Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE -
ENGLISH VIỆT - ANH
Thiện
Phúc
Tr
Tra:
1)
To examine—To investigate---To interrogate.
2)
To look up—To consult.
3)
To put (fix—To fit) in (tra cán dao).
Tra
Cứu: To study.
Tra
Hỏi: See Tra (1).
Tra
Khảo: To examine—To study.
Tra
Tấn: To torture.
Tra
Xét: To investigate—To examine.
Trá:
Giả trá—To feign—To deceive—To pretend—To impose on.
Trá
Hàng: To feign submission.
Trà:
Tea.
Trà
Am: Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa Trà
Am là nơi trụ cuối cùng của sư Viên Thành, tại chân núi
Ngũ Phong, ấp Tứ Tây, làng An Cựu. Chùa được trùng tu và
lợp ngói thay vì tranh vào năm 1937—Name of an ancient temple in
Huế, Central Vietnam. Trà Am temple is the place where monk Viên Thành
spent the end of his life. The temple was built in 1923 by Venerable Viên
Thành. It is located at the foot of Mount Ngũ Phong, Tứ Tây hamlet,
An Cựu village. In 1937, the temple was renovated, holding the same style
but tile roof instead of thatched one.
Trà
Củ Ma: Hoa thơm, ở các vùng Tây Á và Trung Á, dùng để làm
rượu thơm và để gọi hồn các vong linh—Fragrant flowers from
Western or Central Asia for scenting wine, and for calling down the spirits..
Trà
Diệp: Lá trà—Tea-leaves.
Trà
Dư Tửu Hậu: Idle conversation after tea and wine
Trà
Đồ Tha: Jadata (skt).
1)
Lạnh: Coldness.
2)
Ngu si: Stupidity.
3)
Tính không tình cảm: Apathy.
Trà
Lăng Úc: Thiền sư Trà Lăng Úc là một đệ tử của Thiền
sư Dương Kỳ Phương Hội. Ngài là tác giả của bài thơ sau
đây mà theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, những
bài thơ về ‘ngộ’ thì không bài nào giống bài nào, khó
gợi cho ta một nhận định xác đáng về nội dung của ngộ
bằng các so sánh hay phân tích, nhưng dầu sao thì qua những
bài thơ nầy chúng ta cũng thấy biểu lộ một phát giác mới;
còn phát giác ấy là gì thì ta cần tự có ít nhiều thân
chứng riêng mới có thể nói rõ hơn được. Dầu ở trường
hợp nào, tất cả các Thiền sư đều chứng chắc rằng trong
Thiền có cái gọi là ‘ngộ,’ nhờ nó con người du nhập
trong một thế giới giá trị mới. Kiến giải cũ vứt bỏ
là thế gian mang một ý nghĩa mới—Zen master Ling-Yu was a disicple
of Zen master Yang-Ch’i. He was the author of the below poem. According
to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, verses
of enlightenment show how they vary from one another and how it is
impossible to suggest any intelligible explanation of the content of enlightenment
by merely comparing them or by analyzing them. Some of them are easily
understood, we suppose, as expressive of the feeling of a new revelation;
but as to that revelation itself is, it will require a certain amount of
personal knowledge to be able to describe it more intelligently. In any
event, all these masters testify to the fact that there is such a thing
in Zen as enlightenment through which one is admitted into a new world
of value. The old way of viewing things is abandoned and the world acquires
a new signification:
Ta
có ngọc quí minh châu
Bụi
đời vùi lấp bấy lâu
Bụi
hết hôm nay sáng lại
Thế
gian chiếu phá làu làu
I have
one jewel shining bright
Long
buried it was underneath worldly worries;
This
morning the dusty veil is off,
And
restored is its lustre,
Illumining
rivers and mountains and ten
Thousand
things.
Trà
Thang: Trà và nước nóng, dùng trong các buổi lễ cúng vong
ở các tự viện—Tea and hot water, used as offerings to the spirits.
Trà
Trộn: To mingle.
Trà
Tỳ: Burial or cremation.
Trả:
To give back—To return—To refund.
Trả
Công: To pay someone for his services.
Trả
Lời: To respond—To reply.
Trả
Miếng: To return like for like.
Trả
Ơn: To render thanks to someone.
Trả
Thù: To revenge—To retaliate
Trác:
1)
Cao vút—Lofty—Tall—Erect.
2)
Đốn chặt: To chop.
Trác
Ca La: See Chakra in sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Trác
Ca La Sơn: Cakravala or Cakravada (skt)—Vòng núi Thiết Vi tạo
thành ngoại biên của vũ trụ—The circle of iron mountains forming
the pheriphery of the universe.
Trác
Cú Ca: Chakoka or Cugopa (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học
Từ Điển thì Trác Cú Ca là một vương quốc cổ thuộc Tiểu
Bukharia, có lẽ bây giờ là Yerkiang, hay Karghalik ở khu vực
Khotan—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist
Terms, Chakoka is an ancient kingdom and city in Little Bukharia, probably
the modern Yerkiang, or perhaps Karghalik in the Khotan region.
Trác
Táng: Debauched—Depraved.
Trác
Tích: Nơi các vị sư trụ trì (chỉ nơi cao truyệt)—Tall,
or erect staves, i.e. their place, a monastery.
Trác
Tuyệt: Transcendent—Eminent.
Trách
Mắng: To blame—To rebuke
Trách
Nhiệm: Responsibility
Trách
Nhiệm Gia Đình Và Xã Hội: Trong Phật giáo, có hai loại trách
nhiệm: xuất gia và tại gia—In Buddhism, there are two different
kinds of duties: renunciation and family life (lay people):
1)
Với Tăng sĩ: Với hàng Tăng sĩ, đời sống tôn giáo là xuất
gia—For Buddhist monks, the religious life means renunciation of home
and family life.
2)
Với Phật tử tại gia: Với Phật tử tại gia, cuộc sống
hãy còn ràng buộc với thế tục; tuy nhiên, một Phật tử
thuần thành luôn sống theo lời Phật dạy—For laypeople whose
life is still subject to worldly affairs; however, a devotee should always
follow the Buddha’s guidance in his daily life.
a.
Trách nhiệm đối với cha mẹ: Duties towards parents—Người
Phật tử tại gia luôn thương yêu và chăm sóc hai đấng sanh
thành, đặc biệt là trong lúc tuổi già. Lại nữa, làm con
phải luôn giữ truyền thống tốt của gia đình, phải có
tôn ti trật tự và phải luôn tỏ ra là một người con xứng
đáng—A layperson should always love and take care of both parents,
especially during their old age. Furthermore, children should always keep
good traditions of the family, maintain family lineage, and make themselves
worthy.
b.
Trách nhiệm đối với con cái: Duties towards children—Cha mẹ
luôn chu toàn trách nhiệm, dạy dỗ con cái đúng đường. Lại
nữa, cha mẹ phải luôn tìm cách ngăn ngừa không cho con cái
đi vào đường xấu xa tội lỗi; hướng dẫn họ đi vào đường
đạo đức, huấn nghệ và gã cưới đúng thời, và giao lại
sản nghiệp đúng lúc—Parent should always fulfill their duties,
teach and guide children in the right way. Furthermore, parents should
always find ways to restrain them from vice, exhort them with virtue, train
them for a career, guide them with suitable marriages, and hand over inheritance
when time comes.
c.
Đối với Thầy Tổ: Towards teachers—Phật tử tại gia luôn
kính trọng, lắng nghe và tán thán những lời dạy dỗ của
Thầy Tổ—Laypeople should always show respect, listen (pay attention
to their teachings), and praise their teachers for their efforts and teachings.
d.
Đối với chồng: Towards husbands—Phật tử tại gia phải luôn
ân cần vui vẻ; khi chồng vắng nhà, phải chăm sóc nhà cửa,
phải luôn chung thủy, phải xẻ chia; khi chồng nóng giận,
phải luôn điềm tĩnh; khi chồng nói đúng, phải lắng nghe—A
wife should always be cheerful to her husband; when husband is not home,
she should take care of home; she should always be faithful and loyal,
share all things; when the husband is angry, she should remain calm; when
he is correct, she should listen.
e.
Đối với vợ: Towards wives—Làm chồng phải luôn tử tế;
phải chào đón vợ; phải mua sắm đủ đầy áo quần và đồ
trang sức đúng thời đúng lúc; phải luôn thủy chung một
vợ một chồng—A Husband should always be kind to his wife; he should
purchase clothes and jewelry at the right time; be faithful with just one
wife.
f.
Đối với bằng hữu: Towards friends—Người Phật tử tại
gia luôn giúp đở bằng hữu, phải giải thích cho bạn hiểu
những lầm lỗi để cùng nhau xa lánh những việc xấu xa;
phải luôn an ủi và khuyên lơn bằng hữu khi cần. Cùng chia
ngọt xẻ bùi bên nhau, lúc giàu cũng như lúc nghèo; luôn bao
dung tha thứ—Laypeople should always help friends; explain faults so
that both can avoid wrongs; should comfort and give friends advice when
they need; rich or poor, should share joys and sorrows; should always forgive.
g.
Đối với người làm: Towards workers—Người Phật tử tại
gia phải luôn biết thương xót kẻ ăn người ở; trước khi
sai phải biết sức; khi có tội, phải khuyên dạy, chớ không
nên nặng tay phạt vạ; phải luôn lấy lẽ công bằng mà xét
xử; khi đau ốm phải lo liệu thuốc men đầy đủ—Laypeople
should always love their servants and workers; when command, must see if
they can do it; when they do worngs, we should teach and guide them how
to do things right; should always be impartial; when they are sick, we
should always provide them medicine and help them cure.
h.
Đối với chủ nhân: Towards bosses—Người Phật tử tại gia
khi làm công cho ai, phải luôn thức sớm; phải cố gắng chu
toàn nhiệm vụ; không lãng phí thực vật của chủ; phải
kính trọng, chào đón và tán thán chủ, chứ không bêu xấu—Laypeople
should always rise early before bosses; try their best to complete tasks;
try not to waste food and other materials; always respect, greet and praise
boses. Should never degrade bosses.
Trách
Nhiệm Tinh Thần: Moral responsibility.
Trạch:
1)
Chọn Lựa—To pick—To select—To choose.
2)
Trạch Pháp Giác Phần: Pravicara (skt)—Phần thứ nhì của Thất
Bồ Đề Phần, giác phần hay sự phân biệt đúng sai—The
second of the seven bodhyanga or dharmapravicara—Discrimination—The
faculty of discerning the true from the false—See Thất Bồ Đề Phần.
3)
Nhà: Residential part of a palace, or mansion, or residence.
Trạch
Diệt: Pratisamkhyanirodha (skt)—Một trong tam vô vi pháp—One
of the three Asamskritas:
·
Niết bàn là diệt pháp do sức lựa chọn của chân trí: Nirvana
as a result of the ability to discriminate the true from the false and
elimination of desire by means of mind and will.
·
Niết Bàn là sự đoạn diệt các tham dục xấu nhờ vào trí
tuệ và ý chí: Nirvana is the annihilation of evil desires by means
of the intellect and will.
·
For more information, please see Tam Vô Vi Pháp.
Trạch
Địa: Chọn địa điểm—To select a site.
Trạch
Lực: Khả năng phân biệt—The power of discrimination.
Trạch
Nhũ Nhãn: Sữa trộn lẫn trong nước, mà chỉ uống sữa còn
chừa nước lại như nga vương vậy—The power to choose the milk
out of watered milk, leaving the water, as Hansaraja, the king of geese,
is said to do.
Trạch
Pháp Giác Chi: The bodhyanga of discrimination—See Trạch (2).
Trạch
Pháp Nhãn: The bodhyanga of discrimination—See Trạch (2).
Trạch
Thức: Tên khác của A Lại Da Thức—Another name for Alaya-vijnana—See
A Lại Da Thức.
Trai:
Uposatha (skt)—Thời Trai Thực—Ô Bổ Sa Tha có nghĩa là thanh
tịnh, sau chuyển thành giới không ăn quá ngọ, sau đó lại
chuyển thành giới không ăn thịt cá—Uposatha means abstinence
or to purify by fasting, latter Uposatha means the ritual period for food,
eating at or before noon; latter Uposatha has further meaning of abstinence
from meat and fish.
Trai
Bãi: Trai Thối—Sau giờ ăn ngọ—After the midday meal.
Trai
Bản: Bản gỗ treo trước phòng ăn tự viện để báo giờ
cơm—A wooden board (in place of a bell) in front of the dining hall,
calling or informing to the midday meal.
Trai
Chủ: Thí chủ cúng dường Tăng chúng đồ ăn—The donor of
monastic food.
Trai
Chúc: Cháo lỏng để ăn sáng, hay húp vào buổi tối—The midday
and morning meals, breakfast of rice or millet congee, dinner of vegetarian
foods.
Trai
Chung: Chuông báo đến giờ ăn (thường đánh 36 tiếng)—The
bell, or drum, calling or informing to the midday meal (usually 36 strikes).
Trai
Diên: Cúng dường thức ăn đến Tam Bảo—Offerings of food to
the Triratna.
Trai
Đường: Phòng ăn của tự viện—Abstinence hall, i.e. monastic
dining hall.
Trai
Giới: Thanh tịnh thân tâm hay đề phòng thân tâm lười biếng
giải đãi, thí dụ như bát quan trai giới—Purification, or abstinential
rules, e.g. the eight prohibitions—See Trai.
Trai
Hội: Hội chúng của Tăng Ni niệm chú trước khi thọ thực—An
assembly of monks for chanting, with food provided, usually before eating.
Trai
Nguyệt: Ba tháng ăn chay đặc biệt của Phật tử tại gia,
tháng giêng, tháng năm và tháng chín (trong ba tháng nầy Phật
tử nên trì trai giữ giới, giữ gìn lời ăn tiếng nói, cũng
như hành vi cử chỉ, tránh làm việc ác, nên làm việc thiện,
và luôn giữ cho tâm ý thanh sạch)—The three special months of
abstinence and care for lay Buddhists, the first, fifth, and ninth months
Trai
Nhật: Vegetarian Day.
1)
Trong đạo Phật, lý tưởng nhất vẫn là trường trai; tuy
nhiên, việc trường trai rất ư là khó khăn cho Phật tử tại
gia, nên có một số ngày trong tháng cho cư sĩ tại gia. Lý
do ăn chay thật là đơn giản, vì theo lời Phật dạy thì tất
cả chúng sanh, kể cả loài cầm thú đều quý mạng sống,
nên để tu tập lòng từ bi, người Phật tử không nên ăn
thịt. Những ngày trai lạt theo đạo Phật thường là mồng
một, 14, 15, và 30 âm lịch—In Buddhism, ideally speaking, Buddhists
should be lifetime vegetarians; however, this is very difficult for lay
people. So certain days out of each month are denoted as a day not to eat
meat. The reason behind this is simple. The Buddha taught that each sentient
being, including animals, values life, so not to eat meat is to practice
being compassionate. Vegetarian Days of the month are the first, the fourteenth,
the fifteenth, and the thirtieth lunar calendar.
2)
Ngày trai thất hay ngày cúng vong—Days of offerings to the dead,
ceremonial days.
3)
Ngày mà cư sĩ Phật giáo thọ bát quan trai trong một ngày một
đêm: The day lay Buddhists strictly follow the eight commandments in
one day and one night—See Bát Quan Trai Giới.
Trai
Pháp:
1)
Luật không được ăn sau giờ ngọ—The rule of not eating after
noon.
2)
Phép uy nghi của giáo đoàn: The discipline of the order, or the establishment.
Trai
Tăng: Cúng dường chư Tăng hay cúng dường thức ăn đến chư
Tăng—To provide a meal for monks.
Trai
Thất: Trai thất hay lũy trai thất là giai đoạn bảy lễ, mỗi
lễ cách nhau bảy ngày cho người vừa quá vãng cho đến hết
thời gian 49 ngày (cứ mỗi bảy ngày lại làm lễ tụng kinh
cúng vong một lần gọi là cúng trai thất, tới ngày mãn “Trung
Ấm” tức là ngày thứ 49 mới thôi)—The seven periods of masses
for the dead, during the seven sevens or forty-nine days after death.
**
For more information, please see Hộ Niệm in Vietnamese-English Section.
Trai
Thời: Giờ ăn trong tự viện, đặc biệt là giờ ăn trưa,
sau giờ đó Tăng Ni không được phép ăn bất cứ đồ ăn
nào ( nhưng có thể uống chất lỏng)—The regulation hours for
monastic meals, especially the midday meal, after which no food should
be eaten; however, they can drink liquid.
Trai
Thực: Buổi ăn trưa của chư Tăng Ni; không ăn sau giờ ngọ,
chỉ ăn thực phẩm chay, ngoại trừ những loại có mùi nồng
như tỏi hành—The midday meal; not eating after noon; abstinential
food, i.e. vegetarian food, excluding vegetables of strong odour, as garlic,
or onion.
Trai
Trì: Trì trai giữ giới, thí dụ như thọ trai đúng thời—To
observe the law of abstinence, i.e. food at the regulation times.
Trai
Trường: Nơi ăn hay phòng ăn của tự viện—A dining place in
a monastery.
Trái:
1)
Bên trái—On the left.
2)
Mặt trái—Wrong side.
3)
Nợ: Debt.
4)
Quả: Fruit.
5)
Sai trái—Wrong.
6)
Trái rạ: Chicken pox.
Trái
Lại: On the contrary—Converse.
Trái
Lệnh: To disobey an order.
Trái
Luật: Contrary to the law.
Trái
Mắt: To offend the eyes.
Trái
Mùa: Untimely.
Trái
Nhau: Contradictory.
Trái
Phép: Contrary to the law—Unlawful.
Trái
Thời: At the wrong moment—Untimely.
Trái
Với: Not in line with.
Trải:
1)
Trải rộng ra: To spread (lay) out.
2)
Từng trải: Experienced.
Trải
Lòng Từ: To practice loving-kindness.
Trải
Qua: To experience—To spend.
Trải
Qua Hằng Sa Kiếp: Spent untold eons.
Trải
Qua Thời Gian Lâu: Long time elapsed.
Trạm
Nhiên: Vị tổ thứ chín của tông Thiên Thai—The ninth patriarch
of the T’ien-T’ai School—Trạm Nhiên (717-782) là một đại
học giả và là người phục hưng tông phái nầy, bấy giờ
đang hồi suy yếu. Một trong những đồ đệ của ông, Đạo
Toại là vị tổ kế tiếp và là thầy của Tối Trừng, tức
Truyền Giáo Đại Sư, sáng tổ của tông Thiên Thai tại Nhật
Bản—Chan-Jan (717-782), was a great scholar and the riviver of the
school which was somewhat declining in later years. One of his pupils,
Tao-Sui, was the next patriarch and the teacher of Saicho, or Dengyô Daishi,
founder of the school in Japan.
Tràn:
To overflow.
Tràn
Lan: To spread (all over the place).
Tràn
Trề: Full of (hope)—Intense.
Tràn
Vào: To pour in.
Trang:
1)
Ngụy trang: To camouflage.
2)
Thời trang: Fashion.
3)
Trang điểm: To make up.
4)
Trang sức: ornament.
Trang
Hoàng: Decoration—Ornamentation.
Trang
Hương: Để thêm nhang vào lư hương—To put incense into a censer.
Trang
Nghiêm: Alamkaraka (skt)—Dùng những thứ hay đẹp để làm đẹp
cho đất nước hay quốc độ, hoặc dùng công đức làm đẹp
cho bản thân. Trong cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà
có 29 loại trang nghiêm khác nhau—Adornment—Ornament—Glory—Honour—To
ornate—To adorn, e.g. the adornments of morality, meditation, wisdom,
and the control of good and evil forces. In Amitabha’s paradise twenty-nine
forms of adornment are described—See Nhị Trang Nghiêm.
Trang
Nghiêm Kiếp: Kiếp trang nghiêm huy hoàng trong đó hàng ngàn
vị Phật nối tiếp nhau góp phần làm trang nghiêm (đại kiếp
quá khứ trong ba đại kiếp của tam thế gọi là Trang Nghiêm
Kiếp. Trong mỗi đại kiếp có 80 tiểu kiếp, mỗi tiểu kiếp
đều thành lập bởi thành trụ hoại không. Trong 20 tiểu kiếp
của trụ kiếp có 1000 vị Phật ra đời, mở đầu là Đức
Hoa Quang Như Lai, kết thúc là Phật Tỳ Xá Phù)—The glorious
kalpa (past) to which thousands of Buddhas, one succeeding another, bring
their contribution of adornment.
Trang
Nghiêm Kinh: Vyuharaja-Sutra—An exposition of the principal doctrines
of the Tantra school.
Trang
Nghiêm Môn: Cổng trang nghiêm tâm linh, đối lại với hình
tướng tu hành bên ngoài, như lễ lạc hay khổ hạnh—The gate
or school of the adornment of the spirit, in contrast with external practices,
ceremonies, asceticism, etc.
Trang
Nghiêm Vương: Vyuharaja (skt)—Một vị Bồ Tát trong quyến thuộc
của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai—A bodhisattva in the retinue
of Sakyamuni.
Trang
Nghiêm Vương Kinh: Vyuharaja sutra (skt)—Tên gọi tắt của Trang
Nghiêm Vương Đà La Ni Chú, giáo thuyết căn bản của Mật
giáo—An exposition of the principal doctrines of the Tantra school.
Trang
Nhã: Elegant—Refined.
Trang
Tượng: Trang trí cho tôn tượng—To dress an image.
Tráng
Kiện: Strong and healthy.
Tráng
Lệ: Magnificient—Splendid.
Tràng
Hạt: Beads (string of)—Rosary.
Tràng
Hoa: Wreath of flowers.
Tràng
Phan Bảo Cái: Pennants and banners.
Trạng
Huống: Circumstance—Situation—Condition.
Trạng
Huống Tâm Linh: Mental stage.
Trạng
Huống Thay Đổi: Changing circumstances.
Trạng
Thái: State—Condition.
Trạng
Thái Căng Thẳng: Stressful situation.
Trạng
Thái Tâm Thần: A state of mind.
Trạng
Thái Siêu Việt: A supramundane state.
Tranh:
1)
Bức tranh: Picture.
2)
Cỏ tranh: Thatch.
3)
Tranh Đua: To contest—To struggle—To contend—To compete.
4)
Tranh Luận: To debate—To dispute.
Tranh
Biện: To discuss—To debate.
Tranh
Chấp: Quarrels—To dispute the differences—To provoke arguments.
Tranh
Đấu: To struggle—To fight.
Tranh
Đoạt: To seize.
Tranh
Đua: To compete.
Tranh
Giải: To compete (contest) for a prize.
Tranh
Giành: To strife.
Tranh
Hùng: To fight for supremacy.
Tranh
Khôn: To match wits.
Tranh
Luận: See Tranh (4).
Tranh
Sống: To fight for life.
Tranh
Thủ: To struggle—To fight—To dispute.
Tranh
Tối Tranh Sáng: In semi-darkness.
Tranh
Tồn: To fight for existence.
Tránh:
To avoid—To keep out—To move aside.
Tránh
Dơ Chọn Sạch: Avoiding the dirty and choosing the clean.
Tránh
Khỏi: To avoid—To escape.
Tránh
Nhàn Đàm Hý Luận: To avoid idle talk or gossip.
Tránh
Nói Dối: To avoid lying.
Tránh
Nói Lời Độc Ác: To avoid harsh speech.
Tránh
Nói Lưỡi Hai Chiều: To avoid back biting.
Tránh
Tà Dâm: Avoid sexual misconduct.
Trao:
To give—To pass (by hand).
Trao
Đổi: To exchange.
Trao
Đổi Ý Kiến: Consultation.
Trao
Quyền: To hand over an authority.
Trao
Tráo: Wide-open.
Trảo:
Móng vuốt—Claws.
Trảo
Độ: See Trảo Thượng.
Trảo
Độc: Trường Trảo Phạm Chí (của Độc Tử Bộ); người
ta nói rằng những móng tay của ông ta là văn bản và tóc
của ông ta là lời thuyết (trảo chương phát luận)—The long-nailed
ascetic Brahmacari of the Vatsiputriyah; it is said that his nails were
a treatise and his hair a discourse.
Trảo
Tháp: Tháp thờ móng tay móng chân và tóc của Đức Phật do
trưởng giả Cấp Cô Độc dựng lên. Đây là khởi thủy của
việc dựng tháp trong đạo Phật—A stupa or reliquary, for preserving
and honouring the nails and hair of the Buddha, said to be the first Buddhist
stupa raised.
Trảo
Thượng: Trảo Độ—Theo Kinh Niết Bàn, số lượng đất mà
mình có thể nhét vào đầu móng chân so với số lượng đất
trên toàn thế giới, nó ít ỏi ví như sự hiếm hoi được
tái sanh làm người hay được nhập Niết Bàn—According to
the Nirvana Sutra, the quantity of earth one can put on a toe-nail, i.e.
in proportion to the whole earth in the world, such is the rareness of
being reborn as a human being, or according to the Nirvana Sutra,
of attaining Nirvana.
Trảo
Tịnh: Trái cây, một trong năm loại “tịnh thực”—Nail
“cleaned,” i.e. fruit, etc, that can be peeled with the nails, one
of the five kinds of clean food.
Trạo:
See Trạo Cử.
Trạo
Cử: Những phiền não khiến cho tâm xao xuyến không an tĩnh—Restlessness—Ambitious—Unsettled.
Trạo
Hối: Cái tâm bất mãn hay trạo cử và ăn năn hối hận, cùng
với những phiền não khiến cho tâm không an tĩnh—Discontent
and regret, ambition and ripening.
Trạo
Tán: Một trong năm triền cái. Ba nghiệp thân khẩu ý không
trong sạch, thường thích lăng xăng huyên náo (Thân trạo là
thích du chơi các trò hài hước, không ngồi yên tĩnh được
lúc nào; khẩu trạo là thích ngâm nga ca hát, tranh cãi thị
phi, làm những cuộc hý luận vô ích bằng những ngôn ngữ
thế gian; ý trạo là tâm tính phóng dật, buông thả cho bám
vào chư duyên)—One of the five hindrances, unsteady in act, word,
and thought; unreliable.
Tráp:
Cắm vào—To insert—To stick in.
Trau
Chuốt: To flatter falsely (in order to sell something).
Trau
Dồi (Giồi): To improve (knowledge)—To enrich—To develop—To cultivate.
Trau
Dồi Sự Hoàn Thiện: To cultivate the perfection—A true Buddhist
always cultivates his or her perfection of patience and forebearance.
Trau
Dồi Trí Tuệ: To develop one’s mind.
Trắc
Ẩn: Pity—Compassion.
Trắc
Trở: Difficulty—Obstacle.
Trặc:
To be dislocated (joints).
Trăm:
Hundred.
Trăm
Điều Phiền Lụy: Hundreds of vexations.
Trăm
Họ: The people.
Trăm
Mối Tà Đạo: Hundreds of heterodox (evil) teachings.
Trăm
Mối Ưu Lo: Hundreds of worries and apprehensions.
Trăm
Việc Không Lo, Chỉ Lo Niệm Phật: Ignore all distractions and spend
all time for reciting the Budha’s name.
Trằn
Trọc: To toss (in one’s sleep).
Trăng:
Moon.
Trăng
Hoa: Moon and flower (love affair).
Trắng:
White.
Trắng
Mắt Ra: To be disillusioned.
Trắng
Trợn: Bluntly—Plainly.
Trâm
Anh: Noble family.
Trầm:
1)
Lặn: To sink.
2)
Nặng nề: Heavy.
Trầm
Đàn: Agaru or Aguru (skt)—Cây trầm hương và chiên đàn hương—Sandal
incense.
Trầm
Hương: Agaru (skt)—Aloe wood.
Trầm
Không: Rơi vào chấp không (Bồ Tát Đại Thừa ở thất địa
vào cuối a tăng kỳ thứ hai chuyên tu tập vô tướng quán,
trên không có Bồ Đề để mà cầu, dưới không có chúng
sanh để mà tế độ. Các Bồ Tát độn căn khiếp nhược
chấp trước vào “không tướng” nầy mà bỏ đại hạnh
lợi mình lợi người, nên gọi là thất địa trầm không
nạn)—To sink into emptiness, or uselessness.
Trầm
Lặng: Calm—Quiet.
Trầm
Luân: Universal suffering—To be overload with misfortune.
Trầm
Miên: Deep in sleep.
Trầm
Minh: Chìm trong biển sanh tử, tối tăm trong cõi vô minh—Sunk
in the gloom of reincarnations and ignorance.
Trầm
Ngâm: Pensive.
Trầm
Thủy Hương: Aguru (skt)—A Già Lư, một loại cây mà gỗ của
nó được dùng làm nhang thơm để đốt (lõi chìm gọi là
trầm hương, phần chìm một nửa là sạn hương, phần nổi
trên mặt nước thì gọi là hoàng thục hương)—Lignum aloe
tree the wood of which is used as incense.
Trầm
Tĩnh: Calm—Cool.
Trầm
Trọng: Severe—Serious—Grave.
Trầm
Trồ: To praise.
Trầm
Tư Mặc Tưởng: Meditation—To be very thoughtful—Thoughtful—Meditative—To
be absorbed in meditation—See Quán Tưởng, and Thiền.
Trân:
Quý báu—Precious—Rare.
Trân
Bảo: A pearl—Jewel—Precious thing.
Trân
Châu: pearl.
Trân
Quý Những Hành Động Thiện Lành: Appreciate one’s wholesome
actions.
Trân
Trân: To remain motionless.
Trân
Trọng: Trân quý như của báu—To esteem and treat as precious—Respectfully.
Trân
Vực: Khu Vực quý báu, hay cõi Cực Lạc của Đức Phật A
Di Đà—The precious region, or Pure Land of Amitabha.
Trấn:
1)
Thị trấn: A market town—A town.
2)
Trấn giữ: To guard—To protect—To watch over.
Trấn
Đầu Ca: Tinduka (skt)—Cây Hồng—The persimmon.
Trấn
Đầu Ca La: Hai loại trái cây—Two kinds of fruits.
1)
Trấn Đầu: Thiện quả—Good fruit.
2)
Ca La: Độc quả—Poisoned fruit.
Trấn
Định Loạn Tâm: To calm one’s agitated mind.
Trấn
Quốc: Tên của ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, chùa tọa lạc
trong thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Tương truyền chùa
được xây từ thời vua Lý Nam Đế (544-548), lúc ấy chùa
có tên là Khai Quốc Tự. Đến đời vua Lê Thái Tông (1440-1442),
chùa được đổi là chùa An Quốc. Đến đời vua Lê Kính
Tông (1600-1618), chùa được dời vào hòn đảo Cá Vàng ở
giữa Hồ Tây, tức địa điểm hiện nay. Đời vua Lê Hy Tông
(1680-1705), chùa được đổi tên là chùa Trấn Quốc. Chùa
hiện còn giữ được 14 tấm bia, đáng kể là hai tấm bia,
một của Trạng Nguyên Nguyễn Xuân Chính dựng năm 1639, và
một của Tiến Sĩ Phạm Quý Thích dựng năm 1815. Trong chùa
có nhiều pho tượng đẹp, đặc biệt là tượng Phật Thích
Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ thếp vàng—Name of the most ancient
temples in Vietnam, located in Hanoi City, North Vietnam. Trấn Quốc
is one of the oldest temples in Vietnam. It was said that the temple was
built during the period of Emperor Lý Nam Đế from 544 to 548, and previously
called Khai Quốc Tự. During the period of Emperor Lê Thái Tông (1440-1442),
it was named An Quốc Temple. During the period of Emperor Lê Kính Tông
(1600-1618), it was moved to Cá Vàng islet (the Gold Fish Islet) in the
middle of Tây Lake (West Lake), its present place. During the period of
Emperor Lê Hy Tông (1680-1705), it was renamed again as Trấn Quốc
Tự. The temple has still conserved fourteen stelae of which are
Expert Nguyễn Xuân Chính’s stele built in 1639, and Doctor Phạm
Quý Thích in 1815.
Trấn
Thủ:
1)
See Trấn (2).
2)
Vị Thần giữ chùa: A deity who guards or watchs over a monastery.
Trấn
Tĩnh: To control oneself—To settle—To calm.
Trần:
Guna (skt).
(I)
Nghĩa của Trần—The meanings of “Guna”
1)
Theo Phạn ngữ, guna có nghĩa là một yếu tố phụ, một phần
phụ thuộc của ngũ đại, thí dụ như âm thanh là trần và
lổ tai là căn: In sanskrit, guna means a secondary element, a quality,
an attribute of the five elements, e.g. ether has sabda or sound for its
guna and the ear for its organ.
2)
Theo Hoa ngữ, trần có nghĩa là một nguyên tố thật nhỏ:
In Chinese it means dust, small particles, molecules, atoms, exhalations.
It may be interpreted as an atom, or as an active, conditioned principle
in nature, minute, subtle.
3)
Nói chung “trần” chỉ tất cả sự vật trong thế gian làm
nhơ bẩn chân tính: Generally speaking defiling to pure mind; worldly;
earthly, the world.
4)
Trần có nghĩa là một đối tượng của giác quan hay đối
tượng của tâm: Arammana (p)—Alambana (skt)—Also means an object
of sense or object of the mind—See Lục Trần.
5)
Trần còn có nghĩa là phạm vi, lãnh vực, sự thích thú của
giác quan hay đối tượng giác quan: Visayo (p)—Vishaya (skt)—The
realm, domain, or indulgence of the senses or an object of senses—See
(II)
Phân loại “trần”—Categories of “guna”
1)
Ngũ Trần: The objects of the five senses.
2)
Lục Trần: The six objects—See Lục Trần.
Trần
Ai: Dust.
Trần
Biểu: Bên ngoài của thế giới trần tục hay giáo thuyết
nhà Phật—Outside of the secular, i.e. the doctrine of Buddha.
Trần
Cảnh:
1)
Bụi trần: Worldly dust.
2)
Hoàn cảnh xung quanh: World—Environment.
3)
Cái đối lại với tâm sở của lục trần như sắc, thanh,
hương, vị, xúc, và pháp (do trần cảnh tác động vào sáu
căn mà làm cho mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân
thể đụng chạm, và ý suy xét): The environment of the six gunas
or qualities of sight, sound, smell, taste, touch, and thought.
Trần
Cấu: Tên gọi chung của phiền não (cảnh trần nhơ bẩn nhập
vào căn làm cho thân tâm nhơ bẩn mà gây nên phiền não)—Material,
or phenomenal defilement; the defilement of the passions.
Trần
Châu: Các thế giới nhiều như những nguyên tử hay cát bụi—Worlds
as numerous as atoms.
Trần
Dục: Dục vọng liên hệ tới lục trần—The desires connected
with the six gunas.
Trần
Duyên: Cảnh của lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)
là những sở duyên làm nhơ bẩn tâm tính; hay sự phối hợp
giữa lục căn và lục trần, mà lục trần là yếu tố chính—The
circumstances or conditions environing the mind created by the six gunas.
Conditioning environment and natural powers in which environment plays
a main role.
Trần
Đạo: Cõi uế độ (theo tông Hoa Nghiêm, trong từng hạt bụi
của thập phương hư không đều có thế giới gọi là thế
giới trần đạo, tức là ở mỗi đầu sợi lông đều có
thế giới, có Phật)—The dusty path, the phenomenal world, or worlds.
Trần
Điểm Kiếp: Còn gọi là Kiếp Giọt Bụi—Một kiếp vô tận
không thể tính đếm được (có hai loại: 3.000 trần điểm
kiếp và 5.000 trần điểm kiếp)—A period of time as impossible
of calculation as the atoms of a ground-up world, an attempt to define
the indefinite.
Trần
Hương: Quê hương của lục trần hay cõi luân hồi sanh tử—The
native place or home of the six gunas, i.e. that of transmigration.
Trần
Khí Dược: Còn gọi là Hủ Lạn Dược, hay loại thuốc thối
rữa (Các nhà cựu luật Nam Sơn dựa vào Tăng Kỳ Luật mà
cho rằng đây là nước tiểu và phân)—Purgative medicines.
Trần
Lao:
1)
Làm việc vất vả mệt nhọc: Worldly toil—Dusty toil—Secular
work.
2)
Tên khác của phiền não: Another name for illusion, the trouble of
the world, the passions.
Trần
Lụy:
1)
Những khổ lụy của cuộc đời: Pains of life.
2)
Nghiệp của dục vọng làm rối loạn tâm trí: The passion-karma
which entangles the mind.
Trần
Na: Dignaga, or Dinnaga (skt).
1)
Tên một vị Bồ Tát, còn gọi là Đồng Thọ hay Vực Long,
người miền nam Ấn Độ, sanh ra trong một gia đình Bà La Môn.
Lúc đầu ngài tu theo Độc Tử Bộ (Vatsiputriya), rồi sau tự
mình ngã theo giáo lý Đại Thừa. Lúc ngài lưu lại đại tu
viện Na Lan Đà, ngài đã đánh bại lý luận của một nhà
luận lý nổi tiếng Bà La Môn tên là Sudurjaya trong một cuộc
tranh luận tôn giáo. Ngài cũng chu du đến Odivisa (Orissa) và
Maharattha và có các cuộc tranh luận với các học giả ở
đây. Ngài là một đại luận sư về Nhân Minh Chính Lý, vào
khoảng từ năm 500 đến 550 sau Tây Lịch. Ngài là sơ tổ của
tông Nhân Minh. Trong lịch sử luận lý học của Phật giáo,
tên tuổi của Trần Na chiếm một vị trí nổi bật. Ngài
là người sáng lập ra lý luận Phật giáo, được gọi là
cha đẻ của luận lý học Trung cổ. Ngài được xem là tác
giả của khoảng trên 100 bộ luận về luận lý học. Hầu
hết các bộ luận nầy hiện còn được lưu lại qua các bản
dịch chữ Hán. Theo Nghĩa Tịnh thì những bộ luận của Trần
Na được dùng làm sách giáo khoa về lý luận vào thời của
ông. Trong số các tác phẩm quan trọng của Trần Na có cuốn
Tập Lượng Luận (Pramanana-samuccaya), tác phẩm vĩ đại nhất
của ngài, Nhân Minh Nhập Chính Lý Luận (Nyaya-pravesa), và nhiều
bộ khác: A native southern India, in a Brahmin family. He was the great
Buddhist logician, around 500-550 A.D., founder of the new logic. In the
history of Buddhist logic, the name of Dinnaga occupies a pre-eminent place.
He is the founder of Buddhist logic and has been called the Father of Medieval
Nyaya as a whole. He was first a Hinayanist Buddhist of the Vatsiputriya
sect and later devoted himself to the teachings of Mahayanism. When he
stayed at the Nalanda Mahavihara, he defeated a Brahmin logician named
Sudurjaya in a religious discussion. He also toured the provinces of Odivisa
(Orissa) and Maharattha, holding religious contests with scholars. Dinnaga
is credited with the authorship of about a hundred treatises on logic.
Most of these are still preserved in Chinese translations. I-Ch’ing says
that Dinnaga’s treatises on logic were read as text-books at the time
of his visit to India. Among the most important works of Dinnaga are the
Pramanana-samucaya, his greatest work, theNyaya-pravesa, the Hetucakra-damaru,
the Pramana-sastra-nyayapravesa, the Alambana-pariksa and several others.
2)
Còn được biết như là bậc lướt thắng tất cả, đây cũng
là danh hiệu của Đức Phật: He is also known as Jina, the victorious,
the overcomer, a title of a Buddha.
Trần
Na La: Dinara (skt)—Đồng tiền Đi Na của các xứ Trung Đông—A
coin—A gold coin (used in the Middle-East countries).
Trần
Nhân Tông (1258-1308): Theo Thiền Sư Việt Nam của Thiền sư
Thích Thanh Từ, Ngài sanh năm 1258, con Vua Trần Thái Tông. Lúc
thiếu thời Ngài được vua cha cho theo học thiền với Ngài
Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ngày nọ Ngài hỏi Thầy về bổn phận
của một người tu thiền. Tuệ Trung đáp: “Phản quang tự
kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.” Có nghĩa là hãy
soi lại chính mình là phận sự gốc, chứ không từ bên ngoài
mà được. Từ đó Ngài thông suốt và tôn Tuệ Trung Thượng
Sĩ làm thầy. Năm hai mươi mốt tuổi, Ngài lên ngôi Hoàng
Đế, hiệu là Trần Nhân Tông. Khi quân Mông Cổ xâm lăng nước
ta, ngài đích thân cầm quân diệt giặc, đến khi thái bình
Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, rồi lui về thực
tập thiền với Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ. Tuy nhiên, lúc ấy
Ngài vẫn còn làm cố vấn cho con là vua Trần Anh Tông. Đến
năm 1299, Ngài rời bỏ cung điện để đi vào ẩn tu như một
nhà tu khổ hạnh trong núi Yên Tử. Nơi đây Ngài thành lập
Tăng đoàn và khuyên họ nên lấy câu dạy của Ngài Tuệ Trung
Thượng Sĩ mà tu hành. Ngài được tôn làm Sơ Tổ của Thiền
Phái Trúc Lâm Yên Tử—According to the Vietnamese Zen Masters written
by Zen Master Thích Thanh Từ, he was born in 1258 A.D., son of King
Trần Thánh Tông. When he was young, his father sent him to practice
Zen with Zen Master Tuệ Trung Thượng Sĩ. One day he asked his
Master about the obligation of a Zen practitioner. Tuệ Trung responded:
“Looking inward to shine up oneself is the main duty, not following anything
outward.” Since then, he thoroughly understood his duty as a Zen practitioner
and honored Tuệ Trung as his master. He became King when he was twenty-years
of age. When the Mongolian invaded Vietnam in 1283 and 1287, he led his
armed forces to bravely defeat the Mongolian aggressors. When the peace
restored, he relinquished the throne to his son in 1293, and spent more
time to practice Zen with Tuệ Trung Thượng Sĩ. However, he
still tutored his son, the young king Trần Anh Tông. In 1299 he left
the royal palace to go to Yên Tử Mountain, living and practicing as
an ascetic monk. Here he organized the Sangha and advised them to
follow the advice of Tuệ Trung Thượng Sĩ to lead their life of cultivation.
He was honored as the First Patriarch of Trúc Lâm Yên Tử Zen Sect.
Trần
Sa: Nhiều vô số kể như bụi trần và cát. Một trong
ba mê hoặc mà Tông Thiên Thai lập ra gọi là trần sa, hay những
chướng ngại mà Bồ Tát gặp phải trên đường giáo hóa
chúng sanh nhiều vô số kể; còn có nghĩa là pháp môn mà Bồ
Tát dùng để giáo hóa chúng sanh thông đạt có nhiều như
cát bụi (nhưng chúng sanh tâm trí mê muội không thể thông
đạt mà cứ tiếp tục lăn trôi trong luân hồi sanh tử)—Dust
and sand, i.e. numberless as the atoms. T’ien-T’ai uses the term as
one of the three illusions, i.e. the trial of the Bodhisattva in facing
the vast amount of detail in knowledge and operation required for his task
of saving the world—See Tam Hoặc.
Trần
Sa Hoặc: Delusion of “dust and sand.”
Trần
Sát: Gunaksetra (skt).
1)
Vô số thế giới như vô số nguyên tử hay bụi trần: Innumerable
worlds as innumerable atoms (dust).
2)
Cõi nước: Field of qualities—Countries.
3)
Tội lỗi: Certain sins.
Trần
Thái Tông (1218-1277): Ông sanh năm 1218, là vị vua đầu đời
nhà Trần. Ông lớn lên trong truyền thống văn hóa Phật Giáo.
Lúc còn là ấu chúa, tâm ông vô cùng sầu thảm vì đã từng
chứng kiến cảnh Quân Sư Trần Thủ Độ, để củng cố chế
độ mới, đã thẳng tay tàn sát không gớm tay những đối
thủ chính trị, kể cả những người bà con bên phía vợ
của vua (nhà họ Lý). Vào năm hai mươi tuổi, một lần nữa
Trần Thủ Độ bắt ép ông phế bỏ Lý Chiêu Hoàng vì bà
nầy không sanh đẻ được, rồi bắt ông lấy chị dâu (vợ
của Trần Liễu). Một ngày năm 1238, ông rời bỏ cung điện
để đến chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử xin tu. Thiền Sư Viên
Chứng, đang trụ trì tại đây bèn nói: “Lão Tăng ở lâu
nơi sơn dã, chỉ còn da bọc xương, cuộc sống giản đơn
và tâm hồn tự tại như chòm mây nổi. Còn Bệ Hạ là một
đấng quân vương, chẳng hay Ngài bỏ ngôi nhân chủ, đến
tệ am nơi hoang dã nầy để làm gì?” Vua đáp: “Trẫm còn
thơ ấu đã vội mất song thân, bơ vơ đứng trên sĩ dân,
không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế
vương đời trước thịnh suy không thường, cho nên Trẫm đến
núi nầy chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác.” Vì
lòng từ bi mà Thầy nói: “Nếu tâm mình tỉnh lặng, không
bị dính mắc, thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu
bên ngoài. Ngày hôm sau, Thủ Độ và đoàn tùy tùng đến thỉnh
nhà vua hồi cung. Vua lại quay sang Thiền Sư Viên Chứng khẩn
khoản khuyên lơn. Sư đáp: “Phàm làm đấng quân vương, phải
lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình; lấy tâm
của thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón Bệ
Hạ trở về, bệ hạ không về sao được? Ta chỉ mong sao
Bệ hạ đừng quên lãng việc nghiên cứu kinh điển.” Vua
không còn cách nào khác hơn là quay về tiếp tục trị dân.
Năm 1257, khi quân Mông Cổ xâm lăng nước ta lần thứ nhất,
đích thân nhà vua thân chinh dẹp giặc. Tuy nhiên, sau khi đuổi
xong quân Mông Cổ, ông nhận thấy hàng vạn người đã bị
sát hại, ông bèn tu tập sám hối lục thời (mỗi ngày sáu
thời sám hối). Ông cũng viết nên quyển “Nghi Thức Lục
Thời Sám Hối” cho người tu tập. Đến năm 1258, ông nhường
ngôi lại cho con là vua Thánh Tông. Trong Khóa Hư Lục, vua Trần
Thái Tông đã dạy rằng mọi người đều phải nên hành trì
ngũ giới và sám hối tội chướng. Trong Khóa Hư Lục, ông
đã viết: “Muốn di chuyển thoải mái trên đường bộ hay
đường sông, người ta phải dùng toa xe hay thuyền đò. Muốn
rửa sạch thân tâm, người ta phải luôn tu hành sám hối như
Kinh đã dạy, dù mặc áo dơ đến cả trăm năm, mà chỉ cần
giặt một ngày là áo sạch. Cũng như vậy, dù người ta chịu
khổ vì ác nghiệp chồng chất hàng trăm ngàn kiếp, chỉ với
một lần thực dạ sám hối, tội chướng có thể được
rửa sạch trong một giờ hay một ngày.” Ông mất năm 1277—He
was born in 1218, was enthroned as the first king of the Trần Dynasty.
He grew up in the Buddhist culture. As the child-king, he was deeply sorrow
when he witnessed his uncle as well as his chief political advisor, Trần
Thủ Độ, conducted a total massacre towards all political opponents,
including the king’s in-law, in order to consolidate the new dynasty.
When he was twenty years old, his uncle, Thủ Độ, once again ordered
him to degrade Lý Chiêu Hoàng because she could not conceive, to remarry
his sister-in-law Thuận Thiên who was marrying and pregnant with his
elder brother Trần Liễu. He was so disappointed. On night in 1238,
he fled the palace to the Hoa Yên temple on Mount Yên Tử. Zen Master
Viên Chứng, the abbot of the temple, asked the king of what he was loking
for by saying: “As an old monk living too long in this wild mountain,
I am bony and skinny, my life is simple and my mind is peaceful as a piece
of cloud floating with the wind. And Your Majesty, as a king deserting
the throne and coming to this poor temple in the wilderness, what is your
expectation?” The king replied: “As young age, my both parents were
passed away. I’m now so lonely of being above of the people, without
places for refuge. Also thinking of the past that no kingdom remains as
long as expected. I’d like to come here and practice to become a Buddha
rather than anything else.” With compassion, the master advised: “There
is no Buddha in this mountain. Buddha is only existed in one’s mind.”
If the mind is calm and free of bondage, wisdom will display, and that
is the true Buddha. Whe Your Majesty realizes it, you’re a Buddha immediately.
Don’t waste your time and energy of looking for it from the outside world.”
The next day, Thủ Độ and his entourage came up and requested that
the Majesty return to the throne. The king again turned to the master for
advise. The master replied: “Generally, being a sovereign, one must consider
people’s wishes as his, as well people’s mind as his. Now the people
request Your Majesty return, you can’t repsonde negatively. My only wish
that Your Majesty continue to study the Buddha teaching.” The King had
no choice but returned to his throne. In 1257, the king led his armed forces
to fight against and defeated the invasive Mongolian. After the war, he
realized that tens of thousands of lives of the enemy had been annihilated,
thus he consistently practiced “Repentance six times a day.” He also
wrote a “Guide to Six Times of Repentance” with all rituals for everyone
to practice. In 1258, the king stepped down and reliquished the throne
to his son Thánh Tông. In the Book of Emptiness, the king explained why
one should observe five precepts and cultivation of repentance. He emphasized
the importance of repentance in His Book of Emptiness as follows: “To
move conveniently on the road or along the river, one needs utilize a wagon
or a boat. To effectively cleanse the body and mind, one must exercise
repentance. As said the sutra, ‘Though a dress be dirty for hundreds
of years, if cleansed, it would be clean within one day. Similarly, if
one suffers a bad karma accumulated over a hundred or thousand lifetimes,
with earnest repentance one could clear up within an hour or a day.”
He passed away in 1277.
Trần
Thánh Tông (1240-1290): Ngài sanh năm 1240, con vua Thái Tổ nhà
Trần là Trần Thái Tông. Lên ngôi vua năm 1258. Ngài theo học
Thiền với Đại Đăng, vị Quốc Sư dưới thời vua cha của
ngài. Vua Thánh Tông là người đã thông đạt và giác ngộ
lý thiền ngay từ khi ngài còn là quân vương, chứ ngài không
tìm nơi non cao rừng vắng, mà ngự tại triều đình vẫn ngộ
đạo. Trong Thánh Đăng Lục, ngài đã nói: “Sau ba mươi năm
đập ngói, dùi rùa, đổ mồ hôi xót con mắt để tập thiền;
một khi thấu vỡ gương mặt thật, mới biết lỗ mũi xưa
nay mất hết một bên.” Qua đó chúng ta thấy Vua Thánh Tông
cũng như nhiều vị Thiền sư khác, sau ba mươi năm với đủ
cách tu tập, kể cả việc đập ngói hay vùi mai rùa để cố
tìm ra Phật tánh, nhưng khi chứng ngộ, ngài mới thấy mình
đã mất đi một bên mũi. Vua Thánh Tông nói về Thiền như
sau: “Thiền là dụng của chân tâm tỉnh tỉnh lặng lặng,
không đi không đến, không thêm không bớt, dù lớn hay dù
nhỏ, nó thích hợp với mọi nơi, mọi người, dù bạn hay
dù thù. Thiền có thể động như mây, tĩnh như tường bích;
nó có thể nhẹ như lông, ha