Chương
V:
Đạo đế
(Chân lý về con đường thoát khổ)
Nếu
ta chấp nhận rằng giải thoát là mục tiêu có thể đạt
được, thì có thể đạt đến như thế nào? Câu hỏi này
đưa chúng ta đến với Chân lý thứ tư, nói về đạo chân
thật.
Theo
sự giải thích của Trung quán tông thì đạo chân thật nên
được hiểu theo ý nghĩa là sự phát triển một chứng ngộ
trựcgiác về tính không. Lý do là vì chứng ngộ trực giác
về tính không trực tiếp đưa tới sự đạt được trạng
thái diệt. Tuy nhiên, để có được một sự chứng ngộ như
thế, hành giả phải có một nền tảng trong pháp thiền định
nhất tâm, bởi vì điều này dẫn tới một tri kiến thể
nghiệm về tính không. Địa vị của hành giả khi đạt tới
tri kiến thể nghiệm đó[99] được xem là khởi điểm
của Lộ Trình Nối Tiếp hay Lộ Trình Chuẩn Bị, và khi hành
giả đạt được sự trực giác về tính không thì được
gọi là Lộ Trình Tri Kiến.
Tri
kiến thể nghiệm về tính không lại phải dựa trên cơ sở
tri thức hiểu biết về tính không, được phát triển thông
qua suy luận. Quả thật, không có sự suy luận đó, thì không
thể đạt tới một thể nghiệm dựa trên thiền định về
tính không. Giai đoạn khởi đầu sự phát triển tri thức
hiểu biết được gọi là Lộ Trình Tích Lũy[100] . Điểm
khởi đầu của lộ trình này là khi hành giả phát triển
một tâm nguyện chân thật hướng đến sự giải thoát - và
đây được xem là khởi điểm tối sơ của Phật đạo. [101]
Giáo
pháp Thanh văn thừa
Ngay
cả trước khi bắt đầu việc tu tập, [102] ta cũng cần có
một sự chuẩn bị hết sức kĩ lưỡng. Để khởi đầu,
sự thực hành quan trọng nhất là ba pháp tu tập cao hơn: tu
tập giới luật (Śila), sự tập trung tâm trí hay thiền định
(samādhi), và tuệ giác hay trí tuệ (Prajñā). [103]
Kinh
điển thường mô tả một cách tổng quát sự chuyển đổi
từ giai đoạn này sang giai đoạn khác dựa vào kinh nghiệm
của hành giả. Do đó, điều quan trọng cần phải hiểu được
là con đường thực sự mà hành giả đang theo đuổi chính
là con đường liên tục phát triển sâusắc hơn nữa tri kiến
và sự giác ngộ về tính không; thuật ngữ Phật giáo gọi
đây là phần Tuệ học. Hơn nữa, trí tuệ giác ngộ tính
không này phải được phát triển trong bối cảnh kết hợp
giữa trạng thái nhất tâm và sự quán chiếu nội tâm; thường
được biết đến như là sự kết hợp giữa hai pháp tu chỉ
(śamatha) và quán (vipaśyana).
Để
có được sự kết hợp giữa hai điều này, ta phải phát
trển pháp tu chỉ trước tiên, vì chỉ có điều này mới
cho phép ta định hướng được năng lực và sự tập trung
của mình. Do vậy, việc tu tập pháp chỉ là điều then chốt.
Để đạt đến thành công, cần phải có hai yếu tố, đó
là sự vận dụng chánh niệm và sự vận dụng tâm tỉnh giác.
Bản thân hai năng lực này lại chỉ phát triển thành tựu
nếu sự nhất tâm của ta được dựa trên cơ sở một nếp
sống đạo hạnh, luôn tuân thủ giới luật trong cả thái
độ và cách sống. Dĩ nhiên, điều này nhấn mạnh tầm quan
trọng cơ bản của giới hạnh. Như vậy, giờ đây ta có thể
thấy là cả ba pháp tu tập giới, định và tuệ có quan hệ
gắn liền với nhau như thế nào.
Và
cả ba pháp tu tập này là chung cho cả Thanh văn thừa cũng
như Đại thừa.
Giáo
pháp Đại thừa
Bây
giờ ta phải nhìn đến một phương diện quan trọng khác của
Phật giáo, đó là phần giáo pháp mà toàn bộ những lời
dạy của Phật đều đặt nền móng trên yếu tố từ bi.
Từ bi chính là nền tảng của Chánh pháp. Sự thực hành nâng
cao tâm hồn đẹp đẽ và phát triển tâm vị tha là nhằm
để đào sâu hiểu biết của chúng ta về lòng từ bi và khơi
dậy năng lực từ bi sẵn có trong ta. Chính trên cơ sở của
lòng từ bi sâu sắc mà ta phát triển tâm nguyện vị tha để
tìm cầu sự giác ngộ mang lại lợi ích cho muôn loài.
Theo
truyền thống thì điều này gọi là phát tâm Bồ-đề. Tâm
Bồ-đề là gì? Trong Hiện quán trang nghiêm luận của ngài
Di-lặc thì tâm Bồ-đề được miêu tả như là việc có hai
nhân tố thúc đẩy: Nhân tố đầu tiên lòng từ bi chân thật
huớng về tất cả chúng sinh, và nhân tố thứ hai là nhận
biết về sự thiết yếu phải đạt tới giác ngộ viên mãn
để mang lại lợi ích cho muôn loài. Thật vậy, để phát
triển lòng vị tha của tâm Bồ-đề thì chỉ có lòng từ
bi không thôi là chưa đủ. Tâm Bồ-đề nhất thiết phải
dựa trên một lòng từ bi có ý thức trách nhiệm để bạn
luôn sẵn lòng tự nhận lấy nhiệm vụ cứu vớt muôn loài.
Ý
thức trách nhiệm này chỉ khởi lên khi bạn phát khởi một
lòng từ bi chân thật và trở thành bản năng tự nhiên, rộng
mở đến tất cả chúng sinh không có ngoại lệ. Đây là lòng
từ bi phổ quát. Nó được gọi là mahākaruṇā hay là «đại
bi» để phân biệt với lòng bi thông thường vốn có giới
hạn. Mặc dù vậy, lòng đại bi tự nó sẽ không phát khởi
trừ phi bạn có một tuệ giác xác thật về bản chất của
khổ đau, không chỉ là khổ đau của chính mình mà còn là
của kẻ khác. Bạn nhận biết tình trạng của mình là đang
đau khổ, và rồi bạn cũng cảm thấy một sự cảm thông
chân thật và gắn bó với người khác. Trong tương quan với
tuệ giác về bản chất của khổ đau, sự quán chiếu Chân
lý thứ nhất - Khổ đế - sẽ giúp bạn phát triển sâu sắc
hơn tuệ giác của mình.
Với
một người thực hành vị tha thì điều quan trọng là phải
hiểu rằng việc đạt tới giải thoát cho riêng mình không
thôi là chưa đủ. Điều này không chỉ là mang tính chất
chủ nghĩa cá nhân mà ngay cả xét từ góc độ con đường
tu tập để hoàn thiện bản thân người đóthì cũng chưa
phải là trạng thái hoàn toàn tỉnh giác.
Do
đó, điều thiết yếu là ta phải nuôi dưỡng lòng cảm thông
tự nhiên và cảm giác gắn bó với người khác. Kinh điển
có dạy một trong những phương thức để làm được điều
này là hình dung mọi chúng sinh đều là mẹ ta, hay một người
nào đó thân thiết với ta. Bạn khơi dậy lòng thương yêu
tự nhiên đối với mẹ mình hay một người nào đó thân
thiết, và mở rộng lòng thương yêu ấy đến với tất cả
chúng sinh. Bằng cách này, bạn phát triển được một sự
thông cảm tự nhiên và đáp ứng tức thì. Mặc dù vậy, sự
cảm thông không thể sinh khởi nếu các cảm xúc của bạn
đối với tha nhân thay đổi do cách nhìn nhận một số người
nào đó là kẻ thù và một số khác là bạn hữu. Sự phân
biệt đối xử này cần phải vượt qua trước nhất, và để
làm được điều này thì việc thực hành tâm bình thản là
nền tảng quan trọng.
Một
phương pháp khác được ngài Tịch Thiên (Shantideva) trình bày
trong Nhập Bồ-đề hành luận.[104] Ngài giải thích một
phương pháp để nuôi dưỡng sự cảm thông thực sự bằng
cách xem người khác như chính bản thân mình. Thí dụ, cũng
giống như bản thân bạn luôn mong ước được hạnh phúc
và vượt qua đau khổ, người khác cũng có sự khao khát tương
tự như vậy; và cũng giống như bản thân bạn có quyền đạt
được điều đó, mọi người khác cũng vậy. Với ý thức
bình đẳng đó, bạn đảo ngược quan điểm luôn tự xem mình
là tâm điểm quan trọng, đặt bản thân mình vào vị trí
của người khác và liên hệ với họ như thể là những người
mình thương yêu hơn cả chính bản thân.
Theo
truyền thống Tây Tạng, hai phương pháp khác biệt trên được
kết hợp và dùng làm đối tượng của thiền quán. Một khi
nhờ vào kết quả của sự quán chiếu và thiền định mà
bạn đạt được dù chỉ là một kinh nghiệm mô phỏng của
tâm vị tha, thì thường là đức tính đó sẽ được ổn
định và củng cố qua việc tham gia một nghi lễ phát tâm
Bồ-đề. Tiếp theo sau đó, cần phải có một tâm nguyện
mãnh liệt dấn thân vào thực hành Bồ Tát hạnh. Theo truyền
thống, hành giả chính thức phát khởi hạnh nguyện Bồ Tát
vào thời điểm này. Lý tưởng Bồ Tát, hay Bồ Tát hạnh,
được thâu gồm trong ba điều Giới luật: thứ nhất là ngăn
ngừa hết thảy mọi điều bất thiện; thứ hai là quyết
tâm thành tựu hết thảy các điều lành; và thứ ba là luôn
cứu vớt giúp đỡ muôn loài.
Từ
quan điểm về cách thức các nhân tố thực hành sẽ dẫn
tới một trạng thái kết quả, các hạnh Bồ Tát đôi khi
cũng được mô tả trong hai dạng tích lũy: tích lũy trí tuệ
và tích lũy công đức. Hai dạng tích lũy này cùng xuất hiện
trong sự kết hợp giữa phương tiện với trí huệ, và trong
đạo Phật chúng không bao giờ tách rời nhau.
Giáo
pháp Kim cương thừa
Sự
sâu sắc và tinh tế của Mật tông (Tantra)[105] hay Kim
cương thừa (Vajrayāna) phát xuất từ sự thực hành hợp nhất
phương tiện và trí huệ. Nói một cách hết sức vắn tắt
thì một trong những nét độc đáo của sự hợp nhất phương
tiện và trí tuệ trong giáo pháp Kim cương thừa là hành giả
trước tiên phải hướng nhận thức của mình về bản ngã
và thế giới đến một sự hiểu biết về tính không và
hòa tan mọi thứ vào tính không đó. Và rồi nhận thức về
tính không đó sẽ được hình tượng hóa (dĩ nhiên vào giai
đoạn khởi đầu thì chỉ là một cách tuởng tượng) như
là một dạng toàn hảo của Thánh hộ trì[106] thiền.
Kế đến, bạn quán chiếu về bản chất phi vật thể hay
trống không của vị Thánh hộ trì đó. Như vậy, chỉ trong
một trường hợp nhận thức, cả phương tiện và trí huệ
đều có mặt và trọn vẹn: có sự hình tượng hóa của một
Thánh hộ trì và cùng lúc có cả sự hiểu biết về bản
chất trống không của vị Thánh hộ trì đó.
Trong
truyền thống Kim cương thừa có bốn lớp nguyên lý tantra
chính yếu, theo các phái Gelug, [107] Sakya[108] vaø Kagyu;
[109] đó là Kria tantra, Carya tantra, Yoga tantra, và Tối thượng
Du-già tantra.[110] Hai lớp nguyên lý đầu tiên không bao
gồm việc phát nguyện Vajrayana; các phát nguyện tantra thuộc
về Mật tông Du-già và Mật Tông Tối thượng Du-già. Mật
Tông Tối thượng Du-già còn có các thực hành thiền định
sử dụng nhiều yếu tố sinh lý đa dạng, chẳng hạn như
việc hình tượng hóa các kênh năng lực của cơ thể, các
năng lực luân chuyển trong các kênh ấy, các “giọt vi tế”...
Trong tất cả các pháp thiền khác nhau này thì điểm then chốt
luôn luôn là nguyện lực của tâm Bồ-đề và tuệ giác về
tính không. Thiếu đi hai nhân tố này, không một pháp thiền
nào kể trên thậm chí có thể được xem là pháp Phật.
Tuy
nhiên, theo một số kinh văn xác thật và rất đáng tin cậy
của Mật tông Du-già thì pháp tu Kim cương thừa cũng có thể
dựa trên hiểu biết về tính không của phái Duy thức, không
nhất thiết phải là theo Trung quán tông. Mặc dù vậy, tôi
vẫn cảm thấy rằng nếu muốn cho các thực hành tantra là
toàn diện, và muốn đạt tới sự giác ngộ viên mãn theo
giáo pháp tantra, thì một tuệ giác về tính không dựa theo
Trung quán tông là thực sự cần thiết.
Lời
khuyên cho người thực hành Phật pháp
Có
3 lời khuyên tôi muốn chia sẻ cùng các bạn.
Điều
đáng nói trước tiên là trừ phi bạn có thể thiết lập
một nền tảng vững chắc trong các thực hành căn bản của
Phật pháp, như những điều mà tôi đã vạch ra, bằng không
thì ngay cả các pháp tu được xem là sâu xa của Kim cương
thừa cũng sẽ không mang lại hiệu quả gì. Điều quan trọng
là, đối với người thực hành Phật pháp thì sự phát triển
một hiểu biết về Tứ diệu đế và suy gẫm sâu xa về điều
đó là thực sự thiết yếu. Do đó, thiền tập phải là một
phần trọng yếu trong sự thực hành của bạn, bao gồm cả
hai pháp chỉ và quán.
Nhân
tố quan trọng thứ hai là sự quyết tâm của bạn. Bạn không
nên tưởng tượng rằng tất cả mọi sự tiến triển nói
trên có thể diễn ra trong vòng vài ba ngày hay vài ba năm; chúng
thật ra có thể phải đến nhiều đời, nhiều kiếp, nên
sự quyết tâm rõ ràng là thiết yếu. Nếu bạn tự xem mình
là một Phật tử và muốn thực sự thực hành Phật pháp,
thì ngay từ khi bắt đầu bạn phải hạ quyết tâm thực hiện
đến cùng, bất chấp việc ấy có phải trải qua đến hàng
triệu hay hàng tỷ kiếp sống. Nói cho cùng, ý nghĩa cuộc
sống của ta là gì? Tự nó không hề có một ý nghĩa nội
tại nào cả. Tuy nhiên, nếu ta sử dụng cuộc sống theo một
cách tích cực, thì ngay cả những ngày tháng và những niên
kỉ đó cũng sẽ trở nên đầy ý nghĩa. Ngược lại, nếu
bạn hoang phí đời sống một cách không mục đích thì dù
chỉ một ngày cũng sẽ cảm thấy là quá dài. Bạn sẽ thấy
rằng, một khi bạn có được một quyết tâm kiên định và
một mục đích rõ ràng, thì thời gian sẽ không là quan trọng.
Như
ngài Tịch Thiên đã viết trong bài thi kệ rất hay này:
Bao
lâu còn đó hư không,
Sinh
linh cam chịu trong vòng khổ đau,
Nguyện
rằng tôi vẫn còn đây,
Tận
trừ đau khổ đến ngày sáng tươi. [111]
Lời
lẽ trong bài thi kệ thật sự đã truyền đạt một tri kiến
nhất định cho tôi, và những lời thơ thật hết sức truyền
cảm.
Và
lời khuyên cuối cùng của tôi là, bạn càng nôn nóng, càng
mong muốn một phương thức nhanh nhất, rẻ nhất hay tốt nhất,
thì lại càng có nhiều khả năng phải nhận lấy một kết
quả rất tồi. Vì thế, tôi cho rằng đây là một phương
pháp sai lầm.
Kết
luận
Nếu
phải nêu ra điểm thiết yếu nhất trong bài giảng này, hẳn
tôi sẽ nói rằng: Nếu sự hiểu biết về Tứ diệu đế
của bạn hình thành từ các quán chiếu sâu sắc như đã nói
trên, thì bạn sẽ có một sự kính ngưỡng sâu xa đối với
Chánh pháp, vốn là đối tượng chân thật của sự quy y,
và bạn cũng sẽ phát triển lòng tin vào khả năng vận dụng
Chánh pháp ngay trong bản thân mình. Trên cơ sở của một lòng
tin như vậy, bạn sẽ có thể phát triển tín tâm chân thật
đối với đức Phật, bậc thầy đã chỉ ra cho bạn con đường
tu tập, và bạn cũng sẽ có một lòng tôn kính sâu xa đối
với chúng Tăng, những người đồng hành tinh thần trên con
đường này.
Nếu
sự hiểu biết của bạn về Tam bảo được dựa trên một
chứng ngộ thâm sâu về Tứ diệu đế như đã nói trên, thì
mỗi khi bạn nghĩ đến Phật, Pháp và Tăng, Tam bảo sẽ hiện
đến với bạn thật sống động, với sự sáng tươi mới
mẻ. Đây chính là ý nghĩa của việc thực hành quy y Tam bảo.
Trong
thực tế, để tóm gọn một cách chính xác và rõ ràng hơn
nữa, có thể nói rằng toàn bộ những gì tôi đã giảng giải
ở đây chính là để chỉ rõ ý nghĩa của việc quy y Tam bảo.
Mặc
dù sự thực hành của riêng tôi là rất kém cỏi, quả thật
rất kém cỏi, và mặc dù tôi có trì chú cũng như quán tưởng
một số mạn-đà-la (ma??ala), nhưng trọng tâm chính trong sự
tu tập hằng ngày của tôi vẫn là Tứ diệu đế và tâm Bồ-đề.
Tôi cảm nhận rằng hai pháp tu này là thực sự mang lại lợi
ích thiết thực. Đôi khi tôi nghĩ rằng việc quán tưởng
các Thánh hộ trì có thể gần như là một cách tự lừa dối.
Trong quan điểm của tôi, chúng ta nhất thiết phải theo đuổi
việc thực hành theo trình tự từng bước một, với sự kiên
nhẫn và quyết tâm. Nếu bạn thực hành theo cách này thì
sau một năm hay mười năm, bạn sẽ nhận ra được ít nhất
là một sự hoàn thiện nào đó trong bản thân. Và khi bạn
thấy được như vậy, điều đó sẽ mang lại một sự khích
lệ mới để tiếp tục. Tuy nhiên, chúng ta phải nhận biết
rằng sự thay đổi thật không dễ dàng chút nào.
Giờ
đây bạn đã đọc qua những lời dạy này về Tứ diệu đế,
Nếu bạn tự xem mình là một Phật tử thì xin hãy thực hành
những lời dạy này. Những lời dạy này không nên chỉ giữ
lại ở mức độ tri thức. Thực hành và giáo lý phải gắn
liền với cuộc sống chúng ta. Dĩ nhiên, điều này cũng đúng
với những người thực hành và tín đồ của các tín ngưỡng
khác, như là Thiên chúa giáo, Hồi giáo hay Do Thái giáo; dù
với bất cứ niềm tin nào, nếu bạn chấp nhận niềm tin
đó thì nó phải trở thành một phần trong cuộc sống của
bạn. Nếu bạn chỉ đi lễ nhà thờ vào chủ nhật và chắp
tay cầu nguyện trong chốc lát thì vẫn là chưa đủ, nếu
như trong khoảng thời gian còn lại cách ứng xử của bạn
vẫn không có gì thay đổi. Cho dù bạn có tự thân đi đến
nhà thờ hay không, tôi nghĩ rằng giáo lý tôn giáo của bạn
phải luôn nằm trong tim bạn. Điều đó rất quan trọng. Chỉ
khi đó bạn mới có được một thể nghiệm về giá trị
chân thật của nó, nếu không thì đó chỉ là đơn giản là
một phần kiến thức trong đầu bạn, và khi bạn đối mặt
với những khó khăn trong cuộc sống thì điều đó sẽ không
giúp được gì.
Một
khi giáo pháp đã gắn liền với cuộc sống của bạn, bất
cứ lúc nào bạn gặp phải khó khăn thật sự thì sự thực
hành giáo pháp sẽ cho bạn một nội lực. Cũng thế, khi bạn
già yếu, hay mắc phải một căn bệnh nan y, và khi cái chết
cuối cùng tìm đến, thì sự tu tập của bạn sẽ thực sự
mang lại cho bạn một nội tâm vững chãi, an ổn. Xét cho cùng
thì cái chết là một phần của sự sống; nó không có gì
lạ cả; sớm muộn gì tất cả chúng ta đều cũng phải trải
qua. Lúc đó, cho dù còn có kiếp sau hay không thì sự bình
thản của tâm hồn vẫn là rất quan trọng. Làm thế nào để
có được sự bình tâm trong một thời khắc quan trọng như
thế? Điều đó chỉ có thể đạt được nếu ta có được
những kinh nghiệm tự thân mang lại cho ta nội lực, vì không
ai khác có thể cho ta sức mạnh này - không thần thánh nào,
không bậc thầy nào, và cũng không bạn bè nào hết. Đây
là lý do tại sao đức Phật nói rằng bạn phải là bậc thầy
của chính mình.