Chương
III:
Tập khổ đế
(Chân lý về nguồn gốc của khổ)
Trong
chương trước, chúng ta đã xem xét sự thật rằng tất cả
chúng ta đều khao khát hạnh phúc và ước muốn vượt qua
đau khổ, và chúng ta có khuynh hướng tạo ra những điều
kiện gây thêm đau khổ như thế nào bất chấp cả sự khao
khát tự nhiên đó, chỉ vì ta không biết cách tạo ra các
nguyên nhân của hạnh phúc. Ta nhận thấy nguồn gốc của
tình huống này là một sự nhầm lẫn về cơ bản, hay gọi
theo thuật ngữ Phật giáo là căn bản vô minh. [46] Sự nhầm
lẫn này không chỉ là trong cách nhận thức về sự vật,
mà còn cả trong nhận thức về các mối quan hệ nhân quả
nữa. Do đó, trong Phật giáo ta nói về hai loại vô minh, hay
avidy?, là: vô minh về luật nhân quả, cụ thể là luật nghiệp
báo, và vô minh về bản chất tuyệt đối của thực tại.
Những điều này liên hệ tương ứng tới hai cấp độ của
hiểu biết về lý duyên khởi mà ta đã nói sơ qua trong trong
phần mở đầu.Cấp độ đầu tiên là hiểu biết về sự
phụ thuộc có tính nhân quả, giúp phá tan đi loại vô minh
về luật nhân quả. Cấp độ sâu xa hơn là hiểu biết bản
chất tuyệt đối của thực tại, giúp phá trừ loại căn
bản vô minh.
Tuy
nhiên, điều này không có nghĩa rằng vô minh là nguyên do duy
nhất của sự chìm đắm trong mê muội. Tất nhiên là còn
có nhiều nhân duyên phát sinh khác nữa, được gọi bằng
thuật ngữ kleśa,[47] chỉ cho “những ý tưởng và cảm
xúc gây đau khổ”. Đây là một nhóm các cảm xúc và tư
tưởng rất phức tạp, được mô tả chi tiết trong A-tì-đạt-ma.
Chẳng hạn, theo A-tì-đạt-ma thì có 6 cảm xúc và ý tưởng
phiền não căn bản, từ đó khởi lên 20 loại cảm xúc và
ý tưởng phụ thuộc. Như vậy, luận A-tì-đạt-ma trình bày
một sự giải thích đầy đủ về toàn thể thế giới của
tư tưởng và cảm xúc.
Trong
kinh văn của Kim cương Mật thừa (Tantric Vajrayana) còn có một
cách giải thích khác về tiến trình chìm đắm trong luân hồi
trình bày chi tiết 80 loại ý tưởng hay khái niệm cho thấy
chúng ta đang trong trạng thái chưa giác ngộ. Kinh văn Kalachakra,
một lớp giáo lý và thực hành thiền định trong Kim cương
thừa còn phân tích xa hơn về nguyên nhân của sự chìm đắm
trong luân hồi xét về những khuynh hướng tự nhiên.
Những
tư tưởng và cảm xúc phiền não này, vốn được hình thành
từ sự mê lầm căn bản của chúng ta, sẽ làm khởi lên các
hành vi có tác ý. Như vậy, sự mê lầm cùng với các hành
vi tạo nghiệp chính là nguồn gốc của khổ đau.
Nói
chung, các cảm xúc và ý tưởng phiền não được định nghĩa
là những cảm xúc và ý tưởng nào mà chỉ riêng sự sinh
khởi của chúng đã tạo ra ngay sự xáo trộn tức thời trong
tâm thức. Từ đó, chúng gây phiền não cho ta từ bên trong.
Nghiệp
[48]
Phân
loại các hành vi tạo nghiệp
Nếu
trên đây là định nghĩa tổng quát về kleśa, vậy định
nghĩa của karma là gì? [49] Ta phải nhớ đặt thuật ngữ này
trong bối cảnh hiểu biết rộng hơn của đạo Phật về luật
nhân quả tự nhiên. Karma, hay nghiệp, là một biểu hiện cụ
thể của luật nhân quả tự nhiên vận hành khắp cả vũ
trụ. Và theo Phật giáo thì tất cả sự vật hiện hữu chỉ
hoàn toàn như là sự kết hợp các nhân duyên.
Như
vậy, nghiệp là một biểu hiện của luật chung về nhân quả.
Điều làm cho nghiệp trở thành cá biệt là việc nó gắn
liền với hành động có tác ý, và do đó cũng gắn liền
với một chúng sinh tạo tác. Các tiến trình nhân quả tự
nhiên vận hành trong vũ trụ không thể gọi là nghiệp khi
không gắn liền với một chúng sinh tạo tác. Một tiến trình
nhân quả muốn được xem là một tiến trình nghiệp cần
phải gắn liền với một cá nhân có tác ý dẫn đến một
hành vi cụ thể. Chính loại cơ chế nhân quả đặc biệt
này được gọi là nghiệp.
Như
vậy, trong phạm vi tổng quát của các hành vi tạo nghiệp,
ta có thể nói đến ba loại hành vi khác nhau tạo ra các kết
quả tương ứng. Các hành vi tạo ra khổ đau nói chung được
xem là những hành vi tiêu cực hay hành vi bất thiện. Những
hành vi dẫn tới các kết quả tích cực và đáng mong muốn,
chẳng hạn như là những kinh nghiệm vui thích và hạnh phúc,
được xem là các hành vi tích cực hay hành vi thiện. Loại
thứ ba bao gồm những hành vi dẫn tới sự thản nhiên, hay
các cảm xúc và kinh nghiệm trung tính; chúng được xem là
những hành vi trung tính, không phải là hành vi thiện, cũng
không phải hành vi bất thiện. [50]
Xét
về bản chất thực sự của chính các hành vi tạo nghiệp,
có hai loại chính yếu là: hành vi tinh thần - là các hành
vi không nhất thiết được biểu lộ thành hành động cụ
thể - và hành vi vật thể, bao gồm các hành vi được thực
hiện bằng thân thể và bằng miệng. [51] Và rồi nếu xét
theo phương cách biểu hiện của một hành vi, ta phân biệt
có các hành vi của ý, của lời nói, và của thân thể. Thêm
nữa, trong kinh điển ta cũng thấy đề cập đến những hành
vi tạo nghiệp là thuần thiện hay bất thiện, và các hành
vi pha lẫn cả thiện và bất thiện. Tôi cảm thấy rằng đối
với nhiều người trong chúng ta, những người đang tu tập
theo Chánh pháp, thì hầu hết các hành vi là sự pha lẫn cả
thiện và bất thiện.
Nếu
phân tích riêng rẽ một hành vi tạo nghiệp, ta có thể thấy
được nhiều giai đoạn trong hành vi ấy. Có một giai đoạn
khởi đầu, là giai đoạn phát khởi động lực hay tác ý;
có giai đoạn thực sự diễn ra hành vi; và sau đó có giai
đoạn đỉnh điểm hay sự hoàn tất hành vi. Trong kinh dạy
rằng, cường độ và tác động của một hành vi tạo nghiệp
biến đổi tùy theo cách thức diễn ra của mỗi một giai đoạn
này.
Hãy
lấy thí dụ về một hành vi bất thiện. Nếu trong giai đoạn
phát khởi động lực, người thực hiện hành vi đó có một
cảm xúc tiêu cực rất mạnh, chẳng hạn như là giận dữ,
và rồi anh ta hành động trong cơn bốc đồng, thực hiện
hành vi ấy, nhưng ngay sau đó liền cảm thấy hối tiếc sâu
sắc về hành vi vừa làm, thì cả ba giai đoạn nói trên sẽ
không hoàn tất trọn vẹn. Kết quả là hành vi bất thiện
đó sẽ có tác động kém hơn so với trường hợp thực hiện
trọn vẹn mọi giai đoạn - với một động lực mạnh mẽ,
hành vi thực sự được thực hiện, và một cảm giác thoả
mãn, hài lòng về hành vi đã làm. Tương tự, có thể có những
trường hợp mà người ta có động cơ rất yếu ớt nhưng
do tình thế bắt buộc phải thực hiện hành vi. Trong trường
hợp này, mặc dù hành vi bất thiện đã thực hiện nhưng
nó tác động thậm chí còn kém hơn so với thí dụ đầu tiên,
vì không có một động lực mạnh. Vì thế, tùy theo cường
độ của động lực thúc đẩy hành vi, của hành vi thực
sự diễn ra, và của sự hoàn tất hành vi mà nghiệp lực
được tạo ra sẽ có những mức độ tương ứng.
Dựa
trên những khác biệt cơ bản này, trong kinh điển bàn đến
bốn loại hành vi: Hành vi được thực thi nhưng không tạo
nghiệp,[52] hành vi có tạo nghiệp nhưng không thực thi,
[53] hành vi được thực thi và tạo thành nghiệp, [54] hành
vi không được thực hiện cũng không tạo thành nghiệp.[55]
Điều quan trọng ở đây là phải hiểu được ý nghĩa của
luận điểm trên và đánh giá đúng được rằng: vì mỗi
một hành vi đều có những giai đoạn khác nhau, nên các hành
vi tạo nghiệp tự chúng là một sự kết hợp và tính chất
của chúng có thể được mô tả như là kết quả tích lũy
của mỗi yếu tố trong sự kết hợp đó.
Một
khi đánh giá đúng ý nghĩa này thì mỗi lần có cơ hội để
thực hiện một hành vi tích cực, là một người tu tập Chánh
pháp, điều quan trọng là bạn phải chắc chắn rằng trong
giai đoạn khởi đầu, động cơ tích cực của bạn rất mạnh
mẽ, và rằng bạn có một ý định kiên cường để thực
hiện hành vi này. Sau đó, khi đã thật sự tiến hành hành
vi, bạn phải chắc chắn là đã làm theo cách tốt nhất, và
đã cố hết sức mình để đạt đến thành công. Khi hành
vi đã thực hiện xong, điều quan trọng là phải nhớ hồi
hướng thiện nghiệp đã được tạo ra về cho sự an lành
của tất cả chúng sinh cũng như sự giác ngộ của chính bản
thân mình. Nếu bạn có thể củng cố tâm nguyện hồi hướng
đó bằng sự hiểu biết về tự tánh của thực tại, thì
tâm nguyện đó hẳn sẽ càng thêm mạnh mẽ hơn.
Là
những người tu tập Chánh pháp, lý tưởng nhất dĩ nhiên
là ta phải cố tránh không làm bất cứ một hành vi bất thiện
nào. Nhưng ngay cả khi ta chợt nhận ra mình thật sự đang
ở trong tình huống phạm vào một hành vi bất thiện, điều
quan trọng là phải giữ sao cho ít nhất thì động cơ thúc
đẩy cũng không mạnh mẽ, và ta hoàn toàn không thực hiện
với một cảm xúc mạnh. Sau đó, ngay cả trong lúc đang tiến
hành hành vi ấy, nếu ta có một sự dằn vặt lương tâm mạnh
mẽ và một cảm giác hối tiếc, ăn năn, thì tất nhiên là
hành vi bất thiện đó sẽ rất yếu ớt. Cuối cùng, theo sau
hành vi đó không nên có bất kỳ một cảm giác thoả mãn
nào. Ta không nên vui sướng với bất kỳ hành vi bất thiện
nào đã làm, mà tốt hơn nên có cảm giác ân hận, hối tiếc
thật sâu sắc, và ngay sau đó ta nên gột sạch điều bất
thiện ấy, nếu có thể. Nếu ta có thể làm được như vậy,
có thể sống một nếp sống liên hệ các hành vi thiện và
bất thiện của mình theo phương thức này, thì ta sẽ có thể
tuân theo các giáo huấn về nghiệp lực một cách hiệu quả
hơn nhiều.
Mặc
dù có nhiều loại hành vi bất thiện khác nhau, kinh điển
Phật giáo tóm lại thành 10 điều gọi là Thập bất thiện
đạo, hay Thập ác nghiệp. Trong đó, có ba điều thuộc về
thân, bốn điều thuộc về lời nói (khẩu), và ba điều thuộc
về ý. Ba hành vi bất thiện thuộc về thân là: giết hại,
trộm cắp [56] và tà dâm;[57] bốn hành vi bất thiện
thuộc về lời nói là nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời
ác nghiệt và nói lời thêu dệt, vô nghĩa; ba hành vi bất
thiện thuộc về ý là tham lam, nuôi dưỡng những tư tưởng,
ý định gây hại, và chấp giữ những quan niệm sai trái,
tà kiến.[58] Một cách lý tưởng, nếu có thể được
thì một người tu tập Chánh pháp nên sống theo cách
tránh xa mọi hành vi bất thiện. Nếu không thể như vậy thì
ít nhất cũng phải cố gắng hết sức để hạn chế tối
đa những điều bất thiện. Theo cách hiểu của người Phật
tử thì việc sống theo giới luật và tránh xa các hành vi
bất thiện chính là nếp sống đạo đức.
Nghiệp
và cá nhân
Một
người thực hành Phật pháp thật sự bắt đầu việc gắng
sức sống đời đạo hạnh như thế nào? Khát vọng tối hậu
của một con người là đạt tới sự giải thoát khỏi luân
hồi; đạt được sự tự do tâm linh hay sự giác ngộ. Vì
thế, một trong các nhiệm vụ chính yếu là phải chế ngự
được mọi phiền não. Mặc dù vậy, một người tu tập trong
giai đoạn khởi dầu không có cách nào để trực tiếp đối
trị với những cảm xúc và tư tưởng tiêu cực, nên phương
cách hợp lý để tiến hành là chỉ đơn giản tìm ra một
phương pháp để ngăn chặn sự biểu lộ của các hành vi
bất thiện qua thân, khẩu và ý. Vì vậy, bước đầu tiên
là phải phòng hộ thân, khẩu, ý tránh xa các hành vi bất
thiện, để không buông xuôi trước sức mạnh và sự thống
trị của các ý tưởng, cảm xúc tiêu cực.
Một
khi bạn đã hoàn tất giai đoạn đầu tiên này, bạn có thể
tiến lên giai đoạn thứ nhì và giải quyết nguyên nhân cội
rễ - đó là căn bản vô minh đã được nói tới trước đây.
Ở giai đoạn này, bạn có thể trực tiếp chống lại các
sức mạnh của phiền não. Khi đã làm được việc đó, thì
giai đoạn thứ ba bao gồm không chỉ riêng việc chế ngự
được phiền não, mà còn phải nhổ tận gốc mọi thiên hướng
và dấu vết mà chúng để lại trong tâm ý. Đây chính là
lý do vì sao ngài Thánh Thiên (Āryadeva) đã nói trong tác phẩm
Tứ bách kệ tụng về Trung quán tông rằng một khát vọng
tinh thần chân chính trước hết phải chế ngự được các
hành vi bất thiện, tiếp đó phải đối trị được mọi
sự chấp ngã, và cuối cùng phải vượt trên tất cả các
quan điểm trói buộc ta trong cõi luân hồi. [59]
Như
đã thấy, Phật giáo giải thích cách thức mà cả môi trường
lẫn các loài hữu tình sống trong môi trường đó được
tạo ra như là một kết quả của căn bản vô minh, cụ thể
là nghiệp lực sinh khởi từ vô minh. Tuy nhiên, chúng ta không
nên nghĩ rằng vô minh tự nó sinh ra mọi thứ mà không có
nguồn gốc. Thật ra không phải vậy. Nghiệp lực không giống
như một nguyên nhân bất diệt. Ta cần nhận biết rằng, để
nghiệp lực có thể vận hành và có tiềm năng tạo ra các
hậu quả, nó cần phải dựa trên một nền tảng. Điều này
dẫn đến sự tồn tại một dòng tương tục trong cả thế
giới vật chất và thế giới tinh thần. Ta có thể truy nguyên
dòng tương tục của thế giới vật chất cho tới sự khởi
đầu của một vũ trụ cụ thể, và thậm chí có thể truy
nguyên cả “sự khởi đầu” đó từ hư không. Phật giáo
chấp nhận sự tồn tại của cái được biết như là “không
gian các hạt vật chất”, [60] và tin chắc rằng có một giai
đoạn trống không trong đó hàm chứa nguồn gốc của vũ trụ
vật chất theo một nghĩa nào đó.[61] Trong trường hợp
của thế giới tinh thần, ta không thể nói rằng dòng tương
tục của thức trong các loài hữu tình là kết quả của nghiệp
lực. Càng không thể nói rằng tiến trình nối tiếp vô tận
của vật chất và tâm thức là kết quả của nghiệp lực.
Và
nếu điều này là đúng, nếu dòng tương tục căn bản không
được tạo thành bởi nghiệp lực, thì nghiệp nằm ở đâu?
Nghiệp đóng vai trò tác nhân trong việc hình thành chúng sinh
hữu tình và môi trường sống tự nhiên của họ ở điểm
nào? Có lẽ ta có thể cho rằng có một tiến trình tự nhiên
trong thế giới, và vào một thời điểm nào đó, khi sự tiến
hóa đạt tới một giai đoạn có thể gây ảnh hưởng đến
các kinh nghiệm của chúng sinh - làm sinh khởi các kinh
nghiệm khổ đau hay vui thích, hạnh phúc. Chính ở điểm này
mà nghiệp tham gia vào tiến trình. Dù sao thì tiến trình của
nghiệp cũng chỉ có ý nghĩa trong mối quan hệ với kinh nghiệm
của các loài hữu tình.
Cho
nên, nếu hỏi rằng liệu tâm thức có được tạo ra bởi
nghiệp hay không, hoặc là liệu các loài hữu tình có được
tạo ra bởi nghiệp hay không, thì câu trả lời có lẽ là
“không”. Nhưng mặt khác, nếu hỏi rằng liệu thân thể
và ý thức của con người có được tạo ra bởi nghiệp hay
không, thì câu trả lời là “có”, vì cả hai điều này
đều là kết quả của các hành vi thiện.[62] Việc chấp
nhận vai trò tạo tác của nghiệp ở đây là vì khi nói về
thân thể và ý thức con người, ta đang chỉ đến một trạng
thái hiện hữu liên quan trực tiếp với các kinh nghiệm đau
đớn và sung sướng của một cá nhân. Cuối cùng, nếu hỏi
rằng liệu cái bản năng tự nhiên tìm kiếm hạnh phúc và
vượt qua khổ đau của chúng ta có được tạo ra bởi nghiệp
hay không, thì câu trả lời có lẽ cũng là “không”.
Nghiệp
và thế giới tự nhiên
Bây
giờ, khi chuyển sang với sự tiến hóa của thế gới vật
lý nói chung, ta không thể nói rằng các tiến trình nhân quả
tự nhiên được tạo ra bởi nghiệp. Tiến trình nhân quả
trong thế giới tự nhiên diễn ra bất chấp nghiệp. Dù vậy,
nghiệp cũng giữ một vai trò trong việc quyết định dạng
thức của tiến trình hay chiều hướng của nó.
Ở
đây, cũng nên nhắc đến một điều là, theo quan điểm phân
tích của Phật giáo ta phân biệt hai lĩnh vực cứu xét. Một
lĩnh vực có thể gọi là “tự nhiên”, trong đó chỉ có
tiến trình tự nhiên của các luật nhân quả vận hành, và
lĩnh vực kia là khi xuất hiện những tính chất nhất định
nào đó, tùy thuộc vào các tương tác nhân quả đã có. Dựa
trên sự phân biệt này, ta thấy các đường lối lập luận
khác nhau đã được vận dụng trong nỗ lực tìm hiểu bản
chất của thế giới hay thực tại.
Thí
dụ, trong phân tích Phật giáo ta vận dụng Bốn nguyên lý
của lập luận. [63] Đầu tiên là Nguyên lý về bản chất:
Sự thật là có các sự vật tồn tại, và rằng các nguyên
nhân dẫn tới các hậu quả. Ta hầu như có thể nói rằng,
nguyên lý này ngụ ý một sự chấp nhận các quy luật tự
nhiên. Sau đó là Nguyên lý về năng lực: Nguyên lý này đề
cập đến cách thức mà các sự vật có khả năng tạo ra
những kết quả nào đó tùy theo bản chất của chúng. Thứ
ba là Nguyên lý phụ thuộc: Dựa vào hai nguyên lý trên, ta
thấy có một sự phụ thuộc tự nhiên giữa các sự vật
và hiện tượng, giữa các nguyên nhân và kết quả. Trên cơ
sở của ba nguyên lý này, phân tích biện giải Phật giáo
áp dụng rất nhiều cách lập luận khác nhau để phát triển
sâu rộng sự hiểu biết của chúng ta về thế giới tự nhiên.
Do đó, chúng ta chấp nhận nguyên lý thứ tư là Nguyên lý
chứng minh hợp lý: Dựa vào điều này thì điều kia chắc
chắn phải như thế; và dựa vào điều kia thì điều này
hẳn phải là như vậy. [64]
Với
một người tu tập Phật pháp, điều quan trọng là phải chú
trọng đến các nguyên lý này của thế giới tự nhiên, để
từ đó vận dụng sự hiểu biết này vào một nếp sống
phù hợp với các nguyên tắc của Phật pháp. Do đó ta có
thể nói rằng, khi sống phù hợp với Chánh pháp là ta đang
áp dụng Nguyên lý chứng minh hợp lý, xét theo ý nghĩa cách
sống tránh xa các hành vi bất thiện và phát triển các hành
vi thiện.
Như
đã đề cập trước đây, các vấn đề giờ đây ta phải
cứu xét là: Ở điểm nào trong quá trình nhân quả thì nghiệp
có mặt? Và bằng cách nào nghiệp tương tác với tiến trình
của các luật nhân quả tự nhiên?
Có
lẽ ta có thể vận dụng chính những kinh nghiệm cá nhân của
mình để trả lời các câu hỏi trên. Chẳng hạn, kinh nghiệm
chỉ ra rằng có những hành vi nào đó được ta thực hiện
vào buổi sáng sẽ tiếp tục duy trì ảnh hưởng cho đến
cả chiều tối. Hành vi này đã tạo ra một trạng thái nào
đó của tâm thức. Nó sẽ để lại một dấu ấn trong cảm
xúc và tri giác của chúng ta khi trong trạng thái đó, nên cho
dù nó được thực hiện vào buổi sáng như một sự kiện
đã kết thúc, nhưng ảnh hưởng của nó vẫn kéo dài trong
tâm thức ta. Tôi nghĩ cùng một nguyên lý như vậy vận hành
nghiệp và các ảnh hưởng của nó, ngay cả trong trường hợp
các ảnh hưởng lâu dài của nghiệp. Đây là cách để chúng
ta hiểu rằng nghiệp có thể tạo ra các ảnh hưởng nhận
biết được ngay cả một thời gian dài sau khi hành vi đã
được thực hiện. Dĩ nhiên, theo cách giải thích của đạo
Phật thì ảnh hưởng của nghiệp có thể được nhận biết
qua nhiều kiếp sống nối tiếp nhau cũng như ngay trong
đời sống hiện tại của chúng ta.
Ở
điểm này, tôi cảm thấy cần phải bổ sung cho sự giải
thích tổng quát về tiến trình nghiệp trong kinh điển Phật
giáo[65] bằng các luận điểm của Kim cương thừa thì
sự hiểu biết của ta mới được đầy đủ. Kim cương thừa
giải thích rằng cả thế giới vật chất và thân xác của
chúng sinh đều được cấu thành từ năm thành tố: đất,
nước, lửa, gió, và hư không. Hư không ở đây nên được
hiểu theo nghĩa trống không, hay khoảng trống, hơn là theo
ý nghĩa thuật ngữ chỉ sự không có chướng ngại. Kinh văn
Kim cương thừa bàn đến các thành tố này trong ý nghĩa là
các thành tố bên ngoài và các thành tố bên trong, và chỉ
ra cách thức mà chúng quan hệ với nhau ở mức độ rất thâm
diệu. Qua hiểu biết mối quan hệ này, sự thấu suốt của
ta về cách thức mà nghiệp ảnh hưởng đến thế giới sẽ
sâu sắc hơn nhiều.
Như
đã bàn trước đây, sự hiện hữu của tâm thức là một
sự thật tự nhiên. Tâm thức đang hiện hữu; chỉ có vậy
thôi. Tương tự, dòng tương tục của thức cũng là một nguyên
lý tự nhiên: tâm thức duy trì sự tương tục của nó. Về
điểm này ta cần phải nói thêm rằng, trong Phật giáo có
sự nhận hiểu rằng tâm thức không thể hoàn toàn tự nó
sinh khởi hay không có một nguyên nhân; nhưng đồng thời tâm
thức cũng không thể sinh ra từ vật chất. Điều này không
có nghĩa là vật chất không thể ảnh hưởng tới tâm thức.
Tuy nhiên, bản chất của tâm thức là sáng tỏ thuần khiết,
là kinh nghiệm thuần túy; nó là năng lực nhận biết nguyên
sơ, và do đó không thể sinh ra từ vật chất vốn có bản
chất khác với nó. Theo đó, vì ý thức không thể sinh khởi
không có nguyên nhân và vì nó không thể sinh khởi từ một
nguyên nhân vật chất, nên nó phải sinh khởi từ một dòng
tương tục không dứt. Chính dựa trên tiền đề này mà Phật
giáo chấp nhận là thật có những kiếp sống trước đây
(khởi đầu từ vô thủy). [66]
Ta
đã thấy rằng nguồn gốc của đau khổ là nghiệp và vô
minh, nhưng vô minh mới thật sự là nguồn gốc chính.
Nghiệp
và cảm xúc
Mỗi
trường phái Phật giáo hiểu về bản chất của phiền não
(kle?a) theo cách khác nhau, tùy theo sự diễn dịch của họ
về học thuyết vô ngã (anātman), hay lý thuyết phi linh hồn.
Thí dụ, đối với một số trạng thái tâm thức và những
ý tưởng, cảm xúc nhất định, trong khi các trường phái
Trung quán Y tự khởi (Madhyamaka-Svatantrika) [67] và Duy thức
(Chittamatra) xem là không ảo tưởng thì theo quan điểm của
trường phái Trung quán cụ duyên (Madhyamaka-Prasangika) lại xem
là ảo tưởng. Dĩ nhiên, đây là một vấn đề rất phức
tạp và đòi hỏi nhiều nghiên cứu.
Điều
quan trọng nhất cần phải biết là: cảm xúc gây phiền não
chính là kẻ thù lớn nhất của ta và là nguồn gốc của
khổ đau. Một khi nó phát triển trong tâm thức, nó sẽ lập
tức phá hủy sự bình an của tâm thức ta, và cuối cùng sẽ
hủy hoại sức khoẻ và ngay cả các mối quan hệ thân thiết
của ta với người khác. Tất cả những hành vi bất thiện
như giết hại, áp bức, lừa đảo... đều phát sinh từ cảm
xúc gây phiền não. Vì thế, nó chính là kẻ thù thật sự
của chúng ta.
Một
kẻ thù từ bên ngoài làm hại bạn hôm nay nhưng ngày mai có
thể trở nên rất sẵn lòng giúp bạn. Trong khi đó, kẻ thù
nội tâm thì mãi mãi gây hại. Hơn thế nữa, dù bạn sống
ở bất cứ nơi đâu thì kẻ thù bên trong vẫn luôn có mặt
với bạn và chính điều này làm cho kẻ thù bên trong trở
nên rất nguy hiểm. Ngược lại, ta thường có thể giữ một
khoảng cách nào đó với kẻ thù bên ngoài. Chẳng hạn, vào
năm 1959 chúng tôi đã đào thoát khỏi Tây Tạng vì hành vi
cụ thể này là có thể thực hiện; nhưng với trường hợp
kẻ thù là cảm xúc phiền não bên trong thì dù tôi ở Tây
Tạng, ở điện Potala, ở Dharamsala hay ở Luân Đôn này, bất
cứ nơi nào tôi đi đến nó cũng đều theo tôi. Tôi cho rằng
kẻ thù bên trong hiện diện ngay cả trong lúc tôi thiền định;
và ngay cả nếu như tôi quán tưởng hình ảnh một mạn-đà-la,
[68] có lẽ tôi vẫn thấy kẻ thù này ngay nơi trung tâm của
hình ảnh đó! Bởi vậy, đây là điểm chính yếu mà ta phải
nhận thức được: Nguyên nhân thật sự hủy hoại hạnh phúc
của ta luôn hiện hữu ngay bên trong ta.
Vậy
ta có thể làm được gì? Nếu như không thể làm gì được
với kẻ thù đó và không thể loại trừ nó, thì tốt hơn
là chúng ta hãy quên đi con đường tu tập và chỉ nhờ vào
những thứ như rượu chè, sắc dục... để làm cho cuộc sống
của mình được khá hơn! Tuy nhiên, nếu việc loại trừ kẻ
thù cảm xúc phiền não bên trong là có thể làm được, thì
tôi nghĩ rằng ta nên nắm lấy cơ hội đang có được một
thân người, một khối óc và trái tim tốt đẹp, kết hợp
tất cả các sức mạnh này để làm giảm bớt và cuối cùng
là nhổ tận gốc rễ của cảm xúc phiền não. Đây là lý
do tại sao đạo Phật dạy rằng cuộc sống con người đuợc
xem là vô cùng quý báu; vì chỉ có được làm người thì
một chúng sinh mới có khả năng rèn luyện và chuyển hóa
tâm thức, chủ yếu nhờ vào trí tuệ và luận lý.
Phật
giáo phân biệt hai loại cảm xúc. Một loại không hợp lý,
và chỉ dựa trên tập khí.[69] Lòng căm thù là một trong
các cảm xúc loại này. Tất nhiên là loại cảm xúc này có
dựa trên những lý lẽ nông cạn, như là “người này đã
xúc phạm tôi kinh khủng...” Nhưng đi sâu vào nội tâm, nếu
bạn truy cứu lý do đó xa hơn nữa, bạn sẽ thấy rằng nó
không thể đi quá xa. Các cảm xúc không có lý do chính đáng
được gọi là cảm xúc tiêu cực. Loại cảm xúc còn lại
là cảm xúc hợp lý; vì qua sự quán chiếu sâu sắc bạn có
thể chứng minh là nó tốt đẹp, cần thiết, và hữu ích.
Trong số các cảm xúc này có tâm từ bi và lòng vị tha. Hơn
nữa, mặc dù về bản chất thì đây là một loại cảm xúc,
nhưng thật ra nó lại tương hợp với luận lý và trí tuệ.
Trong thực tế, chính nhờ sự kết hợp trí tuệ với cảm
xúc mà ta mới có thể thay đổi và chuyển hóa thế giới
nội tâm của mình.
Khi
kẻ thù cảm xúc tiêu cực vẫn còn trong ta, và ta vẫn còn
chịu sự chi phối của nó, thì không thể có hạnh phúc lâu
dài. Hiểu được sự cần thiết phải chiến thắng kẻ thù
này là một nhận thức chân thật, và việc phát khởi sự
khao khát mãnh liệt muốn vượt qua các cảm xúc tiêu cực
chính là nguyện vọng vươn tới sự giải thoát, mà thuật
ngữ Phật giáo gọi là xuất thế. Do đó, việc thực hành
phân tích các cảm xúc và thế giới nội tâm là rất thiết
yếu.
Trong
kinh dạy rằng, lòng mong cầu vượt qua cấp độ đầu tiên
của đau khổ, tức là “khổ vì đau khổ” [70] thì ngay cả
loài vật cũng có được một cách tự nhiên; còn khát vọng
tự thoát ra khỏi cấp độ thứ hai của đau khổ, tức là
“khổ vì sự thay đổi”, cũng không phải là điều chỉ
có riêng trong đạo Phật. Nhiều tôn giáo khác thời cổ Ấn
Độ cũng tương tự như thế, đã tìm kiếm sự tĩnh lặng
nội tâm bằng việc tu định. [71] Tuy nhiên, sự khao khát thật
sự hướng đến giải thoát hoàn toàn khỏi luân hồi chỉ
có thể sinh khởi từ sự nhận biết được cấp độ thứ
ba của đau khổ, tức là “phiền não do duyên sinh”. Khi ấy
ta mới nhận biết được rằng: khi còn chịu sự chi phối
của vô minh thì vẫn còn phải chịu đựng khổ đau, và sẽ
không thể có niềm vui, hạnh phúc lâu bền. Có thể nói rằng,
sự nhận biết được cấp độ thứ ba của đau khổ là điều
chỉ có duy nhất trong đạo Phật.
Hỏi
đáp
Hỏi:
Xin Ngài giải thích vì sao nghiệp quả đôi khi xảy ra tức
thì, và có khi phải trải qua nhiều đời mới xảy ra?
HHDL:
Một nguyên nhân có thể tính đến là cường độ của chính
hành vi tạo nghiệp. Một nguyên nhân khác nữa là là mức
độ hoàn tất của rất nhiều điều kiện khác cần thiết
cho sự chín muồi của nghiệp quả, và điều đó đến lượt
nó lại phụ thuộc vào những hành vi tạo nghiệp khác. Ngài
Thế Thân (Vasubandhu) có đề cập đến vấn đề này trong
A-tì-đạt-ma Câu-xá (Abhidharmakosha).[72] Trong đó ngài
cho rằng, nói chung thì các hành vi tạo nghiệp nào mãnh liệt
nhất sẽ có khuynh hướng tạo thành nghiệp quả trước nhất.
Nếu hai hành vi tạo nghiệp có cường độ tương đương nhau
thì nghiệp quả của hành vi nào quen thuộc hơn với người
tạo nghiệp sẽ có khuynh hướng chín muồi trước. Tuy nhiên,
nếu hai hành vi tạo nghiệp có cường độ và sự quen thuộc
như nhau thì hành vi nào thực hiện trước sẽ có khuynh hướng
kết quả trước.
Hỏi:
Về mặt nghiệp quả, có sự khác biệt nào giữa ý tưởng
và hành động hay không? Nói cách khác, một ý tưởng có thể
nào tạo ra một hành động hoặc ngược lại hay không?
HHDL:
Như tôi đã giải thích, khái niệm nghiệp của Phật giáo
không chỉ giới hạn trong hành vi thực hiện bởi thân thể,
[73]mà bao gồm cả các hành vi tinh thần, hay ta có thể gọi
là hành vi cảm xúc. Chẳng hạn, khi nói đến một hành vi
tham lam, hay một ý định gây hại, những điều này không
nhất thiết phải được biểu lộ thành hành động. Người
ta có thể suy nghĩ những sự việc như thế một cách trọn
vẹn và chi tiết mà hoàn toàn không có sự biểu lộ thành
hành động, cho nên quả thật có một sự hoàn tất nhất
định của các hành vi này xảy ra trong mức độ tinh thần.
[74]
Thêm
nữa, có một số loại hành vi nhất định không cần thiết
phải có một động cơ hay tác ý ngay lúc đó, mà do sự quy
định từ các hành vi tạo nghiệp trong quá khứ, người ta
có thể có một khuynh hướng hành động theo một cách thức
nào đó. Điều này có nghĩa là, một số hành vi có thể khởi
lên không do động cơ thúc đẩy, mà là do các khuynh hướng
nghiệp lực.
Hình
3.
Thánh
giả Nagarjuna (Long Thụ) - thế kỉ 1-2 - người sáng lập Trung
quán tông, tác giả của Căn bản Trung quán luận.