Chương 8
PHẬT ĐẠO[1]
Văn-thù
hỏi Duy-ma-cật:
«Bồ
tát làm sao để thông đạt Phật đạo?»[2]
Duy-ma-cật
nói:
«Bồ
tát đi trên phi đạo[3] là thông đạt Phật đạo.»
Văn-thù-sư-lợi
hỏi:
«Bồ
tát đi trên phi đạo là thế nào?»
Duy-ma-cật
đáp:
«Bồ
tát hành năm vô gián[4] mà không thù không hại.[5] Đi đến
địa ngục mà không có cáu bẩn nào của tội lỗi.[6] Đi
đến súc sinh mà không có các lỗi lầm của vô minh, kiêu,
mạn.[7] Đi đến ngạ quỷ[8] mà vẫn đầy đủ công đức.
đi lên các cõi Sắc và vô Sắc giới[9] mà không cho là hơn
hết.[10] Thị hiện hành tham dục mà không nhiễm trước. Thị
hiện hành sân hận thù nghịch mà không có thù hận ác ý
đối với các chúng sinh. Thị hiện hành ngu si mà dùng trí
tuệ để chế ngự tâm mình. Thị hiện hành xan tham bủn xỉn
mà không tiếc cái gì sở hữu trong ngoài, thân mạng. Thị
hiện hành phá giới mà an trụ trong tịnh giới, cho đến dù
đối với tội nhỏ vẫn ôm lòng kinh sợ. Thị hiện hành
sân nhuế mà thường hành từ, nhẫn nhịn. Thị hiện hành
biếng nhác mà lại siêng năng tu tập công đức. Thị hiện
hành loạn ý mà thường chánh niệm, tâm định. Thị hiện
hành ngu si[11] mà thấu triệt tuệ thế gian và xuất thế gian.
Thị hiện hành siểm ngụy mà khéo phương tiện tùy theo nghĩa
kinh.[12] Thị hiện hành kiêu mạn[13] mà đối với chúng sinh
thì như một chiếc cầu.[14] Thị hiện hành các phiền não
mà tâm thường thanh tịnh. Thị hiện nhập bọn với Ma nhưng
thuận với trí tuệ của Phật chứ không theo giáo thuyết
khác.[15] Thị hiện nhập vào hàng Thanh văn, nhưng thường
nói pháp chưa từng nghe cho chúng sinh. Thị hiện trong hàng
Bích-chi-phật mà thành tựu đại bi giáo hoá chúng sinh. Thị
hiện hoà nhập trong giới cùng khổ nhưng có bàn tay châu báu
với công đức vô tận.[16] Thị hiện làm người khuyết tật
mà thân tự trang nghiêm các tướng tốt đẹp đẽ. Thị hiện
ở giữa giai cấp hạ tiện mà sinh vào chủng tính Phật, đủ
các công đức. Thị hiện ở giữa người gầy xấu ốm yếu
mà được thân Na-la-diên,[17] hết thảy chúng sinh đều ưa
nhìn ngắm. Thị hiện người già yếu mà không ốm đau, vượt
qua nỗi sợ hãi sự chết. Thị hiện có mọi tiện nghi của
cuộc sống[18] vẫn luôn thấy rõ tính vô thường, không tham
cầu gì. Thị hiện có thê thiếp và nàng hầu mà vẫn thường
xa rời bùn sình ngũ dục. Thị hiện người đần độn, nói
lắp, nhưng lại thành tựu biện tài bằng lực tổng trì không
hề quên lãng.[19] Thị hiện đi vào bến tà[20] nhưng vẫn
đưa chúng sinh đi qua bằng bến chánh. Hiện vào khắp các
đạo mà đoạn trừ nhân duyên của chúng. Hiện ở niết bàn
vẫn không dứt lìa sinh tử.[21]
«Văn-thù-sư-lợi,
Bồ tát đi trên phi đạo như vậy là Bồ tát thông đạt Phật
đạo.»
Đoạn
Duy-ma-cật lại hỏi Văn-thù-sư-lợi:
«Thế
nào là chủng tánh của Như Lai?»[22]
Văn-thù-sư-lợi
đáp:
«Hữu
thân[23] là chủng tánh; vô minh và hữu ái là chủng tánh;
tham, sân, si là chủng tánh; bốn điên đảo là chủng tánh;
năm chướng cái[24] là chủng tánh; sáu nhập[25] là chủng
tánh; bảy thức xứ[26] là chủng tánh; tám tà pháp[27] là
chủng tánh; chín não xứ[28] là chủng tánh; mười bất thiện
nghiệp đạo là chủng tánh. Nói tóm, sáu mươi hai kiến và
hết thảy phiền não đều là chủng tánh Phật.»
Duy-ma-cật
hỏi Văn-thù-sư-lợi:
«Sao
lại như vậy?»
Văn-thù-sư-lợi
đáp:
«Vì
người thấy pháp vô vi[29] rồi vào chánh vị[30] thì không
còn phát tâm cầu vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cũng
như trên gò đất cao thì làm sao nảy nở hoa sen; chỉ mọc
nơi chỗ đầm lầy mới mọc hoa này. Cũng vậy, người thấy
pháp vô vi rồi vào chánh vị thì cuối cùng không còn sinh
nơi Phật Pháp.[31] Chỉ có chúng sinh ở chốn bùn lầy phiền
não mới có thể phát khởi Phật pháp. Cũng như hạt giống
đem bỏ giữa hư không không bao giờ có thể nảy mầm; đem
vùi trong đất phân mới có thể tươi tốt. Do đó, người
vào Chánh vị vô vi không phát sinh Pháp Phật; trong khi người
khởi lên ngã kiến[32] lớn như núi Tu-di còn có thể phát
tâm cầu giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác mà phát
huy Pháp Phật.
«Cho
nên, nên biết hết thảy phiền não đều là chủng tánh của
Như Lai. Cũng như người không lặn xuống biển sâu thì không
tìm được ngọc trai vô giá; cũng vậy người không lặn xuống
biển phiền não sẽ không tìm được ngọc Nhất thiết trí.»
Lúc
ấy Ma-ha Ca-diếp tán thán:
«Lành
thay, Văn-thù-sư-lợi, lành thay, lời ông nói thật tuyệt.
Đúng như những điều được nói, những đám trần lao đều
là chủng tánh Như Lai. Chúng tôi nay thật chẳng thể phát
tâm cầu vô thượng chánh đẳng chánh giác.[33] Cho đến người
phạm năm tội vô gián cũng còn có thể phát ý sanh nơi Phật
pháp nhưng chúng tôi thì vĩnh viễn không thể phát. Cũng như
người mà căn đã hư hoại thì chẳng còn hưởng lợi được
gì nơi ngũ dục. Cũng vậy, hàng Thanh-văn đã đoạn các kết
sử chẳng còn thu hoạch gì thêm nơi Phật pháp, vĩnh viễn
không có chí nguyện. Cho nên, Văn-thù-sư-lợi, phàm phu còn
quay trở lại với Phật pháp chứ Thanh-văn thì không. Vì sao?
Vì phàm phu khi nghe Pháp thì có thể phát khởi đạo tâm[34]
vô thượng, để cho Tam bảo không gián đoạn. Giả sử Thanh-văn
trọn đời nghe Pháp và thấy lực, vô úy của Phật, v.v…
nhưng vĩnh viễn không thể phát đạo tâm vô thượng.»
Lúc
ấy,trong hội chúng có Bồ tát tên Phổ-hiện Sắc-thân hỏi
Duy-ma-cật:
«Cư
sĩ, ai là cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc của ngài?
Gia nhân tôi tớ của ngài, voi ngựa xe cộ của ngài ở đâu?»
Bấy
giờ Duy-ma-cật trả lời bằng bài kệ:
Trí
độ,[35] mẹ Bồ tát;
Phương
tiện,[36] cha Bồ tát.
Hết
thảy bậc Đạo sư
Đều
từ đấy mà sinh.
Lấy
Pháp hỷ làm vợ;
Tâm
từ bi, con gái;
Tâm
thành thật,[37] là trai.
Nhà,
rốt ráo không-tịch;
Đệ
tử là trần lao,[38]
Tùy
nghi mà chuyển hoá.
Đạo
phẩm,[39] là bạn hữu
Nhờ
đây thành chánh giác.
Các
độ, bạn đồng hành;
Bốn
nhiếp là kỹ nữ;
Ca
vịnh, tụng pháp ngôn,
Lấy
đó làm âm nhạc.
Tổng
trì là vườn hoa,
Vô
lậu là rừng cây.
Giác
ý,[40] hoa tươi đẹp
Quả,
trí tuệ, giải thoát.
Tám
giải[41] là hồ tắm;
Nước
định lắng trong, đầy.
Rải
bằng bảy hoa tịnh,[42]
Tắm
gội người vô nhiễm.
Voi,
ngựa: năm thần thông,
Kéo
cổ xe Đại thừa;
Lấy
nhất tâm[43] chế ngự
Dong
ruổi tám chánh đạo.
Tướng
tốt để nghiêm thân
Vẻ
đẹp chuốt tư thái.
Tàm
quý là trang phục
Thâm
tâm[44] là tràng hoa.
Giàu
có bảy tài bảo[45]
Dạy
dỗ cho thêm ích.
Theo
giáo thuyết tu hành
Hồi
hướng làm đại lợi.[46]
Bốn
thiền là giường chõng
Phát
sinh từ tịnh mạng.[47]
Học
nhiều, tăng trí tuệ,
Làm
âm thanh thức tỉnh.[48]
Cam
lộ là thức ăn;[49]
Vị
giải thoát là tương;[50]
Tịnh
tâm là tắm gội;
Giới
phẩm là hương thoa.
Diệt
trừ giặc phiền não,
Dũng
mãnh không ai hơn.
Hàng
phục bốn thứ ma
Cờ
thắng dựng Đạo tràng.[51]
Dù
biết không khởi, diệt
Vẫn
thị hiện tái sanh
Trên
khắp các quốc độ
Như
mặt trời rọi khắp.
Cúng
dường vô lượng Phật
Khắp
mười phương thế giới
Mà
không hề phân biệt
Có
Phật và có ta.
Dù
biết các cõi Phật
Cùng
chúng sinh là không
Vẫn
thường tu tịnh độ,
Để
giáo hóa chúng sinh.
Chúng
sinh vô số loại,
Sắc,
thanh, và oai nghi;
Bồ
tát lực, vô uý,[52]
Khoảnh
khắc thảy hiển hiện.
Biết
rõ việc chúng ma
Vẫn
thị hiện hành theo,
Rồi
bằng phương tiện trí,
Tuỳ
ý mà thể hiện.[53]
Hoặc
hiện già, bịnh, chết,
Để
thành tựu chúng sinh;
Biểt
rõ là huyễn hoá,
Thông
suốt không chướng ngại.
Hoặc
hiện lửa tận thế
Đốt
cháy rực cõi đất;
Khiến
người tưởng thường hằng
Hiểu
rõ pháp vô thường.
Vô
số ức chúng sinh
Cùng
đến thỉnh Bồ tát.
Một
lúc chúng đến nhà,
Chỉ
cho hướng Phật đạo.
Kinh
sách và chú thuật,
Kỹ,
mỹ nghệ đều tinh;
Lấy
đó mà thị hiện,
Làm
lợi ích quần sinh.
Xuất
gia khắp các đạo,
Đạo
pháp của thế gian;
Nhân
đó trừ mê hoặc,
Chứ
không đọa tà kiến.
Làm
Vua mặt Trời, Trăng,
Phạm
thiên, Thế giới chủ,
Có
khi là đất, nước,[54]
Hoặc
gió, hoặc là lửa.
Hoặc
tai kiếp[55] tật dịch,
Thị
hiện cây cỏ thuốc;
Để
cho người được uống,
Trị
dứt các dịch bịnh.
Hoặc
tai kiếp đói kém;
Hiện
thân làm thức ăn;
Trước
cứu người đói khát
Sau
dạy Pháp giải thoát.
Hoặc
tai kiếp đao binh;
Khơi
dậy tâm từ bi
Gíáo
hoá chúng sinh kia
Để
sống không tranh chấp.
Hoăc
khi gặp đại chiến,
Khiến
hai bên cùng mạnh
Rồi
dùng lực oai nghiêm
Làm
họ giảng hòa nhau.
Trong
khắp mọi quốc độ,
Chỗ
nào còn địa ngục,
Liền
thị hiện chỗ ấy
Giúp
người giảm bớt khổ.
Trong
khắp mọi quốc độ,
Súc
sinh ăn thịt nhau;
Người
thị hiện chỗ đó
Làm
lợi ích cho chúng.[56]
Thị
hiện thọ ngũ dục
Mà
vẫn hiện hành thiền,
Làm
rối loạn các ma
Không
cho chúng tự tiện.
Hy
hữu như trong lửa
Nở
một đóa sen hồng;
Hành
thiền trong ngũ dục
Cũng
hy hữu như vậy.
Hoặc
hiện làm dâm nữ
Dẫn
dụ người háo sắc;
Trước
lấy dục câu móc,
Sau
hướng về Phật trí.
Hoặc
là chủ thành ấp;
Hoặc
làm chủ thương buôn;
Làm
quốc sư, đại thần;
Cũng
vì lợi chúng sinh.
Có
người nghèo, đói rách,
Hiện
làm kho vô tận;
Rồi
nhân đó khuyên dẫn,
Khiến
phát Bồ-đề tâm.
Với
kẻ tâm kiêu mạn;
Hiện
làm đại lực sỹ
Khuất
phục các kiêu mạn,
Đưa
về vô thượng đạo.[57]
Hoặc
đám người kinh sợ,
Liền
đến mà an ủi.
Trước
làm cho hết sợ;
Sau
khiến phát đạo tâm.
Hoặc
hiện lìa dâm dục,[58]
Làm
tiên nhân năm thông[59]
Để
dắt dẫn quần sanh,
Trụ
ở giới, nhẫn, từ.
Với
người cần phục dịch,
Hiện
thân làm tôi tớ
Khiến
cho chủ hài lòng
Mà
phát khởi Đạo tâm.
Tuỳ
theo người nhu cầu,
Mà
đưa vào Phật đạo;
Liền
dụng lực phương tiện
Cấp
cho đủ thứ cần.
Như
thế, đạo vô lượng,
Và
sở hành không bờ;
Trí
tuệ không biên tế,
Người
độ vô số chúng.
Dù
hết thảy chư Phật
Trải
qua vô lượng kiếp
Tán
thán công đức này
Cũng
không thể nói hết.
Pháp
như vậy, ai nghe
Mà
không phát bồ-đề?
Chỉ
trừ kẻ vô dụng,
Hoặc
si ám, vô tri.
[1]
DMC: Phật đạo phẩm 佛道品 . VCX: Bồ đề phần phẩm
菩提分品. Skt. Bodhi-pakṣa-varga. Chi Khiêm: Phẩm Như lai chủng
tánh 如來種品第八.
[2]
Thông đạt Phật đạo. VCX, chư Phật pháp đáo cứu cánh thú;
«Làm thế nào để đạt đến chỗ quy hướng cứu cánh trong
Phật pháp.» Skt. buddha-dharmeṣu niṣṭhita-gatiḥ.
[3]
Phi đạo 非道; La-thập nói (Đại 38, tr.390b27): «Có ba
thứ phi đạo. 1. Quả báo dẫn đến cõi xấu ác. 2. Hành nghiệp
dẫn đến cõi xấu ác. 3. Nghiệp thiện thế tục, và quả
báo của nghiệp thiện. VCX: phi thú 非趣; Khuy Cơ (T38n1782_p1086c10):
«Chỗ mà phàm hướng đến để quay về gọi là thú
趣. Chỗ quay về của Thánh nhân không phải là chỗ quay về
của phàm phu. Đi trên lối đi không thích hợp ấy gọi là
hành phi thú 行非趣.»
[4]
VCX: ngũ vô gián thú 五無間趣 (Skt. pañca ānantaryārgatayaḥ=
pañca ānantaryāṇi karmāni), chỉ năm nghiệp vô gián: giết
cha (pitṛ-ghātaḥ), giết mẹ (mātṛ-ghātaḥ), hại A-la-hán
(arhad-vadaḥ), phá hoà hiệp tăng (saṃgha-bhedaḥ), gây thương
tích nơi Phật (tathāgatasyāntike duṣṭa-citta-rudhirotpādanaṃ).
[5]
Não nhuế 惱恚; VCX: nhuế não phẫn hại độc tâm 恚惱忿害毒心,
tâm ác độc, thù hận, quấy nhiễu, phẫn nộ, ác hại.
[6]
Tội cấu 罪垢. VCX: phiền não trần cấu 煩惱塵垢.
Skt. kleśa-mala.
[7]
Có thể DMC nhảy sót; VCX: «đi trên lối A-tố-lạc (Skt. āsura)
mà không còn ngạo mạn, kiêu dật.»
[8]
VCX: «Đi trên lối của Diệm-ma vương (Skt. Yama-rāja) mà chứa
nhóm rộng rãi vô lượng tư lương của phước và huệ.»
[9]
Hành sắc vô sắc giới đạo 行色無色界道 . VCX: hành ư
vô sắc định thú 無色定趣.(ārūpya-samāpatti-gati).
[10]
VCX: «… mà không xu hướng cảm thọ lạc đối với định
ấy.»
[11]
VCX: ác tuệ hành thú 惡慧行趣. Skt. pāpa-mati-gati ; Cf. Câu-xá
10 (Đại 29, tr. 51c21): tuệ nhiễm ô được gọi là ác tuệ
(Skt. kuprajñā/ kutsitā prajñā).
[12]
Kinh nghĩa 經義; La-thập dùng từ Hán thư, chỉ đạo lý ghi
trong kinh điển. VCX: thể hiện thành công phương tiện thiện
xảo.
[13]
VCX: mật ngữ phương tiện kiêu mạn 密語方便憍慢: kiêu
mạn như là phương tiện của mật ngữ (Skt. sandhyopāyamāna?).
VCS (T38n1782_p1087b11) giải thích: «Người đời chúc nhau ‘Không
bệnh, sống lâu’; Bồ tát cũng nói theo… như là phương
tiện độ người.»
[14]
La-thập (Đại 38, tr.0391a12): «Ý nói khiêm tốn như làm đồ
vật cho người ta dẫm đạp lên mà vẫn nhẫn nhịn, không
kiêu mạn.»
[15]
VCX: bất tuỳ tha duyên 不隨他緣, không lệ thuộc điều
kiện của người.
[16]
La-thập (Đại 38, tr.0391a25) nói: «bảo vật từ bàn tay tuôn
ra bất tận.»
[17]
Na-la-diên thân 那羅延身; La-thập (ibid.) nói: «Thân thể đẹp
đẽ, rắn chắc như lực sỹ nhà trời.» Skt. nārāyaṇa-bala
(kāya).
[18]
VCX: cầu tài vị 求財位. Skt. bhogānārabhya-paryeṣṭi.
[19]
Tổng trì vô thất 總持無失. VCX: đà-la-ni niệm tuệ
vô thất 陀羅尼念慧無失.
[20]
Tà tế 邪濟. VCX: tà đạo 邪 道.
[21]
DMC nhảy một đoạn; VCX: «Tuy thị hiện chứng đắc diệu
Bồ đề, chuyển đại pháp luân, nhập Niết-bàn nhưng vẫn
tinh cần tu tập Bồ tát hành, tiếp nối không dứt.»
[22]
Như lai chủng 如來種. La- thập (Đại 38, tr.0391b27) nói,
«Chủng, và căn bản nhân duyên, cùng một nghĩa.» Đạo Sinh
(ibid.) nói, «Mượn hạt giống lúa mà nói Như lai chủng.»
Chủng ở đay đựơc hiểu là bīja. VCX: Như lai chủng tánh
如來種性; VCS (T38n1782, tr.p1087c22): «Chủng là nhân; tánh là
loại.Thể loại của nhân của Phật gọi là Phật chủng tánh.»
Skt. tathāgata-gotra: gia tộc hay dòng dõi. Cf. Du già sư địa
35 (T30n1579, tr.478c12): «Có hai loại chủng tánh: 1. Bản tánh
trụ (Skt. prakṛti-stha-gotra), chủng tánh tự nhiên có sẵn
từ vô thủy của Bồ tát. 2. Tập sở thành (samudānīta-gotra),
do tu tập các thiện căn mà thành… Chủng tánh này cũng có
nghĩa là chủng tử (gotra = bīja).»
[23]
Hữu thân 有身. La-thập, «Hữu thân, chỉ năm thọ ấm
(=thủ uẩn, Skt. upādāna-skandha) thuộc hữu lậu.» VCX: ngụy
thân chủng tánh 偽身種性. Khuy Cơ (T38n1782, tr.1088a19):«Tức
thân năm uẩn làm đối tượng cho tát-ca-da kiến (Skt. satkāya-dṛṣṭi).»
[24]
Ngũ cái 五蓋. Skt. pañca nīvaraṇāni, ngăn che và chướng
ngại.
[25]
VCX: lục xứ chủng tánh 六處種性. Skt. ṣaḍ āyatanāni, sáu
nội xứ hay sáu căn.
[26]
Thất thức trụ 七識住. Skt. vijñāna-sthiti, bảy chỗ
an trụ của thức. Cf. Câu-xá 8 (Đại 29, 42c)
[27]
Tám tà pháp 八邪法; các bản không giải. Thường chí
phần đối lập với tám chánh đạo.
[28]
Chín não xứ; chín trường hợp thù oán: 1. Oan gia của người
mà ta thương; 2. Thân hữu của người mà ta ghét; 3. Gây phiền
cho bản thân ta. Nhân với ba thời thành chín. Skt. āghāta-sthāna.
Cf. Pali, Saṅgīti, D.iii.262, nava āghāta-paṭivinayā.
[29]
Kiến vô vi 見無為 .La-thập nói (Đại 38, tr.0392b01): «Vô
vi, tức tận đế (= diệt đế; Skt. nirodha-satya).
[30]
Chánh vị 正位 . La-thập (ibid.) nói: «Từ khổ pháp nhẫn
cho đến vô sinh A-la-hán, cho đến Phật vị, đều gọi là
chánh vị.» VCX: chánh tánh ly sanh vị 正性離生位. Khuy
Cơ (T38n1782 tr.1088b26): «Chánh tánh chỉ chân lý Thánh đế.
Sanh, chỉ dị sanh (Skt. pṛthagjana: phàm phu). Ly sanh, tức vượt
ngoài địa vị phàm phu… Đây chỉ địa vị Dự lưu trở
lên.»
[31]
VCX: «Không thể phát khởi tâm Nhất thiết trí 一切智心
(Skt. sarvajñatā-citta).»
[32]
VCX: khởi thân kiến 身見. (Skt. satkāya-dṛṣṭi: hữu
thân kiến).
[33]
VCX: «Chúng tôi, trong dòng tương tục của tâm, hạt giống
sanh tử đã mục nát, không còn cơ hội để phát tâm…»
[34]
Đạo ý 道意 : Bồ đề tâm.
[35]
Giải thích của Khuy Cơ (T38n1782_p1089b25): trong bản Huyền Trang,
chỉ ba-la-mật thứ sáu tức Bát-nhã ba-la-mật (Skt. prajñāpāramitā)
vốn là trí vô phân biệt (Skt. nirvikalpa-jñāna); trong bản
La-thạp, trí độ chỉ ba-la-mật thứ mười (jñāna-pāramitā).
[36]
Khuy Cơ, đây chỉ ba-la-mật thứ 7, mà tự thể là hậu đắc
trí (pṛṣṭhalabdha-jñāna).
[37]
Thiện tâm thành thật 善心誠實. Chân thật đế pháp
真實諦法 (Skt. satya-dharma).
[38]
VCX: «Lấy phiền não nô lệ hèn mọn và kẻ giúp việc, tuỳ
ý mà sử dụng .»
[39]
Đạo phẩm, La-thập nói: 37 phẩm chung cho cả ba thừa. Đạo
phẩm của Bồ tát kiêm cả sáu ba-la-mật. VCX: Giác phần
覺分 (Skt. bodhi-pakṣa). Khuy Cơ: Nhân tố của Bồ đề nên
gọi là giác phần, chứ không phải là 37 phần Bồ đề.
[40]
Giác ý 覺意, Đạo Sinh: chỉ 7 giác ý; Skt. bodhyaṅga.
VCX: giác phẩm 覺品; Khuy Cơ: chỉ 37 giác phẩm hay trợ
đạo; Skt. bodhi-pakṣa.
[41]
Tám giải thoát 八解脫 (Skt. aṣṭau vimokṣāḥ).
[42]
Bảy thanh tịnh 七清淨: 1. giới tịnh; 2. tâm tịnh; 3.
kiến tịnh; 4. độ nghi tịnh; 5. phân biệt đoạ tịnh; 6.
hành trí kiến tịnh; 7. hành đoạn trí kiến tịnh.
[43]
La-thập: «Nhất tâm, trong bản phạm là hoà hiệp 和合 (Skt.
samagrī?) . Trong đạo phẩm có ba tướng: phát động, nhiếp
tâm và xả. Phát động quá thì tâm tán; do đó cần thâu nhiếp
lại. Nhiếp quá thì chìm nên cần tinh tấn… Đông tĩnh thích
hợp, khoan thai xử trung; đó là xả. Xả là đã được chế
ngự. Được chế ngự, là hoà hiệp.» VCX: bồ-đề tâm (Stk.
bodhicitta).
[44]
VCX: thắng ý lạc 勝意樂 (Skt. adhyāśaya).
[45]
Chỉ 7 Thánh tài 七聖財 (Skt. sapta dhanāni): tín, giới,
tàm, quý, đa văn, xả, tuệ.
[46]
VCX: hồi hướng đại Bồ đề.
[47]
Tùng ư tịnh mạng sanh 從於淨命生 ; Khuy Cơ cho là văn dịch
này hơi tối nghĩa. VCX: lấy tịnh mạng (Skt. śuddhājīva) là
chăn đệm.
[48]
La-thập: «người sang quý ngoại quốc, khi mặt trời mọc,
sai người tấu nhạc để đánh thức.» VCX: «Niệm, trí thường
giác ngộ; tâm luôn luôn tại định.»
[49]
VCX: «Thức ăn là pháp bất tử (Skt. amṛta-dharma)
[50]
Tương 漿 , đây chỉ thức uống.
[51]
VCX: «dựng cờ diệu Bồ đề.»
[52]
Chỉ 10 lực và 4 vô uý của Bồ tát.
[53]
Khuy Cơ diễn ý: «Tuy biết rõ các nghiệp của Ma, nhưng thị
hiện như là hành động theo chúng. Cho đến giai đoạn cứu
cánh, bằng vào tuệ phương tiện mà dứt sạch tất cả.»
[54]
La-thập (Đại 38, tr.0395c14): «Hoặc khi thấy có người ra
biển mà thuyền sắp bị chìm, Bồ tát biến mình thành đất
liền để làm chỗ trú ẩn…»
[55]
Trung kiếp 劫中 (Skt. antarkalpa), chỉ thời tận thế.
Trong thời này, loài người chịu ba tai họa nhỏ, gọi là
tiểu tam tai: dịch bịnh, đói kém, chiến tranh. Cf. Câu-xá
12 (Đại 29, tr. 65c25).
[56]
VCX: «Làm lợi lạc, đó gọi là bản sanh.» Khuy Cơ (T38n1782,
tr.1090c14): «Những việc làm lợi lạc như vậy, khi đã thành
Phật được gọi là bản sanh. Đó chính là Bản sanh sự của
Bồ tát.»
[57]
VCX: khiến phát Bồ đề nguyện.
[58]
VCX: thanh tịnh tu phạm hạnh.
[59]
Ngũ thông tiên nhân 五通仙人 (Skt. pañcābhijña ṛṣi).