[1]
Chữ Đế (諦) tiếng Hán-Việt có nghĩa là xét kỹ,
chăm chú, như đế thính (lắng nghe). Trong Phật giáo, chữ
này thường được hiểu là chân lý. Còn có những tên gọi
khác như Tứ thánh đế, Bốn chân lý cao cả ... (ND)
[2]
Lần gặp gỡ đầu tiên của các lãnh tụ tôn giáo chính và
các nhà lãnh đạo môi trường là ở Assisi, Ý, vào năm 1986,
được tổ chức bởi “The World Wide Fund for Nature”.
[3]
Có sách dịch khác các trường phái kể trên: Vaibhāshika dịch
là Đại trí huệ hay Phân biệt thuyết, Sautrantika dịch là
Tăng-ca-lan-đa. (ND)
[4]
“Không có linh hồn” hay “không có tự ngã” được chuyển
dịch từ thuật ngữ tiếng Phạn, anatman. Giáo lý này là phần
thứ ba trong Tứ pháp ấn (Four Seals), tức là bốn điểm giúp
phân biệt giáo pháp của đức Phật với tất cả những triết
thuyết và tôn giáo khác. Tứ pháp ấn là: Tất cả các pháp
nhân duyên đều vô thường, tất cả các pháp nhiễm ô đều
là khổ, tất cả các pháp đều không có tự ngã (vô ngã),
và Niết bàn là tịch tĩnh.
[5]
Nguyên lý duyên khởi, hay có nguồn gốc phụ thuộc được
dịch từ chữ Phạn Pratiyasamutpada. Đây là luật tự nhiên,
khi mọi hiện tượng phát sinh hay khởi lên đều “phụ thuộc
vào” các nguyên do (nhân) của chúng. Mỗi sự vật khởi lên
đặc trưng do bởi và phụ thuộc bởi sự kết hợp đồng
thời của các nguyên do (nhân) và điều kiện (duyên); không
có nhân duyên, chúng không thể xuất hiện.
[6]
Ở đây muốn nói đến đức Phật Thích-ca Mâu-ni. (ND)
[7]
Danh xưng Phật có nghĩa là người tỉnh thức, giác ngộ (từ
Phạn ngữ bodhi); vì thế, quả vị Phật là trạng thái giác
ngộ.
[8]
“Tịch diệt” ở đây là một thuật ngữ Phật giáo có
nghĩa “hoàn toàn dứt bặt mọi đau khổ”. Luân hồi là
chu kì của đau khổ, và sự chấm dứt chu kì đó, đạt đến
sự vắng lặng, tịch diệt thường được xem là Niết-bàn.
[9]
Xem phần thuật ngữ. (ND) Xem thêm Trung Bộ kinh (Majjhima Nikaya)
I, p.190-191 (bản Anh ngữ), Pali Text Society và Duyên Khởi kinh.
[10]
Xem thêm các phân tích sâu hơn về quá trình của ý thức qua
Abhidharma (A-tì-đạt-ma, A-tì-đàm, hay Vi Diệu Pháp, Thắng
Pháp) hay qua bộ môn Tâm Lý Học Phật giáo. (http://www.thuvienhoasen.org/thangphaptapyeuluan-00.htm
- Thắng Pháp Tập Yếu Luận của Hòa thượng Thích Minh Châu).
Tuy vậy, trong các bộ phái khác nhau có các bộ A-tì-đạt-ma
khác nhau. Các phần tiếp theo của sách này sẽ đề cập tới.
(ND)
[11]
Nguyệt Xứng (Candrakīrti), cũng đọc là Nguyệt Xưng, là một
vị luận sư danh tiếng thuộc phái Trung quán, sống vào khoảng
năm 600 đến 650. Tương truyền ngài sinh ở Nam Ấn Độ, tinh
thông Phật học, đã từng trụ trì chùa Na-lan-đà. Ngài có
nhiều trước tác, trong số đó có bộ Trung quán căn bản
minh cú luận (Prasannapada), cũng dịch là Minh cú luận, hiện
vẫn còn giữ được bản Phạn văn, là bản chú giải cho
bộ Trung luận của ngài Long Thụ. Xem thêm các bài của cư
sĩ Chân Nguyên về Nguyệt Xứng: "http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyệt_Xứng
và Pháp Xứng "http://vi.wikipedia.org/wiki/Pháp_Xứng". (ND)
[12]
Xem thêm "The Two Truths" của Guy Newland, Snow Lion Publications (1992)
Bản Việt dịch của Lê Công Đa nhan đề “Nhị đế”, tại:
"http://www.quangduc.com/triet/57nhide.html". (ND)
[13]
Viết tắt từ nguyên văn Anh ngữ: His Holiness The XIV Dalai Lama.
(ND)
[14]
Pháp Xứng: một luận sư danh tiếng của phái Du-già, sống
vào khoảng thế kỷ 6 - thế kỷ 7. Ngài là người miền nam
Ấn Độ, từng theo học với ngài Trần-na và là một môn
đệ kiệt xuất. Ngài đã biên soạn bộ sách chú giải cho
tập luận của ngài Trần-na là Tập lượng luận. Cuốn sách
chú giải này cũng được gọi là Thích lượng luận, Lượng
bình thích luận hay Lượng thích luận, hiện vẫn còn giữ
được cả bản Phạn văn và Tạng văn. (ND)
[15]
Mười điều bất thiện (Thập bất thiện đạo) mà ta nên
tránh là giết hại, trộm cắp, tà dâm (ba giới về thân),
nói dối, nói vu khống, nói lời vô nghĩa, nói lăng mạ, dèm
pha (4 giới về khẩu), tham lam, sân hận, và cố chấp những
quan điểm sai trái (si) (3 giới về ý).
[16]
Có sách dịch là “Tối thượng Tantra”. Chữ Tối thượng
luận ghép từ hai chữ: uttara (Uất-đà-la) và tantra. Riêng
chữ tantra có nghĩa là những nghi thức hành đạo đặc biệt
để chuyển hóa thân, khẩu, ý. chẳng hạn như mandala (đồ
hình các mạn-đà-la), mantra (Mật chú), mudra (thủ ấn) ...
(ND)
[17]
The Changless Nature, bản dịch của Tối Thượng Luận bởi Ken
và Katia Holmes, Karma Drubgyud Darjay Ling, UK 1985. Trang 135. Tối
Thượng Luận còn được biết dưới tên Ratnagotravibhaga.
[18]
Thập nhị nhân duyên tạo thành chu kì gồm 12 yếu tố của
các kết nối nhân quả trói buộc chúng sinh trong cuộc sống
luân hồi và do đó đau khổ mãi mãi. Các kết nối này được
miêu tả quanh một bánh xe luân hồi; minh họa sáu cảnh giới
của luân hồi và các nguyên do khác nhau của chúng. Các kết
nối được trình bày theo chiều kim đồng hồ là: vô minh,
tác ý hay các sự hình thành của nghiệp, thức (ý thức),
danh sắc, sáu cơ sở của ý thức (lục căn), cảm xúc (thọ),
ham muốn (ái), chấp giữ (thủ), hình thành (hữu), sinh, già
và chết (lão tử). Xem thêm The Meaning of Life from a Buddhist Perspective
của His Holiness the Dalai Lama, bản dịch Anh ngữ của Jeffrey
Hopkins, Wisdom Publications, 1992.
[19]
Chỉ trạng thái không có kiến thức, hiểu biết về chân
lý, hay nói cụ thể hơn là không nhận hiểu được giáo pháp
Tứ diệu đế. (ND)
[20]
Chỉ khả năng của ý thức để lựa chọn, quyết định,
và ý định thực hiện điều gì. Chữ này thường được
dịch là hành, cũng có sách dịch là “tác ý”. (ND)
[21]
Trung quán Cụ duyên (Prāsaṅgika) là một trong 2 chi phái chính
của Trung quán tông (Mādhyamika), có được dịch là Trung quán
ứng thành Quy mậu luận chứng phái, hay Tất quá tánh không
phái, do một luận sư nối dòng Ngài Long Thụ là Phật Hộ
(Buddhapālita) sáng lập. Ngài Phật Hộ sống vào khoảng năm
470 - 540. Chi phái chính thứ hai của Trung quán tông là Tự
lập luận chứng phái, cũng được gọi là Y tự khởi phái.
(ND)
[22]
Shraravakayana thường được dịch là Thanh văn thừa, chỉ những
người nghe pháp tu hành mà thành tựu, cũng thường dùng chỉ
những Phật tử không thuộc Đại thừa. (ND)
[23]
Tà kiến ở đây được chỉ chung cho tất cả những nhận
thức sai lầm hay ảo tưởng, không đúng với sự thật hay
bản chất của thực tại. (ND)
[24]
Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tập luận (大乘阿毗達磨集論)
là bộ luận giải thích tổng quát ý nghĩa kinh Đại thừa
A-tỳ-đạt-ma (大乘阿毗達磨經). (ND)
[25]
Xem trình bày chi tiết về vũ trụ quan Phật giáo bằng Anh
ngữ trong sách Myriad Worlds của Jamgon Kongtrul. Snow Lion, 1995.
[26]
Cõi người là một phần của Dục giới. Vô sắc giới là
cảnh giới vi tế hơn Sắc giới, và Sắc giới lại vi tế
hơn Dục giới.
[27]
Toàn bộ giáo pháp ban đầu của Phật giáo được chia làm
ba phần là Luật tạng, tức là các giới luật, Kinh tạng,
tức là các bài giảng pháp của đức Phật, và Luận tạng
hay A-tì-đạt-ma (Vi diệu pháp) là phần luận giải và các
hệ thống triết học được trước tác bởi các luận sư
Phật giáo. Có hai văn bản giáo điển đầy đủ của Luận
tạng (A-tì-đạt-ma) vẫn còn giữ được đến ngày nay. Một
của bộ phái Theravada (Nguyên thủy bộ) bằng tiếng Pali và
một của Sarv?stiv?da (Nhất thiết hữu bộ) bằng Phạn ngữ.
Tại Tây Tạng chỉ giảng dạy bộ A-tì-đạt-ma của Nhất
thiết hữu bộ. Những vấn đề chính về vũ trụ quan được
trình bày trong chương 3 của tác phẩm A-tì-đạt-ma Câu-xá
luận của ngài Thế Thân (Vasubandhu), đã được Leo Pruden dịch
sang Anh ngữ - Asian Humanities Press, Berkeley California, 1991.
Nhất
thiết hữu bộ: Sarvāstivāda.
[28]
Núi Tu-di được xem là trung tâm của mỗi thế giới. Các châu
lục bao quanh gồm: 1. Phất-bà-đề (弗婆提) tại phương đông
(Pūrvavideha, cũng dịch là Đông Thắng Thần châu - 東勝神洲),
2. Cù-da-ni (瞿耶尼) tại phương tây (Aparagodāniya – cũng
dịch là Tây Ngưu Hóa châu - 西牛貨洲), 3. Diêm-phù-đề (閻浮提)
tại phương nam (Jambudvipa - cũng dịch là Nam Thiệm Bộ châu
- 南贍部洲). 4. Uất-đan-việt (鬱單越) tại phương bắc.
(Uttarakuru - cũng dịch là Bắc Cù Lô châu - ????). Bốn châu
này trong kinh điển thường được gọi chung là Tứ thiên
hạ. (ND)
[29]
Loại khổ này được gọi là khổ khổ, nghĩa là khổ vì
những sự đau đớn tinh thần hay thể xác. (ND)
[30]
Loại khổ này được gọi là hoại khổ, nghĩa là khổ vì
tứ đại trong thân luôn tương khắc, thường biến đổi đi
dần chỗ hoại diệt, và vì những gì ta ưa thích cũng chịu
quy luật của sự thay đổi, hoại diệt.
[31]
Loại khổ này được gọi là hành khổ, nghĩa là khổ vì
sự thay đổi liên tục của mọi thứ, nhân duyên sinh diệt,
vô thường và biến đổi không ngừng.
[32]
Siddhartha, cũng phiên âm là Sĩ-đạt-đa.
[33]
Tức là: già, bệnh và chết. (ND)
[34]
Ở đây chỉ chu kỳ của sinh, già, bệnh và chết. (ND)
[35]
Có sách dịch là Thánh Đề Bà. (ND)
[36]
Sát-na là đơn vị thời gian rất ngắn, thường chỉ được
dùng với ý nghĩa tượng trưng.
[37]
Dịch từ chữ »other –powered :Y tha: phụ thuộc vào cái khác.
Vì một khi sự vật đã sinh khởi thì nó đã hàm chứa đầy
đủ mọi yếu tố dẫn đến sự diệt mất, nên sự phụ
thuộc ở đây là phụ thuộc vào các nguyên nhân dẫn đến
sự sinh khởi. Vì thế, giáo lý này còn được gọi tên là
Y tha khởi. Theo đó, không có bất cứ sự vật nào có thể
tự nó sinh khởi một cách độc lập.
[38]Sáu
nẻo luân hồi (lục đạo -六道) là sáu cảnh giới mà tất
cả chúng sinh tùy theo nghiệp lực phải tái sinh vào. (ND) Theo
Phật giáo Tây Tạng thì mỗi cảnh giới này chịu sự khống
chế mạnh nhất của một tâm niệm xấu cụ thể. Đó là:
cảnh giới địa ngục (tâm sân hận), cảnh giới súc sinh
(tâm ngu si), cảnh giới ngạ quỷ (tâm keo lận), cảnh giới
loài người (tâm tham dục), cảnh giới A-tu-la (tâm ghen tị),
và cảnh giới chư thiên (tâm kiêu mạn).
[39]
Lời dạy này có thể tìm thấy trong kinh Trung A Hàm I (trang
262, Pali Text Society) và Trung Bộ Kinh III (trang 43, Pali Text Society),
và kinh Tạp A Hàm II (trang 28, Pali Text Society).
[40]
Ngũ uẩn bao gồm: sắc - đối tượng của các giác quan; thọ
- các loại tri giác và cảm xúc; tưởng: - ý thức bao gồm
sáu loại sắc, thinh, hương, vị, xúc, và những ấn tượng
tinh thần; hành - những hoạt động tâm lí sau khi có tưởng
bao gồm khái niệm hay hành động như chú ý, đánh giá, vui
thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác...; và thức - các nhận
thức tương ứng nảy sinh từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý. (ND)
[41]
Tâm lý học Phật giáo dựa trên quá trình nhận thức từ
sáu năng lực nhận thức: thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ chạm,
và suy nghĩ. Mỗi năng lực liên quan đến một giác quan (mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, và ý) cùng với một thức nhận biết
hoạt động đặc biệt tương ứng với giác quan đó. Vì thế,
có của thảy sáu thức nhận biết, thức thứ sáu là ý thức,
hay nhận thức tinh thần.
[42]
Xem thêm tác phẩm Consciousness at the Crossroads: Conversations with
the Dalai Lama on Brainscience and Buddhism. Ithaca, NY: Snow Lion, 1999.
của B Alan Wallace, Zara Houshmand, và Robert Livingston. Lời kết
của B. Alan Wallace Buddhist Reflections có đăng trên Internet
(http://www.alanwallace.org/BuddhistRefls.pdf). (ND)
[43]
Thường được phiên âm là Mộc-xoa. (ND)
[44]
Theo Phật giáo Đại thừa, có 10 địa vị tu chứng của hàng
Bồ Tát, gọi là Thập địa (Daśabhūmi). Mười địa vị ấy
bao gồm: 1. Hoan hỷ địa (Pramuditā-bhūmi) 2. Ly cấu địa (Vimalā-bhūmi)
3. Phát quang địa (Prabhākārī-bhūmi) 4. Diệm huệ địa (Arciṣmatī-bhūmi)
5. Cực nan thắng địa (Sudurjayā-bhūmi) 6. Hiện tiền địa
(Abhimukhī-bhūmi) 7. Viễn hành địa (Dūraṅgamā-bhūmi) 8. Bất
động địa (Acalā-bhūmi) 9. Thiện huệ địa (Sādhumatī-bhūmi)
10. Pháp vân địa (Dharmameghā-bhūmi). (ND)
[45]
Tức là trạng thái thân trung ấm (hay trung hữu), là giai đọan
chuyển tiếp của hai trạng thái. Kim cương thừa có đề cập
đến 6 loại Trung ấm: Trung ấm lúc sinh; trung ấm trong giấc
mơ; trung ấm trạng thái định; trung ấm lúc cận tử; trung
ấm của Pháp thân diệu dụng, của Pháp tính; và trung ấm
của sự trưởng thành và tái sinh. (ND)
[46]
Căn bản vô minh (根本無明), Phạn ngữ là mūlāvidyā, theo
Phật Quang Đại từ diển còn có các tên khác là căn bản
bất giác (根本不覺), vô thủy vô minh (無始無明) hay nguyên
phẩm vô minh (元品無明). Tất cả các tên gọi này đều
được dùng để phân biệt với chi mạt vô minh (枝末無明).
Do nơi căn bản vô minh mà sinh ra tất cả các kiến giải,
ý tưởng sai lầm gọi chung là chi mạt vô minh.(ND)
[47]
Phạn ngữ kleśa thường được phiên âm Hán Việt là cát-lệ-xá
(吉隸舍), dịch nghĩa là phiền não, thường chỉ đến tham,
sân, si như là những nguyên nhân làm sinh.khởi các tư tưởng
và cảm xúc gây khổ đau. (ND)
[48]
Dịch từ Phạn ngữ là Karma - Xem thêm bài viết “Phân loại
nghiệp” của tác giả Lâm Như Tạng (<http://www.tongiao.com/phanloainghiep-tiensilamnhutang.htm>).
(ND)
[49]
Thuật ngữ “karma” xuất phát từ chữ Phạn “karman”,
nghĩa là “hành vi”. Nó có ba ý nghĩa chính trong triết học
Ấn Độ. Thứ nhất karma là hành động nghi lễ, đúng hơn
là tế thần, trong buổi đầu của triết lý Vedas (Phệ-đà)
và Mimasa (Di-mạn-sai). Thứ nhì, karma được hiểu như là một
phạm trù đặc biệt của hành vi người, đó là hành vi ô
uế và bị giới hạn, nghĩa này tìm thấy trong Samkhya Yoga
(một trường phái tiền Yoga), Advaita (Bất nhị phái), Bhagavad
Gita (một bản trường ca có tính triết lý cổ Ấn Độ) và
Phật giáo. Ý nghĩa sau cùng, karma không là một hành vi mà
là một lý thuyết về hành vi, đặc biệt lý thuyết về hành
vi như là nguyên nhân quyết định. Ở đây đức Đạt-lai
Lạt-ma đang nói đến ý nghĩa thứ ba này.
[50]
Ba loại hành vi đề cập ở đây tạo thành ba loại nghiệp
báo khác nhau, thường được kinh điển nhắc đến như là
thiện nghiệp, bất thiện nghiệp và vô ký nghiệp. (ND)
[51]
Loại hành vi tinh thần ở đây chỉ cho các ý tưởng, tư tưởng
chưa biểu lộ ra hành động, chúng tạo thành ý nghiệp. Loại
hành vi vật thể bao gồm các hành động cụ thể và lời
nói, tạo thành thân nghiệp và khẩu nghiệp. (ND)
[52]
Tức những hành vi được thực hiện không có tác ý, vì thế
không tạo thành nghiệp. (ND)
[53]
Tức các hành vi tinh thần như đã nói ở trước. (ND)
[54]
Ở đây bao gồm cả thiện nghiệp và bất thiện nghiệp (ND).
[55]
Tức các hành vi tinh thần (không được thực hiện) thuộc
loại không tác ý, chẳng hạn như các ý tưởng không thuộc
về thiện c?ng không phải bất thiện.
[56]
Khái niệm trộm cắp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng,
chỉ chung tất cả mọi hình thức chiếm đoạt tài sản khi
không được sự cho phép của chủ sở hữu. (ND)
[57]
Khái niệm “tà dâm” chỉ chung cho mọi hành vi quan hệ tình
dục bất chính, với những người không phải là vợ hay chồng
mình. (ND)
[58]
Để có sự giải thích chi tiết và trọn vẹn hơn, xin xem
thêm “Con đường đến tự do vô thượng” chương 7 “Nghiệp”.
Tác giả: Đạt-lai Lạt-ma. (http://www.thuvienhoasen.org/conduongdentudovothuong-07.htm).
[59]
Nguyên bản Phạn ngữ Chatuhshatakashastrakarika (Trung đạo Tứ
bách kệ tụng) chương 8, kệ số 15.
[60]
Trong phần trước cũng có nhắc đến việc hư không được
thêm vào với tứ đại (đất, nước, gió, lửa). Như vậy,
trong 5 yếu tố cấu thành vạn vật có cả yếu tố không
gian. (ND)
[61]
Theo vũ trụ quan Phật giáo, mọi thế giới đều trải qua
các giai đoạn: thành, trụ, hoại, không (hay diệt). Vì các
chu kỳ này xoay tròn nối tiếp không ngừng, nên giai đoạn
không cũng chính là khởi điểm của giai đoạn thành
tiếp theo sau đó. (ND)
[62]
Mặc dù nhận thức những khổ đau trong kiếp người, Phật
giáo vẫn cho rằng được sinh làm người là kết quả của
các thiện nghiệp, vì đời sống con người có rất nhiều
sự thuận lợi hơn cho việc tu tập Chánh pháp so với các
loài hữu tình khác. (ND)
[63]
Xem phần phụ lục 2 ở cuối sách, dịch từ luận văn Buddhist
Reflections (http://www.alanwallace.org/BuddhistRefls.pdf) trích trong
tác phẩm Consciousness at the Crossroads: Conversations with the Dalai
Lama on Brain Science and Buddhism. Snow Lion, Ithaca, New York, 1999.
của B Alan Wallace, Zara Houshmand, và Robert Livingston. Tứ diệu
đế
[64]
Về các nguyên lý lập luận được trình bày ở đây, có
thể hiểu rằng: Nguyên lý phụ thuộc chỉ ra sự phụ thuộc
của hiện tượng cấu hợp vào các nguyên nhân của chúng,
chẳng hạn như sự phụ thuộc của thị giác vào thần kinh
thị giác; nguyên lý này cũng gắn liền với sự phụ thuộc
của kiểu hiện tượng bất kì vào chính các bộ phận và
đặc tính của nó, hay vào các thực thể khác, như là trong
sự phụ thuộc của lên với xuống và cha mẹ với
con cái. Nguyên lý về năng lực liên hệ tới hiệu quả
nguyên nhân của hiện tượng đặc trưng, như là khả năng
của một hạt bắp tạo ra một cây bắp. Nguyên lý chứng
minh hợp lý có ba ý nghĩa đối với việc xác lập sự tồn
tại của bất kì vật nào - đó là: trực tiếp nhận thức,
suy đoán vững chắc, và tri kiến dựa trên chứng cứ, mà
tùy theo ba tầng phân lớp có tính tri thức học, ngoại trừ
đặc tính bản thể. Nguyên lý về bản chất chỉ tới bản
chất của hiện tượng, biểu thị các đặc tính riêng và
chung. Chẳng hạn, một đặc tính riêng của sự nóng là tính
chất nóng và một đặc tính chung của nó là không thường
hằng. Đức Dalai Lama trích dẫn các thí dụ về nguyên lý
này như sự thật cơ thể là sự kết hợp của các hạt tử
vật chất và sự thật bản chất của tâm thức là sự sáng
tỏ và nhận biết đơn thuần. Những sự thật này được
chấp nhận một cách đơn giản ở mức giá trị bề mặt:
chúng không được giải thích qua việc truy tìm các nguyên
nhân của cơ thể và tâm thức hay hiệu quả nguyên nhân của
chúng. (ND)
[65]
Xem chi tiết trong chương 3 và 4, A-tì-đạt-ma Câu-xá luận
của Bồ Tát Thế Thân (Vasubandhu).
[66]
Xem thảo luận chi tiết hơn về đề tài này của đức Dalai
Lama trong cuộc đối thoại với David Bohm trong sách Dialogues
with Scientists and Sage: The search for Unity, Renée Weber hiệu đính,
Routledge and Kegan Paul, London, 1986.
[67]
Trung quán Y tự khởi (Svat?ntrika) đôi khi cũng được dịch
là Độc lập biện chứng phái hay Tự lập luận chứng phái.
(ND)
[68]
Mạn-đà-la: Xin xem thêm bài viết về Mandala (http://vietsciences.free.fr/timhieu/trietly-giaoduc/mandala800.htm).
[69]
Tập khí, dịch từ Phạn ngữ là v?san?; chỉ những thói quen,
cách ứng xử được huân tập từ lâu ngày, hoặc thậm chí
là lâu đời, tạo thành những khuynh hướng nhất định thúc
giục ta luôn hành động theo cách phù hợp với khuynh hướng
đó. Tập khí được huân tập ngay trong đời sống hiện tại
gọi là biệt tập khí, chẳng hạn như một người sống
trong quyền thế lâu ngày dễ có thói quen xem thường người
khác và tự cao, ngã mạn... Tập khí sâu xa và vi tế hơn,
được huân tập từ nhiều kiếp sống trước đây được
gọi là thông tập khí.
[70]
Thường gọi là khổ khổ. Xem lại phần nói về ba loại
khổ.
[71]
Định: dịch từ nguyên ngữ samādhi trong tiếng Phạn. Cũng
phiên âm là tam-muội hay tam-ma-đề. Ở đây chỉ trạng thái
tập trung tâm ý. Khái niệm tam-muội hay định trong Phật giáo
được hiểu rộng hơn vì hướng đến một trạng thái định
có chủ đích, và thường được sử dụng như một phương
tiện kết hợp với các pháp tu khác, nên gọi đủ là chánh
định.
[72]Xem
thêm tác phẩm A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, bản dịch của Tuệ
Sĩ (http://www.phatviet.com/dichtht/luan/ln01/cxl.htm).
[73]
Tức là thân nghiệp. (ND)
[74]
Tức là ý nghiệp. (ND)
[75]
Thuật ngữ Niết-bàn (涅槃) được phiên âm từ Phạn ngữ,
trong tiếng Sanskrit là nirvāṇa và tiếng Pāli laø nibbāna,
nên cũng nói đủ là Niết-bàn-na (涅槃那), có thể dịch
nghĩa là tịch diệt hay tịch tĩnh. Nhưng vì khái niệm Niết-bàn
là rất rộng và được hiểu có phần khác nhau ở mỗi trường
phái, nên hầu hết các kinh văn trong Hán tạng đều hạn chế
việc dịch nghĩa từ này mà chỉ dùng trực tiếp cách phiên
âm là Niết-bàn. (ND)
[76]
Thuật ngữ giải thoát (解脫) được dịch nghĩa từ Phạn
ngữ mok?a, phiên âm là mộc-xoa (木叉). Vì thế, trong nguyên
tác dùng cả 2 cách viết mok?a và liberation (giải thoát) với
nghĩa như nhau. (ND)
[77]
Thuật ngữ diệt (滅) được dịch từ Phạn ngữ nirodha, phiên
âm là ni-lâu-đà (尼樓陀). Vì thế, nguyên tác dùng cả 2
cách viết nirodha và cessation (diệt) với nghĩa như nhau. (ND)
[78]
Một ý nghĩa tương tự có thể thấy trong Thiền tông.
Quan điểm chứng ngộ không dựa vào kinh điển được biết
đến bởi bốn câu được xem là của Bồ-đề Đạt-ma, Sơ
tổ Thiền tông Trung Hoa: Giáo ngoại biệt truyền, bất lập
văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. (ND)
[79]
Thuật ngữ Phật giáo gọi loại hiện tượng này là hiện
lượng. (ND)
[80]
Dạng thứ ba của hiện tượng là các « hiện tượng bí ẩn
» , vượt quá tầm của nhận thức trực tiếp và suy luận
logic thông thường. Nói chung, chúng chỉ có thể được thiết
lập dựa trên sự xác quyết của một người khác hay thông
qua sự tin cậy vào kinh điển
[81]
Tên Phạn ngữ của bộ luận này là Abhisamayālaṃkāra-śāstra.
[82]
Đây là quan điểm cụ thể của các trường phái Thanh văn,
đặc biệt là của Tì-bà-sa luận bộ hay Nhất thiết hữu
bộ, và Kinh lượng bộ.
[83]
Ở đây chỉ thế giới được nhận thức theo tục đế, nghĩa
là theo những quy ước được nhận biết trong đời sống
thường ngày; phân biệt với thế giới được nhận thức
theo chân đế, nghĩa là dựa trên bản chất tuyệt đối của
hết thảy mọi sự vật, hiện tượng. (ND)
[84]
Chương 24,bài kệ thứ 18.
[85]
Tức là được sinh khởi một cách phụ thuộc vào các nhân
duyên khác. (ND)
[86]
Phật Hộ (Buddhapālita): luận sư danh tiếng người Ấn Độ,
là người khai sáng Quy mậu luận chứng phái, niên đại được
phỏng chừng trong khoảng năm 470 đến 540. Ngài là đệ tử
của ngài Long Hữu, sau theo học giáo lý Trung quán của ngài
Long Thụ đạt đến chỗ uyên áo. Ngài trước tác sách Phật
Hộ Căn bản Trung luận chú (佛護根本中論注), cho đến
gần đây vẫn còn thấy bản dịch tiếng Tây Tạng. (ND)
[87]
Xem thêm chi tiết mô tả trong bài Khoa Học và Phật Giáo:
Trước Ngã Tư Đường. GS. Trịnh Xuân Thuận . Thư Viện
Hoa Sen http://www.thuvienhoasen.org/khoahocvaphatgiao-txthuan.htm. (ND)
[88]
Tức là xét trong thế giới nhận thức theo tục đế.
[89]
Ở đây chỉ học thuyết Trung quán được ngài Long Thụ trình
bày trong bộ Trung luận.
[90]
tự hữu: trong sách này dùng để chỉ bản chất tự tồn,
không phụ thuộc hay có thuộc tính tự tồn không phụ thuộc
[91]
Đức Dalai Lama muốn nói đến bài “Xưng tụng lưới duyên
khởi” (sPal mar bstod pa), là bài kệ viết về tác phẩm nổi
tiếng Xưng tụng đức Phật và giáo pháp Duyên khởi (rTen
'brel bstod pa) của ngài Tsongkhapa. Ngài Lodr? Gyatso là một vị
đại sư sống vào cuối thế kỷ 19 ở Amdo, thuộc phái Cách-lỗ,
thường được biết đến nhiều hơn với danh xưng là Chone
Lama Rinpoche.
[92]
Thanh Biện (Bhāvaviveka), dịch âm là Bà-tỳ-phệ-già (婆毘吠伽)
hay Bà-tỳ-tiết-ca (婆毘薛迦), dịch nghĩa là Thanh Biện hay
Minh Biện, cũng dịch là Phân Biệt Minh . Ngài là một đại
luận sư của phái Trung quán, sống vào khoảng thế kỷ 6,
người miền Nam Ấn Độ. Các trước thuật của ngài chủ
yếu có Đại thừa chưởng trân luận (2 quyển), Bát-nhã đăng
luận thích (15 quyển). Ngoài ra còn có Trung quán tâm luận
tụng được truyền vào Tây Tạng. (ND)
[93]
Nguyên tác dùng chữ consequentialist, dùng chính lập luận của
đối phương để chỉ ra chỗ không vững chắc của lập luận
đó chỉ đến quan điểm cho rằng việc đánh giá một hành
vi chỉ hoàn toàn dựa vào kết quả của hành vi đó. Quan điểm
này cũng thường được diễn đạt là mục đích biện minh
cho phương tiện, bởi vì những người theo quan điểm này
cho rằng chỉ cần đạt đến một kết quả tốt đẹp thì
cho dù có hành động theo cách nào cũng không quan trọng. Tất
nhiên đây là một quan điểm có phần cực đoan, nên chỉ
được đưa ra để so sánh phần tương đồng (sự nhấn mạnh
vào kết quả) chứ hoàn toàn không có nghĩa cho rằng phương
pháp luận của Cụ duyên phái thuộc loại này.
[94]
Trong nguyên tác dùng thuật ngữ reductio ad absurdum để so
sánh với phương pháp lập luận mang tên này. Trong kinh luận
Hán văn dùng một từ có nghĩa tương đương là quy mậu (歸謬),
nghĩa là hướng đến những điểm sai lầm, ở đây là sai
lầm trong quan điểm của đối phương. Chính vì thế mà phái
này thường được gọi là Quy mậu luận chứng phái (歸謬論證派).
(ND)
[95]
Tam đoạn luận: phương pháp biện luận bao gồm ba luận đề.
Người lập luận căn cứ vào sự xác thật và tương đồng
nhất định của hai luận đề đã có để đưa ra một kết
luận bằng luận đề thứ ba. Ví dụ: 1. Con người ai cũng
sẽ chết; 2. Ông B là con người; (2 luận đề xác thật và
tương đồng) 3. Vậy ông B cũng sẽ chết. Cơ sở của phương
pháp này là: Vì 2 luận đề đã nêu trước là xác thật nên
kết luận được rút ra từ đó cũng xác thật.
[96]
Phật giáo phân biệt hai cấp độ của sự hiểu biết. Sự
hiểu biết dựa vào suy luận, so sánh và phân biệt các khái
niệm (trí tuệ tương đối hay thế trí) và sự hiểu biết
dựa vào trí tuệ giác ngộ hay trực giác giải thoát, không
thông qua bất kỳ hình thức suy luận hay phán đoán, so sánh
nào (trí tuệ tuyệt đối hay xuất thế trí). Cấp độ hiểu
biết dựa vào lý trí có sự giới hạn nhất định của nó,
bởi vì bản thân những tiền đề mà nó dựa vào đã không
phải là những chân lý tuyệt đối. Mặc dù vậy, đây chính
là phương tiện đầu tiên mà người tu học phải dựa vào
để có thể bước đi trên con đường hướng đến sự giải
thoát rốt ráo.
[97]
Khả năng nhận biết đơn thuần: tức trí huệ vô phân biệt.
(ND)
[98]
Trong sách “Niệm ân Đức Phật” của Susanta Nguyễn (<http://www.zencomp.com/greatwisdom/uni/u-9anducphat/00.htm>)
giải thích bốn đặc điểm của giải thoát như sau: 1. Có
năng lực làm cho thoát khỏi phiền não (sự khổ) và ra khỏi
tam giới (Nissaranattho); 2. Có trạng thái yên tĩnh lánh xa sự
khổ (Vivekattho); 3.- Có trạng thái không cho nguyên nhân tạo
thành được (vô sanh) (Asankhatattho); 4. Có trạng thái
không chết, bất diệt (Amatattho). (ND)
[99]
Xem giải thích về các giai đoạn trên con đường tu tập của
Bồ Tát trong kinh Thập địa (Dasabhumika Sutra). Nói chung, có
10 giai đoạn hay 10 địa vị lần lượt được đạt đến
trên đường tu tập là: 1 Phát tâm trụ (發心住); 2. Trị
địa trụ (治地住); 3. Tu hành trụ (修行住); 4. Sanh quý trụ
(生貴住); 5. Phöông tieän cuï tuùc truï (方便具足住); 6.
Chánh tâm trụ (正心住); 7. Bất thối trụ (不退住 ); 8. Đồng
chân trụ (童眞住); 9. Pháp vương tử trụ (法王子住); 10.
Quán đảnh trụ (灌頂住).
[100]
Có 5 giai đọan tu tập theo Kim Cương thừa đó là : Tích lũy
(accumulation), Chuẩn bị (preparation), Tri Kiến (seeing) , Thiền
Định (meditation), và Vô học (No more learning). Có sách còn
dịch là: Tích Lũy, Gia Hành, Kiến, Tu Tập, vô Lậu Học
[101]
Sự phát khởi tâm nguyện chân thật hướng đến việc thành
tựu quả Phật thường được biết đến hơn với thuật
ngữ phát tâm Bồ-đề, và được xem là khởi điểm cũng
như yêu cầu tất yếu của việc thực hành Bồ Tát đạo.
(ND)
[102]
Trong truyền thống Ấn, con đường tu tập theo đạo Phật
được trình bày tổng quát trong Bát chánh đạo, bao gồm
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh
định. Truyền thống Tây Tạng mô tả con đường tu tập theo
Phật gồm Năm giai đoạn: giai đoạn tích lũy, giai đoạn
nối kết, giai đoạn nhìn thấu, giai đoạn thiền định, và
giai đoạn không còn gì để học. Theo cách phân chia này thì
Bát chánh đạo được bao gồm trong giai đoạn thiền định.
[103]
Tuệ giác hay trí tuệ, dịch từ Phạn ngữ là Prajñā, nhưng
theo nguyên tắc “ngũ chủng bất phiên” (5 trường hợp không
chuyển dịch) của ngài Huyền Trang thì nghĩa của từ này
không thể chuyển dịch trọn vẹn (vì quá rộng), nên trong
các kinh điển Đại thừa thường dùng cách phiên âm là Bát-nhã.
Ba pháp tu tập trình bày ở đây thường được biết nhiều
hơn với tên gọi là Tam vô lậu học, gồm có giới học,
định học và tuệ học.
[104]
Nguyên bản Phạn ngữ là Bodhicaryāvatāra, tác giả là ngài
Śāntideva (Tịch Thiên), sống vào khoảng thế kỷ 7 - 8. Bản
dịch Hán ngữ có tên là Bồ-đề hành kinh (菩提行經), do
ngài Thiên Tức Tai dịch vào đời Tống (Đại chánh tạng
quyển 32, kinh số 1662). Gần đây lại có bản dịch Hán ngữ
của Trần Ngọc Giao và bản dịch Việt ngữ của Thích Nữ
Trí Hải, đều lấy tựa đề là Nhập Bồ Tát hạnh. Bản
dịch tiếng Tây Tạng có tựa đề Byaṅ-chub-sems-dpaḥispyod-pa-la
ḥjug-pa. Ngoài ra, sách này còn được dịch sang các ngôn ngữ
khác như Mông Cổ, Pháp, Đức, Nhật... (ND)
[105]
Tantra: với nghĩa của một bộ phái có thể dịch là Mật
tông, nếu trong giáo nghĩa thì có sách dịch là Mật điển.
(ND)
[106]
Trong Kim Cương thừa các hình tượng này thường là những
biểu tượng của các vi phật hay bồ tát như là A-di-đà,
Quán Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi, Đại Nhật, Bảo Sinh, ... (ND)
[107]
Gelug, hay Gelugpa, một trong các tông phái chính của Phật giáo
Tây Tạng, được phiên âm là Cách-lỗ. Phái này do chính ngài
Tsongkhapa (1357-1419) sáng lập. Vị đại sư này thường được
biết đến với tên phiên âm là Tông-khách-ba. (ND)
[108]
Śākya, được phiên âm là Tát-ca. Tên gọi ??kya được đặt
theo tên tự viện chính của phái này là Sakya, thành lập vào
năm 1073. (ND)
[109]
Kagyu, được phiên âm là Ca-nhĩ-cư, do ngài Marpa Lotsawa (1012-1097)
sáng lập, và là một trong các tông phái lớn nổi tiếng của
Tây Tạng, với sự truyền thừa qua hình thức tái sinh của
các vị Karmapa (Cát-mã-ba). Vị Karmapa thứ nhất là Düsum Khyenpa
(1110-1193) được tin là đã liên tục tái sinh qua 16 lần, nay
là vị Karmapa thứ 17 mang tên Urgyen Trinley Dorje, sinh năm 1985
và hiện vẫn đang giữ cương vị đứng đầu phái này. (ND)
[110]
Kriya tantra được dịch sang Anh ngữ là Action tantra, mang nghĩa
là Mật điển Hành động. Carya tantra được dịch sang Anh
ngữ là Performance tantra, theo Thích Trí Hải dịch là Mật điển
thiên về tư duy. Chữ Yoga được phiên âm thành Du-già; và
Highest Yoga tantra được dịch là Tối thượng Du-già tantra
(Anuttarayogatantra). (ND)
[111]
Nhập Bồ-đề hành luận của Tịch Thiên (Shantideva), chương
X (Hồi hướng), thi kệ số 55.
[112]
Nội dung cuộc hội thảo này được ghi lại trong tập sách
Consciousness at the Crossroads, do Snow Lion Publications (Ithaca, New
York) ấn hành. Phần phụ lục này là chương thứ 15, cũng
là chương cuối cùng của tập sách, được chúng tôi chuyển
dịch sang Việt ngữ với sự cho phép chính thức của Tiến
sĩ B. Alan Wallace. (ND)
[113]
Đây là một loạt hội thảo với cùng chủ đề chính là
Tâm thức và đời sống (Mind and Life) và cùng có sự tham dự
của các nhà khoa học hàng đầu thế giới về các chuyên
ngành liên quan như Tâm lý học, Thần kinh học..., cùng với
các nhà Phật học mà đại diện là đức Dalai Latma và các
vị Lạt-ma cao cấp khác. Cuộc hội thảo đầu tiên trong loạt
này được tổ chức vào tháng 10 năm 1987, lần thứ 2 vào
tháng 10 năm 1989, lần thứ 3 vào năm 1991, lần thứ 4 vào năm
1993. Nội dung các cuộc hội thảo này được được ghi lại
thành sách và đã phát hành vão những năm sau đó. Quý vị
có thể tìm đọc các bản Anh ngữ với nhan đề: Gentle Bridges:
Conversations with the Dalai Latma, Consciousness at the Crossroads, Healing
Emotions, Sleeping, Dreaming and Dying. (ND)
[114]
René Descartes (1596 - 1650), một triết gia và là nhà toán hocï
lỗài lạc người Pháp. Ông được xem là cha đẻ của bộ
môn Hình học giải tích hiện đại đoồng thời là người
chủ trương quan điểm triết học nhi nguyên cho răng bên cạnh
vật chất thì tâm thức là loại vật thể phi vật lý tự
thấy biết (self awareness) (ND.
[115]
Điều này không phủ nhận việc trên bình diện tương đối
hay theo truyền thống Trung quán tông quả thật có thừa nhận
sự phân cách giữa các hiện tượng tinh thần và vật chất.
Tuy nhiên, theo quan điểm của Phật giáo Mật tông được chấp
nhận bởi đức Đạt-lai Lạt-ma và hầu hết các nhà Phật
học Tây Tạng khác, thì sự phân cách này không rõ rệt như
sự phân cách giữa các thực thể hữu tình và vô tình. Điều
này là do tất cả các sự kiện tinh thần về cơ bản đều
sinh khởi từ năng lượng cực vi tế của tâm thức (tiếng
Tây Tạng là shin tu phra ba'i rlung sems), vốn là một thực thể
nguyên sơ gồm đủ các tính chất vật lý và nhận thức.
Thế giới vật thể cũng được cho là sự biểu hiện sáng
tạo (Tiếng Tây Tạng là rtsal or rol pa) của cùng một năng
lượng tâm thức này. Vì thế, theo Kim cương thừa thì sự
khác biệt ước lệ giữa tâm thức và vật chất chính là
dựa trên một sự thống nhất về cơ bản.
[116]
Richard P. Feynman (1918-1988), nhà vật lý người Mỹ, đoạt giải
Nobel Vật lý vào năm 1965 Nobel cùng với một người Mỹ khác
là Julian S. Schwinger và một người Nhật là Tomonaga Shin'ichiro.
(ND)
[117]
Xem The Feynman Lectures on Physics (Reading, Mass.: Addison-Wesley, 1963),
trang 42, tác giả R. P. Feynman, R. B. Leighton và M. Sands.
[118]
Sư chuyển hóa giữa khối lượng và năng lượng được nhà
vật lý lỗi lạc Albert Einstein (1879 - 1955) mô tả trong thuyết
tương đối hẹp của ông E = mc2. Trong đó, E là năng lượng
m là khối lượng và c là hằng số vận tốc ánh sáng. Nguyên
lý này là tiền đề cho việc tạo ra bom nguyên tử cũng như
các nhà máy điện nguyên tử ngày nay.
[119]
Xem Conscious Mind in the Physical World (Bristol: Adam Hilger, 1990),
trang 22, tác giả Euan Squires.
[120]
Isaac Newton (1642-1727), người Anh, là nhà vật lý, toán học
và triết học tự nhiên, là một trong các nhà khoa học vĩ
đại nhất. Ông đặt nền tảng cho cơ học và giải
tích toán học cổ điển. Định luật hấp dẫn được ông
tìm ra vẩn có giá trị trong vật lý hiện đại cho rằng hai
vật thể vất kì sẽ hút nhau 1 lực tỉ lệ thuận với khối
lượng và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa
chúng (ND)
[121]
Albert A. Michelson (1852-1931), nhà vật lý người Mỹ gốc Đức,
đoạt giải Nobel Vật lý năm 1907. (ND)
[122]
Tiến sĩ Alan Wallace đã khảo sát toàn diện chủ đề này
từ quan điểm Phật giáo trong sách Choosing Reality: A Buddhist
View of Physics and the Mind. (Ithaca, Snow Lion, 1996).
[123]
Nhãn thức: năng lực nhận biết hình sắc. Phật giáo quan
niệm có những năng lực nhận biết khác nhau đối với các
đối tượng khách quan, như nhãn thức là năng lực nhận biết
hình sắc, nhĩ thức là năng lực nhận biết âm thanh... cùng
với tỉ thức (nhận biết mùi hương), thiệt thức (nhận
biết vị nếm), thân thức (nhận biết sự xúc chạm) và ý
thức (nhận biết các tư tưởng) tạo thành sáu thức (Lục
thức), tương ứng với sáu trần (Lục trần) là 6 đối tượng
khách quan vừa kể. (ND)
[124]
Thời kỳ Cách mạng Khoa học (Scientific Revolution): giai đoạn
được xác định vào khoảng năm 1500 đến 1700, là thời kỳ
các nền tảng khoa học hiện đại được thiết lập ở Tây
Âu. (ND)
[125]
William James (1842-1910), triết gia người Mỹ và là nhà tâm
lý học, người đã phát triển triết lý của chủ nghĩa thực
nghiệm. (ND)
[126]
Xem “The Perception of Reality” trong sách The Principles of Psychology
(New York: Dover Publications, 1950) của William James, trang 290-291.
[127]
Về cơ bản, Phật giáo không cho rằng “chết là hết”.
Vì thế, cái chết mà chúng ta nhìn thấy được chỉ được
xem là cái chết của thân xác, hay cái chết về mặt sinh học
mà thôi. (ND)
[128]
Các phương thức này được bàn đến một cách chi tiết trong
tác phẩm The Bridge of Quiescense Experiencing Tibetan Buddhist Meditation
(Chicago: Open Court, 1997) của B. Alan Wallace.
[129]
Clifford Geertz, nhà nhân chủng học người Mỹ, sinh năm 1926
và mất năm 2006. Ông đã có những đóng góp quan trọng mang
tính cách mạng về quan điểm trong ngành học này vào những
năm 70 của thế kỷ trước. (ND)
[130]
Robert Livingston: đồng tác giả của tác phẩm Consciousness at
the Crossroads, biên soạn cùng với tiến sĩ B. Alan Wallace.
[131]
Câu này thường được trích dẫn trong kinh văn Tây Tạng,
được trích từ bản sớ giải Vimalaprabhā về Kālacakra, mặc
dù nó cũng thấy xuất hiện trong Kinh tạng Pali. Phần tiếng
Sanskrit được trích dẫn trong Tattvasaṃgraha, do D. Shastri biên
tập (Vārāṇasī: Bauddhabharari, 1968), k. 3587.
[132]
Xem lại phần Nghiệp và thế giới tự nhiên. (ND)
[133]
Đức Dalai Latma đề cập đến 4 nguyên tắc này đầy đủ
hơn trong tác phẩm The World of Tibetan Buddhism (Boston: Wisdom, 1995),
trang 47-49, nhưng chúng còn được thảo luận chi tiết hơn
nữa trong bài luận văn của Matthew Kapstein: Mi-pham's Theory
of Interpretation, trong tác phẩm Buddhist Hermeneutics, được
biên tập bởi Donald S. Lopez, Jr. (Honolulu: University of Hawaii
Press, 1988), trang 152-161.
[134]
Thuật ngữ Phật học gọi là các căn, bao gồm 6 căn (lục
căn) là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý (nhãn căn, nhĩ căn,
tỉ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn).
[135]
Thuật ngữ Phật học gọi là các trần, bao gồm 6 trần (lục
trần) là hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc
chạm và các ý tưởng (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).