Chương v.
VĂN-THÙ-SƯ-LỢI THĂM
BỆNH[1]
Lúc
ấy, Phật nói với Văn-thù-sư-lợi[2]:
«Ông
hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.»
Văn-thù
đáp:
«Bạch
Thế Tôn, với bậc Thượng nhân ấy, không dễ đối đáp.
Vì ông đã thâm nhập thật tướng, thuyết giảng tài tình
các yếu nghĩa của Phật Pháp. Tài biện thuyết của ông thông
suốt, trí tuệ của ông vô ngại. Ông biết rõ Bồ tát đạo
vì đã bước vào kho tàng huyền nhiệm của chư Phật. Ông
đã hàng phục mọi tà ma; du hý thần thông,[3] trí tuệ và
phương tiện đều sở đắc vẹn toàn.[4] Tuy vậy con sẽ vâng
Thánh chỉ đến thăm bệnh ông.»
Bấy
giờ, trong chúng, các vị Bồ tát, đại đệ tử của Phật;
Đế Thích, Phạm thiên, cùng bốn vị Thiên vương, thảy đều
tự nghĩ: «Nay hai vị Đại sỹ Văn-thù và Duy-ma-cật gặp
nhau, ắt sẽ nói Pháp vi diệu.» Cho nên tám ngàn Bồ tát,
năm trăm Thanh-văn và hàng trăm ngàn thiên vương đều muốn
đi theo Văn-thù-sư-lợi.
Vậy
là Văn-thù-sư-lợi được chư Bồ tát, đệ tử Phật, hàng
trăm nghìn trời và người đều muốn đi theo. Rồi thì, Văn-thù-sư-lợi
cùng với đoàn tùy tùng cung kính vây quanh gồm các Bồ-tát,
chúng Đại Đệ tử, và các trời, nguời, cùng vào thành lớn
Tỳ-da-li.
Lúc
bấy giờ, Trưởng giả Duy-ma-cật tâm niệm: «Văn-thù-sư-lợi
và đoàn tùy tùng đang đến.» Ông bèn dùng thần lực khiến
cho nội thất trống rỗng. Tất cả đồ đạc cho đến gia
nhân đều mất hết. Chỉ đặt mỗi cái giường bệnh để
nằm mà thôi.
Văn-thù-sư-lợi
đi vào nhà, thấy căn nhà trống không, không có gì cả, chỉ
một mình Duy-ma-cật nằm trên giường bệnh.
Duy-ma-cật
nói:
«Xin
chào ngài Văn-thù-sư-lợi. Ngài bằng tướng không đến mà
đến, tướng không thấy mà thấy[5].»
Văn-thù-sư-lợi
đáp:
«Thật
như vậy, Cư sĩ, nếu đã đến thì không còn đến nữa. Nếu
đã đi thì không còn đi nữa.[6] Vì sao? Đến, không từ đâu
đến. Đi, không đi đến đâu.[7] Cái đã có thể bị thấy
thì không còn bị thấy nữa. Nhưng hãy gác việc này qua một
bên. Cư sỹ, bệnh của ông, có kham nỗi không? Việc điều
trị thế nào, có thuyên giảm chứ không tăng phải không?
Thế Tôn ân cần gởi lời hỏi thăm vô lượng.[8] Cư sĩ,
vì sao ông mắc bệnh? đã lâu chưa? chừng nào sẽ hết?»
Duy-ma-cật
đáp:
«Si
và hữu ái là nguồn gốc của bệnh tôi.[9] Vì hết thảy
chúng sinh bệnh mà tôi bệnh. Bao giờ hết thảy chúng sinh
đạt đến chỗ không bệnh, bệnh tôi sẽ hết. Vì sao? Bồ
tát, vì chúng sinh mà đi vào sinh tử. Có sinh tử thì có bệnh.
Nếu hết thảy chúng sinh được thoát ly bệnh khổ thì Bồ
tát không còn bệnh. Ví như, vị trưởng giả chỉ có đứa
con một; khi người con ấy bị bệnh, cha mẹ nó cũng bị bệnh.
Nếu nó bình phục, cha mẹ nó khỏe. Cũng vậy, Bồ tát yêu
thương chúng sinh như cha mẹ yêu con, nên chúng còn bệnh thì
Bồ tát còn bệnh; khi chúng hết bệnh, Bồ tát khỏe! Câu
hỏi tiếp theo là, bệnh của Bồ tát từ đâu phát sinh? Bệnh
của Bồ tát xuất phát từ tâm đại bi.»
Văn-thù-sư-lợi
hỏi: «Sao thất này trống không và chẳng có người hầu?»[10]
Duy-ma-cật
đáp: «Quốc độ của chư Phật nào mà chẳng trống không.»
Lại
hỏi: «Quốc độ của chư Phật do cái gì mà không ?»[11]
Lại
đáp: «Vì không nên không.»[12]
Lại
hỏi: «Đã Không, cần gì Không nữa?»[13]
Lại
đáp: «Vì vô phân biệt Không, cho nên Không.»[14]
Lại
hỏi: «Không,[15] có thể phân biệt ư ?»
Lại
đáp: «Mọi phân biệt cũng không.»
Lại
hỏi: «Phải tìm Không ở đâu?»
Lại
đáp: «Phải tìm trong sáu mươi hai kiến chấp.»[16]
Lại
hỏi: «Sáu mươi hai kiến chấp phải tìm ở đâu?»
Lại
đáp: «Nên tìm trong giải thoát của chư Phật.»
Lại
hỏi: «Tìm sự giải thoát của chư Phật ở đâu?»
Lại
đáp: «Nên tìm trong tâm hành của hết thảy chúng sinh.»
Và
ông tiếp: «Ngài có hỏi sao tôi chẳng có gia nhân. Vâng, thì
bọn Ma và các Ngoại đạo là gia nhân của tôi. Vì sao? Vì
bọn Ma ưa sinh tử mà Bồ tát chẳng xả bỏ sinh tử. Ngoại
đạo ham kiến chấp mà Bồ tát bất động[17] trong mọi kiến
chấp.»
Lại
hỏi: «Bệnh của cư sĩ thuộc tướng gì?»
Lại
đáp: «Bệnh tôi vô hình, không thể thấy.»[18]
Lại
hỏi: «Bệnh này hiệp với thân hay hiệp với tâm?»[19]
Lại
đáp: “Nó không phải thân hiệp vì nằm ngoài thân. Cũng
không phải tâm hiệp vì tâm vốn như huyễn.[20]»
Lại
hỏi: «Trong bốn đại[21], đất, nước, lửa, gió, bệnh thuộc
đại nào ?»
Lại
đáp: «Bệnh ấy không phải địa đại cũng không lìa địa
đại. Thuỷ, hỏa, phong đại cũng vậy. Nhưng bệnh của chúng
sinh phát sinh từ bốn đại. Vì chúng sinh ấy có bệnh, nên
tôi bệnh.»
Bấy
giờ Văn-thù-sư-lợi hỏi Duy-ma-cật[22]: «Bồ tát nên vấn
an một Bồ tát đang thọ bệnh như thế nào?»
Duy-ma-cật
nói: «Nói về sự vô thường của thân mà chớ nói ghê tởm
và từ bỏ thân. Nên nói về thân khổ đau mà không nói Niết-
bàn an lạc. Nói về vô ngã của thân mà vẫn nói về sự
giảng dạy và hướng dẫn chúng sinh[23]. Nói về thân không
tịch mà không nói rốt ráo tịch diệt. Nói về sám hối tội
lỗi trong quá khứ nhưng không nói nhập vào quá khứ.[24] Vì
đã bệnh nên thương cảm người đang mắc bệnh kia. Biết
rằng mình đã chịu đau khổ từ vô lượng quá khứ; mà làm
lợi ích cho hết thảy chúng sinh. Nên nghĩ nhờ phước mà
mình đã tu mà suy niệm về mạng thanh tịnh.[25] Chớ sinh buồn
phiền bức rức, mà hãy thường xuyên phát khởi tinh tấn.
Nên hành động như bậc y vương để cứu chữa bệnh người.
Bồ tát nên an ủi một Bồ tát đang bệnh như vậy để khiến
cho hoan hỷ.»
Văn-thù-sư-lợi
hỏi: «Làm sao Bồ tát đang bệnh chế ngự được tâm mình?»
Duy-ma-cật
đáp: «Bồ tát đang bệnh nên nghĩ rằng: bệnh này đến từ
những phiền não và vọng tưởng điên đảo của nhiều đời
trước.[26] Không có pháp nào là thật, vậy thì ai đang thọ
bịnh? Tại sao vậy? Do bốn đại hoà hợp mà giả danh là
thân. Bốn đại vô chủ, thân cũng vô ngã. Vả chăng, bệnh
khởi đều do bám chấp tự ngã.[27] Vì vậy không nên bám
chấp tự ngã này.[28]
«Khi
đã tỏ tường nguồn căn của bệnh, Bồ tát liền loại trừ
tưởng về ngã và tưởng về chúng sinh, và tưởng;[29] về
pháp sẽ hiện khởi.[30] Bồ tát nên nghĩ như vầy: ‹Thân
được hợp thành do bởi nhiều pháp. Khởi, chỉ là sự sinh
khởi của pháp. Diệt, chỉ là sự huỷ diệt của pháp.›
Vả lại, các pháp này không nhận biết lẫn nhau. Khi sinh khởi,
nó không nói, ‹Ta khởi.› Khi diệt, nó không nói, ‹Ta diệt.›
Để diệt trừ tưởng về pháp này, Bồ tát đang bệnh nên
nghĩ: ‹Tưởng về pháp này cũng là một thứ đảo điên.
Cái gì điên đảo, cái đó là đại hoạn. Ta phải rời xa
nó.›[31] Thế nào là rời xa? Rời xa ngã và ngã sở. Rời
xa ngã và ngã sở nghĩa là sao? Rời xa pháp hai.[32] Pháp
hai nghĩa là sao? Là không nghĩ đến pháp trong thân lẫn pháp
ngoài thân,[33] mà hành nơi bình đẳng.[34] Bình đẳng là gì?
Đông đẳng ngã, đồng đẳng Niết-bàn.[35] Tại sao như vậy?
Vì ngã và niết-bàn đều không. Tại sao cả hai đều không?
Vì chỉ là danh tự, cho nên là không. Hai pháp này như vậy
không có quyết định tính.[36]
«Đạt
được tính bình đẳng này rồi thì không còn bịnh nào khác
ngoại trừ còn có cái bịnh của không. Cái bịnh của không
cũng là không.
“Bồ
tát đang bịnh ấy tiếp thọ các cảm thọ[37] bằng vô sở
thọ. Tuy chưa thành tựu Phật pháp, nhưng vẫn có thể chứng
nghiệm mà không cần diệt tận thọ.
«Biết
thân là đối tượng của khổ đau, ông nên nghĩ đến chúng
sinh ở những cõi thấp kém hơn mà khởi lòng đại bi, rằng
‹Ta đã được điều trị.[38] Ta cũng sẽ điều trị hết
thảy chúng sinh. Chỉ trừ bịnh chứ không trừ pháp.[39] Chỉ
dẫn chúng cắt đứt gốc rễ bịnh. Gốc rễ của bệnh là
gì? Đó là có vin níu.[40] Từ chỗ có vin níu mà phát sinh
gốc rễ của bịnh. Vin níu vào cái gì? Đó là ba cõi. Thế
nào là cắt đứt[41] sự vin níu? Bằng vô sở đắc. Nếu
là vô sở đắc, thì không có sự vin níu. Cái gì là vô sở
đắc? Là rời xa hai kiến. Hai kiến là gì? Nội kiến, và
ngoại kiến. Đó là vô sở đắc.[42]
«Văn-thù-sư-lợi,
đó là cách Bồ tát đang bịnh chế ngự tâm mình. Vì để
cắt đứt cái khổ già, bịnh, chết, là bồ-đề của Bồ
tát. Không làm được điều này thì sự tu trì của ông không
có sự sắc bén của tuệ.[43] Cũng như, thắng kẻ địch mới
gọi là dũng; cũng vậy, dứt trừ cùng lúc già, bịnh, chết,
ấy mới là Bồ tát.
«Bồ
tát đang bịnh lại nên suy ngẫm: ‹Bịnh ta không thực cũng
không tự hữu. Bịnh của hết thảy chúng sinh cũng không thực
và không tự hữu.› Nhưng khi quán như vậy, đối với các
chúng sinh mà khởi đại bi từ ái kiến,[44] thì nên xả ly
ngay. Vì sao vậy? Vì Bồ tát đoạn trừ khách trần phiền
não[45] mà khởi đại bi. Bi do ái kiến tức là có tâm mệt
mỏi nhàm chán sinh tử. Xả ly được điều đó mới không
có sự mệt mỏi chán chường, để dù tái sinh ở đâu cũng
không còn bị ái kiến che lấp. Tái sinh ở đâu, đều không
bị trói buộc để có thể giảng Pháp và cởi trói cho hết
thảy chúng sinh. Như đức Phật đã nói: ‹Không thể có việc
tự mình bị trói mà có thể cởi trói cho người. Chỉ khi
tự mình không bị trói, khi ấy mới có thể cởi trói cho
người.›
«Cho
nên, Bồ tát chớ tự trói buộc mình. Thế nào là trói buộc?
Thế nào là cởi mở? Tham đắm vị ngọt của thiền là trói
buộc của Bồ tát. Bằng phương tiện mà tái sinh,[46] đó
là Bồ tát cởi trói. Lại nữa, không có phương tiện huệ[47]
là trói buộc; có phương tiện huệ là cởi trói. Không có
huệ phương tiện[48] là trói buộc; có huệ phương tiện là
cởi trói.
«Không
có phương tiện huệ[49] là trói buộc, nghĩa là thế nào ?
Đó là với tâm ái kiến mà Bồ tát trang nghiêm cõi Phật,
thành tựu chúng sinh; tự điều phục mình trong pháp không,
vô tướng và vô tác.[50] Như vậy gọi không có phương tiện
huệ là trói buộc.
«Có
phương tiện huệ là cởi trói, là nghĩa thế nào? Đó là
không đem tâm ái kiến mà trang nghiêm cõi Phật, thành tựu
chúng sinh; tự điều phục mình trong pháp không, vô tướng
và vô tác mà không mệt mỏi chán chường. Đó gọi là có
phương tiện huệ là cỏi trói.
«Không
có tuệ phương tiện là trói buộc, là nghĩa thế nào? Bồ
tát trụ tham dục, sân nhuế, tà kiến, các thứ phiền não,
mà vun trồng gốc rễ các công đức. Đó gọi là không có
tuệ phương tiện là trói buộc.
«Có
tuệ phương tiện là cởi trói, là nghĩa thế nào? Bồ tát
đã xa lìa tham dục, sân nhuế, tà kiến, các thứ phiền não,
mà vun trồng gốc rễ các công đức, rồi hồi hướng đến
a-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề. Đó gọi là có tuệ phương
tiện là cởi trói.
«Văn-thù-sư-lợi,
Bồ tát bệnh nên quán các pháp như vậy. Rồi lại quán thêm
nữa. Quán thân này[51] vô thường, khổ, không, phi ngã; đó
gọi là tuệ. Mà dù thân đang bệnh ông vẫn ở lại cõi sinh
tử vì lợi ích của chúng sinh, không thấy mệt mỏi; đó
gọi là phương tiện.
«Rồi
lại quán thân. Thân không lìa bịnh, bệnh không lìa thân.
Ấy là bệnh, ấy cũng là thân; không phải mới, không phải
cũ. Đó gọi là tuệ.[52] Giả sử thân mang bệnh, mà không
cần dứt trừ nó vĩnh viễn. Đó gọi là phương tiện.
«Văn-thù-sư-lợi,
Bồ tát bệnh nên chế ngự tâm mình như vậy. Không trụ trong
đó; cũng không trụ nơi tâm không được chế ngự. Vì sao
vậy? Vì trụ ở tâm không được chế ngự, là pháp của
người ngu. Nếu trụ nơi tâm đã được chế ngự, đó là
pháp của Thanh văn. Vì vậy Bồ tát chẳng trụ ở tâm được
chế ngự hay không được chế ngự. Xa lìa cả hai; đó là
hành của Bồ tát. Khi ở sinh tử vẫn không hành ô uế;[53]
trụ nơi Niết-bàn mà không vĩnh viễn diệt độ; đó là hành
của Bồ tát. Không theo hạnh phàm phu cũng không phải hạnh
Hiền Thánh; đó là hành của Bồ tát. Hạnh không nhơ cũng
không tịnh; đó là hành của Bồ tát. Dù siêu quá hành của
Ma, vẫn thị hiện để khuất phục bầy Ma;[54] đó là hành
của Bồ tát. Cầu nhất thiết trí [55] nhưng không cầu phi
thời;[56] đó là hành của Bồ tát.[57] Tuy quán các pháp bất
sanh, vẫn không vào chánh vị;[58] đó là Bồ tát hạnh. Dù
quán mười hai duyên khởi, vẫn hội nhập mọi tà kiến;[59]
đó là hành của Bồ tát. Dù che chở hết thảy chúng sinh,
vẫn không hệ luỵ bởi ái; đó là hành của Bồ tát. Tuy
vui với sự viễn ly,[60] mà không y tựa vào sự diệt tận
của thân và tâm; đó là hành của Bồ tát. Dù đi qua ba cõi
vẫn không hư hoại pháp tánh;[61] đó là hành của Bồ tát.
Dù hành nơi Không, vẫn gieo trồng mọi công đức; đó là
hành của Bồ tát. Tuy hành vô tướng vẫn cứu độ chúng
sinh; đó là hành của Bồ tát. Tuy hành vô tác vẫn thị hiện
thọ thân;[62] đó là hành của Bồ tát. Tuy hành vô khởi[63]
vẫn khởi làm các hạnh thiện; đó là hành của Bồ tát.
Tuy hành trì sáu hạnh Ba-la-mật vẫn biến tri tâm và tâm sở
pháp của chúng sinh;[64] đó là hành của Bồ tát. Tuy hành
sáu thần thông mà không đoạn tận các lậu; đó là Bồ tát
hạnh. Dù hành bốn vô lượng tâm, vẫn không tham đắm cầu
tái sinh cung trời Phạm thiên;[65] đó là hành của Bồ tát.
Dù hành trì thiền định, giải thoát và tam muội, mà không
tùy thiền mà tái sinh;[66] đó là hành của Bồ tát. Dù hành
trì bốn niệm xứ, mà không hoàn toàn rốt ráo xa lìa thân,
thọ, tâm, pháp; đó là hành của Bồ tát. Tuy hành trì bốn
chánh cần mà không xả thân tâm tinh tấn;[67] đó là hành
của Bồ tát. Tuy hành trì bốn như ý túc, mà đạt tự tại
thần thông; đó là hành của Bồ tát. Tuy hành năm căn mà
phân biệt căn tánh nhạy bén hay trì độn của hết thảy
chúng sinh; đó là hành của Bồ tát. Tuy hành năm lực vẫn
phấn đấu thành tựu mười lực, vô úy của Phật; đó là
hành của Bồ tát. Tuy hành bảy giác phần mà phân biệt trí
tuệ của Phật;[68] đó là hành của Bồ tát. Dù hành tám
chánh đạo vẫn thích đi trên Phật đạo vô biên; đó là
Bồ tát hạnh. Dù hành pháp trợ đạo Chỉ và Quán mà rốt
ráo không rơi vào tịch diệt; đó là hành của Bồ tát. Dù
hành các pháp bất sinh bất diệt vẫn trang điểm tự thân
bằng các tướng hảo; đó là hành của Bồ tát. Dù thị hiện
oai nghi của Thanh-văn hay Phật Duyên-giác vẫn không xả pháp
của Phật;[69] đó là Bồ tát hạnh. Tuy tùy theo tướng tịnh
rốt ráo của hết thảy pháp mà vẫn tùy chỗ thích hợp thị
hiện tự thân; đó là hành của Bồ tát. Dù nhìn thấu hết
thảy cõi Phật luôn tĩnh lặng như hư không,[70] vẫn làm hiển
hiện các loại cõi Phật thanh tịnh; đó là hành của Bồ
tát. Dù đã đạt quả vị Phật, có thể chuyển Pháp luân,
và vào Niết-bàn, vẫn không từ bỏ Bồ tát đạo; đó là
hành của Bồ tát.»
Duy-ma-cật
giảng xong pháp này,[71] hết thảy tám ngàn chư thiên đi theo
Văn-thù-sư-lợi đều phát tâm cầu giác ngộ vô thượng chánh
đẳng chánh giác .
[1]
DMC (T14n0475_p0544a25). VCX (T14n0476, p0567b24), phẩm thứ 5, «Vấn
tật 問疾品第五.»
[2]
Văn-thù-sư-lợi 文殊師利. VCX: Diệu Cát Tường
妙吉祥. Skt. Mañjuśrī.
[3]
Bản La-thập nhảy một đoạn, VCX: “
[4]
VCS: xảo tiện vô ngại 巧便無礙, vận dụng phưong tiện
khéo léo thông suốt. Tiếp theo, bản La-thập nhảy một đoạn;
VCX (Đại 14, tr.567c1): «Đã đạt đến pháp giới tối thắng
không hai, không tạp; sở hành đã rốt ráo đến bờ bên kia;
diễn thuyết pháp môn được trang nghiêm bằng vô hạn yếu
tính; thấu triệt căn tính và hành vi của tất cả chúng sinh;
khéo léo sử dụng thần thông tối thắng của sự du hý; đạt
đến mức hoàn hảo phương tiện thiện xảo của đại trí
tuệ; hoàn toàn tự tại vô ngại vô uý để quyết trạch
mọi vấn đáp; các hạng thấp kém không thể đối đàu với
nũi nhọn ngôn từ biêện luận của ông ấy.»
[5]
VCX còn thêm: «Không nghe mà nghe.»
[6]
Cf. Madhyamaka ii. 1: gataṃ na gamyate tavād agataṃ vaiva gamyate/
gatāgatavinirmuktaṃ gamyamānaṃ na gamyate. «Cái đã đi không
đi. Cái chưa đi cũng không đi. Ngoài cái đã đi và chưa đi,
cái đang đi không đi.»
[7]
VCX: «Không phải do cái đã đến mà có khái niệm về sự
đến. Không phải do cái đã đi mà có khái niệm về sự đi.»
Khuy Cơ, VCS (T38n1782_p1069c24) lưu ý: «Chỗ này, bản La-thập
và bản Huyền Trang không giống nhau.»
[8]
Hán: trí vấn vô lượng 致問無量 . VCS: «Lời nhắn gởi
thì ngắn gọn; nhưng thâm ý hỏi thăm thì vô lượng.»
[9]
VCX: «Cũng như vô minh (avidyā) và hữu ái (bhavatṛṣṇa) của
các chúng sinh sinh khởi đã từ lâu đời; bệnh của tôi cũng
phát từ lâu như vậy.»
[10]
VCS, Đại 38, tr.1070b22, «Hỏi thất không, là hỏi về pháp
không. Hỏi thị giả không, là hỏi về nhân không.»
[11]
CDM, Đại 38, tr. 372c11, «Thập nói, căn nhà do không có vật
gì cả nên trống không. Cõi Phật do bởi lý gì ma không?»
[12]
CDM, «Thập nói, không có (vô 無, Skt. abhava) vì không
có vật gì. Rỗng không (không 空, Skt. śūnya), vì quốc độ
tính không. Triệu nói, không đầu là trí không (jñānaśūnyatā,
cf. Madhyānta-vibhāga); không sau là pháp không (dharmaśūnyatā).»
[13]
DMC: hà dụng không 何用空 . VCX: vi thị thùy không 為是誰空
, là cái không của ai (= của cái gì).»
[14]
VCX: «Không này là Không của vô phân biệt.»
[15]
VCX: Không tính 空性.
[16]
Trường A-hàm 14, kinh 21. Phạm động, Đại 1, tr. 89c23. Cf.
Pali, Brahmajāla-sutta, D.i. tr. 44.
[17]
VCX: bất yếm khí 不厭棄, không ghét bỏ.
[18]
VCX: vô sắc tướng 無色相.
[19]
DMC: thân hiệp 身合, tâm hiệp 心合. VCX: thân tương
ưng 身相應, tâm tương ưng 心相應.
[20]
VCX: tâm như huyễn hoá 如幻化 .
[21]
Tứ đại 四大, Skt. catvāri mahābhūāni. VCX: tứ giới
四界. Skt. dhātavaś catvāri.
[22]
Trong bản dịch Huyền Trang thì ngược lại: Duy-ma-cật hỏi
Văn-thù. Khuy Cơ (Đại 38, tr.1071c21) cho rằng, xét theo ý nghĩa,
La-thập đã dịch không đúng. Triệu nói (Đại 38, tr.374c9),
theo lẽ thì Duy-ma-cật hỏi. Nhưng để khiến những vị hiện
diện chú tâm, và để chính người bệnh tự nói, nêu rõ
ý nghìa vô chứng của Đại thừa.
[23]
DMC: giáo đạo chúng sinh 教導眾生. VCX: thành thục hữu
tình 成熟有情
[24]
VCX : ««Không nói tội có di chuyển.» VCS: «Tội được làm
trong hiện tại di chuyển vào quá khứ. Quá khứ có thực thể
dẫn đến sự cảm quả trong tương lai.»
[25]
Tịnh mạng 淨命; Thập nói: tức là chánh mạng.
[26]
DMA: tiền thế 前世 (Skt. pūrva-nivāsa); VCX: tiền tế
前際 (pūrva-koṭi). Toàn đoạn,VCX: «Sinh từ nghiệp được
thúc đẩy bởi các phiền não của phân biệt vọng tưởng
và điên đảo.»
[27]
DMC: trước ngã 著我; VCX: chấp ngã 執我. Skt. ātmagrāha.
[28]
VCX: «Không nên ở trong thân này mà vọng tưởng sinh ra chấp
ngã.»
[29]
DMC: ngã tưởng , chúng sinh tưởng . 我想眾生想, khái
niệm về một tự ngã hay linh hồn (ātma-saṃjñā), khái niệm
về một chúng sinh hay một hiện tồn thể (sattvā-saṃjñā).
VCX: hữu tình ngã tưởng 有情我想. Cf., Vajracchedika,
bốn khái niệm về ngã: ātma-saṃjñā (ngã tưởng), sattvā-saṃjñā
(chúng sinh tưởng), jīva-saṃjñā (thọ tưởng), pudgala-saṃjñā
(nhân tưởng).
[30]
DMC: đương khởi pháp tưởng 當起法想. CDM: «Triệu
nói, để trừ ngã tưởng mà khởi lên pháp này.» VCX: an trụ
pháp tưởng 安住法想 . khái niệm về pháp an trụ hay thường
trụ. VCX: «An trụ nơi pháp tướng mà quán pháp do nhân duyên
để phá trừ ngã chấp.» (= Skt. dharma-saṃjñā pratiṣṭhitavyā).
[31]
VCX: «Ta phải nên trừ diệt nó và cũng tức là trừ diệt
hết thảy tai hoạn như vậy của hữu tình.»
[32]
Pháp hai 二法 ; chỉ pháp có tính nhị nguyên đối đãi, hai
mặt đối lập. Skt. dvaita-dharma. VCS: «Pháp hai tức là pháp
mà nội tại và ngoại tại đều tuyệt đối không hiện hành.»
Xem phẩm 9, «Pháp môn bất nhị.»
[33]
VCS: «Quán sự bình đẳng, không di động, không dao động,
không có cái được quan sát.»
[34]
DMC: hành tâm bình đẳng 行心平等 , Triệu nói, «thể hiện
sự bình đẳng của tâm.» VCX: quán bình đẳng… VCS(T38n1782,
tr.1073a24 ): «quán sự bình đẳng của pháp, không động dao…»
[35]
VCX: «ngã và Niết-bàn, cả hai đều bình đẳng.»
[36]
VCX: «Hai pháp này đã không tồn tại, thì còn pháp nào khác
hơn nữa là không? Ấy là chỉ bằng vào quy ước của ngôn
ngữ (danh tự giả thuyết) mà nói là không.»
[37]
CDM: Thập nói, thọ đây chỉ ba thọ: khổ, lạc và xả.
[38]
DMC: điều phục 調伏 . VCX: trừ…tật 除疾 .
[39]
VCX: «Khi điều trị cho mình và cho người, không thấy có
một cái gì gọi là được điều trị.»
[40]
DMC: hữu phan duyên 有 攀緣. VCX: hữu duyên lự 有 緣慮.
Skt. sālambhana, cái luôn luôn cần điểm tựa để hiện hành;
cái không bao giờ rời khỏi điểm tựa. VCS (T38n1782, tr.1073c29):
«Duyên lự, là tâm, tâm sở có tính phân biệt, thuộc hữu
lậu.»
[41]
DMC: đoạn 斷. VCX: ưng tri. Skt. parijñātavya 應知 , cần
biến tri (=cần triệt để đoạn trừ).
[42]
VCX: Nếu không có hai kiến, đó là không có gì sở đắc.
[43]
DMC: vô tuệ lợi 無慧利. VCX: hư khí, bỏ công vô ích
虛棄.
[44]
CDM: «Khởi ái kiến đại bi…, Triệu nói: (…) Nếu quán
ấy chưa thuần, thấy chúng sinh mà thương yêu, rồi từ đó
mà khởi tâm đại bi.» VCX: «Với tâm bị quấn chặt bởi
ái và kiến ấy mà khởi tâm đại bi đối với chúng sinh.»
[45]
Bụi như người khách chợt đến. (Skt. āgantuka). CDM (Đại
38, tr.378b09): «Triệu nói, tâm gặp ngoại duyên, phiền não
chợt dấy lên, cho nên nói là khách trần.»
[46]
VCX: «Bằng phương tiện thiện xảo mà tái sinh trong các hiện
hữu, hoàn toàn không có tham đắm.»
[47]
Phương tiện tuệ 方便慧, (Skt. upāya-jñāna, tuệ của
phương tiện, hay tuệ do bởi phương tiện). VCX: phương tiện
thiện nhiếp diệu tuệ 方便善攝妙慧 tuệ siêu việt được
thể hiện khéo léo bằng phương tiện (upāya-saṃgrīha-jñāna).
[48]
Tuệ phương tiện 慧方便. (Skt. jñānopāya, phương tiện
của trí tuệ hay do bởi trí tuệ).
[49]
CDM (Đại 38, tr.378c26): «Thập nói, quán không mà không thủ;
lội hữu mà không dính; đó là xảo phương tiện… Trong đây
chỉ lấy sự lội hữu không dính làm phương tiện, nên nói
rằng có tuệ mà không có phương tiện. Từ trụ thứ bảy
trở lên, tâm thường định, động và tĩnh không khác, cho
nên nói là phương tiện tuệ.»
[50]
VCX: «Tự điều phục bằng… nhưng không trang điểm thân
bằng các tướng hảo… cho nên, không có phương tiện…»
[51]
VCX: «Quán thân cùng với bịnh đều là vô thường…»
[52]
VCX: «Thân, tâm và các thứ tật bệnh, lệ thuộc lẫn nhau,
lưu chuyển từ vô thuỷ, sinh diệt không gián đoạn, không
phải mới, không phải cũ. Đó gọi là tuệ.»
[53]
VCX: «Ở nơi sở hành quán sát sinh tử, mà không có sở hành
của hết thảy phiền não.»
[54]
VCX: «Ở nơi sở hành của bốn thứ Ma mà siêu việt sở hành
của hết thảy Ma.» Bốn Ma: uẩn ma, phiền não ma, tử ma,
thiên ma.
[55]
Nhất thiết trí 一切智. VCX: nhất thiết trí trí . Skt.
sarvajñā-jñāna, trí tuệ của nhận thức toàn diện. Trí của
nhất thiết trí, trí tuyệt đối cá biệt do Phật tự chứng.
[56]
Phi thời cầu 非時求. CDM (Đại 38, tr.380a20): «Thập
nói, công hành chưa đủ mà cầu cho được kết quả đầy
đủ, gọi là phi thời cầu.» VCX: «Cầu sở hành của trí
nhất thiết trí, nhưng không phải là sở hành của chứng
trí phi thời.» VCS (T38n1782_p1076a5): «Bồ tát chứng trí, bên
ngoài thích ứng vời mọi cơ duyên để có thể cứu vớt
chúng sinh, nên nói là không phải phi thời.»
[57]
Nhảy một đoạn trong bản La-thập; VCX: «Tuy sở hành diệu
trí của bốn Thấnh đế, nhưng không phi thời chứng nghiệm
Thánh đế; đó là sở hành của Bồ tát. Chánh quán sát sở
hành nội chứng, mà vẫn nhiếp thọ sở hành sinh tử; đó
là sở hành của Bồ tát.»
[58]
VCX: «Chánh quán sát sở hành vô sinh, mà không rời vào sở
hành của Thanh văn Chánh tính.» Chánh vị, hay chánh tính (Skt.
samyaktva), Câu-xá 10 (Đại 29 tr. 56c12): «Tham hoàn toàn đoạn
trừ; sân…si… hết thảy phiền não hoàn toàn đoạn trừ;
đó gọi là chánh tính.» Chỉ giai đoạn chuyển tiếp từ
phàm phu bước sang địa vị Thánh giả.
[59]
La-thập (T 38, tr.0380a27): «Quán duyên khởi là con đường đoạn
trừ tà kiến. Nhưng có thể ngược lại mà đồng với tà
kiến.» Trái nghĩa với VCX: «Tuy hành tất cả sở hành của
duyên khởi, mà có thể xa lánh sở hành của mọi xu hướng
kiến chấp.» Khuy Cơ giải (T38n1782_p1076a17): «Bồ tát hiện
duyên khởi mà xa lìa xu hướng kiến chấp. Hiện duyên khởi,
tức hiện sinh tử.»
[60]
CDM: «Triệu nói, viễn ly nhỏ thì xa lìa chỗ náo nhiệt. Viễn
ly lớn thì dứt hẵn thân tâm.»
[61]
VCX: «Không hoại loạn pháp giới.»
[62]
VCX: «Tuy hay quán sát sở hành vô nguyện mà vẫn có thể thị
hiện sở hành của các cõi Hữu.»
[63]
VCX: «Tuy rảo bước nơi sở hành vô tác…» Khuy Cơ: «Vô
tác, không có gì được tạo tác.»
[64]
VCX: «… mà không hướng đến sở hành bờ bên kia của tâm
hành diệu trí của hết thảy chúng sinh…»
[65]
Bốn vô lương tâm ở đây chỉ bốn Phạm trụ (Brahma-vihāra).
chứng Sơ thiền, tái sinh vào thế giới Phạm thiên (Brahma-loka).
[66]
VCX: «Không tái sinh theo thế lực của các Thiền.»
[67]
VCX:«… mà không thấy tồn tại hai sở hành của thiện và
bất thiện.»
[68]
VCX:«…mà không mong cầu diệu trí thiện xảo của Phật pháp
sai biệt.»
[69]
VCX:« … mà không dẹp bỏ sở hành duyên lự của hết thảy
Phật pháp.»
[70]
VCX: «…cõi Phật, mà tự tính là không, tịch diệt, không
thành không hoại, như hư không…»
[71]
VCX: «… sở hành hy hữu sự của hết thảy Bồ tát…»