tay. Không đi cũng không tới. Cõi tâm trăng sáng
đầy.
Chân
Sắc (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Bossert Judith.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân nguyên nước tĩnh tưới trần gian. Sắc
khác gì không, pháp bảo đàn. Gió sớm mây hồng tuyên Bát
Nhã. Hoa cười ngọc thốt vẫn đoan trang.
Chân
Sinh (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Hoàng Phúc.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân như là bản môn. Sinh diệt nào động tới?
Thức dậy sớm mai hồng. An nhiên không chờ đợi.
Chân
Thành Tựu (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Marcel
Geisser. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài
kệ truyền đăng như sau: Chân pháp chỉ là một. Thành Tựu
có muôn đường. Tâm từ trùm pháp giới. Gia nghiệp khéo thừa
đương.
Chân
Thâm Hạnh (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Marc Puissant.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân kinh hàm chứa nghĩa cao Thâm. Hạnh giải
vang lừng khúc phạm âm. Biển khổ thuyền từ dong một lá.
Nhờ tay tế độ vớt trầm luân.
Chân
Thâm Tuệ (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Châu Yoder.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền
đăng như sau: Một đi về hướng cao Thâm. Vun bồi Tuệ giác,
chuyên cần sớm trưa. Ra công học đạo chân thừa. Vườn
tâm xanh tốt bốn mùa nở hoa.
Chân
Thật (người) Vị đệ tử chót của tổ Cương Kỷ tăng
cang chùa Từ Hiếu, pháp danh Thanh Quý, bổn sư của Thầy Làng
Mai. Tổ được sư huynh Tuệ Minh phó pháp truyền đăng với
bài kệ sau đây: Chân Thật duy tùng thể tính không. Thâm cùng
vọng thức bản lai không. Thỉ tư thị vật nguyên vô vật.
Diệu dụng vô khuy chỉ tự công.
Chân
Thật Đạo (người) Một vị giáo thọ cư sĩ người Ấn
Độ, pháp danh Tâm Hiền, tên Shantum Seth. Được Thầy Làng
Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền đăng như sau:
Quán tâm Thật tướng tợ trăng rằm. Đạo cũng tâm mà cảnh
cũng tâm. Sông Hằng cát trắng ai ngồi đếm? Môi bé thơ cười
giữa Trúc Lâm.
Chân
Thắng Giải (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Patrick
Lacoste. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài
kệ truyền đăng như sau: Phúc duyên thù Thắng nơi đây. Lòng
riêng một tấc Giải bày núi sông. Mới hay thanh khí tương
tầm. Vàng gieo đáy nước cây lồng bóng sân.
Chân
Thiện (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Lynn Fine.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân ý không nề biên giới. Thiện căn ở tại
lòng ta. Tình nghĩa hai bờ trọn vẹn. Chiếu soi đuốc sáng
Phật đà.
Chân
Thiện Căn (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Đỗ
Văn Hòa. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài
kệ truyền đăng như sau: Chân tính vốn nguồn gia bảo. Thiện
căn ở tại trong lòng. Tam bảo thuyền từ bảo hộ. Mặt trời
rạng rỡ phương đông.
Chân
Thiện Sinh (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Elisabeth
Ann Wood. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài
kệ truyền đăng như sau: Nga mi sương giải niềm Chân Thiện.
Mỹ diệu trăng lồng ý độ Sinh. Đốt cháy thành sầu đây
đuốc tuệ. Một trời mây nước chiếu quang minh.
Chân
Thuyên (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Đỗ Trọng
Lễ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ
truyền đăng như sau: Tình sông nghĩa núi, khối chân tâm. Thuyên
giải thiền cơ xướng phạm âm. Nắng lên soi thấu trời phương
ngoại. Trăng thề còn đó, ngọc thành văn.
Chân
Thừa (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Harrison Hoblitezelle.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân nguyên duy có một. Thừa đâu phải là ba?
Một bước vào pháp giới. Soi rạng cõi ta bà.
Chân
Tiếp (người) Một vị giáo cư sĩ, tên Halifax Joan. Được
Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng
như sau: Chân quả hình thành tự thủa xưa. Tiếp độ công
phu của thượng thừa. Trí sáng xoay về soi bản thể. Sẵn
thuyền Bát nhã đón rồi đưa.
Chân
Tính Không (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Vũ Thị
Dung. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ
truyền đăng như sau: Chân kinh thường trì tụng. Tính Không
trăng hiện tiền. Tai ương rơi rụng hết. Bến giác cùng bước
lên.
Chân
Tịnh (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Larry Rosenberg.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân không là chân sắc. Tịnh ý tức tịnh thân.
Siêu việt được năng sở. Chi sá đám bụi hồng.
Chân
Tịnh Giới (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn
Trọng Phu. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với
bài kệ truyền đăng như sau: Chân tâm là ánh sáng. Tịnh Giới
cõi trang nghiêm. Pháp đăng soi nhật dụng. Ấn Bụt mãi lưu
truyền.
Chân
Tịnh Nhãn (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn
Văn Kỳ Cương. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994
với bài kệ truyền đăng như sau: Chân thân là Phật độ.
Tịnh Nhãn chuyển ta bà. Trên bùn sen ngọc nở. Bến giác chở
người qua.
Chân
Trí (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Bá Thư.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân nguyệt thường lặng chiếu. Trí cảnh vẫn
dung thông. Lối về soi chánh niệm. Thắp sáng một mai hồng.
Chân
Trí Cảnh (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Mitchell
Ratner. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài
kệ truyền đăng như sau: Tỉnh giấc kê vàng Chân Trí sinh.
Muôn ngàn cảnh giới sáng lung linh. Rừng tía thảnh thơi ngồi
tĩnh lự. Thanh sơn nhẹ bước thỏa chân tình.
Chân
Truyền (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, pháp danh Tâm
Điểm, tên Đinh Thị Vân Khanh. Được Thầy Làng Mai truyền
đăng năm 1992 với bài kệ truyền đăng như sau: Chân tính
là cam lộ. Truyền đạt vốn từ nguồn. Một lòng chuyên hướng
thượng. Niềm an lạc trào tuôn.
Chân
Tuệ (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Hữu
Lợi. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ
truyền đăng như sau: Chân trí soi vào cõi huyễn mê. Tuệ giác
bừng lên tỏ lối về. Giây phút đại bàng vừa vỗ cánh.
Sá gì mấy vạn dặm sơn khê.
Chân
Tuệ Hương (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, pháp danh
Tâm Tương Tri, tên Hoàng Dung. Được Thầy Làng Mai truyền
đăng năm 2002 với bài kệ truyền đăng như sau: Giới định
hương và trí Tuệ Hương. Quê xưa giáp mặt lộ chân thường.
Tình sông nghĩa biển sâu dài lắm. Dậu thu vừa mới nảy
dò sương.
Chân
Tuệ Lưu (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Odette Bauweleers.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền
đăng như sau: Nhiệm màu dòng Tuệ luân Lưu. Trăng vàng đã
hiện trên đầu núi xanh. Sẵn gươm tuệ giác bên mình. Thảnh
thơi hạc trắng, mặc tình rong chơi.
Chân
Tuệ Ngạn (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên William
Manza. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ
truyền đăng như sau: Trí Tuệ đưa về nơi bỉ Ngạn. Đất
thiêng vọng tiếng hải triều lên. Tốt tươi hồng lục xuân
thường tại. Mỗi bước chân ngời đóa thủy tiên.
Chân
Tuệ Thân (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Ian Prattis.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền
đăng như sau: Đuốc Tuệ bừng lên rạng pháp Thân. Trong mây
xa có hạt mưa gần. Vòng tay nhận thức ôm năng sở. Một
đóa trà mi nở trước sân.
Chân
Tuệ Tu (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Adrianna Rocco.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền
đăng như sau: Sự nghiệp duy hướng Tuệ. Mây tuyết thuận
đường Tu. Tịnh độ trong từng bước. Sen nở ngát xuân thu.
Chân
Tuệ Uyển (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Võ Thị
Minh Tri. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài
kệ truyền đăng như sau: Tài bồi Tuệ Uyển trăm hoa. Minh
tri hạnh ấy cũng là tương tri. Nước non lắng tiếng Chung
Kỳ. Bè từ vượt khỏi sông mê khó gì?
Chân
Từ Hạnh (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Gioacchino
Difeo. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ
truyền đăng như sau: Sen quê nở ngát hương Từ. Trăng vàng
Hạnh nguyện năm xưa sáng đầy. Lời nguyền đỉnh báu hương
bay. Cho thân ngữ ý diễn bày Phật tâm.
Chân
Từ Nhãn (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Jorgen Hannibal.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân quán thanh tịnh quán. Từ Nhãn nhìn chúng
sanh. Thầy hay có linh dược. Không bệnh nào không lành.
Chân
Tự Tại (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, pháp danh Tâm
Bảo Ấn, tên Đặng Phước Nhường. Được Thầy Làng Mai
truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền đăng như sau: Liễu
biếc oanh vàng chân Tự Tại. Gió quang mây tạnh đã an bài.
Châu về hợp phố trong thanh khí. Sân ngoài tuyết điểm một
nhành mai.
Chân
Văn (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Đỗ Quý Toàn.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân Văn huyền ý cao sâu. Về đây khai ngộ
ném châu gieo vàng. Ngại gì bèo hợp mây tan. Một trời phong
nguyệt rõ ràng đôi ta.
Chân
Viên Dung (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn
Văn Tuyến. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với
bài kệ truyền đăng như sau: Lắng lòng nghe thấu Viên âm.
Ấn thiêng tam muội Dung thông nhiệm màu. Đường về quê cũ
xưa sau. Trí bi nguyện mãn bắc cầu độ sinh.
Chân
Viên Minh – Chân Viên Giác (người) Hai vị giáo thọ
cư sĩ, tên Jacques Gaudin và Jacqueline Gaudin. Được Thầy Làng
Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền đăng như sau:
Viên Minh tỏa chiếu nguyệt trời cao. Tuệ Giác xua tan bóng
khổ sầu. Cùng đến cùng đi trên đất tịnh. Đá mòn sông
cạn vẫn còn nhau.
Chân
Viên Thành (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Tư Đồ
Minh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ
truyền đăng như sau: Biến kế buông rồi sáng cõi tâm. Viên
Thành tự tánh hiện ba thân. Giọt nắng mùa thu mang viễn vọng.
Xuân về rạng rỡ chốn non sông.
Chân
Vị (người) Xem Vị Nghiêm.
Chân
Y (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Barry Roth. Được
Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 với bài kệ truyền đăng
như sau: Chân nguyện là chân đạo. Y vương tức Pháp vương.
Dưới cội bồ đề mát. Có pháp tọa kim cương.
Chân
Ý (người) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Anh Hương.
Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 với bài kệ truyền
đăng như sau: Chân tâm ươm hạt quý. Ý vun bón vườn nhà.
Thanh thản cùng năm tháng. Lòng đất tự đơm hoa.
Châu
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên
đầy đủ là Chân Châu Nghiêm. Người Mỹ, xuất gia năm 1999
tại Làng Mai, thuộc gia đình xuất gia Cây Anh Đào.
Châu
Toàn (người) Vị giám đốc điều hành thứ hai của trường
Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, trú trì chùa Trúc Lâm, Gò Vấp,
đệ tử của thiền sư Mật Thể.
Chấp
tác (thuật ngữ, phép tu) Làm việc trong chánh niệm.
Những công việc như dọn dẹp thiền đường, chăm sóc vườn
rau, nấu cơm, lái xe, giặt giũ, chăm sóc thiền sinh, đều
là chấp tác. Các công việc cần được làm trong chánh niệm
và niềm vui, vì đây là cơ hội để chế tác chánh niệm
và phụng sự tăng thân, đem niềm vui và tiện nghi đến cho
tăng thân để tăng thân có đủ điều kiện tu học.
Chắp
Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện (sách) Một tập
thơ của Thầy Làng Mai do nhà Lá Bối, Sài Gòn ấn hành năm
1965, họa sĩ Hiếu Đệ trình bày bìa. Tập thơ này khi đưa
lên kiểm duyệt đã bị bỏ chỉ còn hai bài, sau đó được
in chui không có giấy phép. Tập thơ có nhiều bài được gọi
là thơ phản chiến (anti-war poetry) vì diễn tả được nỗi
khổ đau của chiến tranh và ước vọng hòa bình của dân
chúng. Trong khi bị cảnh sát của chế độ Sài Gòn tịch thu,
sách này cũng bị các đài phát thanh Bắc Kinh và Hà Nội công
kích.
Chắp
tay trong chánh niệm (phép tu) Gặp nhau trong khuôn
viên Làng Mai, ta chắp tay xá nhau trong chánh niệm. Chắp
hai tay lên thành búp sen, ta thầm niệm “Sen búp xin tặng
người”. Cúi xuống trước người đối diện, ta thầm
niệm “Một vị Bụt tương lai”. Ta làm động tác này
với tất cả sự cung kính, dù là với một em bé,
bởi vì em bé cũng có tính Bụt trong tâm. Chắp tay và
xá như thế, ta tiếp xúc được với Phật tính trong
ta và trong người đối diện, đồng thời ta cũng giúp
người ấy làm như thế. Đây không phải là lễ nghi
ước lệ mà là một sự thực tập.
Chim
Về Trên Không (sách) Một cuốn sách do Viện Hóa Đạo
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất xuất bản năm 1971
để tưởng niệm Nhất Chi Mai – một trong sáu người đệ
tử đầu tiên thọ giới Tiếp Hiện với Thầy năm 1966 tại
chùa Pháp Vân, Sài Gòn. Bài viết của Thầy ký bút hiệu Thạch
Đức và Nhất Hạnh.
Chí
Mãn (người) Một trong những vị đệ tử xuất gia của
tổ Thanh Quý Chân Thật, pháp danh Trừng Viên, trú trì chùa
Pháp Vân, Đà Nẵng.
Chí
Mậu (người) Một trong những vị đệ tử xuất gia của
tổ Thanh Quý Chân Thật, pháp danh Trừng Tuệ, giám tự tổ
đình Từ Hiếu. Được Thầy Làng Mai phó pháp truyền đăng
năm 2004 với bài kệ truyền đăng như sau: Công phu Chí quả
nuôi từ quán. Nẻo về thịnh Mậu núi Dương Xuân. Quyết
tâm nuôi lớn tình huynh đệ. Đất thiêng rạng rỡ bước
siêu trần.
Chí
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai,
tên đầy đủ là Chân Chí Nghiêm. Người Việt, xuất gia năm
2005 tại Làng Mai, thuộc gia đình xuất gia Cây Vú Sữa.
Chí
Niệm (người) Một trong những vị đệ tử xuất gia của
tổ Thanh Quý Chân Thật, pháp danh Trừng Trì, giám tự tổ
đình Từ Hiếu.
Chí
Thắng (người) Một trong những vị đệ tử xuất gia của
tổ Thanh Quý Chân Thật, pháp danh Trừng Sơn, trú trì chùa
Phước Thành, Huế.
Chí
Viên (người) Một trong những vị đệ tử xuất gia của
tổ Thanh Quý Chân Thật, pháp danh Trừng Dũng, trú trì chùa
Linh Phong, Nha Trang.
Chín
cây quế (pháp số) Chín cây quế là nhóm các vị cùng
được xuất gia ngày 13 tháng 12 năm 2003 tại Làng Mai, gồm
các thầy và các sư cô Chân Đắc Nghiêm, Chân Pháp Vũ, Chân
Pháp Trì, Chân Thư Nghiêm, Chân Pháp Lưu, Chân Pháp Tụ, Chân
Pháp Cầu, Chân Uyên Nghiêm, Chân Phùng Nghiêm.
Chín
cây táo (pháp số) Chín cây táo là nhóm các vị cùng
được xuất gia ngày 04 tháng 02 năm 1998 tại Làng Mai, gồm
các thầy và các sư cô Chân Pháp Khâm, Chân Linh Nghiêm, Chân
Bi Nghiêm, Chân Pháp Dung, Chân Khánh Nghiêm, Chân Huyền Nghiêm,
Chân Hân Nghiêm, Chân Pháp Nguyên, Chân Kính Nghiêm.
Chín
cây trà my (pháp số) Chín cây trà my là nhóm các vị
cùng được xuất gia ngày 12 tháng 02 năm 2001 tại Làng Mai,
gồm các thầy và các sư cô Chân Pháp Chuyên, Chân Pháp Vinh,
Chân Túc Nghiêm, Chân Pháp Trạch, Chân Quý Nghiêm, Chân Pháp
Huy, Chân Cát Nghiêm, Chân Hành Nghiêm, Chân Pháp Duệ.
Chính
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên
đầy đủ là Chân Chính Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1982,
xuất gia năm 2006 tại Việt Nam, thuộc gia đình xuất gia Cây
Hải Đường.
Chỉ
(phép
tu) Chỉ tức là dừng lại. Dừng lại sự tán loạn,
dừng lại sự quên lãng. Dừng lại để tập trung tâm
ý vào một đối tượng (để mà xét nghiệm đối
tượng đó). Dừng lại để sống trong giây phút hiện
tại, để ý thức những gì đang diễn ra trong giờ phút
hiện tại. Để thực hiện sự tập trung tâm ý, hành
giả thực tập phép đếm hơi thở, hay theo dõi hơi thở.
Trong khi thở, ta để hết tâm ý vào hơi thở. Hơi thở
cần nhẹ nhàng, khoan thai và liên tục như một dòng nước
nhỏ chảy trong cát mịn. Khi thở vào, ta biết là ta đang
thở vào. Khi thở ra, ta cũng thở nhẹ nhàng, khoan thai
và liên tục. Thở tới đâu thì biết tới đó. Đời
sống hàng ngày có đầy rẫy những lo âu và áp lực.
Nếu không biết thực tập dừng lại bằng cách hành
thiền thì thần kinh và bắp thịt của ta sẽ trở nên
căng thẳng và lâu ngày tình trạng có thể trở thành
nguy hiểm.
Chỉ
cần các thầy đồng ý (giai thoại) Năm nọ, tại Làng
Mai, đại chúng đang chuẩn bị cho khóa tu mùa hè. Một buổi
trưa tại Xóm Thượng, sau khi ăn cơm trưa xong thầy Pháp Ấn
đang ngồi nghỉ một chút trước khi vào buổi chấp tác buổi
chiều, bỗng thầy chợp mắt thiếp đi thì lập tức thầy
chiêm bao thấy có một đoàn xe thiết giáp chở đầy những
người lính Pháp đi vào Làng. Khi xe dừng lại, người chỉ
huy trưởng bước xuống khỏi xe rồi đi đến chỗ thầy Pháp
Ấn đang ngồi và nói: “Thưa thầy, chúng tôi là những người
lính trong quân đội Pháp, chúng tôi muốn đăng ký để tham
dự khóa tu mùa hè này với các thầy. Xin các thầy giúp cho.”
Thầy Pháp Ấn nhìn ông ta và nói: “Thưa ông, rất tiếc là
khóa tu mùa hè này chúng tôi đã không còn chỗ cho thiền sinh
nữa rồi.” Ông ta lại nói: “Thưa thầy, không sao cả, chỉ
cần các thầy đồng ý cho chúng tôi tham dự khóa tu, tất
cả các chuyện ăn ở chúng tôi sẽ tự lo liệu được.”
Vừa lúc đó thì thầy Pháp Ấn tỉnh dậy và vẫn còn thấy
rất rõ giấc mơ kỳ lạ vừa rồi. Ngồi một chút thầy Pháp
Ấn nhớ lại là thầy được nghe kể rằng, hồi đó trong
chiến tranh thế giới thứ hai, Xóm Thượng bây giờ là nơi
mà người ta dùng làm nơi xử bắn người, và đã có rất
nhiều người lính quân đội Pháp bị xử bắn tại đây.
Thầy chợt hiểu về giấc mơ kỳ lạ này. Và trong khóa tu
mùa hè năm đó tại Xóm Thượng quý thầy đã cúng cô hồn
(hungry ghost offering) mỗi ngày.
Chỉ
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên
đầy đủ là Chân Chỉ Nghiêm. Người Việt Nam, quốc tịch
Úc, xuất gia năm 2002 tại Làng Mai, thuộc gia đình xuất gia
Cây Thốt Nốt.
Chỉ
quán (phép tu) Quán nghĩa là nhìn sâu. Sau khi đã có
chỉ, tức là đã có sự tập trung tâm ý vào đối
tượng, hành giả tiếp tục thực tập nhìn sâu. Nhìn
sâu để thấy được bản chất đích thực của đối
tượng quán sát. Cái thấy này là tuệ, là sự hiểu
biết, là cái thấy chính xác về sự vật. Nếu chỉ
đưa tới định thì quán đưa tới tuệ. Có chỉ tức
là có quán, và khi đã có quán tức là đã có chỉ.
Chỉ
quán song hành (thuật ngữ) Chỉ và quán đi đôi với
nhau. Chỉ là sự ngưng tụ, làm lắng dịu, tập trung. Tiếng
Phạn là samatha. Quán là nhìn sâu để thấy tự tánh của
đối tượng quán chiếu. Tiếng Phạn là vipasyana. Nếu chỉ
vững chãi thì quán bắt đầu xuất hiện. Nếu quán đã có
mặt thì chỉ cũng đã có mặt. Chỉ giúp cho quán và quán
giúp cho chỉ, đó là chỉ quán song hành. Xem mười bốn bài
kệ chỉ quán.
Chỉ
Quán Yếu Lược (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai
do Hội Phật Học Nam Việt xuất bản năm 1955, in lại từ
tạp chí Từ Quang. Đây là một bài giảng của Thầy Làng
Mai tại giảng đường hội Phật Học Nam Việt trụ sở tại
chùa Phước Hòa, Bàn Cờ, Sài Gòn, trước khi Chùa Xá Lợi
được bắt đầu khởi công.
Chỉnh
Độ (người) Một vị xuất gia nam tu học tại Làng
Mai, gốc chùa Pháp Vân, Sài Gòn. Người Việt Nam, sinh năm
1979, xuất gia năm 1991 tại Việt Nam.
Chỉnh
Đức (người) Một vị xuất gia nam tu học tại Làng
Mai, gốc chùa Pháp Vân, Sài Gòn. Người Việt Nam, sinh năm
1976, xuất gia năm 1996 tại Việt Nam.
Chỉnh
Long (người) Một vị xuất gia nam tu học tại Làng
Mai, gốc chùa Pháp Vân, Sài gòn. Người Việt Nam, sinh năm
1982, xuất gia năm 1994 tại Việt Nam.
Chỉnh
Phúc (người) Một vị xuất gia nam tu học tại Làng
Mai, gốc chùa Pháp Vân, Sài Gòn. Người Việt Nam, sinh năm
1985, xuất gia năm 1993 tại Việt Nam.
Chỉnh
Quang (người) Một vị xuất gia nam tu học tại Làng
Mai, gốc chùa Pháp Vân, Sài Gòn. Người Việt Nam, sinh năm
1974, xuất gia năm 1994 tại Việt Nam.
Chơn
Đệ (người) Một vị xuất gia nữ tu học theo pháp môn
Làng Mai tại Tu Viện Bát Nhã. Gốc chùa Kim Liên, Sài Gòn,
người Việt Nam, sinh năm 1972, xuất gia tại Việt Nam.
Chuyển
hóa (điện đường, bài hát) 1. Một thiền đường
thuộc chùa Pháp Vân, Xóm Thượng, Làng Mai. 2. Một bài hát
do Thầy Làng Mai viết lời, nhạc sĩ Trần Quốc Bảo phổ
nhạc. Nước giữ hoa tươi. Hoa nở cho người. Hoa thở tôi
thở. Hoa cười tôi cười. Bên nắng hoa tươi. Hoa mời ong
lại. Hoa vời bướm bay. Tâm hoa kết nụ. Dâng cho cuộc đời.
Trái ngọt ngon này. Hóa làm thân tôi. Uống nước giếng trong.
Tôi ngậm trong lòng. Tôi nghe biển mặn. Sóng vỗ mênh mông.
Thân tôi sông rộng. Quê hương nghìn dòng. Chung một dòng chung.
Nước đã nuôi tôi. Thắm nhuận muôn loài. Nước chảy tôi
chảy. Nước buồn tôi buồn. Nước ấy hoa đây. Khác gì thân
này. Trăm năm hồ mộng. Cát bụi lầm vương. Vạn pháp nương
chuyển. Thường trong vô thường.
Chuyển
hóa tập khí (thuật ngữ) Chuyển hóa những thói quen phản
ứng và hành xử tiêu cực thường gây khổ đau và đổ vỡ
cho mình và cho những người khác. Tập khí (tiếng Phạn vasana),
là năng lượng thúc đẩy ta nói, làm, đối xử và phản ứng
theo thói quen. Có khi ta biết hành xử và phản ứng như thế
sẽ đưa đến đổ vỡ và khổ đau, nhưng ta vẫn cứ hành
xử và phản ứng như thế, bởi vì tập khí ấy rất mạnh.
Sau khi hành xử và phản ứng gây ra sự đổ vỡ, ta cương
quyết tự hứa là lần sau ta sẽ không hành xử và phản ứng
như thế, nhưng lần sau khi một tình huống tương tự xẩy
ra, ta vẫn hành xử và phản ứng theo tập khí như thường.
Vì vậy ta phải thực tập để chuyển hóa tập khí. Phương
pháp thực tập là nhận diện năng lượng tập khí khi nó
bắt đầu xuất hiện. Ta tự bảo: Đây là năng lượng tập
khí (habit energy) đang bắt đầu xuất hiện. Ta phải cẩn thận
lắm mới được. Ta nhất định sẽ không làm gì và nói gì
khi năng lượng ấy đang có mặt. Mỗi lần ta nhận diện được
nó (nhận diện bằng năng lượng chánh niệm - xem chánh niệm)
thì nó yếu bớt đi một chút. Ta có thể nhờ một người
bạn tu giúp ta trong việc nhận diện này. Người kia nếu có
thực tập chánh niệm sẽ có khả năng báo cho ta biết là
tập khí trong ta bắt đầu xuất hiện, và năng lượng chánh
niệm của người ấy giúp cho ta có một năng lượng chánh
niệm hùng hậu hơn để thực tập nhận diện tập khí của
ta. Ta chỉ cần nhận diện mà không cần đàn áp. Đó là phương
pháp nhận diện đơn thuần. Nhận diện được tập khí của
mình thì tập khí ấy sẽ không còn đủ sức thao túng mình
nữa.
Chuyển
Niệm (bài tụng) Một bài tụng được sử dụng trong các
công phu sáng hoặc chiều tại các thiền viện, có thể dùng
cho cả hai phái Thiền tông và Tịnh Độ tông. Có trong sách
Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000 và Nghi Thức Tụng Niệm Đại
Toàn do Đạo Tràng Mai Thôn biên soạn, nhà xuất bản Lá Bối
ấn hành.
Chuyển
rác thành hoa (thuật ngữ) Chuyển phiền não thành bồ đề.
Những tâm hành như giận dữ, buồn phiền, lo lắng, sầu khổ,
kỳ thị, tuyệt vọng, v.v… là những tâm hành tiêu cực gọi
là những phiền não (tiếng Phạn: klesa) được ví dụ với
phân rác, nhờ công phu tu học có thể được chuyển thành
những tâm hành tích cực như từ bi, an lạc, vô ưu, hỷ xả,
bao dung, được ví với những đóa hoa. Vì hoa và rác đều
là những vật hữu cơ, hoa có thể trở thành rác, rác có
thể chuyển thành phân để nuôi hoa, thì phiền não và bồ
đề cũng có tính chất hữu cơ, và phiền não cũng có thể
chuyển hóa thành bồ đề. Bồ đề là giác ngộ, giải thoát,
hạnh phúc, từ bi, trong khi phiền não là tham giận, kiêu căng,
si mê, lầm lạc. Người làm vườn có khả năng thấy được
rác là hữu cơ nên ủ rác làm phân, lấy phân để nuôi hoa.
Người tu tập thấy được phiền não là hữu cơ nên không
trốn chạy hoặc vứt bỏ phiền não, mà biết sử dụng và
quán chiếu phiền não để chế tác tuệ giác và từ bi. Nhìn
vào hoa thấy được rác, nhìn vào rác thấy được hoa, hành
giả có cái nhìn bất nhị. Nhờ cái thấy bất nhị, hành
giả không sợ hãi phiền não và biết cách chuyển hóa phiền
não thành bồ đề. Trong đạo Bụt, ta thường nghe câu ‘phiền
não tức bồ đề’ là do thế.
Chuyển
thức (thuật ngữ) Bảy tác dụng nhận thức dựa trên
nền tảng của tàng thức (thức A lại gia) mà phát hiện và
hoạt dụng, đó là bảy chuyển thức: nhãn thức, nhĩ thức,
tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, và mạt na thức.
Tàng thức thường được gọi là thức thứ tám, hoặc nhất
thiết chủng thức (sarvabijaka) hoặc căn bản thức (mulavijnana).
Căn bản thức là nền tảng trên đó bảy thức kia được
phát khởi.
Chúc
Thịnh (người) Một vị xuất gia nam tu học tại Làng
Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1975, xuất gia năm 1988 tại Việt
Nam.
Chúng
học (giới điều) Bảy mươi giới trong 250 giới của vị
khất sĩ, một trăm mười lăm giới trong 348 giới của vị
khất sĩ nữ. Tính chất của các giới này là uy nghi. Chúng
học hoặc Chúng học pháp, tiếng Phạn là Shaiksha, dịch tiếng
Anh là Fine Manners Offenses.
Chùa
Lá (cơ sở) Xem Pháp Vân.
Chùa
Làng Mai (sách) Một cuốn sách trích đăng các bài viết
của Thầy Làng Mai từ Lá Thư Làng Mai năm 1999, in tại Việt
Nam năm 2000.
Chủng
Thiện (người) Một vị giáo thọ xuất gia nam, thượng
tọa Thích Chủng Thiện. Được Thầy Làng Mai truyền đăng
năm 2002 với bài kệ truyền đăng như sau: Chủng đức trên
đường về chí Thiện. Gió quang mây tạnh ánh trăng hiền.
Châu về hợp phố an lòng đất. Non sông bình trị hãy ngồi
yên.
Chủng
tử (thuật ngữ) Hạt giống trong tâm thức, tiềm
năng phát hiện ra các hiện tượng tâm lý, sinh lý và vật
lý. Tiếng Phạn là bija. Thức A lại gia, tàng thức, có công
năng tiếp nhận và duy trì các chủng tử. Tất cả những
học vấn, tài năng, hạnh phúc, kiến thức, khổ đau, kinh
nghiệm… của ta đều đang có mặt trong dạng chủng tử.
Các tâm hành (tâm sở) của ta, gồm có 51 loại, tích cực
hay tiêu cực, hữu lậu hay vô lậu đều có mặt trong thức
A lại gia dưới dạng chủng tử, chờ đợi điều kiện để
phát khởi. Hoàn cảnh có tác dụng đánh động những chủng
tử ấy để giúp chúng phát khởi, vì vậy ta có thể chọn
môi trường tốt mà sống để những chủng tử tốt có nhiều
cơ hội phát khởi và những chủng tử xấu không có nhiều
cơ hội phát khởi. Chủng tử có hai loại: bản hữu (sẵn
có) và tân huân (mới gieo trồng). Sự tu tập có công năng
tưới tẩm hạt giống tốt và chuyển hóa hạt giống xấu.
Chánh niệm nhận diện được sự có mặt và phát khởi của
những hạt giống tốt và xấu. Chủng tử có sáu đặc tính:
1- sát na diệt, luôn luôn biến chuyển trong từng sát na, 2-
quả câu hữu, có mặt cùng một lần với thức và căn, không
tồn tại độc lập với thức và căn, 3- hằng tùy chuyển,
chuyển biến theo thức, không cách biệt với thức, 4- tính
quyết định, duy trì được tính chất tích cực hay tiêu cực
của mình, 5- đãi chúng duyên, chờ đợi nhiều điều kiện
để phát khởi, và 6- dẫn tự quả, đưa tới kết quả cùng
chủng loại, như chủng tử tâm lý đưa tới kết quả tâm
lý, chủng tử sinh lý đưa tới kết quả sinh lý, chủng tử
vật lý đưa đến kết quả vật lý. Khi phát hiện, chủng
tử trở nên hiện hành. Và hiện hành lại làm phát sinh chủng
tử trở lại. Xin đọc sách Duy Biểu Học, 50 bài tụng Duy
Biểu.
Chương
trình Phật học bốn năm trước 2002 (chương trình đào
tạo) Chương trình học này được áp dụng trước năm
2002 và đã được trao đổi với Hòa Thượng Thiện Siêu năm
1991. Chương trình như sau: Năm thứ nhất: Kinh - Phước Đức,
Chuyển Pháp Luân, Người Áo Trắng, Thương Yêu, Kinh Quán Niệm
Hơi Thở. Luật - Quay Về Nương Tựa, Hai Lời Hứa, Năm Giới
Quý Báu, Mười Giới, Uy Nghi Sa Di, Thi Kệ Nhật Dụng, Từng
Bước Nở Hoa Sen. Luận - Phật Học Căn Bản (1), Phép Lạ
của Sự Tỉnh Thức, An Trú Trong Hiện Tại, Đạo Phật Áp
Dụng Trong Đời Sống Hàng Ngày, Hiệp Ước Sống Chung An Lạc.
Thực Tập - thiền đi, thiền ngồi, thiền trà, tiếng chuông,
chắp tay, dâng hương, niệm Bụt, xướng tán, tụng Giới,
hát. Sử - Đường Xưa Mây Trắng. Học - các ngôn ngữ Việt,
Anh, Hán, Pali và Sanskrit. Năm thứ nhì: Kinh - Niệm Xứ, Bắt
Rắn, Người Biết Sống Một Mình, Vô Ngã Tướng, Tâm Kinh,
Trung Đạo Nhân Duyên, Giáo Hóa Người Bệnh, A Nậu La Độ,
Tam Pháp Ấn, Tám Điều Giác Ngộ của Các Bậc Đại Nhân.
Luật - Giới Tiếp Hiện, Giới Bồ Tát, Lục Hòa, Diệt Tránh
Pháp. Luận - Phật Học Căn Bản (2), Trái Tim Mặt Trời, năm
mươi bài tụng Duy Biểu, pháp số, Đạo Phật Hiện Đại
Hóa, Tương Lai Thiền Học Việt Nam. Thực Tập - hóa giải
nội kết, hướng dẫn thiền đi, thiền ngồi, thiền trà,
ngày chánh niệm, hát. Sử - Việt Nam Phật Giáo Sử Luận (1),
Phật Giáo Ấn Độ. Học – các ngôn ngữ Việt, Anh, Hán,
Pali, Sanskrit, nghiên cứu thêm Tâm Lý Học Xã Hội, Khoa Học,
Văn Minh và Văn Hóa Thế Giới. Năm thứ ba: Kinh - Đại Tạng
Nam Truyền- so sánh với A Hàm, Bát Thiên Tụng Bát Nhã, Phật
Mẫu Bảo Đức Tạng. Luật - Giới Bản Khất Sĩ Tân Tu và
Truyền Thống, Tứ Phần, Yết Ma Chỉ Nam. Luận - Phật Học
Căn Bản (3), Thắng Pháp Tập Yếu Tam Thập Tụng, Bát Thức
Quy Củ Tụng. Thực Tập - hướng dẫn nghi lễ, pháp thoại,
tổ chức khóa tu. Sử - Phật Giáo Sử Luận (2), Phật Giáo
Trung Hoa, Truyền Thống Sinh Động của Thiền Tập, Phật Giáo
Tây Tạng, Nhật Bản, Các Tông Phái. Học – các ngôn ngữ
Việt, Anh, Hán-Hoa, Pali, Sanskrit, nghiên cứu thêm khoa học hiện
đại, sinh vật học, môi trường. Năm thứ tư: Kinh - Đại
Tạng Bắc Truyền, Bảo Tích, Úc Già, Duy Ma, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm,
Lăng Nghiêm Tam Muội, Lăng Già. Luật - ôn lại và đi sâu thêm,
nắm thật vững Hiệp Ước Sống Chung An Lạc, Giải Tỏa Nội
Kết, Thiết Lập Truyền Thông, Năm Giới và Giới Tiếp Hiện.
Luận - Câu Xá, Thanh Tịnh Đạo, Trung Quán (lược), Đại Trí
Độ (lược), Nhiếp Đại Thừa, Di Bộ Tông Luân Luận. Sử
- Phật Giáo Sử Luận (3 và 4), Phật Giáo Hiện Đại ở các
nước, tôn giáo bạn. Ngữ Lục - Lâm Tế Lục. Học – các
ngôn ngữ Việt, Anh, Hán-Hoa, Pali, Sanskrit, nghiên cứu thêm
khoa học hiện đại, sinh vật học, môi trường. Bí Chú -
các bài học về Phật Học Căn Bản được phân phối từ
các băng giảng tại Làng Mai như Nhị Đế, Tam Bảo, Nhị Chướng,
Tứ Niệm Xứ, Tứ Đế, Ngũ Lực, Lục Hòa, Thất Diệt Tranh,
Thất Bồ Đề Phận, Bát Chánh Đạo, Thập Mục Ngưu Đồ,
Thập Nhị Nhận Duyên, v.v…
Chương
trình Phật học bốn năm áp dụng từ 2002 (chương trình
đào tạo) Chương trình học này được áp dụng từ sau tháng
4 năm 2002. Chương trình như sau: Năm thứ Nhất: Thiền tập
- Ngồi, thiền ngồi, (ngồi thẳng, ngồi yên, có an lạc, không
buồn ngủ, ngồi để quán chiếu); Đi, thiền đi, (thảnh thơi,
vững chãi, đi trong Tịnh Độ); Nằm, thiền nằm, (buông thư,
nhận diện cơ thể và các phần trong cơ thể); Ăn, thiền
ăn, (hiện pháp, năm quán); Lạy, thiền lạy (5 lạy); Chấp
tác, thiền chấp tác; (có thực tập an trú, xây dựng tình
huynh đệ, tinh thần làm việc chung, tinh thần đồng đội);
Nói, thiền nói, (học phát biểu, pháp đàm, soi sáng, làm mới,
họp chúng); Viết, thiền viết, (tập viết thư cho Thầy, cho
sư anh/sư chị, cho chúng, cho cha mẹ, cho gia đình, tưới tẩm
hạt giống tốt); Và làm thị giả, học xướng tán, hô canh,
tổ chức thiền trà, hát thiền ca. Kinh Văn - Niệm Xứ, Quán
Niệm Hơi Thở, Diệt Trừ Phiền Giận, Tam Di Đề, (băng và
sách). Luật - Tam Quy, (trong băng Công Phu Nở Đóa Sen Ngàn Cánh
và băng giảng kinh Người Áo Trắng), Hai Lời Hứa, Năm Giới,
Mười Giới, Thi Kệ Nhật Tụng, sách Từng Bước Nở Hoa Sen,
và Ba Mươi Chín Thiên Uy Nghi (trong sách Bước Tới Thảnh Thơi).
Luận - Trái Tim Của Bụt, Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức, An
Trú Trong Hiện Tại, Đạo Bụt Áp Dụng Trong Đời Sống Hằng
Ngày. Sử - Đường Xưa Mây Trắng (phần 1). (Tư liệu có thể
sử dụng: Đường Xưa Mây Trắng (phần 1), những phép thực
tập của Làng Mai (1), Công Phu Nở Đóa Sen Ngàn Cánh (1), Tam
Di Đề (1), Truyền Thống Sinh Động Của Thiền Tập (1), Đại
Tạng Nam Truyền (1), Đại Tạng Bắc Truyền (1), Bát Thức
Quy Củ Tụng (1), Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu (1). Năm thứ
nhì: Đường Xưa Mây Trắng (2), những phép thực tập của
Làng Mai (2), Công Phu Nở Đóa Sen Ngàn Cánh (2), Tam Di Đề (2),
Truyền Thống Sinh Động Của Thiền Tập (2), Đại Tạng Nam
Truyền (2) (so sánh với A Hàm), Đại Tạng Bắc Truyền (2)
(lịch sử tư tưởng Phật giáo Đại Thừa), Bát Thức Quy
Củ Tụng (2), Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu (2). Năm thứ ba:
Nhiếp Đại Thừa Luận (1), Trung Quán Luận (1), Đại Tạng
Nam Truyền (tiếp theo) (so sánh với A Hàm) Đại Tạng Bắc
Truyền (tiếp theo), (lịch sử tư tưởng Phật giáo Đại Thừa),
Lâm Tế Lục, Giới Lớn, Giới Tiếp Hiện, hướng dẫn tổ
chức khóa tu, ngày quán niệm, viết thông báo, xây dựng tăng
thân địa phương. Năm thứ tư: Nhiếp Đại Thừa Luận (2),
Trung Quán Luận (2), Đại Tạng Bắc Truyền (3), Dị Bộ Tông
Luân Luận, thiền sư Tăng Hội, tâm lý học, xã hội học,
kinh tế học, văn minh Trung Quốc, văn minh Ấn Độ, văn minh
Hy Lạp.
Con
đang làm gì đó (thoại đầu) Một câu Thầy Làng Mai hay
hỏi thiền sinh khi đi ngang qua một vùng chấp tác. Đây thật
sự là một tiếng dùng chánh niệm hay một thoại đầu chứ
không phải là một câu hỏi. Nếu vị thiền sinh trả lời
‘con đang lặt rau’ hoặc ‘con đang dọn dẹp thiền đường’
thì vị thiền sinh ấy không trả lời đúng câu hỏi. Nếu
câu trả lời là ‘con đâu có làm gì đâu’ hoặc ‘con đang
trở về với hơi thở chánh niệm’ thì có thể được chấp
nhận. Một nụ cười hoặc một câu ‘cảm ơn thầy’ cũng
có thể được chấp nhận. Câu hỏi này có mục đích giúp
thiền giả trở về với sự thực tập của mình và đi sâu
vào sự quán chiếu trong khi chấp tác. Xem Thoại đầu.
Con
đi cho cha (thuật ngữ) Thực tập đi từng bước an lạc
và thảnh thơi, không phải chỉ có lợi lạc cho người hành
giả mà còn lợi lạc cho cha mẹ trong ta. Có thể trong quá
khứ cha mẹ ta chưa có cơ hội thực tập thiền đi, vì vậy
bước một bước thảnh thơi an lạc cũng là bước một bước
cho tổ tiên, cho cha mẹ, cho thầy, cho em và cho mọi người
thân.
Con
Đường Chuyển Hóa (sách)
Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà xuất bản Lá Bối,
Hoa Kỳ ấn hành lần đầu năm 1990. Được dịch ra nhiều
thứ tiếng và được tái bản nhiều lần ở nhiều nước
trên thế giới. Bản dịch tiếng Anh dưới tựa đề Transformation
and Healing. Sách giảng giải về Kinh Niệm Xứ, một kinh căn
bản về thiền tập của đạo Bụt Nguyên Thỉ, và đưa ra
những phương pháp thực tập cụ thể đưa tới chuyển hóa
và trị liệu.
Con
Đường Giải Thoát (khóa tu) Tên một khóa tu 21 ngày được
tổ chức tại tiểu bang Vermont, Hoa Kỳ năm 1998. The Path of
Emancipation.
Con
người thật (thuật ngữ) Tiếp xúc với con người thật
của ta, không bị thời gian và không gian khuôn khổ và khống
chế, đó là mục đích của thiền tập. Con người đó được
thiền tổ Lâm Tế gọi là vô vị chân nhân, con người thật
không cần xác định vị trí trong khung thời gian, con người
thật không sinh diệt của bản môn.
Công
án (thuật ngữ) Xem Thoại đầu.
Cổ
Đạo Vân Bạch (tên sách) Ấn bản tiếng Hoa của tác phẩm
Đường Xưa Mây Trắng do nhà Trung Quốc Hoa Kiều Xuất Bản
Xã ấn hành năm 1999 tại Bắc Kinh. Địa chỉ nhà xuất bản:
số 12, đường An Định, khu Triêu Dương, Bắc Kinh.
Cổ
Pháp (lễ lược) Tên một đại giới đàn được tổ chức
tại Làng Mai trong khóa An Cư Kiết Đông 2005-2006.
Cổ
Phật khất thực (pháp môn) Những buổi các vị xuất gia
cầm bình bát đi khất thực theo kiểu Tăng đoàn của Bụt
ngày xưa. Tăng đoàn Làng Mai đã có những buổi cổ Phật
khất thực ở San Diego, Los Angeles, San Jose, Huế, Bình Định,
Hóc Môn, Bảo Lộc, v.v…
Cơ
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai,
tên đầy đủ là Chân Cơ Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm
1936, xuất gia năm 2003 tại Làng Mai, thuộc gia đình xuất gia
Cây Thốt Nốt.
Creating
True Peace (sách) Một cuốn sách viết bằng tiếng Anh của
Thầy Làng Mai xuất bản năm 2003 tại Hoa Kỳ do nhà xuất bản
Free Press, và tại Anh do nhà xuất bản Rider ấn hành.
CTC
(chức vụ) Xem Ban chăm sóc
Cúc
cu… Thầy đây (giai thoại) Một năm nọ, trong khóa an cư
kiết đông tại tu viện Lộc Uyển. Một buổi chiều Thầy
cùng vị thị giả đang đi dạo quanh tu viện, bỗng Thầy sai
vị thị giả đi lấy đồ cho Thầy. Vị thị giả (một sư
cô trẻ) đi một hồi rồi quay trở lại thì không thấy Thầy
đâu cả. Sư cô đi tới đi lui, chạy lên xóm trên (xóm quý
thầy ở) rồi chạy xuống xóm dưới (xóm quý sư cô ở),
gặp ai sư cô cũng hỏi thăm xem có ai thấy Thầy đâu không,
nhưng không ai biết Thầy đang ở đâu. Trời đã bắt đầu
tối và sư cô càng lúc càng lo lắng hơn. Rồi khi vừa đi
ngang qua thư viện của xóm quý thầy ở, sư cô bỗng nghe có
tiếng: “Cúc cu… Thầy đây!” Sư cô thở phào nhẹ
nhõm. Thì ra là Thầy đã ở trong thư viện đọc sách. Thầy
Làng Mai luôn luôn bước từng bước chân nhẹ nhàng như hôn
trên mặt đất như vậy đó, nhưng nếu chỉ cần sơ ý một
chút thôi là ta có thể bị mệt nhoài vẫn không theo kịp
Thầy!.
Cúc
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai,
tên đầy đủ là Chân Cúc Nghiêm. Người Hòa Lan, xuất gia
năm 2003 tại Làng Mai, thuộc gia đình xuất gia Cây Cẩm Lai
Cultivating
The Mind of Love (sách) Một cuốn sách viết bằng tiếng Anh
của Thầy Làng Mai do nhà Parallax xuất bản năm 1996 tại Hoa
Kỳ. Được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều
nước trên thế giới.
Cung
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên
đầy đủ là Chân Cung Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1974,
xuất gia năm 2002 tại Làng Mai, thuộc gia đình xuất gia Cây
Thốt Nốt.
Cương
Kỷ (người) Một vị đệ tử lớn của thiền sư Nhất
Định. Tổ sinh năm 1810 tại Quảng Trị, năm 24 tuổi tập
sự xuất gia một năm, năm sau thọ giới sa di pháp danh là
Hải Thiệu. Năm 31 tuổi, tổ được thọ giới lớn, sau đó
theo thầy là tổ Nhất Định lên núi Dương Xuân lập am An
Dưỡng. Năm 35 tuổi được tổ Nhất Định truyền đăng phó
pháp với bài kệ: Cương Kỷ kinh quyền bất chấp phương.
Tùy cơ ứng dụng thiên tư lương. Triêu triêu tương thức
nan tầm tích. Nhật nhật xuyên y nghiết phạn thường. Sau
khi tổ Nhất Định viên tịch, tổ xây dựng thảo am thành
chùa Từ Hiếu với sự ủng hộ của các quan thái giám. Năm
1848 vua Tự Đức ban danh hiệu “Sắc Tứ Từ Hiếu Tự”
cho chùa. Năm 1848 dưới triều vua Thành Thái, tổ trùng tu lại
chùa Từ Hiếu. Làm trú trì chùa Từ Hiếu, tổ có phát mười
lăm đại nguyện như sau: 1. Thân hình dị tục, bất tơ bạch
y. 2. Khẩu thường thanh tịnh, bất thuyết thị phi. 3. Ý hành
bình chính, vô gián tôn ti. 4. Tâm thường nhẫn nhục, xả
tham sân si. 5. Ngọ trung nhất thực, bất quá hậu kỳ.
6. Căn trì tế hạnh, bất thất uy nghi. 7. Phạm vũ lao
cố, Phật điện quang huy. 8. Cư hằng an ổn, nhật dụng vô
khuy. 9. Đệ tử chúng đẳng, tai nạn vĩnh ly. 10. Đàn na thí
chủ, phước thọ khương hy. 11. Oán thân bình đẳng, đồng
phó liên trì. 12. Tịch diệt thần chí, hoạch dự tiên
tri. 13. Đoan nhiên tọa hóa, chính lý tây quy. 14. Bất
sinh bất diệt, liễu chứng vô vi. 15. Tảo thành Phật
đạo, quảng độ quần mê.
Cửa
Tùng Đôi Cánh Gài (sách) Một tập truyện ngắn gồm
các truyện Cửa Tùng Đôi Cánh Gài, Tùng, Giọt Nước Cánh
Chim và Một Bó Hoa Đồng của Thầy Làng Mai do nhà xuất bản
Lá Bối, Hoa Kỳ ấn hành năm 1993. Được dịch sang nhiều
thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước.
Cửa
vô sinh mở rồi (thuật ngữ) Ta có thể tiếp xúc với
bản môn (xem bản môn) hoặc niết bàn, ngay trong giây phút
hiện tại và ngay nơi chỗ ta đang ngồi, bởi vì cánh cửa
của bản môn, cánh cửa của niết bàn luôn luôn mở ra. Vô
sinh là niết bàn, là tự tính của các pháp. Các pháp môn
vốn không sinh, không diệt, không tới, không đi, không một,
không khác, không có, không không. Vô sinh là không sinh, đại
diện cho bảy cái không khác. Sống sâu sắc trong giây phút
hiện tại, ta tiếp xúc được sâu sắc thế giới hiện tượng,
thế giới bản môn, và vì vậy có cơ duyên tiếp xúc với
tự tính vô sinh, tự tính niết bàn vốn là nền tảng của
mọi hiện tượng. Thế giới hiện tượng mới nhìn thì như
có sinh - diệt, có có - không, nhưng nếu quán chiếu cho sâu
sắc ta có thể tiếp xúc với tính không sinh - diệt, không
có - không của nó.