Phụ
Lục 1:
Từ bi - Cơ
sở hạnh phúc con người
Bài
nói chuyện trước công chúng của đức Dalai Lama tại Sảnh
Đường Mậu Dịch Tự Do, Manchester, thuộc Liên Hiệp Anh, vào
ngày 19 tháng 7 năm 1996.
Tôi
cho rằng mỗi con người đều có một ý thức bẩm sinh về
“cái ta”. Chúng ta không thể giải thích tại sao có cảm
nhận đó, nhưng quả thật là có. Đi kèm với nó là một
sự khao khát được hạnh phúc và mong muốn vượt qua khổ
đau. Điều này là hoàn toàn hợp lý: Chúng ta đương nhiên
có quyền đạt tới nhiều hạnh phúc nhất trong phạm vi có
thể được, và ta cũng có quyền vượt qua đau khổ.
Toàn
bộ lịch sử loài người đã phát triển trên cơ sở cảm
nhận này. Thật ra, nó cũng không chỉ giới hạn trong loài
người; theo quan điểm của Phật giáo, ngay cả loài côn trùng
nhỏ nhất cũng có cảm nhận đó, và trong phạm vi khả năng
của mình, cũng luôn cố gắng để đạt được phần hạnh
phúc nào đó và né tránh những hoàn cảnh không vui.
Tuy
nhiên, có một số khác biệt quan trọng giữa con người và
các loài khác. Những khác biệt đó bắt nguồn từ trí thông
minh của con người. Nhờ vào trí thông minh, ta được lợi
thế hơn rất nhiều và có nhiều năng lực hơn. Ta có khả
năng tư duy rất xa về tương lai, và trí nhớ của ta đủ
mạnh để nhớ lại nhiều năm trong quá khứ. Hơn thế
nữa, chúng ta có các truyền thống truyền khẩu và qua chữ
viết, có thể nhắc nhở ta về các sự kiện cách đây nhiều
thế kỉ. Giờ đây, nhờ vào các phương pháp khoa học, chúng
ta thậm chí còn có thể khảo sát các sự kiện đã xảy ra
cách đây nhiều triệu năm.
Như
vậy, trí thông minh làm cho ta rất tinh khôn, nhưng cùng lúc,
nói một cách chính xác là cũng do nơi điều đó mà ta có
nhiều sự hoài nghi, ngờ vực hơn, và do đó cũng có nhiều
nỗi sợ hãi hơn. Tôi nghĩ rằng sự hình dung ra nỗi sợ hãi
đã phát triển rất nhiều hơn ở con người so với các loài
khác. Thêm vào đó, rất nhiều những mâu thuẫn trong cộng
đồng nhân loại và trong chính gia đình của mỗi người,
chưa nói đến những mâu thuẫn giữa các cộng đồng xã hội
và giữa các quốc gia, cũng như các xung đột nội tâm trong
mỗi con người - tất cả các xung đột và mâu thuẫn này
đều khởi lên từ sự khác biệt về tư tưởng và quan điểm,
vốn được sinh ra từ trí thông minh của chúng ta. Thật không
may, trí thông minh đôi khi có thể gây ra một trạng thái hoàn
toàn không vui cho tâm thức. Trong ý nghĩa này, nó trở thành
một nguồn đau khổ khác cho con người. Dù vậy, cùng lúc
tôi vẫn cho rằng xét đến cùng thì chính trí thông minh là
công cụ ta có thể dùng để vượt qua tất cả các mâu thuẫn
và khác biệt này.
Từ
quan điểm đó, trong tất cả mọi chủng loài khác nhau trên
hành tinh này thì loài người là kẻ gây rối lớn nhất. Điều
đó đã quá rõ ràng. Tôi tưởng tượng nếu trên trái đất
này không còn bóng dáng con người, thì tự nó hẳn sẽ được
an toàn hơn! Chắc chắn là hàng triệu con vật như cá, gà
và các loài thú nhỏ khác sẽ được tận hưởng một sự
giải thoát thật sự!
Do
đó, điều quan trọng là trí tuệ con người cần được sử
dụng theo một cách thức xây dựng. Đây là điểm then chốt.
Nếu chúng ta sử dụng khả năng của trí thông minh một cách
đúng đắn, thì không chỉ có con người trở nên ít gây hại
cho nhau hơn, và ít gây hại hơn cho hành tinh này, mà mỗi một
con người riêng lẻ cũng đều sẽ được hạnh phúc hơn.
Điều đó nằm trong tầm tay của chúng ta. Việc sử dụng
trí tuệ theo cách đúng đắn hay sai lầm là tùy nơi chúng
ta. Không ai có thể áp đặt các giá trị của họ lên chúng
ta. Làm thế nào để ta học được cách sử dụng khả năng
của mình một cách xây dựng? Trước tiên, cần phải nhận
biết bản chất của chúng ta, và sau đó, nếu ta có sự quyết
tâm thì sẽ có một khả năng thực sự trong việc chuyển
hóa lòng người.
Trên
cơ sở này, hôm nay tôi sẽ nói về cách thức để mỗi một
con người riêng lẻ có thể tìm thấy hạnh phúc, bởi vì
tôi tin rằng mỗi cá nhân đều là chìa khóa đối với tất
cả những người còn lại. Để thay đổi bất kì cộng đồng
nào, sự khởi động phải xuất phát từ mỗi cá nhân. Nếu
mỗi cá nhân có thể trở nên một người tốt đẹp, điềm
tĩnh và hiền hòa, thì điều này sẽ tự động đem lại một
bầu không khí tích cực cho gia đình chung quanh người đó.
Khi các bậc cha mẹ là những người tốt bụng, giàu tình
cảm, hiền hòa và điềm tĩnh thì nói chung con cái họ cũng
sẽ phát triển những cách ứng xử và thái độ như vậy.
Thái
độ sống của chúng ta thường chịu ảnh hưởng rối rắm
bởi các nhân tố bên ngoài; vậy nên, một phần của vấn
đề là phải loại trừ các phiền nhiễu quanh bạn. Môi trường
sống, tức hoàn cảnh xung quanh, là một nhân tố rất quan
trọng trong việc tạo ra một tâm trạng hạnh phúc. Tuy nhiên,
phần còn lại của vấn đề thậm chí còn quan trọng hơn
nữa, đó là thái độ tinh thần riêng của mỗi người.
Hoàn
cảnh xung quanh có thể không mấy thân thiện, thậm chí có
thể là thù nghịch, nhưng nếu thái độ tinh thần trong bạn
là đúng đắn, thì hoàn cảnh đó sẽ không khuấy động được
sự bình yên bên trong bạn. Ngược lại, nếu thái độ của
bạn là không đúng, thì ngay cả khi quanh bạn đều là những
người bạn tốt và những điều kiện thuận lợi nhất, thì
bạn cũng không thể có hạnh phúc. Đây là lý do tại sao thái
độ tinh thần lại quan trọng hơn các điều kiện bên ngoài.
Mặc dù vậy, dường như tôi thấy nhiều người chú tâm hơn
đến các điều kiện bên ngoài và không hề lưu ý đến thái
độ bên trong của tâm thức. Tôi đề nghị chúng ta nên lưu
ý nhiều hơn đến các phẩm tính nội tâm.
Có
nhiều phẩm tính quan trọng cho sự yên bình tinh thần, nhưng
theo kinh nghiệm ít oi mà tôi đã có được, tôi tin rằng một
trong những yếu tố quan trọng nhất là lòng từ bi của con
người: một cảm giác quan tâm chăm sóc.
Tôi
sẽ giải thích ý nghĩa của lòng từ bi được nói đến ở
đây. Thông thường, khái niệm của chúng ta về lòng thương
hay tình yêu là chỉ cho cảm giác thân thiết với bạn bè
và những người thân yêu. Đôi khi lòng thương cũng mang ý
nghĩa của sự thương hại. Điều này không đúng - bất kì
sự thương yêu nào liên quan đến việc xem nhẹ người khác
đều không phải là thương yêu chân thật. Để trở nên chân
thật, lòng thương yêu phải dựa trên cơ sở tôn trọng người
khác, và dựa trên nhận thức rằng: những người khác cũng
có quyền được hưởng hạnh phúc và vượt qua khổ đau như
chính bản thân ta. Trên cơ sở này, ngay khi thấy được người
khác đang đau khổ, bạn sẽ phát khởi một cảm xúc chân
thành quan tâm đến họ.
Còn
về sự thân thiết mà ta cảm nhận đối với bạn bè của
mình, điều này thường giống với một sự luyến ái hơn
là tình thương. Tình thương chân thật không nên có sự thiên
vị. Nếu ta chỉ cảm thấy thân thiết với các bạn mình,
và không cảm thấy như vậy với những kẻ thù của ta; hay
với vô số những người mà tự thân ta không hề quen biết,
hay với những người ta không quan tâm, thì tình thương của
chúng ta chỉ là không trọn vẹn hay thiên vị.
Như
đã nói, tình thương chân thật được dựa trên nhận thức
rằng người khác cũng có quyền được hạnh phúc như chính
bạn, và do đó, ngay cả kẻ thù của bạn cũng là một con
người với sự mongmuốn và quyền được hưởng hạnh phúc
giống như bạn. Một ý thức quan tâm được phát triển trên
sơ sở này, ta gọi là từ bi; nó rộng mở đến mọi người,
bất kể thái độ của người đó đối với bạn là thù
địch hay thân thiện.
Một
phương diện của lòng từ bi là ý thức luôn có trách nhiệm
quan tâm đến người khác. Khi ta phát triển sự thôi thúc
này trong lòng, sự tự tin của ta sẽ tự nhiên gia tăng. Điều
này lại sẽ làm giảm bớt sự lo sợ, và sự giảm bớt lo
sợ là nền tảng cho sự quyết tâm. Nếu bạn thật sự quyết
tâm ngay từ đầu là sẽ hoàn thành một nhiệm vụ khó khăn,
thì ngay cả nếu bạn có thất bại một lần, hai lần, ba
lần... cũng không quan trọng. Mục tiêu của bạn rất rõ ràng,
nên bạn vẫn sẽ tiếp tục nỗ lực. Thái độ lạc quan và
kiên định này là yếu tố then chốt để thành công.
Lòng
từ bi cũng đem đến cho ta một nội lực. Một khi lòng từ
bi được phát triển, nó sẽ tự nhiên mở ra một cánh cửa
nội tâm, qua đó ta có thể giao tiếp với mọi con người
đồng loại, và ngay cả với những chúng sinh hữu tình khác,
một cách dễ dàng và chân thành. Mặt khác, nếu bạn cảm
thấy căm ghét và ác cảm với người khác, thì có thể họ
cũng cảm thấy tương tự như vậy đối với bạn, và kết
quả là sự ngờ vực và lo sợ sẽ tạo ra một khoảng cách
giữa các bạn, làm cho sự giao tiếp trở nên khó khăn. Rồi
sau đó bạn sẽ cảm thấy cô đơn và cách biệt. Không phải
tất cả thành viên trong cộng đồng của bạn đều có các
cảm xúc tiêu cực tương tự đối với bạn, nhưng một số
người có thể nhìn bạn theo cách tiêu cực bởi vì chính
cảm nhận của bạn.
Nếu
bạn nuôi dưỡng các cảm xúc tiêu cực về người khác, nhưng
lại mong đợi họ thân thiện với bạn thì thật là vô lý.
Nếu muốn bầu không khí quanh mình trở nên thân thiện hơn,
trước hết bạn phải tạo ra nền tảng cho điều đó. Cho
dù sự đáp ứng của những người khác là tích cực hay tiêu
cực, trước hết bạn phải tạo ra được nền tảng của
sự thân thiện. Nếu sau đó những người khác vẫn tiếp
tục ứng xử với bạn một cách tiêu cực, thì bạn có quyền
hành động theo cách thích hợp.
Tôi
luôn cố gắng tạo ra một nền tảng thân thiện với mọi
người. Chẳng hạn, mỗi khi lần đầu gặp gỡ một người
nào đó, tôi thấy không cần đến các lời giới thiệu. Rõ
ràng người ấy cũng là một con người. Có lẽ một lúc nào
đó trong tương lai, các tiến bộ kĩ thuật có thể đồng
nghĩa với việc tôi có thể nhầm lẫn giữa một người máy
với một con người, nhưng cho tới nay thì chuyện này chưa
từng xảy ra. Tôi nhìn thấy một nụ cười, vài cái răng
và đôi mắt... và tôi nhận ra ngay đó là một con người!
Trên cơ sở là những con người, về mặt cảm xúc thì tất
cả chúng ta đều như nhau, và cơ bản thì về mặt thể chất
chúng ta cũng là như nhau, trừ ra sự khác biệt màu sắc. Nhưng
cho dù những người Tây phương có tóc vàng hay tóc xanh, hay
tóc trắng, cũng đều không thực sự quan trọng. Điểm quan
trọng là chúng ta đều giống nhau về mặt cảm xúc. Với
sự tin chắc đó, tôi cảm thấy người mới gặp kia là một
người anh em đồng loại, và đến gần người đó một cách
hoàn toàn tự nhiên. Trong hầu hết các trường hợp, người
mới gặp kia sẽ tức thì phản ứng theo cách tương tự,
và trở thành một người bạn. Đôi khi tôi thất bại, nhưng
khi ấy tôi có quyền tự do phản ứng tùy theo tình huống.
Vì
vậy, về cơ bản chúng ta nên tiếp cận người khác một
cách cởi mở, thừa nhận mỗi người khác đều là một con
người cũng giống như chính ta. Không có nhiều khác biệt
giữa tất cả chúng ta.
Lòng
từ bi tạo nên bầu không khí tích cực một cách tự nhiên,
và kết quả là bạn cảm thấy an ổn và hài lòng. Người
có lòng từ bi sống ở bất cứ nơi nào thì bầu không khí
ở nơi đó luôn được dễ chịu. Ngay cả các loài chó hay
chim cũng dễ dàng đến gần người đó. Cách đây chừng 50
năm, tôi thường giữ vài chú chim trong Cung điện Mùa Hạ
Norbulingka (Norbulingka Summer Palace) ở Lhasa. Trong số đó có
một con vẹt nhỏ. Lúc đó, tôi có một người phục vụ lớn
tuổi trông không mấy thân thiện - mắt của ông ta tròn và
nghiêm nghị - nhưng ông ta luôn cho chú vẹt này ăn các loại
hạt và thức ăn khác. Bởi vậy, mỗi khi người phục vụ
sắp đến, chỉ cần nghe tiếng bước chân hay tiếng ho của
ông là con vẹt đã tỏ ra phấn khích. Người phục vụ có
một thái độ cực kỳ thân thiện với con chim nhỏ đó, và
nó cũng đáp ứng một cách đáng ngạc nhiên với ông ta. Có
một vài lần tôi cũng cho con chim ăn một ít hạt, nhưng nó
không bao giờ tỏ ra thân thiện như thế với tôi. Tôi dùng
một cái que khều nó, hy vọng nó sẽ phản ứng khác hơn;
nhưng kết quả hoàn toàn xấu đi. Tôi đã dùng sức quá mạnh
hơn so với sức chim, và nó đã đáp lại theo cách tương ứng.
Do
vậy, nếu bạn muốn có một người bạn chân thật, trước
nhất bạn phải tạo ra bầu không khí tích cực quanh mình.
Xét cho cùng, chúng ta là những động vật sống cộng đồng
và bạn bè là rất quan trọng. Làm thế nào để bạn mang
lại nụ cười trên khuôn mặt mọi người? Nếu bạn duy trì
sự lạnh lùng và ngờ vực thì điều đó sẽ rất khó. Cũng
có thể là nếu bạn có quyền thế và tiền tài thì một
số người có thể đến với bạn bằng một nụ cười giả
tạo, nhưng một nụ cười chân thật chỉ có thể có được
nhờ lòng từ bi mà thôi.
Câu
hỏi đặt ra là làm thế nào để phát triển lòng từ bi.
Trong thực tế, ta có thể thật sự phát triển một lòng từ
bi hoàn toàn không thiên vị hay không? Câu trả lời của tôi
là ta chắc chắn có thể làm điều đó. Tôi tin rằng bản
chất của con người là hiền lành và từ ái; mặc dù có
nhiều người, trước đây cũng như bây giờ, cho rằng bản
chất con người về cơ bản là hung hăng. Chúng ta hãy xem xét
điểm này.
Vào
thời điểm thụ thai, và suốt thời gian ở trong thai mẹ thì
trạng thái tinh thần yêu thương và hiền hòa của người
mẹ là nhân tố rất tích cực cho sự phát triển của thai
nhi. Nếu tâm tư người mẹ bị kích động mạnh sẽ có hại
cho thai nhi. Và đó chỉ là điểm khởi đầu của sự sống!
Ngay cả trạng thái tinh thần của cha mẹ vào thời điểm
thụ thai cũng là quan trọng. Chẳng hạn, nếu một đứa bé
được thụ thai bởi sự cưỡng hiếp, thì nó sẽ là một
đứa bé ngoài ý muốn, và điều đó thật khủng khiếp. Để
việc thụ thai xảy ra tốt đẹp, nó phải xuất phát từ tình
yêu chân thật và sự tôn trọng lẫn nhau, không chỉ là sự
đam mê cuồng nhiệt. Chỉ có quan hệ tình dục thoáng qua với
nhau thì không đủ, hai người cần phải hiểu biết rõ về
nhau và tôn trọng lẫn nhau như những con người; đây là cơ
sở cho một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Hơn thế nữa, hôn nhân
tự nó nên là trọn đời, hay ít nhất cũng phải được bền
lâu. Cuộc sống nên bắt đầu một cách tốt đẹp trong tình
huống như thế.
Sau
đó, theo y học thì trong những tuần lễ đầu sau khi sinh nở,
bộ não của trẻ sơ sinh vẫn tiếp tục lớn lên. Trong suốt
thời kì này, các chuyên gia cho rằng sự vuốt ve là nhân tố
rất thiết yếu cho sự phát triển thích hợp của bộ não.
Chỉ điều này thôi cũng cho thấy rằng sự lớn lên của
riêng thân thể ta cũng đã cần đến sự trìu mến của người
khác.
Sau
khi sinh, một trong những việc làm đầu tiên của người mẹ
là cho con bú, và việc đầu tiên của đứa trẻ là bú sữa
mẹ. Dòng sữa thường được xem như là biểu tượng của
tình thương. Theo truyền thống, không có sữa thì đứa trẻ
không thể sống còn. Thông qua tiến trình bú sữa tạo ra một
sự gắn bó thân thiết giữa mẹ và con. Nếu không có sự
gắn bó thân thiết đó, hẳn đứa trẻ đã không tìm kiếm
bầu vú mẹ, và nếu người mẹ cảm thấy không ưa thích
đứa trẻ thì sữa của bà sẽ không tiết ra một cách dễ
dàng. Vì thế, dòng sữa hiện hữu cùng với tình thương.
Điều này có nghĩa là, hành động đầu tiên trong đời ta
- việc bú sữa - là một biểu tượng của tình thương.
Tôi luôn được gợi nhớ đến điều này mỗi khi tôi thăm
một nhà thờ và nhìn thấy đức Mẹ bồng Chúa Jesus còn là
một đứa trẻ; hình ảnh ấy đối với tôi là một biểu
tượng của tình yêu và sự trìu mến.
Người
ta đã biết được rằng trẻ em lớn lên trong các gia đình
có sự yêu thương và trìu mến thì phát triển thể chất
mạnh khỏe hơn và học giỏi hơn ở trường. Ngược lại,
những em sống thiếu tình người sẽ gặp khó khăn trong sự
phát triển thể chất lẫn tinh thần. Những đứa trẻ này
cũng cảm thấy khó khăn trong việc bày tỏ tình thương khi
chúng lớn lên, và đây là một thảm kịch lớn.
Bây
giờ hãy nhìn vào giây phút cuối cùng của cuộc sống - sự
chết. Ngay cả ở thời điểm sắp ra đi vĩnh viễn, mặc dù
người hấp hối không còn nhận được lợi ích gì nhiều
từ bằng hữu, nhưng nếu được vây quanh bởi bạn bè thì
tâm thức người ấy có thể trở nên bình thản hơn. Do đó,
trong suốt cuộc đời ta, ngay từ lúc khởi đầu cho đến
khi nhắm mắt, sự yêu thương trìu mến giữ một vai trò rất
quan trọng.
Khuynh
hướng yêu thương không chỉ làm cho tâm thức được an ổn
và bình thản hơn, mà còn ảnh hưởng đến thể chất một
cách tích cực nữa. Ngược lại, sự thù hận, ghen ghét và
sợ hãi làm xáo trộn sự yên bình của tâm thức, làm cho
ta bị khích động và ảnh hưởng tới cơ thể một cách bất
lợi. Ngay cả thể xác ta cũng cần đến sự an bình của tâm
thức, và không thích hợp với sự khích động. Điều này
cho thấy sự nhận biết giá trị của một tâm thức an ổn
là bản chất sẵn có trong chúng ta.
Do
vậy, dù một số người có thể không đồng ý, nhưng tôi
vẫn thấy rằng, cho dù khía cạnh hung hăng trong bản tính
của chúng ta là một phần của đời sống, thì sức mạnh
vượt trội trong đời sống vẫn là lòng yêu thương con người.
Đây là lý do vì sao ta có thể củng cố và tăng cường nền
tảng tốt đẹp ấy, vì đó vốn là bản chất của con người.
Ta
cũng có thể tiếp cận tính chất quan trọng của lòng từ
bi thông qua sự phân tích lý luận. Nếu tôi giúp đỡ người
khác và bày tỏ sự quan tâm đến người đó, thì tự tôi
cũng sẽ được hưởng lợi từ điều này. Ngược lại, nếu
tôi làm hại những người khác, cuối cùng tôi sẽ gặp rắc
rối. Tôi thường nói đùa, với một phần chân thật và nghiêm
túc, rằng nếu ta muốn thật sự vị kỷ thì nên vị kỷ
theo cách khôn ngoan hơn là vị kỷ một cách dại dột. Trí
khôn có thể giúp ta điều chỉnh thái độ trong phương diện
này. Nếu sử dụng tốt trí thông minh, ta có thể thấu hiểu
được cách thức để đạt được những lợi ích của riêng
mình bằng cách sống một nếp sống từ bi. Thậm chí có thể
biện luận rằng sống từ bi là vị kỷ một cách tuyệt đối.
Trong
trường hợp này, tôi không cho rằng vị kỷ là sai trái. Yêu
thương chính mình là thiết yếu. Nếu ta không yêu thương
chính mình, làm sao ta có thể yêu thương người khác? Có vẻ
như khi một số người nói về lòng từ bi, họ nghĩ rằng
điều đó gắn liền với việc hoàn toàn không lưu tâm đến
lợi ích của riêng mình - một sự hy sinh các quyền lợi bản
thân. Điều này là không đúng. Thật ra, tình yêu chân chính
trước hết nên hướng về chính mình.
Nói
về “cái tôi” có hai ý nghĩa khác nhau. Một “cái tôi”
không ngần ngại hãm hại người khác, đó là tiêu cực và
dẫn tới sự rắc rối. “Cái tôi” thứ hai được dựa
trên sự quyết tâm, ý chí mạnh mẽ và sự tự tin, và ý
nghĩa này của “cái tôi” là rất cần thiết. Không có nó,
làm sao ta có thể phát triển sự tự tin cần thiết để thực
hiện bất cứ nhiệm vụ nào trong cuộc sống? Tương tự,
cũng có hai loại ham muốn. Tuy nhiên, sự thù hận thì bao giờ
cũng là tiêu cực và phá hoại sự hòa hợp.
Làm
thế nào ta có thể giảm bớt sự thù hận? Thù hận thường
theo sau sự giận dữ. Sự giận dữ sinh khởi như là một
phản ứng cảm xúc, và dần dần phát triển thành cảm giác
thù hận. Phương pháp khéo léo ở đây là, trước tiên phải
nhận biết rằng sự giận dữ là tiêu cực. Người ta thường
nghĩ rằng sự giận dữ là một phần gắn liền với chúng
ta, tốt hơn là biểu lộ nó ra, nhưng tôi cho đây là một
sai lầm. Bạn có thể có những phiền hà hay bất bình về
quá khứ của mình, và bằng cách biểu lộ sự giận dữ bạn
có thể chấm dứt những tâm trạng đó. Điều đó rất có
khả năng xảy ra. Tuy nhiên, thông thường thì tốt hơn là
nên kiềm chế cơn giận của bạn, và dần dần, năm này sang
năm khác, nó sẽ tiêu mất. Theo kinh nghiệm của tôi, cách
làm này có hiệu quả tốt nhất khi bạn chấp nhận rằng
sự giận dữ là tiêu cực và tốt hơn là không nên có
nó. Cách nhìn nhận như thế tự nó sẽ tạo ra một sự khác
biệt.
Mỗi
khi cơn giận sắp khởi lên, bạn có thể tự rèn luyện để
nhìn vào đối tượng gây ra cơn giận theo một cách khác.
Bất cứ người hay tình huống nào gây ra cơn giận, xét về
cơ bản đều là tương đối; nhìn từ một góc độ, điều
đó làm cho bạn giận dữ, nhưng nhìn từ một phương diện
khác, bạn có thể phát hiện ra một số điểm tốt đẹp
trong đó. Chẳng hạn như việc chúng tôi mất nước, và trở
thành những kẻ tị nạn. Nếu chúng tôi nhìn vào tình trạng
của mình từ góc độ đó, chúng tôi có thể cảm thấy thất
vọng và buồn nản, nhưng cũng chính sự kiện đó đã tạo
ra nhiều cơ hội mới - như là việc được gặp gỡ những
người từ các truyền thống tôn giáo khác nhau... Phát triển
một cách nhìn sự việc linh hoạt hơn sẽ giúp ta nuôi duỡng
được một thái độ tinh thần cân bằng hơn. Đây là một
phương cách.
Có
những tình huống khác, chẳng hạn như khi bạn ngã bệnh,
càng nghĩ nhiều đến bệnh tình thì sự thất vọng của bạn
càng trở nên tồi tệ hơn. Trong trường hợp như vậy, thật
là hữu ích nếu bạn so sánh tình trạng của mình với viễn
ảnh xấu nhất của căn bệnh, hay với những gì có thể xảy
ra nếu bạn mắc phải một căn bệnh nghiêm trọng hơn nữa...
Theo phương cách này, bạn có thể tự an ủi bằng cách nhận
ra rằng mọi việc có thể đã tồi tệ hơn thế nhiều. Ở
đây một lần nữa, bạn tự rèn luyện để nhìn vào tính
tương đối của tình huống của mình. Nếu bạn so sánh với
điều gì đó tồi tệ hơn rất nhiều thì điều này sẽ lập
tức làm giảm đi sự thất vọng của bạn.
Tương
tự, khi những điều khó khăn xảy đến, chúng có thể có
vẻ như hết sức ghê gớm khi bạn nhìn chúng một cách cận
kề, nhưng nếu bạn tiếp cận cùng một vấn đề từ một
góc nhìn rộng mở hơn, thì nó sẽ có vẻ nhỏ nhặt hơn.
Với các phương pháp này, và bằng cách phát triển một cách
nhìn rộng mở hơn, bạn có thể làm giảm bớt sự thất vọng
của mình mỗi khi phải đối diện với các vấn đề khó
khăn. Bạn có thể thấy rằng cần có sự nỗ lực kiên trì,
nhưng khi bạn áp dụng theo cách này thì tính cách giận dữ
trong bạn sẽ suy giảm đi. Đồng thời, bạn phát triển thêm
lòng từ bi và làm gia tăng tiềm năng tốt đẹp của mình.
Bằng việc kết hợp cả hai phương pháp này, một người
xấu có thể được chuyển hóa thành một người tốt. Đây
là phương pháp được dùng để thực hiện sự chuyển hóa
đó.
Thêm
vào đó, nếu bạn có lòng tin tôn giáo, điều đó có thể
hữu ích trong việc mở rộng những phẩm chất này. Chẳng
hạn, Kinh Thánh Tân Ước dạy ta (khi có người đánh vào má
bên này, hãy) đưa má bên kia ra, rõ ràng cho thấy sự thực
hành nhẫn nhục. Đối với tôi, thông điệp chủ yếu của
Kinh Thánh là lòng yêu thương con người và lý do để ta phát
triển lòng yêu thương này là vì ta yêu kính Chúa. Tôi hiểu
điều này trong ý nghĩa của một tình yêu vô hạn. Những
giáo lý như vậy có sức mạnh rất lớn trong việc tăng cường
và mở rộng các phẩm chất tốt đẹp của chúng ta. Đạo
Phật đưa ra một phương pháp rất rõ ràng. Trước hết, chúng
ta cố gắng xem tất cả chúng sinh đều bình đẳng như nhau.
Sau đó, chúng ta xem cuộc sống của tất cả chúng sinh đều
quý giá như của chính mình, và thông qua điều này, chúng
ta phát triển một ý thức quan tâm đến người khác.
Trong
trường hợp những người không có lòng tin tôn giáo thì thế
nào? Việc tin theo một tín ngưỡng hay không là quyền lựa
chọn cá nhân. Vẫn có thể giải quyết mọi việc mà không
cần đến tôn giáo, và trong một số trường hợp thì điều
đó có thể làm cho cuộc sống trở nên đơn giản hơn! Nhưng
khi bạn không còn quan tâm đến tôn giáo, thì bạn không nên
chối bỏ giá trị các phẩm chất tốt đẹp của con người.
Khi chúng ta là con người, là thành viên của xã hội con người,
ta phải cần tới tình thương con người. Không có tình thương,
ta không thể hạnh phúc. Bởi vì tất cả chúng ta đều muốn
có hạnh phúc, muốn có một gia đình và bạn bè sống trong
hạnh phúc, nên ta phải phát triển lòng từ bi và nhân ái.
Điều quan trọng là phải nhận biết rằng có hai cấp độ
tinh thần, một là có niềm tin tôn giáo và một là không có
niềm tin tôn giáo. Khi không có niềm tin tôn giáo, ta chỉ đơn
giản là cố gắng để trở thành một người giàu lòng nhân
hậu và tình cảm.
Tưởng
cũng nên nhớ rằng, một khi ta nuôi dưỡng thái độ sống
từ bi thì tự nhiên sẽ dẫn đến sự bất bạo động. Bất
bạo động không phải là một cách nói xã giao, mà chính là
lòng từ bi biểu lộ thành hành động. Nếu trong lòng bạn
còn có hận thù, thì hành động của bạn thường là bạo
động; ngược lại, nếu có lòng từ bi thì hành động của
bạn sẽ là bất bạo động.
Như
tôi đã nói, chừng nào con người còn trên trái đất này
thì vẫn luôn có những quan điểm bất đồng và xung đột.
Nếu ta dùng bạo lực để làm giảm các bất đồng và xung
đột thì khi ta phải sẵn sàng hứng chịu bạo lực hằng
ngày, và tôi nghĩ rằng hậu quả của điều đó thật khủng
khiếp. Hơn thế nữa, thực sự không thể xóa bỏ các bất
đồng bằng bạo lực. Bạo lực thậm chí chỉ tạo ra thêm
những oán hận và bất mãn.
Mặt
khác, bất bạo động có nghĩa là đối thoại, tức là dùng
ngôn từ để giao tiếp. Và đối thoại có nghĩa là nhân nhượng
lẫn nhau: có hàm ý lắng nghe quan điểm của người khác và
tôn trọng quyền lợi của họ trong tinh thần hòa giải. Sẽ
không có ai giành được 100% thắng lợi, và cũng không có
ai phải mất hết tất cả. Đó là phương thức thực tiễn,
và trong thực tế đó là phương thức duy nhất. Ngày nay, khi
thế giới trở nên ngày càng nhỏ hơn, các khái niệm “chúng
ta” và “bọn họ” hầu như đã lỗi thời. Nếu các quyền
lợi của chúng ta tồn tại một cách độc lập với quyền
lợi của người khác, thì sẽ có thể có kẻ giành được
tất cả và có người mất hết tất cả. Nhưng vì trong thực
tế tất cả chúng ta đều phụ thuộc lẫn nhau, nên các quyền
lợi của ta và của người khác tương quan rất chặt chẽ
với nhau. Vậy làm sao bạn có thể giành được 100% thắng
lợi? Điều này là không thể được. Bạn buộc phải chia
sẻ, mỗi bên một nửa, hay có thể là 6 phần cho bên này
và 4 phần cho bên kia! Không dùng đến phương thức chia sẻ
này thì sự hòa giải là không thể thực hiện.
Thực
tế của thế giới hôm nay cho thấy chúng ta cần tư duy theo
cách này. Đây là nền tảng cho phương thức của riêng tôi
-- phương thức “trung đạo”. Người Tây Tạng sẽ không
thể giành được 100% thắng lợi, vì dù muốn hay không thì
tương lai Tây Tạng cũng phụ thuộc rất nhiều vào Trung Hoa.
Do đó, trên tinh thần hòa giải, tôi chủ trương một sự
chia sẻ quyền lợi để cho sự tiến bộ thực sự là khả
dĩ. Nhân nhượng lẫn nhau là cách duy nhất. Thông qua phương
pháp bất bạo động chúng ta có thể chia sẻ các quan điểm,
cảm nhận, quyền lợi, và bằng cách này ta có thể giải
quyết được vấn đề.
Đôi
khi tôi gọi thế kỉ 20 là thế kỉ của sự giết hại, của
chiến tranh. Trong thế kỉ này đã có nhiều xung đột, nhiều
sự giết hại và có nhiều vũ khí hơn bao giờ hết. Giờ
đây, trên cơ sở kinh nghiệm mà tất cả chúng ta đã trải
qua trong thế kỉ này, và trên cơ sở những gì chúng ta đã
học được từ đó, tôi nghĩ rằng chúng ta nên hướng về
thế kỉ 21 như là thế kỉ của đối thoại. Nguyên tắc bất
bạo động nên được thực hành ở khắp mọi nơi. Điều
này không thể thành tựu đơn giản chỉ bằng cách ngồi đây
cầu nguyện, mà có nghĩa là phải hành động và nỗ lực,
và nỗ lực nhiều hơn nữa.
Xin
cảm ơn. các bạn.
Phụ
lục 2:
CÁC QUÁN CHIẾU
PHẬT GIÁO
Tiến
sĩ B. Alan Wallace
Do
sự lược yếu một cách bất thường của Hội nghị Tâm
thức và đời sống (Mind and Life Conference) này,[112] chỉ
kéo dài trong 2 ngày thay vì 5 ngày như mọi
cuộc
hội nghị khác trong cùng loạt này, [113] Robert Livington đã
yêu cầu tôi viết một bài kết luận cung cấp thêm về toàn
cảnh và các giải thích rõ hơn các đề tài Phật giáo được
đức Dalai Lama nêu ra trong cuộc hội nghị này. Những gì trình
bày sau đây là sự cố gắng của tôi để đáp ứng mong mỏi
đó, chủ yếu là đề khởi một số quan điểm Phật giáo
nhất định về vấn đề thân-tâm, và ở một vài chỗ cũng
xem lại các xác quyết của khoa học hiện đại dưới ánh
sáng của thế giới quan Phật giáo. Động cơ việc làm của
tôi không phải nhằm chứng minh sự vượt trội của quan điểm
này so với quan điểm kia, mà là để mở ra cho các nhà khoa
học cũng như Phật học những con đường mới trong việc
nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm. Bởi vì tôi tin rằng,
hiện nay ngày càng có nhiều người giống như tôi, đều cảm
thấy rằng khoa thần kinh học hiện đại và Phật giáo có
rất nhiều điều để học hỏi lẫn nhau, không bên nào nắm
giữ phương cách duy nhất để khám phá bản chất thực sự
của tâm thức hay cơ thể.
Thực
tính của khổ
Tứ
diệu đế được biết đến trong vai trò tổng thể như là
một cấu trúc nền tảng của Phật giáo. Tất cả các phần
giáo lý và thực hành của đạo Phật đều được trình bày
trong phạm vi nội dung của bốn chân lý này, cụ thể là sự
thực về khổ đau, sự thực về các nguồn gốc của khổ
đau, sự thực về chấm dứt khổ đau và những nguyên nhân
tiềm ẩn của nó, và cuối cùng là sự thực về con đường
để đạt tới sự chấm dứt đó. Những lời dạy của đức
Phật về bốn chân lý này là: người ta nên nhận biết được
sự thực về khổ đau, loại trừ các nguồn gốc của khổ
đau, hoàn tất sự chấm dứt khổ đau, và nương theo con đường
dẫn tới sự tịch diệt.
Phật
giáo nhận diện hai loại khổ đau: thể xác và tinh thần.
Hai loại này không đồng nhất, bởi vì về mặt thể nghiệm
rõ ràng là người ta có thể khó chịu về thể xác - chẳng
hạn như trong lúc tham gia rèn luyện thể chất rất căng thẳng
- nhưng lại phấn khởi về mặt tinh thần; và ngược lại,
người ta cũng có thể bấn loạn tinh thần trong lúc đang được
thoải mái về thể xác. Điều này lập tức gợi lên vấn
đề về mối quan hệ giữa thân thể và tâm thức. Chúng ta
có các nền tảng chắc chắn để không đánh giá một cách
đơn giản các mức độ lành mạnh của tinh thần và thể
chất là như nhau; và sự thật đó hàm ý một kiểu nhị nguyên
cảm tính giữa thân và tâm. Chủ trương nhị nguyên như vậy
được Phật giáo chấp nhận một cách rõ ràng và không có
nguyên do nào được trình bày trong hội nghị này về việc
tại sao điều đó lại bị bác bỏ bởi khoa thần kinh học
hiện đại.
Nhị
nguyên cảm tính có thể được bao gồm trong phạm trù rộng
lớn hơn của cái khả dĩ được cho là nhị nguyên kinh nghiệm:
Những kinh nghiệm của chúng ta về các hiện tượng vật lý
khách quan hoàn toàn khác với những kinh nghiệm về các hiện
tượng tinh thần chủ quan. Một sự kiện như quả táo rơi
xuống từ trên cây, hay một sự vật như bản thân trái táo,
có vẻ như hoàn toàn khác hẳn với sự thất vọng hay kinh
nghiệm tự tin. Tương tự, có sự khác biệt đáng kể về
mặt kinh nghiệm giữa việc quan sát các tiến trình não một
cách khách quan với việc theo dõi các tiến trình tinh thần
một cách chủ quan. Việc quan sát tiến trình não có những
vị trí cụ thể và bao gồm các thực thể vật chất có hình
dáng, màu sắc, khối lượng, và nhiều thuộc tính vật lý
khác. Các tiến trình tinh thần dường như thiếu hẳn các
thuộc tính vật lý đó, trong khi lại có một số tính chất
riêng biệt không thấy rõ trong các tiến trình não. Các nhà
tu hành Phật giáo đã quan sát tâm thức trong nhiều thế kỉ
nhưng không hình thành lý thuyết nào về não bộ, sự thật
đó hàm ý rằng tri kiến quán chiếu nội tâm không cần thiết
phải soi rọi bất cứ chút ánh sáng nào vào não bộ. Cũng
vậy, việc nghiên cứu riêng về não bộ - độc lập với
tất cả các khoản thể nghiệm về ngôi danh xưng thứ nhất
của các trạng thái tinh thần - không cần thiết tạo ra bất
cứ hiểu biết nào về hiện tượng tinh thần. Như vậy, chủ
trương nhị nguyên kinh nghiệm bảo lưu rằng các hiện tượng
tinh thần và vật lý dường như là khác nhau về mặt thể
nghiệm. Điều này được chấp nhận bởi Phật giáo cũng
như bởi ít nhất một số nhà khoa học trong hội nghị này.
Chủ
trương nhị nguyên kinh nghiệm cũng bao gồm điều có thể
được gọi là nhị nguyên nhân quả, bởi vì hệ thống thân-tâm,
theo cách nói của Allan Hobson, “rõ ràng là chấp nhận hai
kiểu can thiệp khác nhau: sự can thiệp về mặt sinh học và
sự can thiệp về mặt nhận thức”. Lewis Judd tán thành như
vậy khi nhận xét rằng “có bằng chứng là có thể có một
hiệu ứng tổng hợp giữa tâm lý dược học và các dạng
đặc biệt của tâm lý trị liệu”. Bởi vì với sự kết
hợp của cả hai phương pháp, tỉ lệ giảm nhẹ của trạng
thái suy nhược lâm sàng là cao hơn so với người chỉ được
điều trị riêng bằng thuốc. Thêm vào đó, Phật giáo cho
rằng tâm thức chịu ảnh hưởng và cũng đồng thời tạo
ra ảnh hưởng đối với cả hiện tượng tinh thần và hiện
tượng vật lý.
Ta
sẽ làm gì với chủ trương nhị nguyên thân-tâm được công
nhận rộng rãi trong Phật giáo và khoa học hiện đại? Quan
điểm của Trung quán tông, được ngài Dalai Lama tán thành
và được xem là đỉnh cao của triết học Phật giáo Tây
Tạng, cho rằng con người có xu hướng bẩm sinh cụ thể hóa
cả nội dung của kinh nghiệm cũng như chính mình như là chủ
thể đang kinh nghiệm. Theo quan điểm này, trong khi việc nhận
biết sự khác biệt hiển nhiên giữa các sự kiện tinh thần
và vật lý là hữu ích trong các cách thức trên, thì việc
kết luận rằng thiên nhiên tự nó - không phụ thuộc vào
các
cấu trúc nhận thức của chúng ta - đã tạo ra một ranh giới
tuyệt đối nào đó giữa các hiện tượng tinh thần và vật
lý lại là một sai lầm sâu sắc. Do đó, quan điểm Trung quán
dứt khoát bác bỏ chủ trương nhị nguyên thực thể của
Descartes[114] , là chủ trương đã từng bị các nhà thần kinh
học đương thời công khai phê phán. Những người theo Trung
quán tông hoặc những người ủng hộ quan điểm này nêu rõ
rằng: nếu tâm và thân mỗi cái đều tự nó tồn tại - không
phụ thuộc vào các danh xưng theo khái niệm - thì hẳn chúng
đã không bao giờ tương tác với nhau. Do đó, có sự không
tương hợp sâu sắc giữa những gì được nhìn thấy và thực
tại: trong khi tâm thức và vật chất dường như vốn dĩ là
hai kiểu khác nhau của “dạng” tồn tại độc lập, thì
những vẻ ngoài như vậy lại là sai lệch; điều này chỉ
trở nên rõ ràng qua sự phân tích bản thể học về bản
chất của cả hai loại hiện tượng. [115]
Sự
khó khăn trong việc đưa ra bất cứ giải thích nào về sự
tương tác nhân quả giữa thân và tâm nếu cả hai được
xem là những “sự vật” thực hữu và tách biệt đã được
nêu ra một cách rõ ràng trong hội nghị này, và đó là lý
do chủ yếu giải thích tại sao đại đa số các nhà thần
kinh học đã chấp nhận một quan điểm vật lý về tâm thức.
Từ cách nhìn của Phật giáo, trong khi bước này giải tỏa
được sự cần thiết của bất kỳ một cơ chế nhân quả
nào liên hệ giữa một tâm thức phi vật thể với não bộ,
thì nó lại có khuyết điểm là không soi rọi được chút
ánh sáng nào vào bản chất thực sự hay những nguồn gốc
của ý thức. Quả thực, dù thần kinh học hiện đại đã
khám phá nhiều thành tố của bộ não và các tiến trình thần
kinh cần thiết cho việc tạo ra các tiến trình ý thức cụ
thể, nhưng khoa học này không những không đưa ra được sự
giải thích thuyết phục nào về bản chất của ý thức, mà
họ cũng không có bất cứ phương thức khoa học nào để
nhận biết được sự hiện hữu hay vắng mặt của ý thức
trong bất kì một loài sinh vật nào cả. Nhiều năm sau cuộc
hội nghị này, tôi vẫn không nghe có thêm sự giải thích
sáng tỏ nào của các nhà duy vật về ý thức, ngoài những
gì đã nêu ra ở đây, nói rõ hơn, họ cho rằng đó chỉ hoàn
toàn là một điều kiện tự nhiên của bộ não đượchoạt
hóa. Tôi cũng không nghe được gì thêm về nguồn gốc của
ý thức ngoài phát biểu rằng ý thức là một cái gì đó
sinh khởi khi có đủ các tế bào thần kinh cùng với các nối
kết đủ phức tạp để hỗ trợ hoạt động nhận thức.
Những trình bày đó không thực sự giải thích được gì,
và hầu như không thể xem là các lý thuyết khoa học, vì chúng
không thích hợp cho cả việc kiểm nhận hay bác bỏ kinh nghiệm.
Trung
quán tông không chỉ bác bỏ quan điểm rằng tâm thức là
một cái gì đó tự hữu, mà họ cũng phủ nhận một cách
tương tự việc cho rằng các hiện tượng vật lý như ta thể
nghiệm và nhận thức về chúng là các sự vật tự tồn;
thay vì vậy, các hiện tượng vật lý được cho là tồn tại
trong mối quan hệ với các nhận thức và quan niệm của ta.
Những gì ta nhận thức chắc chắn có quan hệ với các kiểu
cách cảm nhận của ta trong việc quan sát, và các cách thức
ta nhận hiểu về các hiện tượng chắc chắn có liên hệ
tới những quan niệm và ngôn ngữ của ta.
Khi
phủ nhận sự tồn tại độc lập của tất cả mọi hiện
tượng làm nên thế giới kinh nghiệm của chúng ta, quan điểm
Trung quán tách rời khỏi cả chủ nghĩa nhị nguyên thực thể
của Descartes lẫn chủ nghĩa đơn nguyên thực thể - tức là
chủ nghĩa duy vật - đó là đặc tính của khoa học hiện
đại. Chủ nghĩa duy vật đề xuất bởi nhiều nhà khoa học
đương thời dường như khẳng định rằng thế giới thực
được cấu thành bởi các thực thể vật lý tự hữu, trong
khi tất cả các hiện tượng tinh thần được xem như chỉ
hoàn toàn là những sự trình hiện, không có bất kì thực
thể nào trong đó và thuộc về chúng. Rất nhiều luận điểm
được hình thành từ sự khác biệt này giữa các trình hiện
và thực tại.
Quan
điểm Trung quán cũng nhấn mạnh sự khác biệt giữa các trình
hiện và thực tại, nhưng theo một cách hoàn toàn khác. Quan
điểm này cho rằng tất cả các hiện tượng tinh thần và
vật lý mà ta kinh nghiệm xuất hiện như thể là chúng tồn
tại trong nhau và thuộc về nhau, hoàn toàn không phụ thuộc
vào kiểu cách hay nhận thức và quan niệm của chúng ta. Chúng
có vẻ như là các sự vật tự hữu, nhưng trong thực tại
chúng tồn tại như là các sự kiện có liên hệ phụ thuộc.
Sự phụ thuộc của chúng có 3 tầng: 1. Các hiện tượng khởi
lên trong sự phụ thuộc vào các ảnh hưởng nhân quả ngay
trước đó, 2. Chúng tồn tại phụ thuộc vào các thành phần
và (hoặc là) các thuộc tính của riêng chúng, (3) các hiện
tượng tạo nên thế giới kinh nghiệm của chúng ta phụ thuộc
vào sự định danh ngôn ngữ và quan niệm của chúng ta về
chúng.
Về
mặt trực giác, sự phụ thuộc ba tầng này không rõ rệt,
vì chúng bị che giấu bởi sự trình hiện của các hiện tượng
như là có khả năng tự tồn và không phụ thuộc vào sự
định danh theo khái niệm. Dựa trên những trình hiện sai lệch
này, cũng là điều hoàn toàn tự nhiên khi nghĩ về các hiện
tượng, hay nắm bắt chúng về mặt khái niệm, như là những
sự vật tự xác định mình trong chính toàn thể ấy. Xu hướng
này được biết tới như là sự vật thể hóa, và theo quan
điểm Trung quán, đây là một sự sai lầm bẩm sinh tạo ra
nền tảng cho vô số các phiền não tinh thần. Sự vật thể
hóa tách rời mọi sự vật ra khỏi toàn cảnh, nhìn các hiện
tượng mà không hề xem xét tới mối quan hệ nhân quả làm
sinh khởi chúng, và cũng không xem xét tới những phương thức
quan sát và hình thành khái niệm cụ thể được sử dụng
để nhận biết chúng. Tên gọi Trung quán được hình thành
là vì quan điểm này cố tránh khỏi hai phía cực đoan: một
bên là vật thể hóa các hiện tượng và một bên là phủ
nhận sự tồn tại của chúng.
Theo
quan điểm Trung quán, các sự kiện tinh thần cũng có thực
tính không khác gì so với các sự kiện vật lý. Trong kinh
nghiệm tri giác thông thường của chúng ta, quả thật có những
kiểu khác biệt giữa các hiện tượng vật lý và tinh thần.
Trong khi các hiện tượng vật lý thường có khối lượng,
vị trí, vận tốc, hình dáng, kích cở, và nhiều thuộc tính
vật lý khác, thì những điều này nói chung không phải là
đặc tính của các hiện tượng tinh thần. Chẳng hạn, ta
thường không nhận biết được tình cảm yêu mến của một
người đối với người khác như là có khối lượng hay vị
trí. Những thuộc tính vật lý này cũng không hợp với các
hiện tượng tinh thần khác như là sự buồn bã, một hình
ảnh được nhớ lại từ thời thơ ấu, hình dung của một
đóa hồng, hay ý thức về bất cứ điều gì. Do đó, các
hiện tượng tinh thần không được xem như là vật thể, bởi
lẽ đơn giản là chúng không có nhiều thuộc tính là đặc
tính chỉ có ở các hiện tượng vật lý. Do đó, Phật giáo
chưa từng chấp nhận các nguyên lý vật lý chỉ xem các vật
thể vật lý mới là có thực. Trở lại với Chân lý thứ
nhất, cả những khổ đau thể chất và tinh thần đều được
thừa nhận, nhưng theo quan điểm Trung quán, chúng đều không
tồn tại như là những sự kiện tự hữu, và do đó, tính
nhị nguyên giữa chúng là một bản tính tương đối, không
phải tuyệt đối.
Sự
thật về nguồn gốc của khổ đau
Cũng
giống như việc thừa nhận hai loại khổ đau - thể chất
và tinh thần - Phật giáo cũng xác nhận sự tồn tại của
cả hai loại ảnh hưởng tinh thần và thể chất là nguyên
nhân làm sinh khởi đau khổ. Chẳng hạn, các tổn thương
vật lý tạo ra đau đớn về thể chất và cũng có thể gây
hậu quả thống khổ về tinh thần. Mặt khác, các thái độ
nhất định như là kiêu ngạo, thiếu tự tin, thèm muốn, thù
địch và ghen tức cũng có thể gây ra sự khổ não về tinh
thần, và những thúc bách tinh thần này cũng có thể dẫn
người ta tới các hành vi tạo ra sự đau đớn thể xác. Cũng
có điều rõ ràng là những đau ốm và tổn thương thể chất
không nhất thiết gây hậu quả buồn đau về tinh thần - chúng
không gây hậu quả như thế cho tất cả mọi người bất
cứ khi nào có các sự kiện vật lý như vậy xảy ra - và
những đau khổ tinh thần cũng có thể sinh khởi ngay cả khi
không có bất kì ảnh hưởng vật lý rõ rệt nào. Chẳng hạn,
người ta có thể cảm thấy buồn khổ sâu sắc vì không nhận
được một cuộc điện thoại từ ai đó. Điều này không
có ý nói là không có các mối tương quan sinh lý học thần
kinh với trạng thái buồn khổ như thế - nghĩa là không có
các sự kiện não bộ có thể là cần thiết cho sự sinh khởi
trạng thái buồn khổ đó - nhưng không có bằng chứng cho
thấy các tiến trình vật lý là những nguyên nhân chính yếu
gây ra sự đau buồn của một người. Thật ra, Phật giáo
Tây Tạng xác nhận rằng tất cả những trạng thái tinh thần
mà con người trải nghiệm quả là có các tương quan sinh lý
trong cơ thể, nhưng không hạ thấp các trạng thái tinh thần
được thể nghiệm một cách chủ quan thành các trạng thái
cơ thể thuần túy khách quan.
Đức
Dalai Lama đã nhiều lần khẳng định rằng, nếu các yếu
tố nào trong Phật học, bao gồm cả quan điểm Trung quán,
bị bác bỏ một cách thuyết phục bởi các chứng cứ thực
nghiệm mới hay lập luận vững chắc, thì những yếu tố
đó phải bị loại bỏ. Nhiều nhà thần kinh học ngày nay
cho rằng các tiến trình tinh thần thực ra không gì khác hơn
là các tiến trình não bộ: Tất cả các hiện tượng tinh
thần hoặc là đồng nhất với các sự kiện não bộ hoặc
hoàn toàn được tạo ra bởi chúng và không hề có sự tồn
tại tách biệt với các sự kiện não bộ. Quan điểm này
không tương hợp với Phật giáo, vậy nên nếu có các lập
luận thuyết phục để chấp nhận nó thì Phật học cần
phải được xem xét lại một cách tương ứng.
Sự
phát triển liên tục về số lượng các khám phá thần kinh
học về sự tương ứng giữa các tiến trình tinh thần nhất
định với các sự kiện thần kinh cụ thể có thể được
diễn dịch hợp lý theo một trong hai cách. Thứ nhất, chứng
cứ này có thể gợi ý rằng các tiến trình tinh thần là
đồng nhất hay ít ra cũng là đi kèm với các tiến trình não
tương ứng. Nếu đúng vậy thì đây có thể xem là chứng
cứ hỗ trợ cho quan điểm duy vật rằng tâm thức chỉ đơn
thuần là một chức năng của não bộ, nhưng chắc chắn đây
không phải là kết luận hợp lý duy nhất có thể rút ra từ
chứng cứ này. Cách diễn dịch khác là, các tương ứng như
thế giữa các tiến trình tinh thần và thần kinh có thể biểu
thị rằng các tiến trình tinh thần xảy ra trong sự phụ thuộc
vào các tiến trình não. Điều này gợi ý về một mối quan
hệ nhân quả giữa hai loại hiện tượng, để ngỏ khả năng
có thể có những nguyên nhân khác - có thể là một bản chất
nhận thức phi vật lý - vốn là cần thiết cho việc tạo
ra các tiến trình tinh thần.
Kinh
nghiệm tri giác thông thường cho thấy rằng các sự kiện
tinh thần và vật lý gây ra các ảnh hưởng nhân quả tác
động lẫn nhau. Từ lâu ta đã biết rằng các kích thích vật
lý từ môi trường và thân thể của chúng ta ảnh hưởng
đến các nhận thức, tư duy và cảm xúc. Và các hoạt động
tinh thần - bao gồm chính các nhận thức, tư duy, và cảm xúc
đó - lại ảnh hưởng đến thân thể. Phật giáo xem các hỗ
tương nhân quả như thế chỉ là giá trị bề mặt; cả tác
nhân vật lý lẫn tinh thần đều không được loại trừ dựa
vào bất cứ giả thiết suy luận nào. Phật giáo xem các sự
kiện tinh thần thể nghiệm một cách chủ quan như là phi vật
thể trong ý nghĩa rằng chúng không tạo thành từ các hạt
sơ cấp; và xem các sự kiện vật lý như là phi tinh thần
trong ý nghĩa rằng chúng không thuộc về bản chất nhận thức.
Theo như kiểu giới hạn của chủ trương nhị nguyên này,
thì loại cơ chế vật lý nào có thể giải thích cho sự tương
tác nhân quả giữa hai loại hiện tượng này? Câu hỏi này
giả định rằng tất cả các nguyên nhân đều đòi hỏi phải
có cơ chế vật lý, nhưng giả định này chưa từng được
các nhà Phật học nêu ra.
Với
tôi, không có bằng chứng cho thấy ngành vật lý đương thời
bác bỏ quan điểm nhị nguyên giới hạn đưa ra bởi quan điểm
Trung quán. Vũ trụ học hiện đại gợi ý rằng thế giới
vật lý có thể đã từng hình thành từ chính không gian, vốn
không bao gồm các hạt tử vật chất và do đó là phi vật
thể trong ý nghĩa của từ ngữ này theo Phật giáo như vừa
nói trên. Nhiều nhà vật lý giờ đây cũng xem thời gian là
rất giống như một chiều của không gian, và ngay cả năng
lượng tự nó cũng không nhất thiết là một thực thể vật
chất hoàn toàn khách quan. Trong khi nguyên lý bảo toàn năng
lượng đã từng được các nhà thần kinh học thừa nhận
như một định luật vật lý loại trừ bất cứ ảnh hưởng
phi vật thể nào trong thế giới vật lý, thì Richard Feynman
(bản thân là một nhà vật lý nổi tiếng) [116] chỉ ra rằng
đây là một nguyên lý toán học và không phải sự mô tả
một cơ chế hay bất kì điều gì cụ thể. Ông nói thêm rằng,
trong vật lý học ngày nay, chúng ta hoàn toàn không biết năng
lượng là gì,[117] để ngỏ khả năng, như các nhà Trung
quán đề xuất, rằng năng lượng theo như ta nhận thức không
phải là một cái gì tồn tại hoàn toàn khách quan như một
thực thể vật lý độc lập. Do nơi khả năng chuyển đổi
giữa khối lượng và năng lượng[118] , điều này cũng làm
nảy sinh những vấn đề lí thú về trạng thái bản chất
của vật chất.
Euan
Squires, một nhà vật lý lý thuyết đương đại, xác nhận
một cách dứt khoát rằng các định luật bảo toàn của vật
lý không nên được dùng như nền tảng vững chắc để bác
bỏ giả thuyết nhị nguyên về tâm thức và vật chất.[119]
Trước khi có công trình của Newton,[120] các nhà vật
lý đã tin rằng tất cả các lực chỉ hoàn toàn là các hiệu
ứng “đẩy xa ra hoặc hút lại gần” của các vật thể
vật chất, nhưng định luật hấp dẫn lực của Newton nói
ngược lại rằng, sự có mặt của một vật thể ở một
nơi có thể gây ra ảnh hưởng đến một vật thể khác trong
khoảng cách rất xa tùy ý, mà không cần đến sự can thiệp
của bất cứ phương tiện hay cơ chế nào. Do đó, Squires chỉ
ra rằng, “chủ trương vật chất” theo cách hiểu hẹp nhất
đã kết thúc vào thế kỉ 17. Tương tự, cho đến cuối thế
kỉ 19, hầu hết các nhà khoa học đều nhìn thế giới theo
quan điểm chủ nghĩa vật chất cơ giới, vốn đòi hỏi một
phương tiện vật chất cho sự truyền ánh sáng. Nhưng nguyên
lý cơ học này cũng trở nên lỗi thời khi Maxwell chứng minh
bằng toán học rằng không hề cần đến phương tiện vật
chất nào cả. Và Michelson [121] và Morley chứng minh bằng thực
nghiệm sự không có mặt của bất kì chứng cứ vật lý nào
cho một phương tiện như thế. Do đó, nguyên lý cơ học cổ
điển đã bị đào thải trong thế kỉ 19 và thậm chí càng
bị chôn sâu bởi các khám phá trong lĩnh vực cơ học lượng
tử của thế kỉ 20. [122]Trong những thí dụ nêu trên,
các giả định dựa vào sự suy đoán đã bị loại bởi những
tiến bộ về tri thức trong tinh thần thẩm vấn khoa học cao
nhất
Trở
lại với sự giải thích của Phật giáo về các tác động
qua lại giữa thân và tâm, nếu các tiến trình tinh thần và
vật lý không ảnh hưởng đến nhau bằng vào một cơ chế
nào đó, vậy làm thế nào chúng tương tác với nhau? Phật
giáo mở đầu bằng việc xác nhận giá trị của kết luận
dựa theo tri giác thông thường rằng các hiện tượng tinh
thần và vật chất có ảnh hưởng lẫn nhau - điều mà các
nhà khoa học trong hội nghị này cũng hoàn toàn thừa nhận.
Sự thừa nhận này dựa trên cơ sở sự giải thích rất rõ
ràng của Phật giáo về quan hệ nhân quả: A chỉ có thể
được xem là nguyên nhân của B nếu (1) A xuất hiện trước
B và (2) khi sự xuất hiện của A bị ngăn chận thì sự xuất
hiện của B cũng bị ngăn chận. Như vậy, lý thuyết hiện
tượng nhân quả này không nhất thiết cần đến một cơ
chế.
Như
đức Dalai Lama đã chỉ ra, có một sự phân chia thành hai lớp
đơn giản của quan hệ nhân quả và điều đó liên quan chặt
chẽ đến bản chất của ý thức. A có thể là nguyên nhân
chính yếu của B, trong trường hợp nó thực sự chuyển dạng
thành B, hay A có thể là nguyên nhân phối hợp của B, trong
trường hợp nó góp phần cho sự xuất hiện của B, nhưng
không chuyển dạng thành B. Vậy, nếu các trạng thái tinh thần
thực sự không gì khác hơn là các trạng thái não bộ, thì
không có vấn đề gì trong việc khẳng định các sự kiện
sinh lý thần kinh trước đó chuyển dạng thành các trạng
thái tinh thần, và vì thế có vai trò như là các nguyên nhân
chính yếu của các trạng thái tinh thần đó. Nhưng để kết
luận chắc chắn rằng các sự kiện tinh thần là đồng nhất
với những sự kiện thần kinh tương ứng của chúng - hay
cho rằng các sự kiện tinh thần đó chỉ đơn giản là một
chức năng hay trạng thái của các trạng thái não bộ tương
ứng - thì phải chứng minh bằng thực nghiệm rằng cả hai
sự kiện xảy ra đồng thời chứ không tiếp nối nhau. Điều
này đòi hỏi phải biết được thời điểm chính xác khi
một sự kiện tinh thần xảy ra và thời điểm chính xác khi
sự kiện thần kinh tương ứng của nó xảy ra, và xác định
xem liệu hai thời điểm đó là đồng thời hay tiếp nối
nhau. Trong phạm vi kiến thức của tôi thì điều này chưa
từng được thực hiện, và tôi cũng không biết phải làm
thế nào để thực hiện được điều này với một độ
chính xác cần thiết. Nếu các hiện tượng tinh thần được
sản sinh từ các hiện tượng thần kinh trước đó, thì cả
hai không thể đồng nhất. Trong trường hợp đó, câu hỏi
hợp lý có thể đưa ra là: Các tiến trình vật lý giữ vai
trò như các nguyên nhân chính yếu hay nhưnhững nguyên nhân
phối hợp cho các tiến trình tinh thần?
Nếu
các sự kiện vật lý trong khi gây ra các hiện tượng tinh
thần phi vật lý sẽ chuyển dạng vào các hiện tượng tinh
thần đó, thì khối lượng và năng lượng của các sự kiện
vật lý đó hẳn phải mất đi trong tiến trình này. Quan điểm
này bị bác bỏ bởi cả Phật giáo lẫn khoa học, dù là với
những lý lẽ khác nhau. Vì thế, Phật giáo đề xuất rằng
các tiến trình vật lý có thể giữ vai trò phối hợp, nhưng
không chính yếu, trong việc gây ra các hiện tượng tinh thần.
Trong khi đó, các sự kiện vật lý thường giữ vai trò như
nguyên nhân chính yếu của những sự kiện vật lý tiếp theo
sau. Nhưng điều này làm nảy sinh câu hỏi: Nếu các tiến
trình vật lý liền trước đó chỉ giữ vai trò như các nguyên
nhân phối hợp, thì điều gì là nguyên nhân chính yếu của
các sự kiện tinh thần, nếu có? Còn nếu các tiến trình
tinh thần không có nguyên nhân chính yếu, thì điều này sẽ
hàm ý rằng chúng khởi lên không từ đâu cả. Phật giáo
bác bỏ khả năng này, cũng giống như đã bác bỏ quan điểm
cho rằng các sự kiện vật lý có thể khởi lên không từ
đâu cả.
Kết
luận của Phật giáo là: các sự kiện tinh thần xảy ra trước
giữ vai trò như các nguyên nhân chính yếu của các sự kiện
tinh thần theo sau. Đôi khi, một số trạng thái tinh thần nhất
định chuyển sang trạng thái tiềm tàng, chẳng hạn như nhãn
thức [123] tiềm ẩn khi ta ngủ. Nhưng dòng tương tục của
tâm thức thì không bao giờ mất đi và cũng không bao giờ
khởi lên không từ đâu cả.
Toàn
bộ nền Phật học đều liên quan đến việc nhận diện bản
chất và nguồn gốc của đau khổ cũng như tìm ra các phương
thức để loại trừ khổ đau tận cội nguồn của nó. Chủ
yếu dựa vào sự khảo sát bằng các phương thức suy nghiệm
và luận lý, Phật giáo quan tâm trước nhất đến các phiền
não tinh thần, phân biệt với các bệnh tật thể chất, và
chú ý tới các nguyên nhân tinh thần của sự đau buồn nhiều
hơn là những nguyên nhân vật lý. Trong việc tìm hiểu các
nguyên nhân vật lý của sự đau khổ tinh thần, Phật giáo
có rất nhiều điều để học hỏi từ khoa thần kinh học
hiện đại. Trong Phật giáo không có điểm nào bác bỏ các
ảnh hưởng của di truyền, sự mất cân bằng điện hóa trong
não bộ và những loại tổn thương não khác góp phần gây
ra các rối loạn chức năng tinh thần, nhưng trước những
chứng cứ thuyết phục như thế, người Phật tử có thể
nêu ra các câu hỏi như là: Nếu hai người cùng chịu một
kiểu rối loạn tinh thần nào đó do di truyền, tại sao một
người gục ngã trước căn bệnh còn người kia thì không?
Tương tự, hai người cùng hứng chịu các loại chấn thương
rất giống nhau, nhưng phản ứng tâm lý của họ có thể rất
khác nhau. Sự giới hạn việc theo đuổi các câu hỏi như
vậy riêng trong phạm vi các nguyên nhân sinh lý có vẻ như
không thỏa đáng, cho dù khuynh hướng siêu hình của người
ấy có là gì đi nữa. Sự xác định một nguyên nhân vật
lý của một rối loạn tinh thần không loại trừ khả năng
còn có các nhân tố tâm lý quan trọng cũng liên quan đến
nó. Vì thế, việc khuyên một người né tránh hay xử lý tốt
một số tình huống có thể dẫn tới các vấn đề tinh thần
nào đó là lời khuyên đúng đắn. Tuy nhiên, đạo Phật chú
trọng nhiều hơn đến việc nhận diện và chữa lành các
tiến trình tinh thần nội tâm làm cho một người dễ bị
tổn thương bởi những tác động từ bên ngoài như thế.
Thay vì cố sức kiểm soát hay tránh né hoàn cảnh bên ngoài,
đạo Phật nhận ra rằng có nhiều tình huống khó khăn bên
ngoài là không thể kiểm soát và đôi khi không thể tránh
né. Do đó, đạo Phật tập trung chủ yếu vào việc tìm hiểu
khả năng linh hoạt của tâm thức, đặc biệt là trong ý nghĩa
làm cho tâm thức giảm bớt được khuynh hướng đau khổ,
bất chấp môi trường xung quanh.
Tóm
lại, Phật giáo nhấn mạnh vào việc kiểm soát tự tâm hơn
là kiểm soát môi trường chung quanh. Đây có thể là lý do
tại sao đức Dalai Lama biểu lộ một mối quan tâm như thế
về các nguyên nhân gây các chứng rối loạn tinh thần, chẳng
hạn như chứng trầm cảm kinh niên, bởi vì Phật giáo quan
tâm đến việc trừ bỏ các nguyên nhân chính yếu của những
rối loạn như thế, không chỉ đơn giản là việc điều trị
các triệu chứng. Bất chấp các tiến bộ y học trong hiểu
biết về chứng trầm cảm kinh niên, Lewis Judd vẫn thẳng thắn
thừa nhận rằng các loại thuốc chống trầm cảm không “chữa
khỏi” các rối loạn này; chúng chỉ “đối phó” hay “kiềm
chế” các rối loạn này khi các thầy thuốc lâm sàng “cố
gắng loại bỏ các triệu chứng”. Điều này trước mắt
có thể là hết sức hữu ích, nhưng nhắm đến lâu dài thì
Phật giáo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định
các nguyên nhân cần và đủ của tất cả các dạng rối loạn
tinh thần với hy vọng rằng chúng có thể bị loại trừ và
người bệnh có thể hoàn toàn bình phục.
Tại
sao y học rất thường tự giới hạn với các giải thích
liên quan đến nguyên nhân vật lý và rất nhanh chóng chuyển
hướng những ảnh hưởng khác sang phạm trù được gọi một
cách hoa mỹ là “các hiệu ứng giả dược” (nên nhớ rằng
giả dược được định nghĩa như là các chất không có những
hiệu quả y học đáng kể)? Tôi ngờ rằng điều này phần
lớn do nơi sự kiện là trong 300 năm theo sau thời kỳ Cách
mạng Khoa học[124] đã không có ngành khoa học nào về
tâm thức ở Tây phương, và trong 100 năm đầu tiên phát triển
ngành tâm lý học thì bản chất, nguồn gốc và hiệu lực
nhân quả của ý thức đã bị bỏ qua một cách phổ biến
với ngoại lệ ngắn ngủi của một vài nhà nội quan học
như William James.[125] Như James đã nhận xét, những hiện
tượng mà ta hết sức chú tâm vào sẽ trở nên có thật đối
với ta, và những hiện tượng mà ta không quan tâm tới sẽ
mờ nhạt đi thành trạng thái của các trình hiện tưởng
tượng, mờ ảo, cuối cùng là tương đương với chẳng có
gì cả.[126] Trong khi não bộ đã trở thành rất thật
đối với các nhà khoa học quan sát nó, thì các tương quan
vật lý của hoạt động tinh thần, do không có được sự
phát triển các kĩ thuật tinh vi tương đương để trực tiếp
thám sát các hiện tượng tinh thần, các hiện tượng chủ
quan như là hình ảnh tinh thần, lòng tin, cảm xúc và chính
tự thân ý thức, đã bị xem một cách phổ biến như các
hiện tượng phụ không thật của não bộ.
Các
thiền giả Phật giáo thì ngược lại, từ lâu đã không lưu
tâm đến các ảnh hưởng của não bộ lên tâm thức, và do
đó cho rằng các ảnh hưởng này, nếu có, là không đáng
kể. Nhưng họ đã phát triển một phạm vi rộng lớn các
phương pháp quán chiếu và suy nghiệm nội tâm để rèn luyện
sự tập trung tâm ý nhằm trực tiếp khảo sát về bản chất,
nguồn gốc và hiệu lực nhân quả của các hiện tượng tinh
thần, bao gồm bản thân ý thức; và để chuyển hóa tâm thức
theo các chiều hướng có lợi. Kinh nghiệm rút ra từ sự thực
hành đạo Phật trong nhiều thế kỷ qua nói lên rằng tâm
thức có thể linh hoạt hơn và tiềm ẩn một năng lực lớn
lao hơn nhiều so với giả định hiện nay của khoa học hiện
đại. Tuy nhiên, như đức Dalai Lama có lần đã nhận xét,
những phát biểu như thế cũng giống như giấy bạc. Nếu
muốn gán một giá trị cho chúng, ta phải xác nhận được
rằng chúng được bảo chứng bởi kinh nghiệm có giá trị.
Chỉ có những kinh nghiệm đó mới là lượng vàng bảo chứng
cho loại tiền tệ là các phát biểu như trên của Phật giáo.
Liệu
khoa nhận thức học hiện đại có đủ hiểu biết về não
bộ và tâm thức để kết luận mà không sợ sai lầm rằng
giả thuyết về một tâm thức phi vật lý là vô ích? Khi được
hỏi chúng ta hiện nay hiểu được bao nhiêu phần trăm về
chức năng của não bộ, nhà thần kinh học Robert Livington trả
lời: “Khoảng 0,5%”, và Lewis Judd cũng tán thành: “Chúng
ta hầu như chỉ mới khảo sát được phần cạn cợt nhất.”
Dù vậy, người ta vẫn có thể theo quan điểm duy vật về
tâm thức trên cơ sở là không có chứng cứ khoa học nào
về sự tồn tại của bất kì một hiện tượng phi vật lý
nào cả, nên giả thiết về một tâm thức phi vật lý không
phải xem xét đến, dù chỉ trong chốc lát. Đây hẳn là một
kết luận rất vững chắc nếu như khoa học phát triển được
các thiết bị để phát hiện sự có mặt của các hiện tượng
phi vật lý và các thiết bị đó xác nhận là không hề có
các hiện tượng này. Tuy nhiên, trong phạm vi hiểu biết của
tôi thì chưa từng có thiết bị nào như thế. Do đó, phát
biểu rằng không có chứng cứ khoa học nào về sự tồn tại
của bất kì hiện tượng phi vật lý nào là vô căn cứ. Nếu
các
nhà thần kinh học đã có một hiểu biết toàn diện về tất
cả các nguyên nhân cần và đủ cho việc tạo ra ý thức,
và nếu tất cả các nguyên nhân đó đều là nguyên nhân vật
lý, thì tất cả các lý thuyết nhị nguyên của tâm thức
và não bộ hẳn phải bị bác bỏ. Nhưng các nhà thần kinh
học hiện thời đồng ý rằng họ còn cách rất xa mục tiêu
đó.
Cũng
thích đáng khi nêu ra rằng, nói một cách nghiêm khắc thì
vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào về sự tồn tại của
ý thức! Các nhà khoa học biết được sự tồn tại của
nó chỉ vì tự mình nhận biết, và họ suy diễn trên cơ sở
không khoa học đó, rằng các sinh vật tương tự khác cũng
có ý thức. Nhưng một thực thể khác phải tương tự như
thế nào với con người mới có thể cho là có ý thức? Khi
xét đến sự có mặt hay vắng mặt của ý thức trong một
bào thai con người chưa sinh ra và trong các loài vật thì không
có được sự nhất trí khoa học, vì lý do đơn giản là không
có phương tiện khoa học nào để phát hiện sự có mặt hay
vắng mặt của ý thức trong bất kì thực thể nào. Điều
này cho thấy sự thiếu thốn tri thức khoa học hiện nay về
bản chất, nguồn gốc và hiệu lực nhân quả của ý thức.
Lưu ý đến điều này, bây giờ chúng ta chuyển sang đề tài
sự chấm dứt của khổ đau và khả năng cósự vắng
bặt của tự thân ý thức.
Sự
thật về sự chấm dứt của khổ đau
Khi
toàn bộ khổ đau đã được nhận diện và các nguyên nhân
cần và đủ của nó đã được phát hiện, câu hỏi Phật
giáo đưa ra là: Có thể nào vĩnh viễn thoát khỏi khổ đau
và cội nguồn của nó hay không? Nhiều nhà khoa học sẽ trả
lời với sự khẳng định nhanh chóng: Khi bạn chết, tất
cả các kinh nghiệm của bạn đều ngưng lại, vì ý thức
tan biến mất. Nói cách khác, sự chấm dứt của khổ đau
xảy ra do sự diệt mất cá nhân. Trong khi điều này thường
được nâng lên thành quan điểm khoa học, thì từ góc nhìn
của Phật giáo, tình trạng thiếu hiểu biết của thần kinh
học hiện thời về nguồn gốc và bản chất của ý thức
tạo ra độ tin cậy rất thấp đối với bất kì kết luận
nào mà các nhà khoa học có thể rút ra về tác động lên
ý thức của cái chết về mặt sinh học. [127]
Phật
giáo Tây Tạng xác nhận rằng trong tiến trình của sự chết,
các giác quan thông thường và năng lực nhận thức trở nên
tiềm tàng. Kết quả cuối cùng của tiến trình này - khi tất
cả năng lực tinh thần bình thường của chúng ta đã mất
đi - không phải là sự đoạn diệt tâm thức, mà là sự hiển
lộ của tâm thức rất vi tế mà từ đó tất cả các tiến
trình tinh thần khởi nguồn. Theo Phật giáo Tây Tạng, sự
hiện diện của tâm thức vi tế này không phụ thuộc vào
não bộ, cũng không đòi hỏi sự mất đi của ý thức. Đúng
hơn, kinh nghiệm của loại tâm thức này là kinh nghiệm của
sự nhận biết trực tiếp và nguyên sơ, được xem như là
nền tảng cấu thành của thế giới tự nhiên. Khi sự nối
kết giữa tâm thức vi tế này và thân thể bị cắt đứt,
cái chết xảy ra. Nhưng tâm thức này không biến mất. Ngược
lại, từ nơi tâm thức này tạm thời khởi lên một “thân
thể tinh thần” (thân trung ấm), tương tự như loại thân
thể phi vật lý mà người ta có trong giấc mơ. Theo sau cái
chết của một người là một chuỗi kinh nghiệm tương tự
như trong giấc mơ, rồi sau đó “thân thể tinh thần” này
cũng “chết đi”, và ngay khoảnh khắc tiếp theo đó thì
đời sống kế tiếp bắt đầu, chẳng hạn như trong tử cung
của người mẹ tương lai. Trong suốt thời gian phát triển
bào thai, các giác quan và năng lực nhận thức khác nhau được
phát triển dựa vào sự thành hình của cơ thể. Nhưng ý thức
tinh thần được cho là đã có mặt từ thời điểm thụ thai.
Những
gì là nền tảng kinh nghiệm của lý thuyết luân hồi vừa
được trình bày sơ lược trên? Nhiều thiền giả Tây Tạng
bậc cao nói rằng họ có thể nhớ lại được các sự kiện
trong lần chết trước đây của họ, những kinh nghiệm tương
tự như trong giấc mơ theo sau đó, và tiến trình của sự
thọ sinh. Trong nhiều trường hợp, họ cũng nhớ lại được
các sự kiện chi tiết từ những kiếp sống quá khứ; vì
theo thuyết này thì các kí ức được lưu giữ trong dòng tương
tục của tâm thức được mang theo từ kiếp này sang kiếp
khác. Những người không tu tập thiền định cũng có thể
có khả năng nhớ lại các tiền kiếp của họ, như trong thí
dụ đức Dalai Lama đã đưa ra về hai cô gái ở Ấn Độ nói
rằng họ nhớ lại được tên của những người họ quen
biết trong kiếp trước. Tuy nhiên, theo Phật giáo thì hầu
hết người ta không thể nhớ được tiền kiếp của họ,
vì các kinh nghiệm đó bị che khuất bởi các kinh nghiệm gần
hơn của đời sống hiện tại, cũng giống như hầu hết những
người lớn chỉ nhớ được rất ít về thời thơ ấu của
chính đời sống này.
Trong
hội nghị này, sự khó khăn của các nhà khoa học trong việc
nhận hiểu khái niệm tâm thức vi tế của Phật giáo có vẻ
như thật kỳ lạ, bởi vì ý niệm về các hiện tượng vật
lý vi tế là phổ biến trong khoa học. Chẳng hạn, trường
điện từ của một đơn điện tử là một hiện tượng vi
tế, chỉ có thể được nhận biết bởi các thiết bị rất
tinh vi. Cũng vậy, ánh sáng từ các thiên hà cách xa hàng tỉ
năm ánh sáng là rất vi tế và chỉ có thể được phát hiện
bởi các kính viễn vọng rất mạnh và tinh vi. Tương tự,
Phật giáo thừa nhận sự tồn tại của các trạng thái vi
tế của sự nhận biết và các sự kiện tinh thần mà chỉ
có thể được phát hiện với sự chú tâm nhạy cảm, tập
trung bền vững. Ý thức thông thường quá thô thiển và không
ổn định nên không thể nhận ra các hiện tượng như thế,
nhưng Phật giáo đã phát minh ra rất nhiều phương thức rèn
luyện sự định tâm - mà khoa học hiện đại không biết
tới - để tâm thức có thể nhận biết chắc chắn các hiện
tượng tinh thần và vật lý ngày càng vi tế hơn.[128]
Trong khi các trạng thái vi tế của sự nhận biết chỉ có
thể được nhận ra bởi sự nhận biết rất tinh tế, thì
ngay cả các trạng thái tinh thần thô thiển nhất, chẳng hạn
như sự giận dữ (có thể được nhận biết chắc chắn một
cách trực tiếp bởi một tâm thức bình thường không tu tập)
thì vẫn không thể phát hiện trực tiếp bởi các thiết bị
vật lý của thần kinh học hiện đại: họ chỉ phát hiện
được các tương quan thần kinh tâm lý của những trạng thái
tinh thần như thế và các biểu hiện vật lý khác có liên
hệ. Do đó, mọi trạng thái của ý thức có thể xem là quá
vi tế đến mức thần kinh học hiện đại không thể phát
hiện.
Trong
khi ở Tây phương niềm tin vào kiếp sau hay sự tương tục
của tâm thức sau khi chết thường chỉ được xem như một
cách hành xử lạc quan của niềm tin, thì Phật giáo trái lại
cho rằng niềm tin vào sự chấm dứt một cách tự động và
vĩnh viễn của khổ đau ở thời điểm chết do sự biến
mất của ý thức chỉ là một cách hành xử lạc quan của
niềm tin mà không có các cơ sở thực nghiệm hay lập luận
thuyết phục nào để hỗ trợ. Phật giáo quả thật có nói
rằng khổ đau cùng với nguồn gốc của nó có thể diệt
trừ tận gốc một cách vĩnh viễn, nhưng điều này đòi hỏi
một sự tinh luyện khéo léo và lâu bền của tâm thức và
sự diệt trừ nguyên nhân căn bản của khổ đau - cụ thể
là vô minh và ảo tưởng - thông qua việc nuôi dưỡng tuệ
giác thiền định và tri thức. Những phương thức để phát
triển một tuệ giác như thế được trình bày trong con đường
hướng đến sự giải thoát của Phật giáo.
Sự
thật về con đường diệt khổ
Theo
Phật giáo Tây Tạng, gốc rễ nền tảng của khổ đau là
một loại vô minh có tính bẩm sinh về bản chất cá tính
của chính mình, ý thức của chính mình, và thế giới mà
mình nhận thức. Truyền thống này xác nhận rằng tất cả
mọi người đều sinh ra với những sự vô minh này, trừ những
người đã được giác ngộ ở bậc cao. Nhưng sự vô minh
này có thể bị suy yếu đi và thậm chí là bị loại bỏ
hoàn toàn. Một cách cụ thể, do ảnh hưởng của sự vô minh
bẩm sinh như vậy, ta bám chấp vào tính nhị nguyên tuyệt
đối của ta và người khác, và điều này lại dẫn tới
sự cụ thể hóa tất cả kiểu loại hiện tượng tinh thần
và vật lý, cũng như là sự phân chia của chính hai phạm trù
tinh thần và vật chất. Theo quan điểm Trung quán, loại vô
minh như thế bị đối trị bởi việc nhận biết rõ cách
thức mà tất cả các hiện tượng, kể cả bản ngã, tồn
tại như là các sự kiện có quan hệ một cách phụ thuộc
lẫn nhau như đã mô tả trước đây trong luận văn này.
Cùng
với sự vô minh bẩm sinh như thế, con người còn là đối
tượng của một loại khổ não tinh thần thứ hai được biết
như là vô minh ức đoán. Không ai sinh ra sẵn có loại vô minh
này, nó thực ra được tiếp nhận thông qua sự truyền bá
và ức đoán sai lầm. Phật giáo luôn cho rằng do kết quả
của việc tiếp nhận các giả định ức đoán không có căn
cứ, ta có thể trở nên nhầm lẫn nhiều hơn so với khi không
nhận được bất kì sự giáo dục chính thức nào.
Vì
vậy, nhiệm vụ đúng đắn của việc rèn luyện trong Phật
giáo là không truyền thụ cho người ta những giáo điều định
sẵn hay một loạt các nguyên lý triết học. Thay vì vậy,
phải khích lệ người ta tự mình khảo sát và kiểm định
các giả thiết được ấp ủ lâu nhất về bản chất của
thực tại. Bằng cách liên tục kiểm tra lại các giả định
của chúng ta qua sự khảo sát khắt khe bằng phương pháp quan
sát cẩn thận và lập luận rõ ràng, ta tự tạo ra khả năng
khám phá và xóa bỏ sự nhầm lẫn do ức đoán của chính
mình. Một khi sự nhầm lẫn này được quét sạch, ta sẽ
đạt đến một mức độ có hiệu quả hơn nhiều trong việc
nhận biết và chế ngự phần vô minh bẩm sinh tiềm ẩn
cùng với những đau khổ tinh thần do nó gây ra. Trong đạo
Phật, sự lành mạnh tinh thần và mức độ trưởng thành
tâm linh có thể được đo lường trong mối quan hệ trực
tiếp với sự thành công của một người trong việc chế
ngự hai loại khổ não tinh thần này.
Trong
khi lưu tâm đến sự phân loại hai lớp vô minh như thế, ta
hãy khảo sát những điểm chung giữa Phật giáo và khoa học
hiện đại như là 2 phương pháp khác hẳn nhau trong việc đối
mặt với thực tại. Một bên sử dụng những phương thức
gắn liền với một hệ thống tư tưởng và bên kia thì bằng
cách theo đuổi các nghiên cứu khoa học. Nhà nhân chủng học
xuất sắc Clifford Geertz [129]nhận xét về vấn đề này:
“Khoa học đặt tên cấu trúc của các trạng thái theo cách
sao cho khuynh hướng hàm ý đối với chúng là vô tư... Nhưng
hệ tư tưởng đặt tên cấu trúc của các trạng thái theo
cách sao cho khuynh hướng hàm ý đối với chúng là sự tin
tưởng.”. Geertz đề cập tới lòng tin tôn giáo như là một
mô thức kiểu mẫu của hệ tư tưởng, và ông lưu ý rằng
điều này có liên quan tới sự thừa nhận trước một quyền
lực chuyển hóa kinh nghiệm. Một cách ngắn gọn, đối với
bất cứ hệ tư tưởng nào, ai muốn hiểu biết thì trước
hết phải có lòng tin.
Khó
khăn của việc tiếp thu một hệ tư tưởng phát sinh khi có
sự khác biệt giữa những gì được tin tưởng với những
gì có thể được xác nhận bởi chứng cứ thuyết phục.
Nhưng cái gì cấu thành chứng cứ thuyết phục và nó được
dành cho ai? Các nhà khoa học tin vào chủ nghĩa duy vật thì
hết sức hoài nghi đối với bất kì chứng cứ nào không
phù hợp với quan điểm đó. Như Allan Hobson nhận xét, tâm
tư của họ phải cởi mở đối với các chứng cứ như thế,
nhưng sự cởi mở đó còn rất hẹp hòi. Mặt khác, các nhà
Phật học Tây Tạng là những người tin vào thuyết luân hồi
thì lại hết sức hoài nghi các khẳng định của khoa học
thần kinh rằng tâm thức chỉ hoàn toàn là một hiện tượng
phụ hay chức năng của bộ não. Do đó, với cùng một chứng
cứ của khoa học thần kinh được đưa ra, các nhà vật lý
thấy đó là chứng cứ thuyết phục để bác bỏ sự tồn
tại phi vật lý của tâm thức, trong khi các nhà Phật học
Tây Tạng theo truyền thống và những người khác không theo
chủ nghĩa duy vật thì không thấy như vậy.
Hầu
hết các nhà khoa học hẳn phải thừa nhận họ không thật
biết rằng ý thức không phải là gì khác hơn một chức năng
của não; và tôi tin rằng hầu hết các nhà Phật học hẳn
cũng thừa nhận họ không thật biết rằng ý thức là một
cái gì đó nhiều hơn là một chức năng của não. Và sự
thuyết phục diễn ra rất mạnh ở cả hai phía, cho thấy rằng
hai bên tin theo các hệ tư tưởng rất khác biệt nhau. Nếu
điều này đúng, thì các nhà khoa học cũng như các nhà Phật
học đều như nhau, cùng có khuynh hướng nghiêng về các hệ
tư tưởng - theo cách nói của Robert Livingston [130] là “các
giả định ức đoán”. Trong khi lịch sử khoa học phần lớn
là việc tự sửa chữa các giả định ức đoán sai lầm,
thì như Robert Livingston chỉ ra, Phật giáo cũng đặt ưu tiên
cao cho việc xóa bỏ các vô minh như thế để có thể loại
trừ vô minh bẩm sinh ẩn sâu hơn nơi cội nguồn của đau
khổ.
Có
lẽ để khảo sát điểm chung này mà đức Dalai Lama đã dẫn
ra sự phân chia ba loại hiện tượng theo Phật giáo. Loại
thứ nhất bao gồm các hiện tượng có thể trực tiếp nhận
hiểu hay chứng minh bằng thực nghiệm. Loại thứ hai là các
hiện tượng được biết qua suy luận hợp lý, nhưng không
trực tiếp. Loại thứ ba bao gồm những hiện tượng được
chấp nhận hoàn toàn dựa trên sự xác nhận hay uy tín của
một người khác. Ngài cũng bổ sung ngay rằng đây không phải
là các phẩm chất vốn có của các loại hiện tượng khác
nhau; mà là tùy thuộc vào sự giới hạn kiến thức của chính
chúng ta. Một sự kiện được một người biết đến hoàn
toàn dựa trên sự xác nhận của người khác (loại thứ ba),
nhưng có thể được một người thứ hai biết đến qua suy
luận (loại thứ nhì); và cùng một sự kiện đó lại có
thể được một người thứ ba nhận biết trực tiếp (loại
thứ nhất). Mọi người đã đồng ý rằng nhiệm vụ của
khoa học là giảm thiểu số lượng các hiện tượng thuộc
loại thứ ba, và cố gắng hết sức để chuyển đổi tối
đa các hiện tượng thuộc loại thứ nhì sang loại thứ nhất.
Điều này thật ra cũng là mục tiêu của đạo Phật.
Bởi
vì Phật giáo được phần lớn Tây phương xem như chỉ đơn
thuần là một tôn giáo, nên nền học thuật của đạo Phật
vẫn được nhiều người xem như là một hệ thống tư tưởng,
ngược lại với kiến thức khoa học. Quả thật, nhiều nhà
Phật học tiếp nhận một cách không phê phán các giáo lý
trong tín ngưỡng của họ như là một giáo điều, mà không
hề đưa ra phân tích bằng lý lẽ hay thực nghiệm. Các hệ
thống tư tưởng thường không dựa trên kinh nghiệm trực
tiếp hay sự phân tích hợp lý và thuyết phục, mà là dựa
trên sự chứng nhận của một người khác, chẳng hạn như
đức Phật, người được xem là có đủ uy tín. Nếu những
lời dạy của đức Phật không được chấp nhận như là
đáng tin cậy, thì nền tảng của hệ tư tưởng này sẽ hoàn
toàn tan biến. Cho dù nhiều Phật tử quả là có chấp nhận
giáo lý nhà Phật theo cách này, nhưng đức Phật từng răn
dạy các đệ tử tin theo Ngài rằng: “Các tỳ-kheo! Cũng như
người khôn ngoan chỉ chấp nhận vàng sau khi đã thử nghiệm
bằng cách nung nóng, cắt gọt, và nén dập nó, những lời
của ta cũng vậy, chỉ được chấp nhận sau khi đã kiểm
tra chúng, chứ không phải do sự tôn kính (đối với ta).”
[131] Do đó, sự tin tưởng không tra xét vào một hệ tư tưởng
chẳng những là không cần thiết trong Phật giáo, mà còn bị
quở trách rõ ràng bởi chính đức Phật!
Trong
khi tri thức khoa học thường được xem như tương đồng với
các khám phá thực nghiệm, với việc liên tục giảm thiểu
sự phụ thuộc vào suy đoán hay sự xác nhận của người
khác, thì tôi tin rằng ngay cả chỉ với một sự kiểm tra
lướt qua về lịch sử khoa học cũng đủ để chứng minh
rằng quan điểm so sánh này không hề chính xác. Với sự chuyên
môn hóa đồ sộ trong các ngành khoa học và khối lượng khổng
lồ các nghiên cứu đã từng thực hiện xuyên suốt lịch
sử và trên toàn thế giới ngày nay thì không một ai có thể
hy vọng xác nhận được bằng thực nghiệm các khám phá của
những người khác trong cộng đồng khoa học. Hơn thế nữa,
nghiên cứu khoa học thực nghiệm tin cậy vào các công cụ
tinh vi của công nghệ, nhưng ít có khoa học gia nào đủ thì
giờ hay có ý muốn kiểm tra kĩ thuật của mọi công cụ mà
họ sử dụng. Để tri thức khoa học có thể tiến triển,
các nhà khoa học ngày càng buộc phải tin cậy nhiều hơn vào
các xác nhận của những đồng nghiệp khoa học và công nghệ
trong quá khứ cũng như hiện tại. Trong hầu hết các trường
hợp, tôi tin rằng sự tin cậy đó là cần thiết, nhưng
nói chung thì như vậy quả thật là tin cậy vào uy tín của
người khác chứ không phải các quan sát của chính mình hay
các lập luận chặt chẽ. Vì điều này là đúng trong giới
khoa học, nên nó còn hoàn toàn đúng hơn đối với cả cộng
đồng xã hội, vốn là nguồn tài trợ cho nghiên cứu khoa
học - người ta xem các nhà khoa học như là những người
có uy tín trong lãnh vực tương ứng của họ và chấp nhận
những lời nói của họ trên cơ sở sự tin cậy đó. Sự
tin cậy này được bảo đảm bởi lòng tin rằng, nếu một
người đã được tham gia sự đào tạo khoa học cần thiết
và tự mình tiến hành một loại nghiên cứu cụ thể nào
đó, thì về nguyên tắc người đó hẳn có thể thẩm tra
kết quả nghiên cứu của những người khác một cách thực
nghiệm, hay ít nhất cũng bằng sự phân tích hợp lý.
Các thiền giả Phật giáo cũng có cùng một sự tin cậy như
thế khi tiếp nhận sự giáo huấn chính thức trong Phật giáo
và cố gắng tự mình chứng nghiệm các khám phá có mục đích
của chính đức Phật về bản chất của khổ đau, nguồn
gốc của khổ đau, sự chấm dứt của khổ đau, và con đường
đi đến sự chấm dứt đó.
Sự
thẩm tra của người Phật tử đối với ba loại hiện tượng
trên được tiến hành bằng vào bốn nguyên lý lập luận
[132] mà đức Dalai Lama chỉ nêu ra một cách vắn tắt trong
cuộc hội nghị này.[133] Để mở rộng một cách tinh
giản những lời giảng của Ngài ở đây, có thể hiểu là
nguyên lý phụ thuộc chỉ cho sự phụ thuộc của các hiện
tượng kết hợp vào các nguyên nhân của chúng, chẳng hạn
như sự phụ thuộc của nhãn thức vào thần kinh thị giác.
Nguyên lý này cũng gắn liền với sự phụ thuộc của bất
kỳ loại hiện tượng nào vào chính các thành phần và thuộc
tính của nó, hoặc phụ thuộc vào các thực thể khác, như
trong sự tương thuộc giữa “lên” với “xuống”, giữa
“cha mẹ” với “con cái”. Nguyên lý về năng lực gắn
liền với hiệu quả nguyên nhân của một hiện tượng cụ
thể, chẳng hạn như khả năng của một hạt bắp tạo ra
một thân cây bắp. Nguyên lý chứng minh hợp lý bao gồm ba
phương thức để người ta xác nhận sự tồn tại của bất
kì điều gì - đó là: trực tiếp nhận thức, suy đoán chắc
chắn, và tri thức dựa vào sự xác nhận. Ba phương thức
này tương ứng với sự phân chia ba loại hiện tượng về
mặt nhận thức như đã nói trên, và rõ ràng là không phải
là về mặt bản thể. Nguyên lý về bản chất chỉ đến
bản chất của các hiện tượng tồn tại trong các đặc tính
riêng và chung của chúng. Chẳng hạn, một đặc tính riêng
của nhiệt là độ nóng và một trong các đặc tính chung của
nó là vô thường. Để minh họa cho nguyên lý này, Đức Dalai
Lama nêu ra sự thật rằng cơ thể là sự kết hợp của các
hạt tử vật chất và sự thật là ý thức hoàn toàn thuộc
về bản chất của sự sáng tỏ và nhận biết. Những sự
kiện này hoàn toàn phải được chấp nhận vì ý nghĩa hiển
nhiên: chúng không được giải thích bởi sự khảo sát các
nguyên nhân của cơ thể và tâm thức hay hiệu quả nguyên
nhân của riêng chúng.
Hãy
áp dụng bốn nguyên lý này vào sự hiểu biết duy vật về
ý thức. Theo quan điểm này, ý thức chỉ đơn thuần là một
điều kiện tự nhiên của não bộ đã hoạt hóa, rất giống
như hơi nóng là một điều kiện tự nhiên của lửa (nguyên
lý về bản chất) Như thế, ý thức tan biến ngay khi não không
còn hoạt động (nguyên lý phụ thuộc), và nó không có hiệu
lực nguyên nhân nào của riêng nó, ngoại trừ não bộ (nguyên
lý về năng lực). Các kết luận này dựa trên những quan
sát trực tiếp của các nhà thần kinh học khi khảo sát về
các mối tương quan giữa tâm thức và não bộ; chúng được
suy đoán ra bởi các nhà triết học hiểu biết về các tương
quan như thế; và chúng được chấp nhận như một sự thật
bởi nhiều người thừa nhận chủ nghĩa duy vật khoa học
mà không tự biết được các sự kiện thực nghiệm hay các
lý lẽ lô-gíc làm nền tảng cho nó (nguyên lý về chứng minh
hợp lý).
Ngược
lại, theo quan điểm Phật học thì ý thức hoàn toàn thuộc
về bản chất sáng tỏ và nhận biết, rất giống như lửa
thuộc về bản chất của nhiệt (nguyên lý về bản chất).
Các trạng thái cụ thể của ý thức khởi lên trong sự phụ
thuộc vào các giác quan, [134] các đối tượng của sự cảm
thụ,[135] và các trạng thái phi vật lý trước đó của
ý thức (nguyên lý phụ thuộc); và rồi các trạng thái ý
thức này lại ảnh hưởng đến những trạng thái tinh thần
và vật lý tiếp theo sau, gồm cả các ảnh hưởng gián tiếp
lên thế giới vật chất bên ngoài (nguyên lý về năng lực).
Các kết luận này được thừa nhận là dựa trên quan sát
trực tiếp của các thiền giả, những người đã thâm nhập
và nhận hiểu một cách thấu đáo về bản chất của ý thức;
chúng được suy đoán ra bởi các nhà triết học dựa trên
cơ sở kinh nghiệm của người khác; và chúng được chấp
nhận như một sự thật bởi nhiều Phật tử tin nhận Phật
học mà không tự biết được các sự kiện thực nghiệm
hay các lý lẽ lô-gíc làm nền tảng cho nó (nguyên lý về
chứng minh hợp lý).
Trong
việc đánh giá hai cách hiểu về ý thức hoàn toàn khác nhau
này, câu hỏi trọng tâm nảy sinh là: Những người nào được
cho là đáng tin cậy trong vấn đề ý thức, dựa trên tri kiến
trực tiếp riêng biệt của họ? Những người Tây phương
hiện đại có thể hết sức hoài nghi bất kì ai tự cho mình
là người đáng tin cậy mà không phải là một nhà thần kinh
học tài ba. Ngược lại, các Phật tử Tây Tạng truyền thống
cũng có thể hoài nghi tương tự đối với bất kì ai tự
cho mình là đáng tin cậy trong vấn đề ý thức mà chưa đạt
được các mức độ thiền định bậc cao để qua đó tự
quay vào quán xét bản chất của tâm thức. Người ta phải
dựa vào những tiêu chuẩn nào để đánh giá ai là người
đáng tin cậy, và ai có thể đưa ra một sự xác nhận đáng
tin cậy? Nói cách khác, những quan sát trực tiếp của ai được
cho là đáng tin cậy? Tôi rất ngờ rằng những giải đáp
cho các câu hỏi trên phải hướng tới vai trò của hệ tư
tưởng, và có lẽ sự thật hóa ra lại là: những ai muốn
hiểu biết - dù là thông qua sự suy đoán hoặc dựa trên sự
xác nhận đáng tin cậy - thì trước hết phải có lòng tin.
Những câu hỏi này chắc chắn là rất đáng để được khảo
sát chi tiết hơn nhiều, đặc biệt là trong khuôn khổ của
cuộc đối thoại giao lưu văn hóa như thế này.
Trước
khi kết thúc, tôi muốn nêu lên một vấn đề cuối cùng,
vốn là trọng tâm của Phật giáo và cũng với chính đức
Dalai Lama, đó là lòng từ bi. Như đức Dalai Lama đã nhiều
lần nhận xét, các lý thuyết triết học và tôn giáo đổi
khác từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác, và các lý
thuyết khoa học phải thay đổi theo thời gian, nhưng tầm quan
trọng của yêu thương và từ bi thì lại không thay đổi trong
suốt lịch sử con người. Con đường đi đến giải thoát
và thức tỉnh tâm linh của Phật giáo Tây Tạng cũng thế,
luôn nhấn mạnh như nhau vào việc nuôi dưỡng tuệ giác và
từ bi. Trong thực tế, tri kiến chứng nghiệm hướng đến
trong đạo Phật được cho là để hỗ trợ và nâng cao lòng
từ bi của con người, và bất cứ quan điểm nào làm suy giảm
lòng từ bi đều được xem là hết sức đáng ngờ.
Có
lẽ là nghĩ đến điều này nên trong hội nghị đức Dalai
Lama đã hỏi những người tham dự Tây phương - những người
luôn quả quyết về sự đồng nhất giữa tâm thức (và hàm
ý một con người) với não bộ - rằng họ có thể cảm thấy
xúc động với một bộ não hay không? Phản ứng chung trong
các nhà thần kinh học có lẽ được biểu lộ rõ nhất bởi
Antonio Damasio: “Điều mà tôi có thể cảm thấy xúc động
phải là một cá nhân cụ thể, một người mà tôi quen biết...
Tôi không thấy xúc động chút nào [với các bộ não]”. Lewis
Judd đã phát biểu trong một kiểu cách tương tự: “Người
y sĩ cống hiến tri thức và kĩ năng của mình vì lợi ích
của bệnh nhân như là một tổng thể, một con người, không
phải vì một bộ phận riêng rẻ hay một cơ quan nào đó...
Bệnh nhân không phải chỉ là một lá gan hay bộ não có bệnh,
hay bất kỳ cơ quan nào... Bệnh nhân là một con người kết
hợp trọn vẹn. ”Nhưng “cá nhân cụ thể” hay “con người
trọn vẹn” này phải tìm thấy ở đâu? Theo chủ nghĩa duy
vật, liệu đây có phải là gì khác hơn một ảo giác không
có cơ sở? Và trong trường hợp nào thì hệ tư tưởng này
không làm suy giảm nghiêm trọng lòng yêu thương và từ bi?
Theo
quan điểm Trung quán, một người không thể được xác định
với chỉ riêng phần tâm thức hay não bộ, hay phần còn lại
của thân thể. Nhưng không có cá nhân nào có thể được
tìm thấy qua sự phân tích bên ngoài thân thể cũng như tâm
thức. Không có “cái tôi”, hay tự ngã nào có thể được
tìm thấy dưới sự khảo sát kĩ lưỡng theo kiểu bản thể
học như thế, vậy nên những người theo Trung quán tông kết
luận, cũng giống như nhiều nhà thần kinh học ngày nay, rằng
bản ngã không tồn tại một cách khách quan hay vốn có, không
liên quan đến sự định danh theo khái niệm. Tuy nhiên, những
người theo Trung quán tông cũng thêm rằng, trong khi không có
ai trong chúng ta tồn tại như những thực thể độc lập,
thì chúng ta quả thật có tồn tại trong mối tương quan qua
lại với nhau. Do đó, ta không tồn tại trong sự cách biệt
xa lạ với các chúng sinh hữu tình khác và với môi trường
quanh ta; thay vì vậy, chúng ta tồn tại trong sự phụ thuộc
sâu sắc lẫn nhau, và nhận thức này được cho là tạo ra
được cảm xúc thương yêu và từ bi sâu sắc hơn nhiều so
với cảm xúc gắn liền với ý thức vật thể hóa về sự
riêng biệt và tự tồn của mỗi cá nhân chúng ta.
Dù
có bất cứ sự hiểu biết mới mẻ nào có thể nảy sinh
từ sự cộng các giữa các nhà Phật học và thần kinh học,
tôi hy vọng là những hiểu biết ấy có thể dẫn dắt chúng
ta trở nên những con người ngày càng tử tế, giàu tình cảm
và biết cảm thông hơn. Tôi xin kết thúc luận văn này bằng
chính những lời kết luận của đức Dalai Lama: “Cho dù lòng
từ bi có tồn tại độc lập trong bản ngã hay không, tôi
nghĩ rằng trong đời sống hằng ngày, chắc chắn lòng từ
bi vẫn là nền tảng cho niềm hy vọng, là nguồn gốc và sự
bảo đảm cho tương lai con người.”
Tài
liệu đọc thêm
•
The World of Tibetan Buddhism, The Dalai Lama, (bản dịch Anh ngữ
của Thubten Jinpa), Wisdom, Boston, 1995
•
The Meaning of Life from a Buddhist Perspective, The Dalai Lama, (Jeffrey
Hopkins biên tập và dịch sang Anh ngữ), Wisdom, 1992
•
Gentle Bridges – Conversation with the Dalai Lama on the Science of the
Mind, (Jeremy Hayward vaø Francisco J Varela biên tập), Shambhala,
USA, 1992
•
Cutting Through Appearances: Practice and Theory of Tibetan Buddhism, (Geshe
Lhundup Sopa and Jeffrey Hopkins biên tập), Snow Lion, New York, 1989
•
Myriad World, Jamgön Kongtrul, Snow Lion, 1995
•
Pure Appearance: Development and Completion Stages in Vajrayana Practice,
H. H. Dilgo Khyentse Rinpoche, Snow Lion, 1996
Thuật
ngữ
Abhidharma:
A-tì-đạt-ma hay Vi diệu pháp
Abhidharmakosha:
At-tì-đạt-ma Câu-xá luận, của ngài Vasubandhu. Bản dịch
Anh ngữ (dịch lại từ bản dịch tiếng Pháp) của Leo M. Pruden,
Abhidharmakoshabhashyam, Berkeley, California, Asian Humanities Press,
1991.
Abhidharmasamuchchaya:
Đại thừa A-tì-đạt-ma tập luận, của ngài Asanga. Bản dịch
Pháp ngữ của Walpola Rahula, Le Compendium de la Super-Doctrine (Philosophie
d” Asanga), Paris, Ecole Française d”Extrême-Orient, 1971. Tên Anh
ngữ là Compendium of Knowledge.
Anatman:
Vô ngã.
Arha:
A-la-hán. Trở thành A-la-hán là mục tiêu cuối của Shravakayna
(Thanh văn). Một dạng Niết-bàn, vượt qua tái sinh nhưng chưa
đạt Phật quả.
Arya:
thánh.
Aryadeva:
Thánh Đề-