M
Mai
Hoa Thôn Cam Lộ Tự (chùa) Một chùa thuộc Xóm Hạ, Làng
Mai, thường gọi là chùa Cam Lộ. Địa chỉ: Meyrac 47120, Loubès-Bernac,
France, do sư cô Chân Diệu Nghiêm (sư cô Jina) làm trụ trì.
Mai
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên
đầy đủ là Chân Mai Nghiêm. Người Pháp, sinh năm 1984, xuất
gia năm 2002 tại Làng Mai, thuộc gia đình xuất gia Cây Xoan.
Mai
Thôn Đạo Tràng (cơ sở) Còn gọi là Làng Mai (xem
Làng Mai).
Mãn
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên
đầy đủ là Chân Mãn Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1962,
xuất gia năm 2005 tại Làng Mai, thuộc gia đình xuất gia cây
Hướng Dương.
Mây
Thong Dong (điện đường) Một thiền đường thuộc chùa
Từ Nghiêm, Xóm Mới, Làng Mai.
Mây
Tím (cơ sở) Một cư xá thuộc chùa Cam Lộ, Xóm Hạ, Làng
Mai.
Mẫn
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên
đầy đủ là Chân Mẫn Nghiêm. Người Việt-Hoa, quốc tịch
Mỹ, sinh năm 1986, xuất gia năm 1999 tại Làng Mai, thuộc gia
đình xuất gia Cây Anh Đào.
Mật
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên
đầy đủ là Chân Mật Nghiêm. Người Việt Nam, quốc tịch
Gia Nã Đại, sinh năm 1985, xuất gia năm 2001 tại Làng Mai, thuộc
gia đình xuất gia Cây Dâu.
Mắt
tăng (thuật ngữ) Con mắt của tăng thân, của đoàn
thể tu học. Một danh từ được Làng Mai chế tác. Trước
đó chỉ có ngũ nhãn là mắt thịt (nhục nhãn), mắt trời
(thiên nhãn), mắt tuệ (tuệ nhãn), mắt pháp (pháp nhãn), và
mắt Bụt (Phật nhãn). Mắt tăng (tăng nhãn – có thể dịch
ra tiếng Phạn là sangha-caksus) là cái thấy của tăng thân,
bao giờ cũng sáng suốt hơn là cái thấy của một cá nhân.
Ở Làng Mai, hành giả được tăng thân soi sáng và dìu dắt
trên con đường thực tập. Hành động soi sáng và dìu dắt
này được căn cứ trên cái thấy của tăng thân về mình.
Cái thấy ấy là tăng nhãn. Hành giả nên tập sử dụng tăng
nhãn để nhìn tự thân và nhìn sự việc.
Mắt
thương (thuật ngữ) Con mắt từ bi, dịch chữ từ nhãn
(từ nhãn thị chúng sinh, lấy con mắt thương nhìn mọi loài)
trong phẩm Phổ Môn, kinh Pháp Hoa. Nhìn người khác bằng con
mắt từ bi, hành giả sẽ không bao giờ đau khổ và người
được nhìn cũng cảm thấy được chấp nhận và thương yêu.
Mặc
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai,
tên đầy đủ là Chân Mặc Nghiêm. Người Việt Nam, xuất
gia năm 2005 tại Việt Nam, thuộc gia đình xuất gia Cây Vú
Sữa.
MCorp
Global (tên hãng) Tên của một công ty do tiến sĩ Bhupendra
Kumar Modi làm giám đốc. Công ty này đã quyết định bỏ ra
120 triệu Mỹ Kim để thực hiện phim Buddha căn cứ vào tác
phẩm Đường Xưa Mây Trắng của Thầy Làng Mai.
Michel
Shane (người) Tên nhà sản xuất phim tại Hollywood có phận
sự thực hiện cuốn phim Buddha dựa trên tác phẩm Đường
Xưa Mây Trắng của Thầy Làng Mai. Cuốn phim được tài trợ
bởi công ty M Corp Global do tiến sĩ Bhupendra Kumar Modi làm giám
đốc.
Minh
Châu (người) Một vị xuất gia nữ tu học tại Làng
Mai, với pháp tự là Chân Vân Nghiêm. Người Việt Nam, sinh
năm 1983, xuất gia năm 1991 tại Việt Nam.
Minh
Đức (người) Một vị giáo thọ xuất gia nam, được Thầy
Làng Mai truyền đăng năm 1996 với bài kệ truyền đăng như
sau: Minh nguyệt sơ đăng truyền pháp nhũ. Đức sơn bất động
phá trầm luân. Thụy khởi thanh thiên vân tận khứ. Đương
chiêm tuệ nhật nhất phương hồng. (Trăng sáng vừa lên cho
sữa pháp. Núi cao ngồi vững phá tâm trần. Thức dậy trời
xanh mây quét sạch. Hồng hào tuệ nhật chiếu phương Đông.)
Minh
Hương (người) Một vị xuất gia nữ tu học tại
Làng Mai. Thọ giới năm 2004 với pháp tự là Chân Thạch Nghiêm.
Người Việt Nam, sinh năm 1979, xuất gia năm 1992 tại Việt
Nam.
Minh
Mẫn (người) Một vị giáo thọ nam, người Việt
Nam, sinh năm 1975, xuất gia năm 1995 tại Việt Nam. Được Thầy
Làng Mai truyền đăng năm 2006 với bài kệ truyền đăng: Không
trung vầng nhật chiếu quang Minh. Mẫn tiệp tâm khai chuyển
khí tình. Xuất thế công phu dòng thật quán. Chân thừa pháp
lực độ quần sinh.
Minh
Phương (người) Một vị xuất gia nữ tu học tại Làng
Mai, thọ giới lớn năm 2004 tại Làng Mai với pháp tự là
Chân Thủy Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1983, xuất gia năm
2001 tại Việt Nam.
Minh
Tánh (người) Một vị giáo thọ xuất gia nam, thượng tọa
Thích Minh Tánh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1996
với bài kệ truyền đăng như sau: Minh thấy vô minh nở nụ
cười. Tánh soi vô tánh sạch trần ai. Trượng phu một quyết
lên đường lớn. Gươm báu trao truyền hãy vững tay.
Minh
Tánh (người) Một vị giáo thọ xuất gia nữ, ni sư Chân
Minh Tánh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với
bài kệ truyền đăng như sau: Minh tâm kiến tánh quyết lên
đường. Tám vạn trần lao nguyện thả buông. Cơ nghiệp tổ
tiên gây dựng lại. Xuân về đâu chẳng một mùa xuân.
Minh
Tuấn (người) Một vị giáo thọ xuất gia nam, người Việt
Nam, sinh năm 1951, xuất gia năm 1965 tại Việt Nam. Được Thầy
Làng Mai truyền đăng phó pháp năm 2005 với bài kệ truyền
đăng: Thông Minh Tuấn tú bậc anh tài. Nương thuyền Tăng bảo
vượt trần ai. Sương thu cành huệ xòe hoa trắng. Một hướng
ngàn năm vững bảo đài.
Mì
gói Giáng Kiều (thuật ngữ) Câu chuyện Tú Uyên và Giáng
Kiều trong Bích Câu Kỳ Ngộ của Đặng Trần Côn được Thầy
Làng Mai hiện đại hóa để nói về nghệ thuật tái lập
truyền thông. Tú Uyên thông minh, đẹp trai, nhưng không giữ
năm giới, không có khả năng truyền thông. Nhờ thực tập
đốt hương Giới, hương Định và hương Tuệ mà được đoàn
tụ lại với Giáng Kiều. (Trích bài Pháp thoại Tìm Lại Giáng
Kiều, sách Leo Đồi Thế Kỷ, Lá Bối xuất bản, từ trang
74 đến trang 89).
Một
Bó Hoa Đồng (sách) Một tập truyện ngắn nhiều tác giả
do nhà Lá Bối, Paris xuất bản năm 1977. Các truyện của Thầy
ký bút hiệu Nhất Hạnh.
Mỗi
bước chân đi vào tịnh độ (thuật ngữ) Mỗi bước chân
của hành giả khi thực tập thiền đi đều đưa hành giả
vào tịnh độ. Khi tâm hành giả có năng lượng của niệm
và định, hành giả thực sự có mặt trong giây phút hiện
tại, không bị quá khứ và tương lai lôi kéo, và hành giả
tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống ngay
trong giây phút hiện tại. Những mầu nhiệm của cõi Tịnh
Độ được nói đến trong kinh A Di Đà bỗng nhiên có mặt
và vì vậy hành giả tiếp xúc được với tịnh độ trong
lúc thực tập đi thiền. Tịnh độ không phải ở phương
Tây hay ở tương lai, mà là tịnh độ bây giờ và ở đây.
Đó gọi là hiện pháp tịnh độ, hay tịnh độ hiện tiền.
Đi đâu hành giả cũng tiếp xúc với tịnh độ, đi đâu hành
giả cũng mang tịnh độ theo, vì vậy tịnh độ còn được
gọi là tịnh độ cầm tay (the portable pure land). Nắm tay Bụt
để đi trong tịnh độ mỗi ngày, đó là phép thực tập thiền
đi, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu.
Mở
Thêm Rộng Lớn Con Đường (bài hát) Một bài hát, lời
của Thầy Làng Mai, nhạc Tịnh Thủy (sư cô Chân Quy Nghiêm).
Mái tóc vốn màu gỗ quý. Nay dâng thành khối trầm thơm. Nét
đẹp đi về vĩnh cửu. Vi diệu thay ý vô thường. Đã thấy
đời cơn huyễn mộng. Chân tâm một quyết lên đường. Nghe
hải triều lên mấy độ. Nguyện phát túc về siêu phương.
Gió reo trên triền núi Thứu. Lòng này thôi hết vấn vương
… Sáng nay cạo sạch mái tóc. Mở thêm rộng lớn con đường.
Phiền não vô biên nguyện đoạn. Một tâm mà động mười
phương.
Mười
ba cây vô ưu (pháp số) Mười ba cây vô ưu là nhóm
các vị cùng được xuất gia ngày 07 tháng 07 năm 2003 tại
Làng Mai, gồm các thầy và các sư cô Chân Pháp Đệ, Chân
Pháp Tập, Chân Lan Nghiêm, Chân Pháp Quang, Chân Thái Nghiêm,
Chân Pháp Tịnh, Chân Khải Nghiêm, Chân Pháp Ngữ, Chân Khuê
Nghiêm, Chân Pháp Lâm, Chân Pháp Toàn, Chân Bối Nghiêm, Chân
Pháp Huân.
Mười
bốn bài kệ Chỉ Quán (thi kệ) 1. Như chim có hai cánh.
Thiền tập có chỉ, quán. Hai cánh chim nương nhau. Chỉ và
Quán song hành. 2. Chỉ là tập dừng lại. Để nhận diện,
tiếp xúc. Nuôi dưỡng và trị liệu. Lắng dịu và chú tâm.
3. Quán là tập nhìn sâu. Vào bản chất năm uẩn. Làm phát
khởi tuệ giác. Chuyển hóa mọi sầu đau. 4. Hơi thở và bước
chân. Chế tác nguồn chánh niệm. Để nhận diện, tiếp xúc.
Với sự sống màu nhiệm. 5. Làm lắng dịu thân, tâm. Nuôi
dưỡng và trị liệu. Hộ trì được sáu căn. Và duy trì chánh
định. 6. Nhìn sâu vào thực tại. Thấy tự tính các pháp.
Quán giúp ta buông bỏ. Mọi tìm cầu sợ hãi. 7. An trú trong
hiện tại. Chuyển hóa các tập khí. Làm phát sinh tuệ giác.
Giải thoát mọi não phiền. 8. Vô thường là vô ngã. Vô ngã
là duyên sinh. Là không, là giả danh. Là trung đạo, tương
tức. 9. Không, vô tướng, vô tác. Giải tỏa mọi sầu đau.
Trong nhật dụng công phu. Không kẹt vào lý giải. 10. Niết
Bàn là vô đắc. Đốn, tiệm không phải hai. Chứng đạt sống
thảnh thơi. Ngay trong giờ hiện tại. 11. Các thiền kinh căn
bản. Như An Ban, Niệm Xứ. Chỉ đường đi nước bước. Chuyển
hóa thân và tâm. 12. Các kinh luận đại thừa. Mở thêm
nhiều cửa lớn. Giúp ta thấy chiều sâu. Của dòng thiền
Nguyên Thỉ. 13. Như Lai và Tổ Sư. Thiền chẳng nên cách biệt.
Bốn đế phải nương nhau. Làm nền tảng truyền thừa. 14.
Có Tăng thân yểm trợ. Thực tập dễ thành công. Chí nguyện
lớn độ sinh. Lên đường mau thành tựu.
Mười
bốn giới tiếp hiện (pháp số, giới điều)
Những giới điều làm căn bản cho Dòng Tu Tiếp Hiện, một
dòng tu được thiết lập tại chùa Pháp Vân Sài Gòn vào tháng
02 năm 1966. Mười bốn điều làm đường hướng, làm ý thức
soi sáng cho từng giây từng phút của sự sống hàng ngày của
những thành viên dòng tu Tiếp Hiện. Vì tôn chỉ của dòng
Tiếp Hiện là hiện đại hóa đạo Bụt bằng cách nghiên
cứu, thực nghiệm và áp dụng đạo Bụt một cách linh động
và hữu hiệu vào đời sống mới của bản thân cũng như
của xã hội, nên mười bốn giới Tiếp Hiện thể hiện rõ
ràng tinh thần đó. Theo đạo Bụt, tâm là chủ, là họa sĩ
vẽ ra tất cả các pháp, vì vậy giới Tiếp Hiện được
bắt đầu bằng bảy giới về tâm ý. Hai giới tiếp theo dành
cho lời nói (ngữ) và năm giới cuối cùng điều chỉnh thân.
Giới Tiếp Hiện cũng phản ánh được bốn đặc tính quan
trọng nhất của tư tưởng đạo Bụt Đại Thừa là tính
phá chấp (vượt thoát ra ngoài mọi thành kiến, mọi cố chấp
và giáo điều), tính khế cơ (có tính thực dụng và hữu
hiệu, phù hợp với hoàn cảnh tâm lý và xã hội), tính thực
chứng (tôn trọng thực nghiệm, không vướng vào các vấn
đề siêu hình) và tính phương tiện (những pháp môn mới
được sáng tạo ra để phù hợp với căn cơ mới, thời đại
mới). Giới Tiếp hiện dành cho cả người xuất gia và
tại gia. Bản chất và cách thức hành trì giới Tiếp Hiện
gần với bản chất và cách hành trì của giới Bồ Tát. 1.
Giới thứ nhất: Cởi mở và bao dung: Ý thức được
những khổ đau do thái độ cuồng tín và thiếu bao
dung gây ra, con xin nguyện thực tập để đừng bị vướng
mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết
nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết
Phật giáo. Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận
thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để
phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những
chân lý để thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ
bằng những phương tiện bạo động. 2. Giới thứ hai:
Không vướng mắc vào sở Tri Kiến: Ý thức được
những khổ đau do kiến chấp và vọng tưởng gây ra,
con xin nguyện thực tập để phá bỏ thái độ hẹp
hòi và cố chấp, để có thể cởi mở và đón nhận
tuệ giác và kinh nghiệm của người khác. Con biết rằng
những kiến thức hiện giờ con đang có không phải là
những chân lý bất di bất dịch, và tuệ giác chân thực
chỉ có thể đạt được do sự thực tập quán chiếu
và lắng nghe, bằng sự buông bỏ tất cả mọi ý niệm
mà không phải bằng sự chứa chấp kiến thức khái
niệm. Con nguyện suốt đời là một người đi tìm
học và thường trực sử dụng chánh niệm để quán
chiếu sự sống trong con và xung quanh con trong từng giây
phút. 3. Giới thứ ba: Tự do nhận thức: Ý thức được
những khổ đau do sự cưỡng bức kẻ khác vâng theo ý
kiến của mình, con nguyện không ép buộc người khác,
kể cả trẻ em, theo quan điểm của con, bằng bất cứ
cách nào: uy quyền, sự mua chuộc, sự dọa nạt, sự
tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ. Con nguyện tôn trọng
sự khác biệt của kẻ khác và sự tự do nhận thức
của họ. Tuy nhiên con biết con phải dùng những phương
tiện đối thoại từ bi và ái ngữ để giúp người
khác cởi bỏ cuồng tín và cố chấp. 4. Giới thứ
tư: Ý thức về khổ đau: Ý thức rằng tiếp xúc và
quán chiếu về bản chất của khổ đau có thể giúp
con phát khởi tâm từ bi và thấy được con đường
thoát khổ, con nguyện không trốn tránh thực tại khổ
đau, nhắm mắt trước khổ đau và đánh mất ý thức
về khổ đau của cuộc sống. Con nguyện tìm tới với
những kẻ khổ đau để hiểu biết được tình trạng
của họ và để giúp đỡ họ. Bằng những phương tiện
tiếp xúc, tường thuật, hình ảnh, âm thanh, con nguyện
thường xuyên tự đánh thức mình và đánh thức những
người xung quanh về sự có mặt của những đau khổ
hiện thực khắp nơi trên thế giới. Con biết rằng
sự thật thứ tư là đạo đế chỉ hiển lộ khi nào
con quán chiếu và thấy được tự tánh của sự thật
thứ nhất là khổ đế, và con sẽ luôn luôn nhớ rằng
mục đích của sự tu tập là chuyển hóa khổ đau trở
thành an lạc. 5. Giới thứ năm: Sống lành mạnh và giản
dị: Ý thức rằng hạnh phúc chân thực không thể đạt
tới được bằng tiền tài và danh vọng mà chỉ thật
sự có mặt khi nào các yếu tố an ổn, vững chãi,
thảnh thơi và từ bi có mặt, con nguyện không tích lũy
tiền bạc và của cải trong khi nhiều người đang đói
khổ, thiếu thốn, không đặt danh vọng, quyền hành và
sự hưởng thụ dục lạc làm mục tiêu của đời mình.
Con nguyện tập sống giản dị và học chia sẻ thì giờ,
khả năng và tài vật của mình với những kẻ thiếu
thốn. 6. Giới thứ sáu: Đối xử với năng lượng sân
hận: Ý thức được rằng sân hận và oán thù có
tác dụng cắt đứt truyền thông giữa người với người
và tạo ra nhiều đau khổ cho cả hai phía, con nguyện học
hỏi phương pháp chăm sóc và đối xử với năng lượng
sân hận và oán thù khi chúng phát khởi trên ý thức
con và phương pháp quán chiếu để nhận diện và chuyển
hóa hạt giống của sân hận và oán thù trong chiều
sâu tâm thức con. Con nguyện tập luyện để mỗi khi
cơn giận hoặc sự bực tức phát khởi, con sẽ không
nói gì và làm gì cả mà chỉ thực tập hơi thở chánh
niệm hoặc đi thiền hành ngoài trời để chăm sóc
tâm niệm sân hận và oán thù của con bằng năng lượng
chánh niệm và để nhìn sâu vào bản chất của các
tâm niệm sân hận và oán thù ấy. Con cũng nguyện sẽ
học hỏi nhìn sâu vào tự tánh của người mà con nghĩ
đã gây nên tâm niệm sân hận và oán thù của con và
để có thể nhìn được người ấy bằng con mắt
từ bi. 7. Giới thứ bảy: An trú trong giây phút hiện tại:
Ý thức được rằng sự sống chỉ có thể thực sự
có mặt trong giây phút hiện tại, và ta chỉ có thể
sống an lạc ngay trong giây phút ấy, con nguyện tập luyện
để có thể sống sâu sắc từng giây phút trong cuộc
sống hàng ngày của con. Con nguyện không để cho những
hối tiếc về quá khứ, những lo lắng về tương lai
và những tham dục, giận hờn và ganh tỵ đối với
những gì đang xảy ra trong hiện tại lôi kéo con và làm
cho con đánh mất sự sống mầu nhiệm. Con nguyện thực
tập giáo lý hiện pháp lạc trú, sử dụng hơi thở
và nụ cười chánh niệm để tiếp xúc với những
gì mầu nhiệm, tươi mát và lành mạnh trong con và chung
quanh con, để liên tục gieo trồng và tưới tẩm những
hạt giống an lành, hiểu biết và thương yêu trong con,
làm động lực chuyển hóa chiều sâu tâm thức và đi
tới trên đường thành tựu đạo nghiệp. 8. Giới thứ
tám: Cộng đồng và truyền thông: Ý thức được rằng
những khó khăn trong việc truyền thông giữa người với
người luôn luôn đưa tới ngăn cách và khổ đau, con nguyện
thực tập lắng nghe bằng tâm từ bi và nói năng bằng
lời ái ngữ. Con nguyện học hạnh lắng nghe chăm chú
mà không phán xét và chỉ trích và không nói ra bất
cứ một lời nào có thể tạo nên sự bất hòa trong
đoàn thể và có thể làm tan vỡ đoàn thể. Con nguyện
tu tập để tái lập lại sự truyền thông giữa con
và mọi người khác, và để giúp giải quyết mọi vụ
bất hòa, dù lớn dù nhỏ. 9. Giới thứ chín: Lời
nói chân thật và ái ngữ: Ý thức được rằng lời
nói có thể tạo ra khổ đau hay hạnh phúc, con xin nguyện
luyện tập để chỉ nói những lời nói chân thật
có tác dụng hòa giải, gây niềm tin tưởng và hy vọng.
Con nguyện không nói dối để mưu cầu tài lợi và
sự kính phục, không nói những lời gây chia rẽ và căm
thù, không loan truyền những tin mà con không biết chắc
là có thật, không phê bình và lên án những gì con
không biết rõ. Con nguyện can đảm nói ra sự thật về
những tình trạng bất công, dù hành động này có thể
mang lại những đe dọa cho sự an thân của mình. 10. Giới
thứ mười: Bảo vệ tăng thân: Ý thức rằng mục đích
và bản chất của một đoàn thể tu học là sự thực
hiện tuệ giác và từ bi, con nguyện không bao giờ lợi
dụng đạo Bụt và các đoàn thể giáo hội vào mục
tiêu quyền bính, không biến các giáo đoàn thành những
tổ chức hoạt động chính trị. Tuy nhiên, con nhận thức
rằng các đoàn thể tu học phải có ý thức và thái
độ rõ rệt về những tình trạng áp bức và bất
công xã hội và có thể sử dụng ảnh hưởng mình
để chuyển đổi các tình trạng ấy mà không cần
và không nên dấn thân vào những cuộc tranh chấp phe
phái. 11. Giới thứ mười một: Chánh mạng: Ý thức
rằng thiên nhiên và xã hội con người đã bị tàn phá
trầm trọng vì bạo động và bất công, con nguyện thực
tập chánh mạng, quyết tâm không sinh sống bằng những
nghề nghiệp có thể gây tàn hại cho con người và thiên
nhiên, không đầu tư vào những doanh nghiệp chuyên làm
lợi cho một nhóm người trong khi tước đoạt môi trường
và cơ hội sinh sống của những nhóm người khác. Con
nguyện chọn một nghề có thể giúp con thực hiện
được lý tưởng từ bi và cứu khổ của đạo Bụt.
12. Giới thứ mười hai: Tôn trọng sinh mạng: Ý thức
được những khổ đau do chiến tranh và các cuộc xung
đột tạo ra, con nguyện thực tập sống đời sống
hàng ngày của con theo tinh thần bất hại, hiểu biết
và thương yêu. Con nguyện góp phần vào công việc giáo
dục hòa bình và thực tập hòa giải trong phạm vi gia
đình, cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Con nguyện
không giết hại sinh mạng, không tán thành sự chém giết,
và thường xuyên quán chiếu với tăng thân con để tìm
ra những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ sinh mạng,
ngăn chặn chiến tranh và xây dựng hòa bình. 13. Giới
thứ mười ba: Sự hảo tâm: Ý thức được những khổ
đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội
gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui
sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia
xẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những
kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy
làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do
mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ
khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ
tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự
đau khổ của con người và của muôn loại. 14. Giới thứ
mười bốn: Hành động chân chính. Dành cho Tiếp Hiện
tại gia: Ý thức được rằng sự tìm tới và phối
hợp giữa hai cơ thể do sự thúc đẩy của dục tình
không những đã không thể giải tỏa được nỗi cô đơn
của con người mà còn tạo thêm nhiều khổ đau, chua cay
và xa cách, con nguyện không ăn nằm với những người
không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được
rằng hành động tà dâm sẽ gây ra khổ đau cho kẻ khác
và cho chính con trong hiện tại và trong tương lai. Con biết
muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì
phải biết tôn trọng những điều mà mình và kẻ khác
đã cam kết. Con nguyện sẽ làm mọi cách có thể để
bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên
sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi
lứa. Con ý thức được trọn vẹn trách nhiệm của con
về sự cho ra đời những sinh mạng mới và thường
xuyên quán chiếu về môi trường sinh hoạt trong tương
lai của những sinh mạng này. Tiếp Hiện xuất gia:
Ý thức được rằng lý tưởng xuất gia chỉ có thể
thực hiện được với sự cắt bỏ hoàn toàn những
ràng buộc đối với ái dục, con nguyện giữ mình
thật tinh khiết, tự bảo vệ nếp sống phạm hạnh của
con và hết lòng bảo vệ tiết hạnh của kẻ khác. Con
biết cô đơn và khổ đau không thể nào được giải
tỏa bằng dục tình mà chỉ có thể được chuyển hóa
bằng sự thực tập hiểu biết và thương yêu đích
thực. Con biết hành động dâm dục sẽ làm tan vỡ cuộc
đời xuất gia của con, làm hại đến cuộc đời của
kẻ khác và không cho con thực hiện được lý tưởng
cứu độ chúng sanh của mình. Con nguyện không ép uổng
thân thể con, không đối xử với thân thể con một cách
bạo động và khinh xuất, không xem thân thể chỉ như là
một dụng cụ. Con nguyện bảo trọng thân thể con, xem thân
thể mình là đền thờ của tâm linh, là chiếc thuyền
vượt biển, và thường xuyên học hỏi bảo tồn tinh,
khí và thần để có đủ năng lực hành đạo.
Mười
chín cây vú sữa (pháp số) Mười chín cây vú sữa
là nhóm các vị cùng được xuất gia ngày 01 tháng 02 năm 2005
tại Việt Nam, trong khóa tu tăng ni tại chùa Hoằng Pháp, Hóc
môn; gồm các thầy và các sư cô Chân Pháp Nhã, Chân Sùng
Nghiêm, Chân Pháp Toại, Chân Tánh Nghiêm, Chân Thẩm Nghiêm,
Chân Phổ Nghiêm, Chân Pháp Ninh, Chân Pháp Chung, Chân Mặc Nghiêm,
Chân Ứng Nghiêm, Chân Tập Nghiêm, Chân Giai Nghiêm, Chân Chí
Nghiêm, Chân Mỹ Nghiêm, Chân Dung Nghiêm, Chân Tôn Nghiêm, Chân
Duệ Nghiêm, Chân Pháp Anh, Chân Thao Nghiêm.
Mười
giới sa di (pháp
số, giới điều) Mười giới dành cho các vị xuất gia nam
và nữ trong những năm đầu của cuộc sống xuất gia và là
nền tảng của giới lớn Ba La Đề Mộc Xoa sau này. Có trong
sách Bước Tới Thảnh Thơi, là kim chỉ nam thực tập cho các
vị sa di và sa di ni. Hành tướng mười giới được trình
bày rất cụ thể, rõ ràng và rất hiện đại. Mười giới
sa di đúng là tiêu chuẩn của đời sống một người xuất
gia, dù vị xuất gia này đã thọ giới lớn. Chỉ cần đọc
mười giới này cũng đủ thấy đời sống và lý tưởng của
người xuất gia là cao viễn, thảnh thơi và đẹp đẽ. Sống
đúng theo mười giới này, vị sa di chứng tỏ mình đã ly
khai con đường trần lụy của thế gian và đang bước trên
con đường thương yêu của các vị Bụt và Bồ Tát. Bảo
tồn nguyên vẹn tinh thần của các giới luật nguyên thỉ,
Hội đồng Giáo thọ của đạo tràng Mai Thôn đã biên soạn
lại để mười giới sa di phản ánh được bản chất chánh
niệm của giới, đồng thời cũng thỏa mãn được nhu yếu
về lý tưởng thương yêu và hiểu biết của những người
xuất gia trong thời đại mới. 1. Giới thứ nhất là bảo
vệ sinh mạng: Ý thức được những khổ đau do sự
sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ
sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không
giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và
không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng
hay trong cách sống hàng ngày của con. 2. Giới thứ hai
là tôn trọng quyền tư hữu: Ý thức được những khổ
đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội
gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui
sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia
xẻ thì giờ và năng lực của con với những kẻ thiếu
thốn. Con nguyện không lấy làm của riêng bất cứ một
tài vật nào của thường trú hoặc của bất cứ ai.
Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, và
cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ
và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ
của con người và của muôn loại. 3. Giới thứ ba là
bảo vệ tiết hạnh: Ý thức được rằng lý tưởng
của người xuất gia chỉ có thể thực hiện được
với sự cắt bỏ hoàn toàn những ràng buộc đối
với ái dục, con nguyện giữ mình thật tinh khiết, tự
bảo vệ nếp sống phạm hạnh của con và hết lòng bảo
vệ tiết hạnh của kẻ khác. Con biết hành động dâm
dục sẽ làm tan vỡ cuộc đời xuất gia của con, làm
hại đến cuộc đời của kẻ khác, và không cho con thực
hiện được lý tưởng cứu độ chúng sanh của mình.
4. Giới thứ tư là thực tập chánh ngữ và lắng nghe:
Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh
niệm gây ra, con xin học theo các hạnh chánh ngữ và lắng
nghe để có thể dâng tặng niềm vui cho người và làm
vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có
thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con
nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự
tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị
xây dựng hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói
những điều sai với sự thật, những lời gây chia rẽ
và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà
con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên
án những điều con không biết rõ. Con nguyện thực tập
lắng nghe với tâm từ bi, để có thể hiểu được
những khổ đau và khó khăn của kẻ khác và để làm
vơi đi những khổ đau của họ. Con nguyện không nói những
điều có thể tạo nên sự bất hòa trong đoàn thể
tu học của con, những điều có thể gây nên chia rẽ và
làm tan vỡ đoàn thể tu học của con. Con nguyện không
nói những lỗi lầm của bất cứ một vị xuất gia
nào ngoài tăng thân con và bất cứ về một đạo tràng
nào khác, dù có khi con nghĩ là những lỗi lầm này
có thật. 5. Giới thứ năm là bảo vệ và nuôi dưỡng
thân tâm, không sử dụng rượu, các chất ma túy và tiêu
thụ những sản phẩm có độc tố: Ý thức được
những khổ đau do sự sử dụng rượu, các chất ma túy
và các độc tố gây ra, con nguyện chỉ tiêu thụ những
thức ăn thức uống không có độc tố và không có
tác dụng gây nên sự say sưa, tình trạng mất tự chủ
của thân tâm và tình trạng nặng nề và ốm đau của
thân thể cũng như của tâm hồn. Con nguyện thực tập
chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện
chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân
tâm con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các
chất ma túy, không ăn uống và tiêu thụ những sản phẩm
có độc tố trong đó có cả những sản phẩm sách
báo và phim ảnh có chứa đựng bạo động, sợ hãi,
thèm khát và hận thù. 6. Giới thứ sáu là không sử
dụng mỹ phẩm và đồ trang sức: Ý thức được cái
đẹp đích thực của người xuất gia là tính chất
vững chãi và thảnh thơi, con nguyện mỗi ngày làm đẹp
cho con và cho tăng thân con bằng sự thực tập chánh niệm,
cụ thể qua sự hành trì giới luật và các uy nghi trong
đời sống hàng ngày. Con biết các loại mỹ phẩm và
trang sức mà người đời sử dụng chỉ có thể đem
lại sự hào nhoáng giả tạo bên ngoài, và chỉ có tác
dụng gây ra sự chìm đắm và vướng mắc, cho nên con
nguyện sống giản dị, gọn gàng và sạch sẽ trong cách
ăn mặc của con. Con nguyện không sử dụng các loại nước
hoa, phấn, sáp, các loại mỹ phẩm và các thức trang
sức khác. 7. Giới thứ bảy là không vướng mắc vào
các lối tiêu khiển trần tục: Ý thức được những
ca khúc, phim truyện, sách báo và các trò giải trí của
thế gian có thể có tác dụng độc hại cho thân tâm
người xuất gia và làm mất thì giờ cho công phu tu học
của mình, con nguyện không để bị chìm đắm theo những
sản phẩm ấy. Con nguyện không đọc tiểu thuyết, xem
phim ảnh và sách báo trần tục, không tìm sự tiêu khiển
bằng cách ca hát và thưởng thức những bài hát tình
sầu, kích động và đứt ruột, và không đánh mất
thì giờ tu học của con bằng những trò chơi điện tử
và bài bạc. 8. Giới thứ tám là không sống đời sống
vật chất sang trọng và xa hoa: Ý thức được rằng
sống trong những điều kiện vật chất sang trọng và
xa hoa, người xuất gia sẽ khởi tâm ái dục và tự hào,
con nguyện suốt đời chỉ sống một nếp sống giản
dị, thiểu dục và tri túc. Con nguyện không ngồi và
không nằm trên những chiếc ghế và chiếc giường lộng
lẫy, không sử dụng lụa là, gấm vóc xe cộ bóng loáng
và nhà cửa cao sang. 9. Giới thứ chín là không ăn mặn
và không ăn ngoài những bữa ăn của đại chúng: Ý thức
được nhu yếu giữ gìn sức khỏe, sống hòa hợp với
tăng thân và nuôi dưỡng lòng từ bi, con nguyện suốt
đời ăn chay và không ăn ngoài những bữa ăn của đại
chúng, trừ trường hợp có bệnh. 10. Giới thứ mười
là không tích lũy tiền bạc và của cải: Ý thức được
rằng hạnh phúc của người xuất gia được làm bằng
các chất liệu vững chãi và thảnh thơi, con nguyện
không để cho tiền bạc và của cải làm vướng bận
đường tu của con. Con nguyện không tích lũy tiền bạc
và của cải, không đi tìm hạnh phúc trong sự chất chứa
tiền bạc và của cải, không nghĩ rằng tiền bạc, châu
báu và của cải có thể bảo đảm cho sự an ninh của
con.
Mười
hai cây sứ (pháp số) Mười hai cây sứ là nhóm các
vị cùng được xuất gia ngày 18 tháng 05 năm 2000 tại Làng
Mai, gồm các thầy và các sư cô Chân Thông Nghiêm, Chân Quả
Nghiêm, Chân Hộ Nghiêm, Chân Đẳng Nghiêm, Chân Thuận Nghiêm,
Chân Pháp Cần, Chân Phụng Nghiêm, Chân Vĩnh Nghiêm, Chân Pháp
Lĩnh, Chân Pháp Đôn, Chân Học Nghiêm, Chân Đạt Nghiêm.
Mười
hai cây xoan (pháp số) Mười hai cây xoan là nhóm các
vị cùng được xuất gia ngày 26 tháng 05 năm 2002 tại Làng
Mai, gồm các thầy và các sư cô Chân Pháp Lộ, Chân Gia Nghiêm,
Chân Liễu Nghiêm, Chân Hồng Nghiêm, Chân Trúc Nghiêm, Chân
Pháp Lai, Chân Hiền Nghiêm, Chân Thanh Nghiêm, Chân Pháp Uyển,
Chân Pháp Hành, Chân Trang Nghiêm, Chân Mai Nghiêm.
Mười
sáu cây anh đào (pháp số) Mười sáu cây anh đào
là nhóm các vị cùng được xuất gia ngày 04 tháng 12 năm 1999
tại Làng Mai, gồm các thầy và các sư cô Chân Quy Nghiêm,
Chân Giác Nghiêm, Chân Pháp Lữ, Chân Pháp Duyên, Chân Khế
Nghiêm, Chân Hội Nghiêm, Chân Đạo Nghiêm, Chân Độ Nghiêm,
Chân Thành Nghiêm, Chân Pháp Cơ, Chân Pháp Tuệ, Chân Thệ Nghiêm,
Chân Châu Nghiêm, Chân Hảo Nghiêm, Chân Pháp Vị, Chân Mẫn
Nghiêm.
Mười
tám cây hồ đào (pháp số) Mười tám cây hồ đào
là nhóm các vị cùng được xuất gia ngày 08 tháng 02 năm 2003
tại Làng Mai, gồm các thầy và các sư cô Chân Pháp Ngạn,
Chân Pháp Chương, Chân Pháp Không, Chân Tùng Nghiêm, Chân Pháp
Liệu, Chân Pháp Thanh, Chân Pháp Hộ, Chân Lăng Nghiêm, Chân
Quỳnh Nghiêm, Chân Pháp Xả, Chân Pháp Tâm, Chân Pháp Duyệt,
Chân Pháp Sỹ, Chân Pháp Bi, Chân Pháp Quán, Chân Pháp Hỷ,
Chân Bách Nghiêm, Chân Hạc Nghiêm.
Mỹ
Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên
đầy đủ là Chân Mỹ Nghiêm. Người Việt Nam, xuất gia năm
2005 tại Việt Nam, thuộc gia đình xuất gia Cây Vú Sữa.