THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
 

 
 

 

Tự Ðiển Phật Học Việt Anh, Thiện Phúc
Tự Ðiển Phật Học Anh Việt, Thiện Phúc
Tự Điển Phật Học Phạn/Pali-Việt, Thiện Phúc
Tự Điển Phật Học Thiện Phúc-Mục Lục &Phụ Lục.
Tự Ðiển Phật Học Việt Anh, Minh Thông
Tự Ðiển Phật Học Anh Việt, Minh Thông
Từ Ngữ Phật Học Việt Anh, Trần Nguyên Trung
Từ Ngữ Thiền Học Tiếng Việt, Thích Duy Lực

Tổ Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE-ENGLISH
ENGLISH-VIETNAMESE
SANSKRIT/PALI-VIETNAMESE
THIỆN PHÚC

PHỤ LỤC (APPENDICES)

PHỤ LỤC A—APPENDIX A
NHỮNG KINH PHỔ THÔNG POPULAR SUTRAS

1. Kinh A Di Đà—Sukhavati Vyuha Sutra
2. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa-Phẩm Phổ Môn. The Lotus Sutra-Chapter on the Universal Gateway of Avalokitesvara Bodhisattva
3. Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức—The Sutra on the Merit and Virtue of The Original Pledges by the Medicine Buddha 
4. Kinh Hoa Nghiêm-Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện The Avatamsaka Sutra-Chapter 40: The Practices And Vows of the Bodhisattva Universal Worthy
5. Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa—The Vajracchedika Prajna Paramita Sutra
6. Kinh Lễ Sáu Phương—The Worship in the Six Directions Sutra
7. Tâm Kinh—Prajna Paramita Hridaya Sutra
8. Kinh Từ Thiện—Meitri Sutra
9. Kinh Vu Lan—The Ullambana Sutra

Kinh A Di Đà: Sukhavati Vyuha Sutra—Một trong ba bộ kinh chủ yếu của trường phái Tịnh Độ. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán tự—Sutra of Amitabha—Short form of Amitabha Sutra. One of the three basic sutras of the Pure Land sect. It was translated into Chinese by Kumarajiva. 

*Phật thuyết A Di Đà Kinh—The Buddha speaks of Amitabha Sutra:

*Nam Mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát (3 lần)—Namo Sea vast Lotus Pool Assembly of Buddhas and Bodhisattvas (3 times).

*Như thị ngã văn: Nhứt thời Phật tại Xá Vệ Quốc, Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên, dữ Đại Tỳ kheo Tăng, thiên nhị bá ngũ thập nhơn câu, giai thị Đại A La Hán, chúng sở tri thức—Thus I have heard, at one time, the Buddha dwelt at Shravasti in Jeta Grove, in the Garden of the Benefactor of Orphans and Solitary, together with a gathering of Great Bhikshus twelve hundred fifty in all, all Great Arhats whom the Assembly knew and recognized:

*Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Li Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A  Nậu Lâu Đà, như thị đẳng chư đại đệ tử, tinh chư Bồ Tát Ma Ha Tát. Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càng Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ tát, dữ  như thị đẳng, vô lượng chư thiên, đại chúng câu—Elder Shariputra, Mahamaudgalyayana,    Mahakasyapa, Mahakatyana,   Mahakaushtila, revata, Suddhipanthaka, Nanda, Ananda, Rahula, Gavampati, Pindola Bharadvja, Kalodayin, Mahakaphina, Vakkula, Aniuruddha, and others such as these, all Great Disciples; together with all the Bodhisattvas, Mahasattvas: Dharma Prince Manjushri, Ajita Bodhisattvas,   Gandhastin Bodhisattvas, Nitya   Bodhisattvas, and others such as these, all Great Bodhisatvas and together with Shakra, Chief among Gods, and numberless Great multitudes from all heavens. 

*Nhĩ thời Phật cáo Trưởng Lão Xá Lợi Phất: “Tùng thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc kỳ độ hữu Phật hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp—At that time the Buddha told the Elder Shariputra: “Passing from here through hundreds of thousands of millions of Buddhalands to the West, there is a world called   Ultimate Bliss. In the land of a Buddha   called Amitabha right now teaches the Dharma.”

*Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc? Kỳ quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc—Shariputra! For what reason is this land called Ultimate Bliss? All living beings of this country ensure none of the sufferings, but enjoy every bliss. Therefore, it is called Ultimate Bliss.

*Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ 

  thất trùng lan thuẩn, thất trùng la võng,  thất trùng hàng thụ, giai thị tứ bảo, châu táp vi nhiễu, thị cố bỉ quốc danh vi Cực Lạc—Moreover, Shariputra! This land of Ultimate Bliss is everywhere surrounded by seven tiers of railings, seven layers of netting and seven rows of trees, all formed from the four treasures and for this reason named Ultimate Bliss.

*Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc Quốc độ, hữu thất bảo trì, bát công đức thủy, sung mãn kỳ trung, trì để thuần dỉ kim sa bố  địa. Tứ biên giai đạo; kim ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não, nhi nghiêm sức chi. Trì trung liên hoa, đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, huỳnh sắc huỳnh quang, xích sắc xích quang, bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết—Moreover, Shariputra! The land of Ultimate Bliss has pools of the seven jewels, filled with the eight waters of merit and virtue. The bottom of each pool is pure, spread over with golden on the four sides are stairs of gold, silver, lapis lazuli and crystal; above are raised pavilions adored with   gold, silver, lapis lazuli, crystal, mother-of-pearl, red pearls and carnelian. In the pool are lotuses as large as carriage wheels: green colored of green light; yellow colored of yellow light; red colored of red light; white colored of white light; subtly, wonderfully fragrant and pure. 

*Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm—Shariputra! The realization of the land of Ultimate Bliss is thus meritoriously adorned. 

*Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ 

  thường tác thiên nhạc; huỳnh kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ thiên mạn đà la hoa, kỳ độ chúng sanh thường dĩ thanh đán, các dĩ y kích thạnh chúng diệu hoa cúng dường tha phương thập vạn ức Phật, tức dĩ thực thời hườn đáo bổn quốc, phạn thực kinh hành—Moreover, Shariputra! In that Buddhaland there is always   heavenly music and the ground is   yellow gold. In the six periods of the   day and night a heavenly rain of   madarava flower falls, and throughout   the clear morning for each living being of   this land, which sacks full of the myriads of wonderful flowers, makes offerings to the hundreds of thousands of millions of Buddhas of the other directions. At mealtime they return to their own country, after having eaten they stroll around.

*Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm. Phục thứ Xá Lợi Phất! Bỉ quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu: Bạch hạc, Khổng tước, Anh võ, Xá lợi, Ca lăng tần già, cọng mạng chi điểu, thị chư chúng điểu, trú dạ lục thời, xuất hòa   nhã âm, kỳ âm diễn xướng: ngũ căn,   ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần, như thị đẳng pháp, kỳ độ chúng sanh văn thị âm dĩ, giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng—Shariputra! The realization of the land of Ultimate Bliss is thus meritoriously adorned. Moreover, Shariputra! In this country there are always rare and wonderful   varicolored birds: white cranes,   peacocks, parrots, and egrets,   kalavinkas, in the six periods of the day and night, the flocks of birds sing joyful sounds proclaim the five roots, the five powers, the seven bodhi shares, the eight sagely way shares, and Dharma such as these. When living beings of this land hear these sounds, they are all together mindful of the Buddha of the Dharma, mindful of the Sangha. 

*Xá Lợi Phất! Nhữ vật vị thử điểu, thiệt thị tội báo sở sanh. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật quốc độ vô tam ác đạo. Xá Lợi Phất! Kỳ Phật quốc độ thượng vô ác đạo chi danh, hà huống hữu thiệt, thị chư chúng điểu, giai thị A Di Đà Phật dục linh pháp âm tuyên lưu biến hóa sở tác—Shariputra! Do not say that these birds are born as retribution for their karmic offenses. For what reason? In this Buddhaland there are no three evil ways of rebirth. Shariputra! In this   Buddha-land not even the names of the three evil ways exists, how much the less their actuality I desiring that the Dharma sound be widely proclaimed, Amitabha Buddha by transformation made this multitude  of birds. 

*Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ vi phong xuy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo la  võng, xuất vi diệu âm, thí như bá thiên chủng nhạc đồng thời cu tác, văn thị âm giả, tự nhiên giai sanh: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm—Shariputra! In that Buddha-land, when the soft wind   blows, the rows of jewelled trees and   jewelled nets, give forth subtle and   wonderful sounds, like one hundred   thousand kinds of music played at the   same time. All those who hear this   sound naturally bring forth in their   hearts mindfulness of the Buddha,   mindfulness of the Dharma, and   mindfulness of the Sangha. 

*Xá Lợi Phất! Kỳ Phật quốc độ, thành tựu như thị công đức trang nghiêm. Xá Lợi Phất! Ư nhữ ý vân hà? Bỉ Phật hà cố hiệu A Di Đà? Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quang minh vô lượng, chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại, thị cố hiệu vi A Di Đà—Shariputra! The realization of the land of Ultimate Bliss is thus meritoriously adorned. Shariputra! What do you think? Why is this   Buddha called Amitabha? Shariputra    The brilliance of that Buddha’s light is measureless, illuminating the lands of ten directions everywhere without   obstruction; for this reason he is alled 

Amitabha. 

*Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật thọ mạng,  cập kỳ nhân dân, vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, cố danh A Di Đà. 

  Xá Lợi Phất! A Di Đà Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp. Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật hữu vô lượng vô biên Thinh văn đệ tử, giai A La Hán, phi thị toán số, chi sở năng tri; chư Bồ Tát chúng diệc phục như thị. Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ thành tựu   như thị công đức trang nghiêm. Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ   chúng sanh sanh giả, giai thị a bệ bạt trí, kỳ trung đa hữu nhứt sanh bổ xứ, kỳ số thậm đa, phi thị toán số, sở năng tri chi, đản khả dĩ vô lượng vô biên a tăng kỳ thuyết. 

Xá Lợi Phất! Chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc. Sở dĩ giả hà? Đắc dữ như thị chư thượng thiện nhân câu hội nhứt xứ. 

Xá Lợi Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc.

Moreover, Shariputra! The life of that Buddha and that of his people extends for measureless limitless asankhyeya kalpas. For this reason he is called Amitayus. And Shariputra! since Amitabha realized Buddhahood, ten kalpas have passed.

Moreover, Shariputra!  That Buddha has measureless, limitless Sound-hearer disciples, all Arhats, their number incalculable; thus also is the Assembly  of Bodhisattvas. 

Shariputra! The realization of the land of Ultimate Bliss is thus meritoriously adorned.

Moreover, Shariputra! Those living beings   born in the land of Ultimate Bliss are all Avaivartika. Among them are many who in this very life will dwelt in Buddhahood. Their number is extremely many; it is incalculable and only in measureless, limitless asankhyeya kalpas could it be spoken. Shariputra! Those living beings who hear should vow, “I wish to be born in that country.” And why? All those who thus attain are all superior and good people, all coming together in one place. 

  Shariputra! One cannot have few good roots, blessings, virtues, and causal connections to attain birth in that land. 

*Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu, nhược nhứt nhựt, nhược nhị nhựt, nhược tam nhựt, nhược tứ nhựt, nhược ngũ nhựt, nhược lục nhựt, nhược thất nhựt, nhứt tâm bất loạn. Kỳ nhơn lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng, hiện tại kỳ tiền, thị nhơn chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A DI Đà Phật Cực Lạc quốc độ. 

     Shariputra! If there is a good man or  woman who hears spoken Amitabha and holds the name, whether for one day,  two days, three days, four days, five days, six days, as long as seven days, with one heart unconfused, when this person approaches the end of life, before him will appear Amitabha and all the Assembly of holy ones. When the end comes, his heart is without inversion; in Amitabha’s land of Ultimate bliss he will attain rebirth.

*Xá Lợi Phất! Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn, nhược hữu chúng sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ.

  Shariputra! Because I see this benefit, I speak these words: “If living beings hear this spoken they should make the vow, “I wish to be born in that land.”

*Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả, tán thán  A Di Đà Phật bất khả tư nghị công đức chi lợi.

     Shariputra! As I now praise the inconceivable benefit from the merit and virtue of Amitabha.

*Đông phương diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật; như  thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư nghì công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh.”

  Thus in the East are also Aksobhya 

Buddha, Sumeru Appearance Buddha, Great Sumeru Buddha, Sumeru Light Buddha, Wonderful Sound Buddha; all Buddhas such as these, numberless as ganges sands, in his own country each brings  forth the appearance of a vast and long tongue. Everywhere covering the three thousand great thousand worlds (great cosmos), and speaks the sincere and actual words, “All you living beings should believe, praise and hold in reverence the inconceivable merit and virtue of this  sutra of the mindful one of whom all are Buddhas are protective.”

*Xá Lợi Phất! Nam phương thế giới hữu Nhựt nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư nghì công đức nhứt thiết chư Phật   sở hộ niệm kinh.” 

  Shariputra! In the Southern World are Sun-Moon-Lamp Buddha, Well-Known Light Buddha, Great-Blazing Shoulder Buddha, Sumeru-Lamp-Buddha, Measureless Vigor-Buddha; all Buddhas such as these, numberless as ganges sands. In his country, each bring forth the appearance of a vast and long tongue, everywhere covering the three thousand great thousand worlds (great cosmos), and speaks the sincere and actual words, “All living beings should believe, praise and hold in reverence the inconceivable    merit and virtue of this sutra of the   mindful one of whom all Buddhas are   protective.”

*Xá Lợi Phất! Tây phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư nghì công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh.”

  Shariputra! In the Western World are Measureless-Life Buddha, Measureless-Appearance Buddha, Measureless-Curtain Buddha, Great-Light Buddha, Great Brightness Buddha, Jewelled-Appearance Buddha, Pure-Light Buddha; all Buddhas such as these, numberless as ganges sands. In his own country each brings forth the appearance of a vast and long tongue, everywhere   covering the three thousand great   thousand worlds (great cosmos), and speaks the sincere and actual words, “All you living beings should believe, praise and hold in reverence the inconceivable merit and virtue of this sutra of the mindful one of whom all Buddhas are protective.”

*Xá Lợi Phất! Bắc phương thế giới hữu Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhựt Sanh Phật, Võng Minh Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị xưng tán bất khả tư nghì công đức nhất thiết chư Phật sở hộ niệm kinh.” 

  Shariputra! In the Northern World are Blazing-Shoulders Buddha, Most-Victorious-Sound Buddha, Hard-To-Injure Buddha, Sun-Birth Buddha, Net-Brightness Buddha; all Buddhas such as these, numberless as ganges sands. In his country each brings forth the appearance of a vast and long tongue, everywhere covering the three thousand great thousand worlds (great cosmos), and speaks the sincere and actual words, “All you living beings should believe, praise and hold in reverence the inconveivable merit and virtue of this sutra of the mindful one of   whom all Buddhas are protective.”

*Xá Lợi Phất! Hạ phương thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh-Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư nghì công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh.”

  Shariputra! In the world below are Lion-Buddha, Well-Known Buddha, Famous-Light Buddha, Dharma Buddha, Dharma-Curtain Buddha, Dharma-Maintaining Buddha, all Buddhas such as these, numberless as ganges sands. In his own country, each brings forth the appearance of a vast and long tongue, everywhere covering the three thousand great thousand worlds (great cosmos), and speaks the  sincere and actual words: “All you living beings should believe, praise and hold in reverence the inconceivable merit and virtue of this sutra of the mindful one of whom all Buddhas are protective.” 

*Xá Lợi Phất! Thượng phương thế giới hữu Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Ta La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhứt Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngộn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán  bất khả tư nghì công đức nhứt thiết chư  Phật sở hộ niệm kinh.”

  Shariputra! In the world above are Pure-Sound Buddha, King-Of-Stars Buddha, Superior-Fragrance Buddha,   Fragrant-Light Buddha, Great-Blazing-Shoulder Buddha, Varicolored-Jewelled-And-Flower-Adornment Buddha, Sal King Buddha, Jewelled-Flower-Virtue-Buddha, Vision-Of-All-Meaning Buddha, Such-As-Mount  Sumeru Buddha; all Buddhas such as these, numberless as ganges sands. In his country each brings forth the   appearance of a vast and long tongue,   everywhere covering the three thousand great thousand worlds (great cosmos) and speaks the sincere and actual words: “All you living beings should believe, praise and hold in reverence the inconceivable merit and virtue of this sutra of the mindful one of whom all Buddhas are protective.”

*Xá Lợi Phất! Ư nhữ ý vân hà? Hà cố danh vi: Nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh?

  Shariputra! What do you think? Why is it called sutra of the mindful one of whom all Buddhas are protective? 

*Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn văn thị kinh thọ trì giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện  nam tử, thiện nữ nhân giai vi nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm, giai đắc bất thối chuyển ư a-nậu-đa-la tam miệu tam bồ đề. Thị cố Xá Lợi Phất! Nhữ đẳng giai đương tín thọ ngã ngữ, cập chư Phật sở thuyết.

  Shariputra! If a good man or a good woman hears this sutra and holds to it, and hears the names of all these   Buddhas, this good man or good woman will be the mindful one of whom all Buddhas are protective, and will irreversibly attain to annutttara-samyak-sambodhi. Therefore, Shariputra, all of you should believe and accept my works, and those which all Buddhas speak. 

*Xá Lợi Phất! Nhược hữu nhơn dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật quốc giả, thị chư nhơn đẳng giai bất thối chuyển ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, ư bỉ quốc độ nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh.

  Shariputra! If there are people who have already made the vow, who now made the vow, or who are about to make the vow, “I desire to be born in Amitabha’s country,” these people whether born in the past, now being   born, or to be born in the future, all ill 

irreversibly attain annuttara-Samyak-Sambodhi. 

*Thị cố Xá Lợi Phất! Chư thiện nam tử,  thiện nữ nhơn, nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ. Therefore, Shariputra! All good men and good women, if they are among those who have faith, should make the vow, “I will be born in that country.”

*Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả xưng tán chư Phật bất khả tư nghì công đức, bỉ chư Phật đẳng, diệc xưng tán ngã bất khả tư nghì công đức nhi tác thị ngôn: Thích Ca Mâu Ni Phật năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta bà quốc độ ngũ trược ác thế; kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung đắc A nậu đa la Tam miệu tam bồ đề, vị chư chúng sanh, thuyết thị nhứt thiết thế gian nan tín chi pháp.

  Shariputra! Just as I am now one who praises the merit and virtue of all 

Buddhas. All those Buddhas equally praise my inconceivable merit and    virtue saying these words: “Sakyamuni  Buddha can complete extremely rare and difficult deeds, in the Saha Land, in the evil time of the five turbidities, in the  midst of kalpa turbidity, the view turbidity, the affliction turbidity, the living beings

 turbidity, and the life turbidity, he can attain Annuttara-Samyak-Samboddhi and for  the sake of living beings, speak this Dharma which in the whole world is hard to believe. 

*Xá Lợi Phất! Đương tri ngã ư ngũ trược  ác thế, hành thử nan sự, đắc A nậu đa la Tam miệu tam bồ đề, vị nhứt thiết thế gian thuyết thử nan tín chi pháp, thị vi thậm nan.

Sariputra! For the people of the defiled world, I preached unbelievable and difficult-to- practice dharmas. 

*Phật thuyết thử kinh dĩ, Xá Lợi Phất cập chư Tỳ kheo, nhứt thiết thế gian, Thiên, Nhơn, A-tu-la đẳng, văn Phật sở thuyết, hoan hỷ tín thọ tác lễ nhi khứ. 

After the Buddha spoke this sutra, Shariputra and all the Bhiksus, all the Gods, Human and Asuras, and others from all the worlds, hearing what the Buddha had said, joyously welcome, faithfully accepted, bowed and withdrew.

Phật thuyết A Di Đà Kinh. 

The Buddha speaks of Amitabha Sutra. 
 

Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh: The Prajna Paramita Heart Sutra—See Tâm Kinh (Heart Sutra).

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Phổ Môn: Lotus Sutra, The Chapter on the Universal Gateway of Avalokitesvara Bodhisattva. 

---Bấy giờ Ngài Vô Tận Ý quỳ gối chắp tay bạch với Phật rằng: “Vì nhơn duyên gì mà người thế gian gọi Bồ Tát này là Quán Thế Âm, xin Đức Thế Tôn mở lòng chỉ giáo. 

At this time, Aksayamati Bodhisattva rose from his seat, bared his right shoulder, joined his palms and asked the Buddha, “Bhagavan! Why is Avalokitesvara Bodhisatva called the Hearer of all sounds?”

---Đức Phật liền bảo Vô Tận Ý: “Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu ác khổ não, nghe Quán Thế Âm một lòng xưng danh. Quán Thế Âm tức thời xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát. 

Buddha discoursed to Aksayamati Bodhisattva, “Good man, Countless individuals are suffering from pain and torment. If they have heard of Avalokitesvara Bodhisattva, and single-mindedly call upon him. Avalokitesvara will heed their cry. They shall all gain deliverance.

---Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát này, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được, vì do sức uy thần của Bồ Tát nầy mà được như vậy. 

For those who hold on to Avalokitesvara’s name, in the midst of fire, they will not be burnt. It is all because of Avalokitesvara’s miraculous power.

—Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ tát này liền được chỗ cạn. 

Even  when one is carried off by a strong current, calling upon his name, one will find a shallow shore.

—Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu các thứ báu, vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi trôi ghe thuyền tắp vào nước quỷ, Nếu có người trong nhóm xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời các người đó đều thoát nạn quỷ. Do nhân duyên đó mà tên là Quán Thế Âm. 

If a trillion individuals, in the quest for gold, silver, crystal, lapis, agate, coral, opal and pearls, venture into the open sea, a storm pushes them to the land of demons. If one among them calls upon Avalokitesvara Bodhisattva, they shall all be saved. It is for this reason, Avalokitesvara is called the Hearer of all Sounds.

—Nếu lại có người sắp bị hại, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời dao gậy của người cầm liền gẩy từng khúc, người ấy được thoát khổ. 

When one is about to be killed, and calls upon Avalokitesvara Bodhisattva, the foe’s weapon shall be shattered to pieces. One shall be spared.

---Nếu quỷ dạ xoa cùng la sát đầy trong cõi tam thiên  đại thiên muốn đến hại người, nghe nguời xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời các quỷ dữ đó còn không có thể dùng mắt dữ mà nhìn người, huống lại làm hại được. 

If demons from the whole universe gather and wish to harm one, by the name of Avalokitesvara Bodhisattva alone, demons cannot even give and evil eye, how much less inflict actual harm? 

---Dầu lại có người hoặc có tội, hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát thảy đều đứt rã, liền được thoát khỏi. 

If one, whether guilty or not, is jailed and in shackles, and calls upon Avalokitesvara Bodhisattva, the shackles shall be broken. One is liberated and free. 

---Nếu kẻ oán tặc đầy cõi tam thiên đại thiên, có một vị thương chủ dắt các người buôn đem theo nhiều của báu, trải qua nơi đường hiểm trở, trong đó có một người xướng rằng: “Các thiện nam tử! Chớ nên sợ sệt, các ông nên phải một lòng xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, vị Bồ tát đó hay đem pháp vô úy thí cho chúng sanh, các ông nếu xưng danh hiệu thời sẽ được thoát khỏi oán tặc nầy.”

If bandits from the entire universe go after a convoy carrying many valuables, one merchant amongst them says: “Good men! Have no fear, you should pray to Avalokitesvara Bodhisattva. This Bodhisattva can  confer courage upon you. Those who call upon his name shall be saved from the bandits.” Hearing this, the merchants all chant, “Let’s take refuge in Avalokitesvara Bodhisattva!” By this act, they are all saved. 

Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát Ma Ha Tát oai thần chi lực! 

Aksayamati! Avalokitesvara Bodhisattva Mahasattva is indeed powerful! 

---Nếu có chúng sanh nào nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm quán Thế Âm Bồ tát, liền được ly dục. 

If one who is addicted to sexual desires prays sincerely to Avalokitesvara Bodhisatva, one will be detached from desire.

---Nếu người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền được ly dục.

If one who is full of hatred prays sincerely to Avalokitesvara Bodhisattva, one will be detached from anger. 

---Nếu người nhiều si ngu si, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền được lìa ngu si.

If one who is ignorant prays sincerely to Avalokitesvara Bodhisattva, one is liberated from ignorance.

---Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có những sức uy thần lớn, nhiều lợi ích như thế, cho nên chúng sanh thường phải một lòng tưởng nhớ. 

Aksayamati! Avalokitesvara Bodhisattva, is very powerful and benevolent. Therefore, all beings should be mindful of him. 

---Nếu muốn hậu vận còn được lâu dài, cầu sanh con trai để mà nối dõi, chí thành đảnh lễ Bồ tát Quán Âm, nhờ Đại Bi tâm mà sanh nam tử đức tài đầy đủ, đáng bậc anh hùng. Nếu phận má hồng, muốn cầu con gái, chí thành lễ bái Bồ Tát Quán Âm thì cũng được sanh hằng nga tiên nữ, sắc tài đầy đủ, đức hạnh vô song. 

If a woman wish to have a son, prostrates and makes offerings to Avalokitesvara Bodhisatva, a son of excellence and wisdom shall be born. If she wishes to have a daughter, a daughter of grace and beauty shall be born. 

---Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần như thế. 

Aksayamati! Avalokitesvara Bodhisattva possesses all these powers. 

---Nếu có chúng sanh cung kính lễ lạy Quán Thế Âm Bồ tát, thời phúc đức chẳng luống mất. Cho nên chúng sanh đều phải thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. 

If an individual will prostrate to Avalokitesvara Bodhisattva respectfully, one will have acquired endless merit. For this reason, everyone should hold on to Avalokitesvara Bodhisattva’s name. 

---Vô Tận Ý! Nếu có nguời thọ trì danh tự của sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát lại trọn đời cúng dường đồ ăn uống y-phục, giường nằm, thuốc thang. Ý ông nghĩ sao? Công đức của người thiện nam tử, thiện nữ nhân đó có nhiều chăng? 

Aksayamati! If someone holds on to the names of Bodhisattvas numbered equal to the grains in sixty-two trillion Ganges Rivers, offers them food, clothing, lodging, medicine as long as they live, what do you think, does this good man or woman acquire much merit? 

---Vô Tận Ý thưa: “Bạch Thế Tôn! Rất nhiều.” 

Aksayamati replied, “Very much indeed, Bhagavan.”

---Phật nói: “Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thời phúc của hai người đó bằng nhau không khác, trong trăm nghìn muôn ức kiếp không thể cùng tận. 

The Buddha said, “If another person holds on to Avalokitesvara Bodhisatva’s name, making prostrations and offerings for just a moment, the merit between these two people are identical. For a hundred thousand million trillion kalpa, the merit  will still not be exhausted. 

---Vô Tận Ý! Thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát được vô lượng vô biên phúc đức lợi ích như thế.

Aksayamati! Holding on to Avalokitesvara Bodhisattva’s name has the reward of boundless and countless merit. 

---Ngài Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn Quán Thế Âm Bồ tát dạo đi trong cõi ta bà như thế nào? Sức phương tiện việc đó thế nào? 

Aksayamati Bodhisattva further asked the Buddha, “Bhagavan! How does Avalokitesvara Bodhisattva venture about the Saha world? How does he preach Dharma to all? As for his skillful means, what is the manner of it? 

---Phật bảo Vô tận Ý Bồ Tát: “ Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật được độ thoát thời Quán Thế Âm Bồ tát liền hiện thân Phật mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Duyên Giác được độ thoát, liền hiện thân Duyên Giác mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Thanh văn được độ thoát, liền hiện thân Thanh văn mà vì đó nói pháp. 

The Buddha discoursed to Aksayamati Bodhisattva, “Good men, if there are beings who will be illuminated by Buddhas, Avalokitesvara Bodhisattva will preach Dharma to them in the form of a Buddha. If one is to be illuminated by Pratyeka Buddhas, he will preach in the form of a Pratyeka Buddha. If one is to be illuminated by Sravakas, he will preach in the form of a Sravaka. 

---Người đáng dùng thân Phạm vương được độ thoát, liền hiện thân Phạm vương mà vì đó nói pháp.

If one is illuminated by a Brahma god, he will preach in the form of a Brahma god.

---Người đáng dùng thân Đế thích được độ thoát, liền hiện thân Đế thích mà vì đó nói pháp.

If one If one is to be illuminated by a Sakra god, he will preach in the form of a Sakra god. 

---Người đáng dùng thân Tự Tại Thiên được độ thoát, liền hiện thân Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp. 

If one is to be illuminated by a Nirmanarati god, he will preach in the form of a Nirmanarati god. 

---Người đáng dùng thân Đại Tự Tại Thiên được độ thoát, liền hiện thân Đại Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a Patanirmitavasavartin god, he wil preach in the form of a Patanirmitavasavartin god. 

---Người đáng dùng thân Thiên Đại Tướng quân được độ thoát, liền hiện thân Thiên Đại tướng quân mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a Caturmahvajakayikadeva, he will preach in the appearance of a Caturmahvajakayikadeva god. 

---Người đáng dùng thân tỳ sa môn được độ thoát, liền hiện thân tỳ sa môn mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a Virsravana, he will preach in the form of a Virsravana. 

---Người đáng dùng thân Tiểu vương được độ thoát, liền hiện thân Tiểu vương mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a king, he will preach in the form of a king. 

---Người đáng dùng thân trưởng giả, liền hiện thân trưởng giả mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by an elder, he will preach in the form of an elder.

---Người đáng dùng thân cư sĩ được độ thoát, liền hiện thân cư sĩ  mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a lay person, he will preach in the form of a lay person. 

---Người đáng dùng thân Tể quan được độ thoát, liền hiện thân Tể quan mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by an official, he will preach in the form of an official.

---Người đáng dùng thân Bà la môn được độ thoát, liền hiện thân Bà la môn mà vì đó nói pháp.

If one is illuminated by a Brahma priest, he will preach in the form of a Brahma priest. 

---Người đáng dùng thân tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di được độ thoát, liền hiện thân tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a bhikshu, bhikshuni, upasaka, upasika, hw will preach in the form of a bhikshu, bhikshuni, upasaka, upasika. 

---Người đáng dùng thân phụ nữ của trưởng giả, cư sĩ, tể quan, bà la môn được độ thoát, liền hiện thân phụ nữ mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by the wife of an elder, lay person, official, or Brahma priest, he will preach in the form of a woman. 

---Người đáng dùng thân đồng nam đồng nữ được độ thoát, liền hiện thân đồng nam đồng nữ, mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a boy or girl, he will preach in the form of a boy or girl.

---Người đáng dùng thân Trời, Rồng, Dạ xoa, Càng thát bà, A tu la, Ca Lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhân cùng phi nhân được độ thoát, liền đều hiện ra mà vì đó nói pháp. 

If one is to be illuminated by Deva, Naga, Yaksa, Gandharva, Asura, Garuda, Kinnara, Mahoraga, human and spirits, he will preach in the appropriate forms. 

---Người đáng dùng thân Chấp kim cang thần được độ thoát, liền hiện Chấp kim cang thần mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a Vajrapani, he will preach in the form of a Vajrapani.

---Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát đó thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình, dạo đi trong các cõi nước để độ thoát chúng sanh, cho nên các ông phải một lòng cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát.

Aksayamati! Avalokitesvara Bodhisattva has achieved such merit and virtues. In different forms, he ventures across the lands, bringing emancipation to all. For this reason, you all should single-mindedly make offerings to Avalokitesvara Bodhisattva.

---Quán Thế Âm Đại Bồ Tát đó ở trong chỗ nạn gấp sợ sệt hay ban sự vô úy, cho nên cõi Ta bà nầy đều gọi Ngài là vị Thí Vô úy.

In the midst of danger, Avalokitesvara Bodhisattva Mahasattva can confer on you courage and security. Therefore, in this Saha World, he is also known as the “Giver of Courage.”

---Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật: “Thế Tôn! Con nay phải cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, liền mở chuỗi ngọc bằng các châu báu nơi cổ giá trị trăm ngàn lượng vàng, đem trao cho ngài Quán Thế Âm mà nói rằng: “Xin ngài nhận chuỗi trân bảo pháp thí nầy.” 

Akasayamati Bodhisattva proclaimed to the Buddha, “Bhagavan! I should now make offerings to Avalokitesvara Bodhisattva.” He then took off a necklace of gems and garlands, valued at a million ounces of gold, and presented it as a gift, saying: “Sir! Please accept this Dharma offering of gems and garlands.”

---Khi ấy Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng chịu nhận chuỗi. Ngài Vô Tận Ý lại thưa cùng Quán Thế Âm rằng: “Xin ngài vì thương chúng tôi mà nhận chuỗi ngọc nầy.”

At first, Avalokitesvara Bodhisattva declined the gift. Aksayamati Bodhisattva insisted and said to Avalkitesvara Bodhisattva, “Sir! For our sake, please do accept this garland.” 

---Bấy giờ Phật bảo Quán Thế Âm Bồ Tát: “Ông nên thương Vô Tận Ý Bồ Tát này và hàng tứ chúng cùng Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhân và phi nhân… mà nhận chuỗi ngọc đó. 

At this point, the Buddha said to Avalokitesvara Bodhisattva, “For the sake od Aksayamati Bodhisattva, the disciples, Devas, Negas, Yaksas, Gandharvas, Asuras, Garudas, Kinnaras, Mahoragas, Humans and Spirits, you should accept the garland.” 

---Tức thời Quán Thế Âm Bồ Tát thương tứ chúng và Trời, Rồng, nhân, phi nhân…mà nhận chuỗi ngọc đó chia làm hai phần: một phần dâng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, một phần dâng tháp của Phật Đa Bảo. 

Avalokitesvara Bodhisatva, for the sake of Aksayamati Bodhisattva, the disciples, Devas, Negas, Yaksas, Gandharvas, Asuras, Garudas, Kinnaras, Mahoragas, Humans and Spirits, accepted the garland. He then divided it into two. One portion is offered to Sakyamuni Buddha. The other is offered to the stupa of the Prabhutaratna Buddha. 

---Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần tự tại như thế, dạo đi nơi cõi Ta bà.”

Aksayamati Bodhisattva! Avalokitesvara Bodhisattva has such unobstructed magical power and ventures about in the Saha World. At that time, Aksayamati Bodhisattva asked again in verse: 

Thế Tôn đủ tướng tốt!

Bhagavan, the one endowed

with all the holy marks 

Con nay lại hỏi kia

Might I ask thou once more

Phật tử nhân duyên gì

Why is this son of the Buddha

Tên là Quán Thế Âm?

Called the Hearer of all Sounds?

Đấng đầy đủ tướng tốt

The holder of all holy marks

Kệ đáp Vô Tận Ý:

Replied in rhymes to Aksayamati:

Ông nghe hạnh Quán Âm

Watch carefully

Avalokitesvara’s deeds

Khéo ứng các nơi chỗ

He responds as well in all situations

Thệ rộng sâu như biển

His vows are as deep as an ocean

Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn

Unimaginable through the kalpas

Hầu nhiều nghìn Đức Phật

He has served trillions of Buddhas

Phát nguyện thanh tịnh lớn.

And pledged profound 

and pious vows

Ta vì ông lược nói

I will make it brief

Nghe tên cùng thấy thân

Hearing his name or

seeing his image

Tâm niệm chẳng luống qua

Even for a short time is rewarding

Hay diệt khổ các cõi.

It can extinguish all sufferings.

Giả sử sinh lòng hại

If someone is malicious

Xô rớt hầm lửa lớn

Pushing one into a fire pit

Do sức niệm Quán Âm

And one is mindful of 

Avalokitesvara’s power

Hầm lửa biến thành ao.

The fire pit can turn into a pond

Hoặc trôi dạt biển lớn

If someone is drifting in the ocean

Các nạn quỷ, cá, rồng

And surrounded by dragons, sharks 

And demons 

Do sức niệm Quán Âm

Mindful of Avalokitesvara’s power 

Sóng mòi chẳng chìm được.

One will not be drown.

Hoặc ở chót Tu Di

Bị người xô rớt xuống

If one is being pushed off the peak 

of  Sumeru

Do sức niệm Quán Âm

And one is mindful of 

Avalokitesvara’s power

Như mặt nhật treo không

One  can float in the sky like the sun

Hoặc bị người dữ rượt

If chased by an enemy

Rớt xuống núi Kim cang

And cast off a diamond peak

Do sức niệm Quán Âm

One is mindful of Avalokitesvara’s 

power

Chẳng tổn đến mảy lông.

He will not even be scratched. 

Hoặc gặp oán tặc vây

If surrounded by enemies

Đều cầm dao làm hại

With knives and about 

to be attacked

Do sức niệm Quán Âm

One is mindful of Avalokitesvara’s 

power

Đều liền sinh lòng lành.

They will have tender hearts

Hoặc bị khổ nạn vua

Khi hành hình sắp chết

If persecuted by the courtis 

imminent 

Do sức niệm Quán Âm

One is just mindful of 

Avalokitesvara’s power

Dao liền gảy từng đoạn.

The knives will be shattered to 

pieces

Hoặc tù cấm xiềng xích

If jailed an in chains

Tay chân bị gông cùm

Both arms and legs shackled

Do sức niệm Quán Âm

One is mindful of Avalokitesvara’s 

power

Tháo rã được giải thoát

One will gain release

Nguyền rũa các thuốc độc

If cursed or poisoned

Muốn hại đến thân đó

The one in danger

Do sức niệm Quán Âm

Is mindful of Avalokitesvara’s 

power

Trở hại nơi bổn nhân.

The spell shall be sent back.

Hoặc gặp La sát dữ

If encountered by demons

Rồng độc các loài quỷ

Dragons or ghosts

Do sức niệm Quán Âm

One is just mindful of 

Avalokitesvara’s power

Liền đều không dám hại.

They will not dare to do any harm

Hoặc thú dữ gây quanh

If circled by wild beasts

Nanh vút nhọn đáng sợ

Threatened by sharp claws and 

teeth

Do sức niệm Quán Âm

One is mindful of Avalokitesvara’s 

power

Vội vàng bỏ chạy thẳng.

They will run off and disappear.

Rắn độc cùng bò cạp

There may be snakes or scorpions 

Hơi độc khói lửa đốt

With poisonous venom

Do sức niệm Quán Âm

One is just mindful of 

Avalokitesvara’s power

Theo tiếng tự bỏ đi.

And they will scatter by themselves.

Mây sấm nổ sét đánh

If the heaven roars with thunder

Tuôn giá xối mưa lớn

Hail and rain pours down

Do sức niệm Quán Âm

One is mindful of Avalokitesvara’s 

power

Liền được tiêu tan cả.

The sky turns clear.

Chúng sanh bị khổ ách

If beings are all in confinement

Vô lượng khổ bức thân

And pressed upon by countless pain

Quán Âm sức trí diệu

Avalokitesvara has great wisdom

Hay cứu khổ thế gian

To emancipate all earthly sufferings

Đầy đủ sức thần thông

Full endowed with magical powers

Rộng tu trí phương tiện

He knows all expedient means

Các cõi nước mười phương

In all lands and in all dimensions

Không cõi nào chẳng hiện.

He manifests everywhere

Các loài trong đường dữ:

In all evil realms:

Địa ngục, quỷ, súc sanh

Such as hell, ghost and animal

Sinh, già, bịnh, chết, khổ

Facing pain of birth, aging, sickness 

and death

Lần đều khiến dứt hết.

He can eliminate them all.

Chân quán thanh tịnh quán

He is truthful and pious

Trí tuệ quán rộng lớn

He possesses great wisdom

Bi quán và từ quán,

With kindness and compassion

Thường nguyện thường chiêm ngưỡng

May we forever pay homage to him

Sáng thanh tịnh không nhơ

He is shining with spotless purity

Tuệ nhật phá các tối

Like the sun banishes darkness

Hay phục tai khói lửa

He can subdue disasters of wind and 

fire

Khắp soi sáng thế gian.

And illuminate the entire world.

Lòng bi răn như sấm

His compassion and precepts roar 

like thunder

Ý tứ diệu dường mây

And his kindness embraces like 

clouds

Xối mưa pháp cam lộ

Quenching the world’s thirst with 

holy water

Dứt trừ lửa phiền não

And eliminating all distress and 

sufferings.

Cãi kiện qua chỗ quan

Trong quân trận sợ sệt

In trial or in battle

Do sức niệm Quán Âm

Be mindful of Avalokitesvara’s 

power

Cừu oán đều lui tan.

The foes shall withdraw.

Diệu âm, Quán Thế Âm

The wonderful voice of 

Avalokitesvara

Phạm âm, hải triều âm

Rolling like the Braha’s song and 

tide

Tiếng hơn thế gian kia,

Surpasses the best of earthly 

sounds, 

Cho nên thường phải niệm.

Thus we should always be mindful 

of him

Niệm niệm chớ sinh nghi

Be mindful without doubt

Quán Âm bậc Tịnh Thánh

Avalokitesvara is a pious saint

Nơi khổ não nạn chết

In the midst of pain, distress, death 

and danger

Hay vì làm nương cậy.

He can be relied upon.

Đủ tất cả công đức

He is fully endowed with virtues

Mắt lành trông chúng sanh

And kindly looks upon all beings 

Biển phúc lớn không lường

He has accumulated merits deeper 

than the ocean

Cho nên phải đảnh lễ.

Thus you should prostrate to him.

---Bấy giờ ngài Trì Địa Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng đây đến trước Phật bạch rằng: “Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nào nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát đạo nghiệp tự tại, Phổ môn thị hiện sức thần thông nầy, thời phải biết công đức người đó chẳng phải ít.”—At this point, Dharanimdhara Bodhisattvarose from his seat, and proclaimed to the Buddha, “Bhagavan! Any beings who have heard of Avalokitesvara Bodhisattva’s wonderful deeds, the manifestation of this universal gateway, his magical power, these beings have acquired enormous merit.

---Lúc Phật nói phẩm Phổ Môn này, trong chúng có tám muôn bốn ngàn chúng sanh đều phát tâm vô đẳng đẳng vô thượng chánh đẳng chánh giác—When the Buddha discoursed this chapter of the Universal Gateway, eighty-four thousand beings in the assembly pledged the unique vow of Anuttara SamyakSambodhi. 
 
 

Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai (Bổn Nguyện Công Đức Kinh)

---The Sutra on the Merit and Virtue of the Original Pledges by the Medicine Buddha.

---The Sutra on the Merits and Virtues of the Original Vows by Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata.

--Ta nghe như vầy: “Một thuở nọ Đức Bạt Già Phạm đi châu du giáo hóa các nước, đến thành Quảng Nghiêm, nghỉ dưới cây Nhạc Âm, cùng với tám ngàn vị đại tỳ kheo, ba vạn sáu ngàn vị đại Bồ tát, các hàng quôc vương, đại thần, bà la môn, các hàng cư sĩ, thiên long bát bộ cùng nhơn, phi nhơn, cả thảy đại chúng nhiều vô lượng, đồng vây quanh Phật cung kính thỉnh Ngài thuyết pháp—Thus I have heard: During one of the many journeys through the land, Bhagavan arrived at the city of Vaisali. Resting under a Resounding Tree, there in his company was a congregation of eight thousand elder Bhikshus, thirty-six thousand Bodhisatvas Mahasattvas, kings, ministers, brahmins, lay devotees, celestial beings, nagas, humans and spirits. This infinite  mass gatherd around with great veneration to hear his teaching. 

---Lúc bấy giờ ông Mạn Thù Thất Lợi pháp Vương tử  (Văn Thù Sư Lợi Bồ tát) nhờ oai thần của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, vén y để bày vai bên hữu và gối bên mặt quì sát đất, khép nép chấp tay hướng về phía Phật bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Cúi xin Ngài nói rõ những danh hiệu, những bổn nguyện rộng lớn cùng những công đức thù thắng của chư Phật  để cho những người đang nghe pháp, nghiệp chướng tiêu trừ và để cho chúng hữu tình ở đời tượng pháp được nhiều lợi lạc về sau—Inspired by the mighty power of the Buddha, Manjusri, the crown prince of the Dharma, rose from his seat, bared one shoulder and knelt down. Holding his palms together, he bowed and asked the Buddha, “Lokajyestha, please tell us the great sages of the Buddhas, their titles and forms, their original vows, and their unequalled virtues and merits. This can eradicate the karmic hindrances of the listeners. It would be specially beneficial to those who live in the middle period of the Dharma.

---Đức Thế Tôn khen ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rằng: “Hay thay! Hay thay! Văn Thù Sư Lợi! Ngươi lấy lòng đại bi yêu cầu ta nói những danh hiệu và bổn nguyện công đức của chư Phật là vì muốn cho chúng hữu tình khỏi bị nghiệp chướng ràng buộc, lợi ích an vui, trong đời tượng pháp về sau. Nay ngươi nên lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ông mà nói.”—Lokajyestha praised Manjusri, “Excellent! Excellent! Manjusri, you ask me about the sages and original vows of the Budhas out of great compassion. It will liberate those have karmic hindrnaces. It will be very beneficial to beings in the middle period of the Dharma. Listen and reflect carefully, I shall tell now." 

---Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Dạ, mong Thế Tôn nói, chúng con xin nghe.”—Manjusri replied, “Yes, please do teach us, we will be glad to listen.”

---Phật bảo ông Văn Thù Sư Lợi: “Ở phương Đông, cách đây hơn mười căn dà sa cõi Phật có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly. Đức giáo chủ cõi ấy hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Bạt Già Phạm. Này Văn Thù Sư Lợi, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, khi còn tu hạnh đạo Bồ tát có phát mười hai nguyện lớn, khiến cho chúng hữu tình cầu chi được nấy—Buddha discoursed to Manjusri, “Eastward over Budha Lands ten times as numerous as the sands of the Ganges, there is a world called Pure Crystal. The Buddha of this world has the title Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathatgata, Arhat, Samyak Sambuddha, Vidyacarana, Sampanna, Sugata, Lokasvid, Anuttara, Purusa Dhamya sarathi, Sasta deva manusyanam, Buddha, Bhagavan. Manjusri, as a Bodhisattva, Lokajyestha Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, pledged the following twelve great vows to grant everybody’s prayer.

---Nguyện thứ nhứt: Ta nguyện đời sau, khi chứng đặng đạo chánh đẳng giác, thân ta có hào quang sáng suốt, rực rỡ chiếu khắp vô lượng, vô số, vô biên thế giới, khiến cho tất  cả chúng hữu tình  đều có đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, cùng tám chục món tùy hình trang nghiêm như thân của ta vậy—The first vow pledges, in the future, upon attaining Anuttara SamyakSambodhi, my body would radiate and shine through the countless galaxies. As a Buddha adorned with the thirty-two marks of a Graet Man and the eighty characteristics, I shall make all beings wholly equal to me.

---Nguyện thứ hai: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ Đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vừng nhựt nguyệt. Chúng sanh trong cõi u minh đều nhờ ánh sáng ấy mà tâm trí được mở mang và tùy ý muốn đi đến chỗ nào để làm các sự nghiệp gì cũng đều được cả—The second vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, my body shall be like crystal. It will be transparent throughout  and spotlessly clear without the slightest imperfection. It will splendidly shine with light, in majestic virtues, sitting in serenity. It will be adorned with the aureole, brighter than the sun and moon. I shall illuminate all beings in darkness. They all can be enlightened according to their capacities.

---Nguyện thứ ba: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ Đề, dùng trí huệ phương tiện vô lượng vô biên độ cho chúng hữu tình, khiến ai nấy đều có đủ các vật dụng, chớ không cho ai phải chịu sự thiếu thốn—The third vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightyenment, I will apply my boundless skill and wisdom to fullfil the everyone’s need without inadequacy.

---Nguyện thứ tư: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình tu theo tà đạo, thì ta khiến họ quay về an trụ trong đạo Bồ Đề, hoặc có những người tu hành theo hạnh Thanh Văn, Độc Giác thì ta cũng lấy phép đại thừa mà dạy bảo cho họ—The forth vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, I will teach those who have gone astray to walk back on the path of Bodhi. Those aiming for Sramana or Pratyeka Buddha, I would anchor them back on the Mahayana way.

---Nguyện thứ năm; Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nhiều vô lượng, vô biên ở trong giáo pháp của ta mà tu hành theo hạnh thanh tịnh thì ta khiến cho tất cả đều giữ được giới pháp hoàn toàn đầy đủ cả tam tụ tịnh giới. Giả sử có người nào bị tội hủy phạm giới pháp mà khi đã nghe được danh hiệu ta thì trở lại được thanh tịnh, khỏi sa vào đường ác—The fifth vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, my countless devotees will all firmly uphold and fulfill the three cumulative precepts. Those who may lapsed shall be cleansed and suffer no falls upon hearing my name. 

---Nguyện thứ sáu: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào thân hình hèn hạ, các căn không đủ, xấu xa, khờ khạo, tai điếc, mắt đui, nói năng ngọng ngệu, tay chân tật nguyền, lát hủi, điên cuồng, chịu tất cả những bịnh khổ ấy mà khi đã nghe danh hiệu thì liền được thân hình đoan chính tâm tánh khôn ngoan, các căn đầy đủ, không còn những bịnh khổ ấy nữa—The sixth vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, anyone with physical inferiorities or mental impairments, such as ugliness, febble-mindedness, blindness, deafness, are mute, handicapped, paralyzed, hump-backed, leprous, psychotic, and all these pains and anguishes shall be physically and mentally restored. 

---Nguyện thứ bảy: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào bị những chứng bịnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ, không gặp thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khổ, mà hễ danh hiệu ta đã nghe lọt vào tai một lần thì tất cả bịnh hoạn khổ não đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyến sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ Đề—The seventh vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, anyone who is tormented by sickness, with no place to turn, no place for care, no home nor friends, deprived and suffering. Upn hearing my name, their sickness shall be cured, with peace of mind and body, they shall have a loving family anf live in boundtifulness until attaining Perfect Enlightenment. 

---Nguyện thứ tám: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có những phụ nữ nào bị trăm điều hèn hạ khổ sở của thân gái làm cho buồn rầu, bực tức, sanh tâm nhàm chán, muốn bỏ thân ấy mà hễ nghe danh hiệu ta rồi thì tất cả đều được chuyển thân gái thành thân trai, có đủ hình tướng trượng phu, cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ Đề—The eighth vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, those women who are troubled and wearied the hundreds of faminine problems. They long to abandon the female form. Upon hearing my name, they shall be male in their future rebirth. They shall have a grand posture of manhood until Perfect Enlightenment. 

---Nguyện thứ chín: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề thì khiến cho những chúng hữu tình ra khỏi vòng lưới ma nghiệp, được giải thoát tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến, ta nhiếp dẫn họ trở về với chánh kiến và dần dần khiến họ tu tập theo các hạnh Bồ tát đặng mau chứng đạo chánh đẳng Bồ Đề—The ninth vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, everyone shall escape the evil net of Mara, and delusion from the hindrance of external doctrines, If they are trapped in the dense forest of false understandings, I shall show them the right view. I shall lead them on the Bodhisattva path. All will attain Perfect Enlightenment soon. 

---Nguyện thứ mười: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào mà pháp luật  nhà vua gia tội phải bị xiềng xích, đáng đập, hoặc bị giam giữ trong chốn lao tù, hoặc bị chém giết, hoặc bị nhiều tai nạn nhục nhã, thân tâm chịu những nỗi khổ, buồn rầu, bức rức, hễ nghe đến danh hiệu ta thì nhờ sức oai thần phước đức của ta đều được giải thoát tất cả những nỗi ưu khổ ấy—The tenth vow pledges, in the future, after attaining Perfect Enlightenment, those who are apprehended by the law, bound and punished, in shackles and jailed, or about to be put to death. They suffer endless distress and insults. They are in sorrow and anguish physically and mentally. Upon hearing my name, by my merits and powers, they shall be emancipated. 

---Nguyện thứ mười một: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào bị sự đói khát hoành hành, đến nỗi vì tìm miếng ăn phải tạo tác các nghiệp dữ, mà hễ nghe danh hiệu ta rồi chuyện niệm thọ trì thì trước hết ta dùng các món ăn uống ngon lạ ban bố cho thân họ được no đủ và sau ta mới đem pháp vị nhiệm mầu  kiến lập cho họ cái cảnh giới an lạc hoàn toàn—The eleventh vow pledges, in the future, after attaining Perfect Enlightenement, those who are driven to crimes because of hungry and thirst. Upon hearing my name and holding it with veneration, they shall be satisfied with the best of food and drink. They shal then taste the delight of the Dharma. They shall soon live a life of tranquility and comfort. 

---Nguyện thứ mười hai: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào nghèo đến nỗi không có áo che thân bị muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh dãi dầu, ngày đêm khổ bức, hễ nghe đến danh hiệu ta mà chuyên niệm thọ trì thì ta khiến cho được như ý muốn: nào các thứ y phục tốt đẹp, nào tất cả các bảo vật trang nghiêm, nào tràng hoa, phấn sáp bát ngát mùi hơm và trống nhạc cùng những điệu ca múa, tùy tâm muốn thưởng thức món nào cũng được thỏa mãn cả—The twelveth vow pledges, in the future, after attaining Perfect Enlightenment, those who are poor and exposed, tormented by the elements, mosquitoes and wasps. They suffer day and night.  Upon hearing my name and holding it with veneration, they shall have the best of garments with ornaments, garlands and music bands. All their wishes shall be fully satisfied. 

---Này Văn Thù Sư Lợi, đó là mười hai lời nguyện nhiệm mầu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác phát ra trong khi tu hạnh đạo Bồ Tát.

Manjusri, these are the twelve grand vows pledged by the Lokajyestha, Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, Arhat, SamyakSambuddha, while practicing his Bodhisattva way.

---Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai kia khi còn tu hành đạo Bồ Tát phát những lời nguyện rộng lớn và những công đức trang nghiêm ở cõi Ngài, dầu ta nói mãn một kiếp hay hơn một kiếp cũng không thể nào hết được. Nhưng ta có thể nói ngay rằng cõi Phật kia một bề thanh tịnh không có đàn bà, cũng không có đường dữ và cả đến tiếng khổ cũng không.

Furthermore, Manjusri, Lokajyestha Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, while treading the Bodhisattva path, has nade such giant vows and grand adornment. I can go on talking for kalpas, the subject would still not be completed. In his Budha Land, it is eternally pure. There are no genders. There are no evil births or cries of sufferings. 

---Ở cõi ấy đất toàn bằng chất lưu ly, đường đi có dây bằng vàng giăng làm ranh giới, còn thành quách cung điện, mái hiên, cửa sổ cho đến các lớp lưới bao phủ cũng toàn bằng đồ thất bảo làm ra. Thật chẳng khác gì những công đức trang nghiêm ở cõi Tây Phương Cực Lạc vậy.

The ground is made of crystal and partitioned by ropes of gold. The castles, towers, palaces, halls, balconies, windows and nets are made of the seven treasures. It is no less magnificient than the Western World of Ultimate Bliss. 

---Cõi Phật ấy có hai vị đại Bồ tát là Nhựt Quang Biến Chiếu và Nguyệt Quang Biến Chiếu, chính là hai bực thượng thủ trong vô lượng, vô số Bồ Tát và lại là những bậc sắp bổ xứ làm Phật. Hai vị nầy đều giữ gìn kho báu chánh pháp của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.

In this world, there are two Bodhisattvas Mahasattvas. They are Suryaprabha Bodhisattva and Candraprabha Bodhisattva. They are the senior amongst the countless Bodhisattvas. They will be the next Buddhas. They both can oversee the righteous treasures of Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata well. 

---Văn Thù Sư Lợi, vì thế những kẻ thiện nam tín nữ nào có lòng tin vững chắc thì nên nguyện sanh về thế giới của Ngài.

Therefore, Manjusri, all pious male and female devotees should pledge to be born in this Buddha Land. 

---Lúc ấy Đức Thế Tôn lại bảo ông Văn Thù Sư Lợi rằng: “Có những chúng sanh không biết điều lành dữ, cứ ôm lòng bỏn xẻn tham lam, không biết bố thí mà cũng không biết quả báo của sự bố thí là gì, ngu si vô trí, thiếu hẳn đức tin, lại ham chứa chất của cải cho nhiều, đêm ngày bo bo gìn giữ, thấy ai đến xin, lòng đã không muốn, nhưng nếu cực chẳng đã phải đưa của ra thì đau đớn mến tiếc, dường như lắt thịt cho người vậy.

Lokajyestha then further discoursed, “Manjusri, those who cannot tell right from wrong. They are greedy and stingy. They never learn to give or the merits of giving. They are ignorant and faithless. They accumulate great wealth. They guard it with great zeal. They hate charity. When giving is unavoidable, it is as tearing off flesh.

---Lại có vô lượng chúng hữu tình tham lẫn, chỉ lo tích trử của cải cho nhiều mà tự mình không dám ăn tiêu, còn nói chi đến sự đem của ấy thí cho cha mẹ, vợ con, tôi tớ và những kẻ nghèo hèn đến xin. Những kẻ tham lẫn ấy khi chết bị đọa vào đường ngạ quỷ hay bàng sanh.

These people are stingy even to themselves. How could you expect them to be generous to their parents, families, servants, workers, or beggars? Upon death, they will be born as hungry ghosts or animals. 

---Mặc dù ở trong ác thú, nhưng nhờ đời trước, sống trong cõi nhơn gian đã từng nghe qua danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mà nay lại còn nhớ niệm đến danh hiệu Ngài thì liền từ cõi ấy thoát sanh trở lại làm người. Khi đã được làm người lại nhớ đến kiếp sống trong đường ngạ quỷ, súc sanh, biết sợ sự đau khổ nên không ưa đắm dục lạc mà còn muốn tự mình làm việc bố thí, khen ngợi người khác làm việc bố thí, không tham tiếc món gì và lần lần có thể đem cả đầu, mắt, tay, chơn hay máu thịt của thân phần mình mà bố thí cho những kẻ đến xin cũng được, huống chi của cải là những vật thừa. 

It may happen that while as human, they heard of the name Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata. Even if they are in an evil realm now, if they recall the Tathagata’s name, instantaneously, they vanish and are reborn as humans. They will remember their past lives. They will fear the pains of the evil realms. They will not indulge in earthy pleasures and love to help, admire generosity and give without hesitation. Eventually, they will even give organs, limbs, lod, flesh in an act of charity, to say nothing of money and material possessions. 

---Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi, trong chúng hữu tình nếu có những người nào thọ các giới của Phật để tu học mà lại phá giới hoặc có kẻ không phá giới mà lại phá phép tắc, hoặc có kẻ tuy chẳng phá giới và phép tắc mà lại hủy hoại chánh kiến, hoặc có kẻ tuy không hủy hoại chánh kiến mà lại bỏ sự đa văn nên không hiểu được nghĩa lý sâu xa trong kinh Phật nói, hoặc có kẻ tuy đa văn mà có thói Tăng Thượng mạn, do thói tăng thượng mạn ấy che lấp tâm tánh, cố chấp cho mình là phải, người khác là quấy, chê bai chánh pháp kết đảng với ma. 

Furthermore, Manjusri, those who study from the Tathagata, but trespass against the precepts. Those who break no precepts, but trespass on minor rules. Those who break neither precepts nor minor rules, but have erroneous views. Those without erroneous views, but neglect to study broadly, and are unable to understand the profound meaning taught by the Buddha. Those with a broad knowledge, but who become arrogant. Because of arrogance, they become boastful and slight others. They slander the correct teachings, and fall in the companies of Mara. 

---Những kẻ ngu si ấy tự mình đã làm theo tà kiến mà lại còn khiến cho vô số ức triệu chúng hữu tình cũng bị sa vào hố nguy hiểm. Những chúng hữu tình ấy bị lăn trôi trong các đường địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh không khi nào cùng. Nhưng nếu nghe được danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì họ liền bỏ những hạnh dữ tu theo các pháp lành, khỏi bị đọa vào vòng ác thú nữa.

Such persons’ ignorance not only errs themselves, but leads countless others into pitfalls. They are to be trapped in hell, as animals or ghosts for eternity. If they hear the name of Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata and abandon their wickedness, practice the righteous deeds, they will not suffer any falls. 

---Giả sử có người không thể bỏ được những điều dữ để tu theo pháp lành mà phải bị đọa vào vòng ác thú thì cũng nhờ oai lực bổn nguyện của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai khiến cho họ, khi tạm nghe được danh hiệu Ngài, liền từ nơi ác thú mạng chung, trở sanh vào cõi người, được tinh tấn tu hành trong sự hiểu biết chơn chánh  khéo điều hòa tâm ý, bỏ trần tục xuất gia thọ trì và tu học theo giáo pháp của Như Lai, đã không hủy phạm lại thêm chánh kiến đa văn, hiểu rõ nghĩa lý sâu xa lìa được thói tăng thượng mạn, không chê bai chánh pháp, không bè bạn với ma, dần dần tu hành theo hạnh Bồ Tát chóng được viên mãn.

Even if they cannot reform and thus fall into the evil realms. By the power of this Tathagata’s pledges, if they hear his name, even just for a moment, after they pass away, they can be born as humans again. They will have righteous views. They will work diligently and curb their lusts. They will renounce the domestic life and choose the way of the monastic. They will study the teachings of the Tathagata without breaking any rules. They will have right views and broad knowledge. They will understand the profound teaching. They will be humble and slander no truth. They will never be in the arms of Mara. They will walk the Bodhisattva path and attain Perfect Enlightenment. 

---Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi, nếu chúng hữu tình có tánh tham lam tật đố, hay khen mình chê người thì sẽ bị đọa trong ba đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, phải chịu nhiều sự đau đớn khổ sở, trải qua không biết mấy nghìn năm mới hết. Khi đã mãn sự đau khổ kia, liền từ nơi đó mạng chung sanh lại cõi trần phải làm thân trâu, ngựa, lừa, lạc đà, thường bị người hành hạ, đánh đập và bị đói khát dày vò, lại phải đi đường xa chở nặng, cực nhọc muôn phần; còn như may đặng làm thân người thì lại bị sanh làm tôi tớ cho kẻ khác, mãi bị họ sai sử không khi nào được chút thong thả tự do. 

Manjusri, there are those who are stingy and jealous. They boast themselves and slander others. They are to fall into the thre evil realms and suffer great pains. After incalculable milleniums, they will be born on earth as cows, horses, camels or donkeys. They will be tormented by constant weeping, hunger and thirst. They will carry great loads over long distances. If they are born as human, they would be poor and deprived. They would be maids or servants and never be free.

---Nếu những nhơn vẫt ấy, đời trước khi còn trong nhơn đạo đã từng nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì do cái nhơn lành ấy, ngày nay nhớ lại, chí tâm quy-y Ngài, nhờ thần lực của Ngài gia bị mà thoát khỏi mọi sự khổ não, các căn thông lợi, trí huệ sáng suốt lại thêm đa văn, hằng cầu thắng pháp, thường gặp bạn lành, đời đời dứt hẳn lưới ma, đập nát vỏ thông minh, tát cạn sông phiền não, mà được giải thoát khỏi nạn sanh, lão, bịnh, tử và những nỗi đau khổ lo buồn.

If while as humans, they have heard of the name, Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata. Because of this meritorious act, they recall and sincerely take refuge in the Tathagata. By this Buddha's miraculous power, all pains are relieved. They will have accute senses, great wisdom and broad knowledge. They will love to learn. They will always be in the company of wise friends. They will break away from the grasp of Mara forever. They will have pierced the veil of ignorance. They will have dried up the river of distress. They are emancipated from all pains of birth, aging, sickness, death, worries and misery. 

---Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi, nếu chúng hữu tình có tánh ưa sự ngang trái chia lìa, tranh đấu, kiện cáo lẫn nhau, làm não loạn cho mình và người, đem thân, khẩu, ý tạo thêm mãi những ác nghiệp, xoay qua trở lại, thường làm những việc không nhiêu ích để mưu hại lẫn nhau, hoặc cáo triệu những thần ở núi, rừng, cây, mã để hại người, hoặc giết chúng sanh lấy huyết thịt cúng tế quỷ Dạ xoa và quỷ La sát để cậy quỷ hại người, hoặc biên tên họ và làm hình tượng của người cừu oán rồi dùng phép chú thuật tà ác mà trù ẻocho chết, hoặc theo lối ếm đối và dùng những đồ độc, hoặc dùng chú pháp hại mạng người. 

Manjusri, there are also those who are repugnant and belligerent, cause great distress to themselves and others. By their actions, speech anf thoughts, they pile up many negative karmas. They constantly inflict  mutual harms. They pray to the spirits of mountains, trees and tombs. They scarify the blood and flesh of the living as offerings to Yaksas and Rakshasas. They use sorcery and black magic to injure and kill others. 

---Nếu chúng hữu tình bị những tai nạn ấy mà nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như