THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
LỜI NGỎ
LỜI GIỚI THIỆU
.
TỪ ĐIỂN LÀNG MAI 
Ban biên tập Từ Điển Làng Mai 2006
A B C D Ð
E
G H
I
K L M N O P Q R S T U V X Y
N

Năm cái lạy (pháp số, phép tu) 1. Phép thực tập có mục đích đưa ta trở về tiếp xúc với gốc rễ tâm linh và huyết thống của ta, khai thông được sự truyền thông, chuyển hóa được những hận thù và khổ đau trong tâm hồn. 2. Lạy thứ nhất: Trở về kính lạy liệt vị tiền nhân, dòng họ tổ tiên gia đình huyết thống hai bên nội ngoại. Cái lạy này giúp chúng ta tiếp xúc với tổ tiên huyết thống, nhận diện những yếu kém, những khổ đau do tổ tiên truyền lại để chuyển hóa và đón nhận năng lượng của trí tuệ, kinh nghiệm và thương yêu mà dòng họ và tổ tiên của gia đình huyết thống trao truyền cho ta. Lạy thứ hai: Trở về kính lạy, Bụt và tổ sư truyền đăng tục diệm, gia đình tâm linh qua nhiều thế hệ. Cái lạy này là để tiếp xúc với Thầy, với chư tổ, các thế hệ thánh tăng, các vị bồ tát và với Bụt Thích Ca Mâu Ni, và cũng là để đón nhận nguồn năng lượng thương yêu, an lạc và sự vững chãi của liệt vị tiền nhân trong gia đình tâm linh. Lạy thứ ba: Trở về kính lạy liệt vị tiền nhân khai sáng đất này, sông núi khí thiêng hàng ngày che chở. Cái lạy này giúp tiếp xúc với những thế hệ tiền nhân có công khai sáng, gìn giữ và bảo vệ đất nước, tiếp nhận nguồn năng lượng của đất nước cũng như nguyện góp phần chuyển hóa những tiêu cực, tệ nạn xã hội và vô minh đang còn tồn tại trong xã hội. Lạy thứ tư: Trở về kính lạy gia đình huyết thống, gia đình tâm linh, gia hộ độ trì cho người con thương. Ta truyền đạt những nguồn năng lượng mà ta vừa tiếp nhận được cho cha mẹ, anh chị em, những người thương yêu của ta, những người mà ta đã nguyện yêu thương và chăm sóc để cầu mong và tiếp sức cho họ, cho họ được an lạc và hạnh phúc. Lạy thứ năm: Trở về kính lạy, gia đình huyết thống, gia đình tâm linh, gia hộ độ trì cho người làm khổ con. Ta mở rộng lòng ra để truyền đi năng lượng hiểu biết và xót thương tới những người đã làm ta khổ đau và điêu đứng, buông bỏ mọi hiềm hận và oán thù, một lòng cầu mong cho những người đó cũng thấy  được ánh sáng của niềm vui sống và an lạc như ta.

Năm cánh tỏa kỳ hương (pháp số, sách) 1. Hình ảnh bông hoa năm cánh tỏa ra mùi hương kỳ diệu, tượng trưng cho năm tông phái thiền của Việt Nam (khác với năm phái thiền của Trung Quốc là phái Lâm Tế, Tào Động, Pháp Nhãn, Quy Ngưỡng và Vân Môn). 1- Thiền phái Tăng Hội, được tổ Tăng Hội sáng lập tại Việt Nam vào thế kỷ thứ III (tức là trước tổ Bồ Đề Đạt Ma gần ba trăm năm) chứ không phải được truyền từ Ấn Độ hay Trung Quốc sang. Phái thiền này đặc biệt sử dụng các kinh điển Nguyên Thủy nhưng theo tinh thần Đại Thừa. Ví dụ kinh An Ban Thủ Ý là kinh Nguyên Thủy nhưng được tổ Tăng Hội giảng theo tinh thần Đại Thừa. Đó cũng là sự thực tập tại Làng Mai. 2- Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, xuất hiện vào thế kỷ thứ VI, do tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi sáng lập. Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) là người Ấn Độ, qua Trung Quốc tu tập và hành đạo trong khoảng 2 năm và gặp tổ Tăng Xán, tức là người kế thừa tổ Bồ Đề Đạt Ma. Sau đó tổ đi về miền Nam và cư trú tại chùa Pháp Vân, thủ đô Giao Châu ngày xưa. Vì vậy có thể nói rằng phái thiền này từ Ấn Độ truyền sang, và là một sự tổng hợp giữa Thiền và Mật Tông vì tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã dịch nhiều kinh thuộc về Mật giáo. 3- Phái thiền Vô Ngôn Thông, do thiền sư Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc qua và sáng lập vào thế kỷ thứ IX. Thầy Vô Ngôn Thông có liên hệ với tổ Bách Trượng, vị tổ đã sáng lập ra những thanh quy rất nổi tiếng gọi là Bách Trượng Thanh Quy, cũng là vị tổ chủ trương rằng làm việc chấp tác cũng là tu và “Bất tác bất thực”, nghĩa là một ngày không làm việc thì không ăn cơm. Từ truyền thống đó ta bắt đầu có hình thức tổ chức thiền viện gọi là nông thiền, tức là những trung tâm tu học có hoạt động sản xuất như trồng trọt, làm vườn nhưng có sự tu tập trong khi làm việc, có chánh niệm trong khi làm chứ không phải chỉ là để tăng gia sản xuất. 4- Phái thiền Thảo Đường, do thiền sư Thảo Đường sáng lập vào thế kỷ thứ XI. Thiền sư Thảo Đường là một thi sĩ, một nhà văn rất lỗi lạc. Thầy từ Trung Quốc qua Champa để hoằng pháp nhưng không may gặp phải thời chiến tranh giữa Đại Việt và Champa nên bị Đại Việt bắt làm tù binh. Khi được phát hiện ra là một thiền sư có kiến thức thâm uyên về Phật pháp và văn chương lưu loát, Thầy đã được vua Lý tôn làm Quốc Sư. Thiền phái Thảo Đường là thiền phái mang nhiều tính chất trí thức. 5- Thiền phái Trúc Lâm, xuất hiện vào thế kỷ thứ XIII. Đây là thiền phái do thiền sư người Việt là Hiện Quang thành lập. Sau này, vua Trần Nhân Tông tu theo phái thiền này và được chính thức nhìn nhận là tổ thứ nhất. Sau đó có các thiền sư Pháp Loa, Huyền Quang và được tiếp nối cho đến ngày nay. Núi Yên Tử là  nơi phát tích của thiền phái Trúc Lâm này. 2. Tên một cuốn sách phiên tả từ băng giảng các bài pháp thoại của Thầy Làng Mai và các tin tức sinh hoạt của chùa Làng Mai. Nhà xuất bản Lá Bối, Hoa Kỳ ấn hành năm 2000, được in nhiều lần tại Việt Nam.

Năm cây cam (pháp số) Năm cây cam là nhóm các vị cùng được xuất gia ngày 16 tháng 12 năm 1996  tại Làng Mai, gồm các thầy và các sư cô Chân Pháp Độ, Chân Pháp Khai, Chân Thiều Nghiêm, Chân Phúc Nghiêm, Chân Giới Nghiêm.

Năm cây dâu tây (pháp số)  Năm cây dâu tây là nhóm các vị cùng được xuất gia ngày 28 tháng 06 năm 2001 tại Làng Mai, gồm các thầy và các sư cô Chân Pháp Lượng, Chân Hóa Nghiêm, Chân Pháp Lực, Chân Pháp Khí, Chân Mật Nghiêm.

Năm cây dừa (pháp số)  Năm cây dừa là nhóm các vị cùng được xuất gia tại Làng Mai, gồm các thầy và các sư cô Chân Thục Nghiêm, Chân Pháp Kiều, Chân Hà Nghiêm, Chân Pháp Hiền, Chân Hỷ Nghiêm.

Năm cây mãng cầu (pháp số)  Năm cây mãng cầu là nhóm các vị cùng được xuất gia ngày 17 tháng 11 năm 2004 tại Làng Mai, gồm các thầy và các sư cô Chân Pháp An, Chân Tư Nghiêm, Chân Kỳ Nghiêm, Chân Pháp Tuấn, Chân Trí Nghiêm.

Năm cây olive (pháp số)  Năm cây olive là nhóm các vị cùng được xuất gia ngày 30 tháng 08 năm 2004 tại Làng Mai, gồm các thầy và các sư cô Chân Song Nghiêm, Chân Pháp Sinh, Chân Pháp Tuyên, Chân Như Nghiêm, Chân Triêu Nghiêm.

Năm cây phong (pháp số)  Năm cây phong là nhóm các vị cùng được xuất gia ngày 09 tháng 08 năm 1998 tại Làng Mai, gồm các thầy và các sư cô Chân Pháp Viên, Chân Tố Nghiêm, Chân Tú Nghiêm, Chân Xuân Nghiêm, Chân Tín Nghiêm.

Năm cây sồi  (pháp số)  Năm cây sồi là nhóm các vị cùng được xuất gia tại Làng Mai, gồm các thầy và các sư cô Chân Pháp Niệm, Chân Giải Nghiêm, Chân Pháp Cảnh, Chân Pháp Trú, Chân Khai Nghiêm.

Năm điều ước nguyện (pháp số, phép tu) Năm lời phát nguyện mà cô dâu và chú rể cam kết làm theo trong hôn lễ cử hành theo nghi thức Làng Mai. 1- Chúng con nguyện sống đời sống hàng ngày sao cho xứng đáng với đạo đức của tổ tiên và giống nòi chúng con. 2- Chúng con nguyện sống đời sống hàng ngày sao cho xứng đáng với kỳ vọng mà tổ tiên và giống nòi đặt nơi chúng con. 3- Chúng con nguyện nương vào nhau, xây dựng cho nhau bằng tình thương, sự tin cậy, sự hiểu biết và lòng kiên nhẫn. 4- Chúng con nguyện thường tự nhắc nhở rằng sự trách móc, sự giận hờn và lý luận chỉ làm hao tổn hòa khí và không giải quyết được gì. Chúng con biết chỉ có sự hiểu biết và lòng tin mới bồi đắp được hạnh phúc và sự an lạc. 5- Chúng con nguyện trong đời sống hàng ngày dồn hết tâm lực và phương tiện để xây dựng cho thế hệ con cháu của chúng con trong tương lai. (Xem nhật tụng thiền môn 2000).

Năm mươi bài tụng Duy Biểu (luận, pháp số)  Tinh hoa của Duy Biểu Học (Duy Thức Học) cô đọng lại thành năm mươi bài tụng, do Thầy Làng Mai chế tác, căn cứ trên các tác phẩm Duy Thức căn bản như Nhiếp Đại Thừa Luận, Duy Thức Tam Thập Tụng, Duy Thức Nhị Thập Tụng, Bát Thức Quy Củ Tụng, v.v... Những bài tụng này được Duy Thức Học từ quyền thừa (Đại Thừa nửa vời) lên Đại Thừa thật sự, bằng giáo lý Pháp Hoa và Hoa Nghiêm. Những bài tụng thuộc về phần thực tập và quán chiếu có tính chất thực tiễn và nối kết được với Đạo Bụt Nguyên Thỉ. Đã được phiên tả và in thành sách ở Việt Nam nhiều lần, dưới nhan đề Duy Biểu Học. Sách Transformation at the Base (Chuyển Ý) do nhà Parallax ấn hành phiên tả lại những bài giảng về Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu bằng Anh ngữ đã được tái bản nhiều lần, lần mới nhất lấy tên sách là Understanding the Mind đã được phát hành rất rộng rãi, và đã được phiên dịch và xuất bản ra nhiều thứ tiếng. Sau đây là nguyên văn tiếng Việt của Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu (Duy Biểu Ngũ Thập Tụng): 1. Tâm là đất gieo hạt. Mọi hạt giống chứa đầy. Tâm địa cũng chính là. Toàn thể hạt giống ấy. 2. Hạt giống có đủ loại. Sinh tử và niết bàn. Mê ngộ và vui khổ. Danh xưng và tướng trạng. 3. Hạt giống của thân, tâm. Giới địa và thế gian. Tất cả được cất chứa. Nên thức gọi là tàng. 4. Có hạt giống sẵn có. Có hạt giống trao truyền. Huân tập thời thơ ấu. Cả thời gian thai nghén. 5. Từ gia đình bè bạn. Nơi xã hội học đường. Hạt giống nào cũng có. Tính cách riêng và chung. 6. Giá trị một đời người. Tùy thuộc vào phẩm chất. Mọi hạt giống đang nằm. Trong chiều sâu tâm thức. 7. Tác dụng a lại gia. Là tiếp nhận duy trì. Và làm biểu hiện ra. Hạt giống cùng tập khí. 8. Biểu biệt a lại gia. Là thế giới tánh cảnh. Độc ảnh và đới chất. Mười tám giới hình thành. 9. Tất cả mọi hiện hành. Đều tự biểu, cộng biểu. Dị thục khi dự vào. Giới và địa cũng thế. 10. Là vô phú, vô ký. Vừa chuyển lại vừa hằng. Tàng thức luôn tương ứng. Năm tâm sở biến hành. 11. Tuy vô thường vô ngã. Tàng thức vẫn gồm thâu. Mọi pháp trong thế gian. Hữu lậu và vô lậu. 12. Hạt giống sanh hạt giống. Hạt giống sanh hiện hành. Hiện hành sanh hạt giống. Hiện hành sanh hiện hành. 13. Hạt giống hay hiện hành. Đều tương tức tương nhập. Một do tất cả thành. Tất cả đều do một. 14. Tàng không một không khác. Không chung cũng không riêng. Một và khác nương nhau. Chung và riêng triển chuyển. 15. Vô minh diệt minh sanh. Tàng chuyển thành vô lậu. Gương trí soi mười phương. Bạch tịnh và vô cấu. 16. Hạt giống của vô minh. Của triền sử ái nhiễm. Quấy động thành vọng thức. Khi danh sắc hiện hành. 17. Nương vào a lại gia. Phát hiện thức mạt na. Tác dụng là tư lương. Níu lấy tàng làm ngã. 18. Đối tượng của mạt na. Là ngã tướng đới chất. Phát sinh từ giao thoa. Giữa ý và tàng thức. 19. Vì sáu chuyển thức khác. Đóng vai nhiễm tịnh y. Vừa thẩm lại vừa hằng. Hữu phú mà vô ký. 20. Tương ưng năm biến hành. Bốn phiền não và tuệ. Cùng tám thứ đại tùy. Đều hữu phú vô ký. 21. Cũng như bóng theo hình. Mạt na theo tàng mãi. Là cơ chế tự tồn. Là bản năng dục ái. 22. Sơ địa khi đạt tới. Dứt phiền não, sở tri. Bát địa hết câu sinh. A lại gia phóng khí. 23. Nương vào ý làm căn. Pháp trần làm đối tượng. Ý thực được phát sinh. Phạm vi nhận thức rộng. 24. Thông ba tánh, ba lượng. Tiếp xúc cả ba cảnh. Đủ thiện, ác, bất định. Biệt cảnh và biến hành. 25. Là gốc của thân khẩu. Có thẩm mà không hằng. Tạo tác nghiệp dẫn mãn. Đóng vai kẻ gieo trồng. 26. Ý thức thường hiện hành. Trừ trong trời vô tưởng. Trong hai  định vô tâm. Ngủ say và bất tỉnh. 27. Năm trạng thái ý thức. Là tán vị, độc đầu. Trong định hoặc điên loạn. Cùng trường hợp ngũ  câu. 28. Năm thức cảm giác sanh. Dựa trên dòng ý thức. Phát hiện riêng hoặc chung. Như sóng nương trên nước. 29. Tánh cảnh và hiện lượng. Có ba tánh đầy đủ. Nhờ vào tịnh sắc căn. Và cảm giác trung khu. 30. Tâm sở là biến hành. Biệt cảnh, thiện, đại tùy. Trung tùy hai phiền não. Và cả tham sân si. 31. Thức luôn luôn bao hàm. Chủ thể và đối tượng. Tự, tha, trong và ngoài. Đều chỉ là ý niệm. 32. Thức gồm có ba phần. Kiến, tướng và tự thể. Chủng tử và tâm hành. Tất cả đều như thế. 33. Sinh diệt tùy nhân duyên. Thức vốn là biểu biệt. Kiến và tướng nương nhau. Năng biệt và sở biệt. 34. Nơi tự biểu cộng biểu. Ngã, vô ngã không hai. Luân hồi mỗi sát na. Bập bềnh sinh tử hải. 35. Thời, không và bốn đại. Đều do thức hiện bày. Tương tức và tương nhập. Dị thục từng phút giây. 36. Nhân duyên đủ biểu hiện. Nhân duyên khuyết ẩn tàng. Không đi cũng không đến. Không có cũng không không. 37. Hạt giống sinh hiện hành. Đó gọi là nhân duyên. Chủ thể nương đối tượng. Ta gọi sở duyên duyên. 38. Điều kiện thuận hay nghịch. Đều là tăng thượng duyên. Vô gián duyên thứ tư. Là liên tục chuyển biến. 39. Nhân duyên có hai mặt. Vọng thức và chân tâm. Vọng thức vì biến kế. Chân tâm do viên thành. 40. Biến kế huân vô minh. Kéo theo luân hồi khổ. Viên thành mở tuệ giác. Hiển lộ cảnh chân như. 41. Quán chiếu tính y tha. Vô minh thành tuệ giác. Luân hồi và chân như. Tuy hai mà thành một. 42. Trong rác sẵn có hoa. Trong hoa sẵn có rác. Hoa và rác không hai. Giác và mê tương tức. 43. Không chốn chạy sinh tử. Quán chiếu cần niệm lực. Thấy được tính y tha. Là chứng nhập tương tức. 44. Nương hơi thở chánh niệm. Tưới hạt giống bồ đề. Chánh kiến là đóa hoa. Nở trên vùng ý thức. 45. Như ánh sáng mặt trời. Chiếu soi loài cây cảnh. Chánh niệm khi thắp lên. Chuyển hóa mọi tâm hành. 46. Nhận diện để chuyển hóa. Nội kết và tùy miên. Khi tập khí không còn. Quả chuyển y hiển hiện. 47. Phút hiện tại thu nhiếp. Quá khứ và vị lai. Bí quyết của chuyển y. Nằm trong giây hiện tại. 48. Tu tập và chuyển hóa. Trong đời sống hàng ngày. Nương tựa vào tăng đoàn. Công phu mau nhìn thấy. 49. Không sinh cũng không diệt. Sinh tử là niết bàn. Sở đắc là vô đắc. Không nắm cũng không buông. 50. Lướt trên sóng sinh tử. Thuyền từ dạo biển mê. Nụ cười vô úy nở. Phiền não tức bồ đề. 

Năm mươi cây hồng giòn (pháp số)  Năm mươi cây hồng giòn là nhóm các vị cùng được xuất gia ngày 08 tháng 01 năm 2006, gồm các thầy và các sư cô Chân Khôi Nghiêm, Chân Pháp Thuyên, Chân Pháp Thượng, Chân Lĩnh Nghiêm, Chân Cảnh Nghiêm, Chân Pháp Hoan, Chân Pháp Hoằng, Chân Pháp Thái, Chân Ích Nghiêm, Chân Pháp Cứu, Chân Pháp Căn, Chân Pháp Sung, Chân Pháp Biện, Chân Pháp Tri, Chân Pháp Cao, Chân Cẩn Nghiêm, Chân Lý Nghiêm, Chân Sách Nghiêm, Chân Đan Nghiêm, Chân Đáo Nghiêm, Chân Lịch Nghiêm, Chân Ước Nghiêm, Chân Siêu Nghiêm, Chân Báo Nghiêm, Chân Luyện Nghiêm, Chân Pháp Thọ, Chân Pháp Bình, Chân Tuyết Nghiêm, Chân Duyên Nghiêm, Chân Băng Nghiêm, Chân Pháp Khuyến, Chân Pháp Tường, Chân Pháp Huấn, Chân Pháp Xứ, Chân Pháp Giao, Chân Pháp Năng, Chân Khương Nghiêm, Chân Khán Nghiêm, Chân Khoan Nghiêm, Chân Phương Nghiêm, Chân Cẩm Nghiêm, Chân Hy Nghiêm, Chân Thể Nghiêm, Chân Pháp Hưởng, Chân Pháp Hậu, Chân Pháp Hiến, Chân Pháp Cảm, Chân Pháp Thâm, Chân Quảng Nghiêm, Chân Lộc Nghiêm.

Năm ơn (pháp số)  Ngoài bốn ơn (tứ trọng ân), Thầy Làng Mai bổ sung thêm ơn thứ năm: ơn của thầy đối với đệ tử. Học trò mang nặng ơn giáo huấn của Thầy, nhưng ngược lại, ở Làng Mai, Thầy cũng biết ơn đệ tử vì đã chọn Thầy làm người cha tâm linh, đã chọn Làng Mai là ngôi nhà tâm linh. 

Năm phép tu chánh niệm (pháp số)  Năm nguyên tắc chỉ đạo nhất định cho những phật tử tại gia để giúp họ sống một đời sống bình an, lành mạnh và hạnh phúc. Còn gọi là năm học, năm giới, năm tu tập. Tiếng Anh dịch là The Five Mindfullness Trainings, tiếng Pháp là Le Cinq Entrainements à la Pleine Conscience. Năm giới quý báu được Bụt giảng trong Kinh Người Áo Trắng. Kinh này Thầy Làng Mai dịch ra quốc văn từ Ưu Bà Tắc Kinh, số 128 của Bộ Trung A Hàm. 1. Giới thứ nhất – tôn trọng sự sống: Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con. 2. Giới thứ hai - mở rộng lòng: Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia xẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loại. 3. Giới thứ ba - bảo vệ tiết hạnh: Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành động bất chánh sẽ gây ra những đau khổ cho kẻ khác và cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình và của kẻ khác. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. 4. Giới thứ tư – ái ngữ và lắng nghe: Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết rõ. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể. 5. Giới thứ năm – gìn giữ thân tâm, lành mạnh xã hội: Ý thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và độc tố gây ra, con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm con, và cho thân tâm gia đình và xã hội con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có độc tố trong đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò. Con biết rằng tàn hoại thân tâm bằng rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên, cha mẹ và cũng là phản bội các thế hệ tương lai. Con nguyện chuyển hóa bạo động, căm thù, sợ hãi và buồn giận bằng cách thực tập phép kiêng cữ cho con, cho gia đình con và cho xã hội. Con biết phép kiêng khem này rất thiết yếu để chuyển hóa tự thân, tâm thức cộng đồng và xã hội. 

Năm quán (phép tu, pháp số) Năm điều quán niệm trước khi ăn. 1- Thức ăn này là tặng phẩm của đất trời, của muôn loài và công phu lao tác. 2- Xin nguyện ăn trong chánh niệm và với lòng biết ơn để xứng đáng thọ nhận thức ăn này. 3- Khi ăn, xin nhớ nhận diện và chuyển hóa những tâm hành xấu, nhất là tâm tham ăn. 4- Xin chỉ ăn những thức có tác dụng nuôi dưỡng và ngăn ngừa tật bệnh. 5- Vì muốn xây dựng tăng thân, nuôi dưỡng tình huynh đệ và độ đời nên xin thọ nhận thức ăn này.
Năm vóc (pháp số) Năm vóc là hai chân, hai tay và đầu. Tư thế thực tập thiền lạy ở Làng Mai là năm vóc sát đất, nghĩa là khi lạy xuống, ta nên lạy càng sát đất càng tốt, hai chân và hai tay sát xuống đất, trán cũng sát vào đất.

Nẻo Vào Thiền Học (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà Lá Bối, Sài Gòn xuất bản lần đầu năm 1971, được dịch ra nhiều thứ tiếng và được tái bản nhiều lần ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Sách này được nhà Seghers ở Paris xuất bản bằng tiềng Pháp với tựa đề là Zen Key.

Nẻo Về Của ý (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà Lá Bối, Sài Gòn xuất bản lần đầu năm 1967, được dịch ra tiếng Anh và được tái bản nhiều lần ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Bản dịch tiếng Anh với tựa đề Fragrant Palm Leaves do nhà xuất bản Parallax ấn hành.

Nẻo Về Tiếp Nối Đường Đi (tác phẩm) Một vở thoại kịch do Thầy Làng Mai sáng tác năm 1967, sau khi nghe tin năm người tác viên xã hội của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội bị thảm sát trên bờ sông trong khi đi làm công tác xã hội. Vở kịch này đã được dịch ra Anh ngữ và đã được một đoàn ca kịch Đức trình diễn nhiều nơi tại Hoa Kỳ. 

Nẻo về xấu ác (thuật ngữ) Đó là nẻo về địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Do thực tập chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp mà hành giả không đi về các nẻo xấu ác.

Nến Hồng (điện đường)  Một thiền đường thuộc chùa Cam Lộ, Xóm Hạ, Làng Mai.

Nến Ngọc (lễ lược) Tên một đại giới đàn được tổ chức tại Làng Mai từ 30-11-95 đến 4-2-1996 trong khóa An Cư Kiết Đông 1995-1996. Còn gọi là Ngọc Trúc đại giới đàn

Ngày Đá Đơm Bông (bài hát) Một bài hát, nhạc của Nhật Ngân, tăng thân Làng Mai chỉnh lời. Buổi tối ngủ trên đồi hỏi hòn đá nhỏ. Con đường nào, con đường nào dẫn đến một dòng sông. Một dòng sông, mà ta vẫn thường ra ngồi giặt áo. Và con đò, và câu hò theo nước trôi xuôi. Buổi sáng ngồi trên rừng hỏi ngàn lá đổ. Con đường nào, con đường nào dẫn đến một miền quê. Một miền quê, trời năm ấy ruộng khô cằn sỏi đá. Nay mưa về, nay mưa về cho lúa trổ bông. Ơ ớ ơ quê mình giờ đây, con sông xưa thuyền có xuôi ngược. Ơ ớ ơ kẽo kẹt võng đưa, ơ ớ ơ tiếng ru ngọt môi. Thương những buổi trưa hè ta thường khe khẽ. Con đường này, con đường này dẫn đến cõi tình thương. Nhìn ra thấy, mẹ đang đứng cười rung làn tóc trắng. Tre cuối làng, cầu sau vườn theo gió đong đưa. Buổi sáng hỏi mây trời đi hoài có rõ. Con đường này, con đường này mỗi bước tới quê hương. Nhìn ra thấy, bầy chim sáo rủ nhau về xây tổ. Mưa đã về, mưa đang về cho đá đơm bông. 

Ngày Đêm An Lành (bài tụng)Một bài tụng được sử dụng trong các công phu sáng hoặc chiều tại các thiền viện, có thể dùng cho cả hai phái Thiền tông và Tịnh Độ tông. Có trong sách Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000 và Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn do Đạo Tràng Mai Thôn biên soạn, nhà xuất bản Lá Bối ấn hành.

Ngày em hai mươi tuổi (lễ lược)  Năm 2002 - năm kỷ niệm 20 năm ngày thành lập đạo tràng Mai Thôn. Tại Mai Thôn có tổ chức nhiều khóa tu và nhiều sinh hoạt đặc biệt để ăn mừng. Lá thư Làng Mai số đặc biệt (tháng 2, 2002 - bằng tiếng Việt) và một văn tập đặc biệt bằng tiếng Anh được xuất bản nhân dịp này, lấy tên là I have arrived - I am home do sư cô Chân Châu Nghiêm chủ biên đã được phát hành nhân dịp này. Cũng trong dịp này, Thầy Làng Mai nhân danh niên trưởng môn phái tổ đình Từ Hiếu đã gởi thông điệp Phật giáo dân tộc - Đạo Bụt hiện đại cho tất cả bốn chúng của môn phái về việc làm mới đạo Bụt Việt Nam.

Ngày làm biếng (thuật ngữ) Ngày thực tập không có thời khóa chung, mỗi người thực tập theo ý mình muốn. Tại các Đạo Tràng Mai Thôn, mỗi tuần có một ngày gọi là ngày làm biếng. Tuy gọi là ngày làm biếng nhưng ngày này rất thanh tịnh và sự thực tập rất sâu sắc. Tuy không có chuông báo hiệu thời khóa, không có chuông nhắc nhở chánh niệm, nhưng năng lượng thực tập không thua sút những ngày khác. Mỗi hành giả có thể tự mình đi thiền hành, bái sám, tụng kinh, chấp tác, viết thư, học hỏi theo ý mình thích, và cũng có thể mời một vài người bạn tu cùng làm chung với mình. Sở dĩ không gọi ngày này là ngày nghỉ ngơi vì sự thực tập ở Làng mai là mọi sinh hoạt như ngồi thiền, đi thiền, nghe pháp thoại, ăn cơm chánh niệm, chấp tác, v.v... đều được thực tập một cách thoải mái, thảnh thơi, không gấp rút. Vì vậy sự thực tập nghỉ ngơi có thể được thực hiện mỗi ngày. Ngày làm biếng cũng là một ngày thực tập. Nếu ta quá quen với lao tác, ta không thể ngồi yên mà không làm gì thì ngày làm biếng là một cơ hội để thực tập không làm gì cả, hoặc có làm gì thì cũng làm theo kiểu không làm, để cho thân tâm được nghỉ ngơi. Không làm gì cả cũng là một sự thực tập, gặp nhau chào nhau trong ngày làm biếng, ta có thể hỏi thăm: hôm nay sư em có làm biếng giỏi không?

Nghe chuông (phép tu) Tiếng chuông giúp ta trở về thực tập hơi thở chánh niệm. Mỗi khi nghe tiếng chuông, ta ngưng lại mọi suy tư, nói năng và di động để trở về với hơi thở. Thở vào ta thầm niệm “Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe”, thở ra ta thầm niệm “Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm”. Ta thực tập với bài kệ như thế ít nhất là ba lần. Ở Làng Mai, các buổi pháp thoại và pháp đàm đều có chuông chánh niệm để cả người nói lẫn người nghe có cơ hội thực tập an trú trong hiện tại. Ngoài ra, tiếng chuông đồng hồ đánh nhạc mỗi 15 phút hay tiếng chuông điện thoại cũng đều là cơ hội để mọi người thực tập. 

Nghe pháp thoại (phép tu) Một phương pháp thực tập. Nghe không phải để chất chứa kiến thức Phật Pháp mà là để có cơ hội cho những hạt giống tuệ giác và từ bi có sẵn trong tâm thức được tưới tẩm và những khó khăn bức xúc được tháo gỡ và tan rã. Muốn nghe như thế thì không được sử dụng trí năng so sánh và phê phán mà cứ để cho những lời pháp thấm vào đất tâm - ‘mưa xuân nhẹ hạt đất tâm ướt, hạt đậu năm xưa hé miệng cười’- để giúp cho những hạt giống tốt trong ấy được có cơ hội tưới tẩm và nẩy mầm. Trí năng so sánh được ví như một tấm ni-lông được giăng ra để hứng nước mưa và vì vậy không cho mưa thấm được vào lòng đất. Nghe pháp thoại, hành giả cũng ngồi trong tư thế kiết già và buông thư như trong giờ thiền ngồi vậy.

Nghi Thức Tụng Giới Nam Khất Sĩ (sách) Giới bản nam khất sĩ và nghi thức tụng giới do Đạo Tràng Mai Thôn ấn hành năm 1999, phổ biến cho Đạo Tràng Mai Thôn và các trung tâm trực thuộc.

Nghi Thức Tụng Giới Nữ Khất Sĩ (sách) Giới bản nữ khất sĩ và nghi thức tụng giới do Đạo Tràng Mai Thôn ấn hành năm 1999, phổ biến cho Đạo Tràng Mai Thôn và các trung tâm trực thuộc.

Nghi Thức Tụng Niệm (sách) Sách gồm các kinh căn bản bằng quốc văn do Thầy Làng Mai dịch từ tiếng Hán và các nghi thức như tụng giới, truyền giới, giỗ tổ tiên, cúng ngọ v.v… Nhà Lá Bối, Hoa Kỳ xuất bản lần đầu năm 1989 và được tái bản nhiều lần. Bản tiếng Anh dưới tựa đề The Plum Village Chanting and Recitation Book,  do nhà Parallax ấn hành.

Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn (sách) Một cuốn sách do Hội Đồng Giáo Thọ Đạo Tràng Mai Thôn biên soạn, được hoàn chỉnh từ cuốn Nghi Thức Tụng Niệm năm 1994 và Thiền Môn Nhật Tụng năm 2000. Nhà Lá Bối, Hoa Kỳ xuất bản năm 1999, đã được dịch và phổ biến ở nhiều nước.

Ngồi Yên (điện đường)  Một cái thất của Thầy Làng Mai tại chùa Pháp Vân, Xóm Thượng, Làng Mai.

Nguyên Chơn (người) Một vị giáo thọ xuất gia nam, thượng toạ Thích Nguyên Chơn. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2002 với bài kệ truyền đăng như sau: Châu về hợp phố nhập nguyên lưu. Chơn nghĩa viên dung ý thượng thừa. Non xưa trăng sáng soi lòng tháp. Ngày về một gọi có ngàn thưa.

Nguyên Thông (người) Một vị giáo thọ xuất gia nam, thượng tọa Thích Nguyên Thông. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền đăng như sau: Ngọc trắng tâm lành Nguyên vẹn. Cảm Thông muôn nẻo nhiệm màu. Mạch nước từ bi phát hiện. Đẹp lòng hai ngả xưa sau.

Nguyên Xuân (người) Một vị giáo thọ xuất gia nữ, pháp tự Minh Huyền. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1996 với bài kệ truyền đăng như sau: Minh nguyệt chiếu soi từ đỉnh núi. Huyền cơ nắm giữ giữa lòng tay. Bản thân vốn đủ đầy công dụng. An lạc há cần tùy thuộc ai?

Nguyện Hải (người) Một vị giáo thọ xuất gia nam của Làng Mai, tên đầy đủ là Chân Nguyện Hải. Người Việt Nam, quốc tịch Đan Mạch, xuất gia năm 1990 tại Làng Mai. Trú trì chùa Pháp Vân thuộc Xóm Thượng, Làng Mai. Nhận truyền đăng phó pháp năm 1996 với bài kệ truyền đăng: Nguyện ước truyền trao tia nắng sớm. Hải triều vang động tiếng chuông khuya. Tập hợp mây hồng trên đỉnh núi. Nhạc khúc vô sinh nhịp bước về.

Người ấy chính là bà (giai thoại) Trong một buổi vấn đáp của khóa tu 21 ngày tại Làng Mai, có một vị thiền sinh nữ lên đặt một câu hỏi với Thầy Làng Mai. Bà hỏi: “Kính bạch Thầy, sau này khi Thầy không còn nữa, sẽ có một người phụ nữ nào thay thế Thầy không ạ?”  Thầy trả lời: “ Có, người đó chính là bà!” (Dear Thầy, in the future when you are no longer here, will there be a woman who would replace you?” – “You are the one!”)

Nhã Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên đầy đủ là Chân Nhã Nghiêm. Gốc Đại Hàn, quốc tịch Hoa Kỳ, xuất gia năm 1999 tại Làng Mai, thuộc gia đình xuất gia Cây Xoài.

Nhạc Kinh (sách) Một tuyển tập nhạc bao gồm các bài kinh, kệ và sám nguyện trong sách Nhật Tụng Thiền Môn do nhạc sĩ Anh Việt phổ nhạc. Nhà Lá Bối, Hoa Kỳ xuất bản năm 1999.

Nhạc Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên đầy đủ là Chân Nhạc Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1988, xuất gia năm 2006 tại Việt Nam, thuộc gia đình xuất gia Cây Hải Đường.

Nhất Định (người) Vị tổ sư khai sơn chùa Từ Hiếu, nơi phát xuất đạo tràng Mai Thôn. Họ Nguyễn, sinh năm 1784 tại Quảng Trị, tập sự xuất gia từ hồi còn bé, 19 tuổi được thọ giới sa di tại chùa Thiền Tông với bổn sư là thiền sư Phổ Tịnh. Thọ giới lớn tại giới đàn chùa Linh Mụ với thiền sư Mật Hoằng. Năm 30 tuổi được thiền sư Phổ Tịnh phú pháp truyền đăng với bài kệ: Nhất Định chiếu quang minh. Hư không nguyệt mãn viên. Tổ tổ truyền phú chúc. Đạo minh kế Tánh Thiên. Tổ tịch năm 1847. Sau đó am An Dưỡng nơi tổ cư trú được xây dựng thành chùa Từ Hiếu. 

Nhất Hạnh (người)  Xem Thầy Làng Mai.

Nhất Hạnh Thiền Sư Văn Tập (tên sách) Một bộ sách của thiền sư Nhất Hạnh gồm có 12 tác phẩm như Trái Tim Của Bụt, Trái Tim Mặt Trời, Phép lạ của Sự Tỉnh Thức, v.v… do Minh Hạo dịch và nhà xuất bản Hư Vân Ấn Kinh Công Đức Tạng ấn hành ở Thạch Gia Trang, tỉnh Hà Bắc bằng Hoa Ngữ. Văn tập gồm tám tập, do thiền sư Tịnh Tuệ chùa Bách Lâm đề tựa và giới thiệu. Văn tập này đã được nhà xuất bản Tôn Giáo Văn Hóa Xuất Bản Xã ấn hành trở lại. Địa chỉ của nhà xuất bản này: số 44, Hậu Hải Bắc Duyên, khu Tây Thành, Bắc Kinh. Mười hai tác phẩm của văn tập là: Phật Chi Tâm Pháp, Sinh Mệnh Đích Chuyển Hóa Dữ Liệu Cứu, Hô Hấp Nễ Hoạt Trước, Thiền Đích Yếu Lĩnh, Tĩnh Tu Dũ Hợp Chi Đạo, Chánh Niệm Đích Kỳ Tích, Thiết Xuyên Vọng Tưởng Đích Kim Cương Thạch, Y Đại Trung Đích Mai Khôi, Bộ Nhập Giải Thoát, Đương Hạ Nhất Khắc Mỹ Diệu Nhất Khắc, Tương Tức và Ái Đích Ngôn Giáo. Tất cả đều đã được chuyển dịch từ Anh ngữ.

Nhận diện đơn thuần (thuật ngữ) Một trong những tác dụng của chánh niệm: nhận diện những gì đang xảy ra ở đây trong giây phút hiện tại, nhận diện mà không có khuynh hướng ưa thích vướng mắc hoặc xua đuổi ghét bỏ, nghĩa là nhận diện đơn thuần. Nhận diện đơn thuần giúp cho hành giả bảo tồn được tự do của mình. Phương pháp nhận diện đơn thuần này được Bụt dạy trong kinh Niệm Xứ (Satipatthanasutta).

Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000 (sách) Một cuốn sách gồm các kinh căn bản bằng quốc văn do Thầy Làng Mai dịch từ tiếng Hán và các bài thi kệ thực tập chánh niệm trong thiền viện. Nhà Lá Bối, Hoa Kỳ xuất bản năm 1997; nhà xuất bản Tôn Giáo Hà Nội ấn hành lần đầu năm 2005. Trong khi Thiền Môn Nhật Tụng chữ Hán chỉ có hai buổi công phu sớm và chiều thì sách Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000 có tới mười bốn buổi công phu cho một tuần lễ, mỗi buổi có những kinh văn khác nhau. Sách này có thể sử dụng cho cả Thiền Tông và Tịnh Độ Tông.

Nhìn Kỹ Quê Hương (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do Tổng Hội Sinh Viên Vạn Hạnh Sài Gòn xuất bản năm 1967, lấy tên nhà xuất bản là Hội Phật Tử Việt Kiều Hải Ngoại.

Nhìn sâu (thuật ngữ, phép tu) Quán chiếu sâu sắc. Đây là từ ngữ Làng Mai chỉ cho sự thực tập vipassana, quán chiếu. Thiền gồm có chỉ (sámatha) và quán là (vipassàna). Chỉ là dừng lại, tập trung, và quán là nhìn sâu để khám phá được tự tính của đối tượng quán chiếu. Tiếng Anh là deep looking. Xem chỉ quán.

Nho Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên đầy đủ là Chân Nho Nghiêm. Người Việt Nam, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1985, xuất gia năm 2002 tại Làng Mai, thuộc gia đình xuất gia Cây Thốt Nốt. 

Nhu Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên đầy đủ là Chân Nhu Nghiêm. Người Việt Nam, xuất gia năm 2005 tại Việt Nam, thuộc gia đình xuất gia Cây Hướng Dương.

Nhuận Hải (người) Một vị giáo thọ xuất gia nam, được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1996 với bài kệ truyền đăng như sau: Nhuận thấm mười phương nếp học phong. Hải triều vang dội đức khiêm cung. Hoa kia nở đẹp trên cành ấy. Tay nắm tay làm rạng tổ tông.

Như Hiếu (người) Một vị xuất gia nữ tu học tại Tu Viện Bát Nhã, gốc chùa Phò Quang, Huế. Người Việt Nam, sinh năm 1974, xuất gia năm 1990 tại Việt Nam.

Như Minh (người) Một vị giáo thọ xuất gia nữ, ni sư Tâm Liên. Nhận truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền đăng như sau: Chân như hiển lộ nét uyên minh. Thơ đọng màu sương ánh kiếm linh. Mưa tạnh mây tan trăng đã hiện. Đôi ta rõ mặt hiện chân hình.

Như Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên đầy đủ là Chân Như Nghiêm. Người Mỹ, sinh năm 1980, xuất gia năm 2004 tại Làng Mai, thuộc gia đình xuất gia Cây Olive.

Như Phước (người) Một vị giáo thọ xuất gia nữ, pháp tự Đàm Nhật. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 với bài kệ truyền đăng như sau: Như Lai vừa cười nhẹ. Phước trí đã song nghiêm. Giới định vừa chiếu sáng. Hoa tuệ nở bên thềm. 

Như Quang (người) Một vị giáo thọ xuất gia nữ, được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2000 với bài kệ truyền đăng như sau: Chân như tâm thể phóng hào quang. Ước nguyện muôn xưa đã vẹn toàn. Sự nghiệp truyền trao nguồn tịnh lạc. Rực trời phượng nở chốn quê hương. 

Như Tịnh (người) Một vị giáo thọ xuất gia nam, pháp tự Thanh Duệ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1996 với bài kệ truyền đăng như sau: Thanh hư trời rộng trăng soi chiếu. Duệ triết sông dài biển đợi trông. Một sáng oanh vàng lên tiếng hót. Non sông rực rỡ ánh dương hồng.

Như Vân (người) Một vị giáo thọ xuất gia nữ, ni sư Như Vân. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 với bài kệ truyền đăng như sau: Tâm bi Như sấm động. Lòng từ tựa bạch Vân. Suối cam lồ nuôi dưỡng. Khuya sớm mãi tinh cần.

Những Cánh Mai Mùa Đông (sách) Một cuốn sách phiên tả từ băng các bài giảng của Thầy Làng Mai, xuất bản tại Việt Nam năm 2000.

Những Giọt Không (sách) Một tuyển tập nhạc Làng Mai do nhạc sĩ Anh Việt sưu tập và hiệu đính. Nhà Lá Bối, Hoa Kỳ xuất bản năm 1997.

Niệm (thuật ngữ) 1. Chánh niệm là năng lượng giúp cho ta thực sự có mặt trong giây phút hiện tại với thân và tâm hợp nhất. Chánh niệm là khả năng nhận diện những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại và ngay tại đây trong lĩnh vực thân, hoặc tâm, hoặc hoàn cảnh. Trái với chánh niệm là thất niệm, trạng thái quên lãng, tán loạn, rong ruổi, thân một nơi, tâm nột nẻo. Chánh niệm chấm dứt thất niệm, đem tâm về với thân, có mặt thực sự trong giây phút hiện tại, giúp hành giả tiếp xúc với những gì đang có mặt trong giây phút ấy. Duy trì chánh niệm thì năng lượng chánh định được phát khởi và tăng cường. Với niệm lực và định lực hùng hậu, hành giả có thể nhìn sâu, quán chiếu và làm phát hiện tự tính của đối tượng quán chiếu, đó là tuệ giác. Tuệ giác có công năng chuyển hóa, trị liệu và giải phóng. Chánh niệm là điểm khởi hành của thiền tập, yếu tố đầu của trình tự tam vô lậu học là niệm, định và tuệ (có khi nói là giới, định, tuệ), vốn là trái tim của thiền tập. Các kinh căn bản dạy về niệm là kinh Niệm Xứ và kinh Niệm Thân. Hành giả thực tập để năng lượng chánh niệm được chế tác trong từng giây phút của cuộc sống hằng ngày, cả trong khi đánh răng, súc miệng, đi cầu, tắm gội, giặt áo, lái xe, làm vườn hay chấp tác. Có chánh niệm hành giả sống sâu sắc được mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Nhờ chánh niệm miên mật, định lực được chế tác và trở nên hùng hậu có thể giúp hành giả chọc thủng được màn vô minh và đạt tới tuệ giác (xem chánh niệm). 2. Tùy niệm là chú tâm vào một đối tượng và duy trì đối tượng ấy, như niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng và niệm Giới. 3. Thời gian của một tư tưởng hay một tri giác, có thể là một sát na. 4. Một ý tưởng hay một khái niệm về thực tại, như ý niệm về sinh, về tử, về một, về nhiều, về có, về không, về đến, về đi, về ta, về người, về Phật, về chúng sinh. Những ý niệm sinh khởi từ tập khí biến kế (mental construction) không phù hợp với thực tại y tha khởi và viên thành thật. Vô niệm là thoát ra được ngoài những ý niệm ấy.

Niệm Bụt (thuật ngữ) Phát khởi và duy trì chánh niệm về Bụt. Cách thức phổ thông nhất ở Làng Mai là trì tụng bài Bốn phép tùy niệm trong đó có bốn đối tượng quán niệm: Bụt, Pháp, Tăng và Giới. Bài tùy niệm về Bụt (Buddhànusmarti) nhắc đến 10 danh hiệu (cũng là khả năng) của Bụt là: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, hoặc hoàn toàn bằng tiếng Việt rất dễ hiểu. Bài tùy niệm như sau: Tự thân của đức Thế Tôn, người từ chân như tới, thầy của chúng con. Là bậc xứng đáng nhất để được cúng dường. Là bậc có trí giác chân thực và toàn diện. Là bậc có đầy đủ công hạnh và tuệ giác. Là bậc đã qua tới một cách nhiệm mầu. Là bậc hiểu thấu thế gian. Là bậc nhân sĩ cao tột có khả năng điều phục con người. Là bậc thầy của cả hai giới thiên và nhân. Là bậc tỉnh thức toàn vẹn. Là bậc được tôn sùng quý trọng nhất trên đời. Đọc về cuộc đời và công hạnh của Bụt, như đọc các tác phẩm: Phật Sở Hành Tán, Đường Xưa Mây Trắng, v.v… cũng là niệm Bụt. Trì tụng danh hiệu đức A Di Đà cũng là niệm Bụt. Chiêm ngưỡng một tượng Bụt hay quán tưởng về các tướng tốt quang minh của Bụt cũng là niệm Bụt. Tại các đạo tràng Làng Mai vào cuối những buổi cơm trưa theo nghi lễ, đại chúng hay trì tụng danh hiệu Đức Thích Ca, và danh hiệu các vị Bồ Tát: Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm để gửi năng lượng và hộ niệm cho những người đang gặp khó khăn, đó cũng là niệm Bụt. Xem gửi năng lượng chánh niệm.

No Death, No Fear (sách) Một cuốn sách viết bằng tiếng Anh của Thầy Làng Mai do nhà Riverhead xuất bản năm 2002 tại New York. Được dịch ra rất nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước trên thế giới. Bản tiếng Việt là Không diệt, không sinh, đừng sợ hãi, được nhà Lá Bối Hoa Kỳ ấn hành.

Nói pháp thoại (phép tu) Một phép thực tập của những vị giáo thọ và giáo thọ tập sự. Nói pháp thoại đây không có nghĩa suông là giảng dạy Phật Pháp mà là quán chiếu căn cơ của thính chúng và cống hiến những giáo lý và phương pháp thực tập thích hợp để giúp cho thính chúng ấy tiếp nhận được cách thức tháo gỡ những khó khăn nội tâm và hoàn cảnh của họ. Một bài pháp thoại chỉ trình bày những kiến thức Phật Pháp có tính cách lý thuyết không có tính thực tiễn và khế cơ thì không được công nhận là một bài pháp thoại đích thực. Người nói pháp thoại phải nói trên căn bản từ bi mà không nói trên căn bản phô trương cái ngã của mình.

Nói Với Người Xuất Gia Trẻ Tuổi (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà xuất bản Lá Bối, Hoa Kỳ xuất bản năm 1996 và được in nhiều lần ở Việt Nam. Các vị ni sư và thượng tọa ở Việt Nam thường cho in để phát cho các học tăng. Đọc sách này nhiều giới xuất gia đã khôi phục được tâm bồ đề của mình.

Nói Với Tuổi Hai Mươi (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành lần đầu năm 1965 tại Sài Gòn và đã được tái bản nhiều lần ở trong nước và ngoài nước. Sách này là kết quả của những buổi hội thảo của một số sinh viên của các phân khoa đại học Sài Gòn tổ chức tại viện Cao Đẳng Phật Học chùa Pháp Hội do Thầy Làng Mai hướng dẫn vào năm 1964, gồm các đề tài liên hệ tới tuổi trẻ như tình yêu, lý tưởng, học hành, v.v… Ấn bản năm 1965 được đặt vào một cái hộp để có thể trở thành món quà tặng bạn.

Nồi Chưa Có Vung (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà in Lá Bối, Việt Nam ấn hành khoảng năm 1997.

Nội kết (thuật ngữ) Những hạt giống phiền não mới gieo hoặc sẵn có trong tàng thức mà chưa chuyển hóa được như vướng mắc, hờn tủi, căm thù, bạo động, tuyệt vọng. Cũng gọi là kết sử, có tác dụng ràng buộc và sai sử. Tiếng phạn gọi là samyojana.

Nội kết êm ái (thuật ngữ) Những nội kết khi gieo trồng và huân tập thì có tính cách êm đềm dễ chịu, nhưng sau đó thì làm cho hành giả mất tự do, như lạc thọ khi hút thuốc, uống rượu, sử dụng ma túy, được khen ngợi, nuông chiều, nhất là vương vấn tình ái.

Nội Nghiêm (người) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai, tên đầy đủ là Chân Nội Nghiêm. Người Việt Nam, sinh năm 1986, xuất gia năm 2006 tại Việt Nam, thuộc gia đình xuất gia Cây Hải Đường.

Nước Tĩnh (điện đường)  Một thiền đường thuộc chùa Pháp Vân, Xóm Thượng, Làng Mai.
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap
Xx
Xx