CHƯƠNG
VI
CHIKA
BARDO
Chủ
nhật 2 tháng 12 năm 1984
Trong
khóa này chúng ta hãy đơn giản làm một thiền định ngắn
như chúng ta đã thấy chiều hôm qua, theo các giai đoạn sau
đây :
–
Trước tiên, chúng ta kiểm chứng trong vài giây phút tâm thái
của chúng ta, ý định chúng ta, trước khi bắt đầu sự thực
hành và chúng ta phát sanh ý định tích cực là làm những
điều này để giúp đỡ mọi chúng sanh.
–
Tiếp theo chúng ta thở ra ba lần các năng lực tà vạy, bằng
lỗ mũi phải, trái và đồng thời cả hai lỗ mũi.
–
Rồi chúng ta quan sát hơi thở trong bảy chu kỳ ra-vào bằng
cách tập trung sự chú tâm chỉ vào hơi thở. Trong một khoảng
thời gian tương đương chúng ta thư giãn mà không tập trung
vào bất cứ thứ gì. Lần nữa, chúng ta lại tập trung vào
hơi thở trong bảy chu kỳ ra-vào. Lại thư giãn trong một khoảng
thời gian tương đương và lại bắt đầu một lần thứ ba
tập trung và thư giãn.
–
Sau đó, chúng ta dùng một hình tướng tỏa sáng làm chỗ dựa
của thiền định. Trong khoảng không trước mặt, chúng ta
thấy một khối cầu ánh sáng trắng nó tiêu biểu cho yếu
tính, bản chất của đại bi của tất cả các bậc giác ngộ.
Với những ai quen thuộc với các kỹ thuật quán tưởng, hãy
thấy trong vòng tròn ánh sáng đó hình tướng của đức Phật
đại bi vô biên là đức Quán Thế Âm.
–
Trước sự hiện diện của bậc giác ngộ đại từ đại
bi, chúng ta tán tụng ba lần trước khi tụng ca thần chú của
Quán Âm (OM MANI PADME HUNG). Khi tụng ca thần chú này, ánh sáng
phóng xuất từ đức Quán Thế Âm và tịnh hóa toàn triệt
tất cả ba nghiệp thân, ngữ, tâm, và như thế chúng ta hoàn
toàn thanh tịnh. Chúng ta nghĩ như vậy trong khi tụng chú.
–
Tiếp theo, hình tượng ánh sáng này tan biến vào chúng ta và
người ta trở thành một hình thể ánh sáng từ trái tim, từ
toàn thân, chiếu ra vô số tia sáng chói lọi tỏa khắp mọi
hướng, chuyển hóa mọi khổ đau của vũ trụ thành lạc phúc.
Như thế mọi khốn khổ bị dập tắt và tan biến ; mọi chúng
sanh tràn đầy lạc phúc và trở thành thân thể bằng ánh
sáng.
Trong
khi quán tưởng, vào lúc người ta phóng ra những tia sáng của
lòng đại bi, người ta có thể dừng lại vài chốc lát trên
mỗi một hình thái của lòng đại bi của tâm giác ngộ (tượng
trưng bởi bốn cánh tay của Quán Âm) : lòng từ ái khiến
chúng ta cầu chúc cho mọi chúng sanh được hạnh phúc bởi
chính nguyên nhân của hạnh phúc ; lòng bi mẫn khiến chúng
ta mong rằng mọi chúng sanh được giải thoát khỏi tất cả
khổ đau và chính nguyên nhân của khổ đau ; niềm vui khiến
chúng ta sung sướng vì hạnh phúc của người khác và tâm
xả khiến chúng ta phát triển nơi mình ba tình cảm trên một
cách bình đẳng đối với mọi chúng sanh.
Chúng
ta hãy bắt đầu cuộc thiền định này và theo đuổi nó qua
từng chặng.
Sau
khi đã trải qua vài chốc lát để an bình tâm thức, giờ
đây chúng ta hãy bắt đầu sự thiền định và học hỏi
chính liên quan đến bardo.
Mỗi
khi người ta tiến hành một điều gì khá quan trọng, không
chỉ là một sự thiền định – hoàn toàn bình thường khi
bắt đầu thiền định bằng cách lắng yên tâm thức – mà
ngay trong đời sống hàng ngày, chẳng hạn khi người ta cần
có một quyết định quan trọng để làm một công việc, tốt
hơn là đừng làm nó trong sự vội vã, mà rất hữu ích trong
một trường hợp như thế hãy để vài phút để an định
tâm thức : trực giác hay sự thấu hiểu về tình thế sẽ
rất chính xác và cực kỳ tỏ rõ.
Đến
lúc này, chúng ta đã thấy bardo của cuộc đời hiện tại,
nghĩa là trạng thái trung gian trải dài từ khi sanh ra đến
lúc mà chúng ta có thói quen gọi là chết ; chúng ta cũng đã
thấy những sự tu hành tâm linh cho phép chúng ta đối xử
với những tình huống khác nhau mà chúng ta có thể gặp trong
suốt giai đoạn này, cũng như bardo giấc mộng.
Chủ
đề tiếp theo là bardo của lúc chết. Khi người ta nói đến
cái chết, một số chúng ta xem nó là hoàn toàn tiêu cực ;
số khác khi gặp một vài tình huống nghĩ rằng không có gì
cả sau khi chết, vậy thì họ có thể trốn thoát và tỵ nạn
trong cái chết.
Với
vài người đã được nhận một sự chuẩn bị và họ đã
theo đuổi sự tu hành và thiền định về bardo, thì không
có cái chết. Đấy đơn giản chỉ là một lối đi qua, một
giai đoạn. Những người lợi căn và họ gặt hái kết quả
của nghiệp tốt không cần phải đến một đời làm việc,
họ chỉ cần ba hay sáu tháng thực hành tận lực ; chắc chắn
rằng ngay cả thân thể họ sẽ tan thành ánh sáng. Lúc ấy
điều xảy ra là, chính trong trạng thái tâm thức này, dầu
không lìa khỏi thân thể này, mọi nguyên tố, mọi che ám
đều được thanh tịnh hóa trong trí huệ đạt được : thân
thể tạo bởi năm ấm, năm nguyên tố, cũng như các dạng
thức khác nhau của tâm thức đều được nhận biết trong
bản tánh chân thật và thanh tịnh của chúng như là những
sự thể không phải bất toàn mà là đại toàn thiện. Khi
biết thật tánh của năm nguyên tố, người ta hiểu rằng
đấy là năm Bà Mẹ, năm ấm là năm trạng thái giác ngộ
trong hình tướng của những vị Phật Thiền (Dhyani Buddha,
– Năm gia đình của chư Phật ; liên kết với mỗi gia đình
là một tình thức riêng biệt đã được chuyển hóa thành
một trong năm trí của trạng thái giác ngộ), tám loại thức
cũng được biết như là các trạng thái của tâm giác ngộ
– tám vị đại Bồ Tát – điều ấy làm cho ngay trong sắc
thân này, thân và tâm được hoàn toàn giải thoát trong một
trạng thái ánh sáng. Đó là điều mà người ta gọi là thân
thể cầu vồng.
Nhiều
giai đoạn cần thiết để đạt đến một mức độ chứng
đắc như vậy :
–
Giai đoạn phát triển, kyérim.
–
Giai đoạn hoàn thiện, dzog-rim.
–
Giai đoạn đại toàn thiện, dzog-pa-chenmo.
Trong
các giáo huấn về Đại toàn thiện, mà người ta cũng gọi
là Đại viên mãn, có những sự tu hành dẫn vào bản tánh
trí huệ của tâm thức, điều người ta gọi là trekcho. Và
cũng có những huấn luyện, thực hành cho phép nhận ra mọi
hiện hữu hiện tượng như chúng thật sự là, nghĩa là chúng
là sự biểu hiện của ánh sáng viên mãn.
Nhờ
vào các thực hành ấy, người ta có thể trở thành lợi lạc
cho chính mình và cho người khác đến một mức độ không
ngờ !
Người
ta nói rằng chỉ một người đạt đến trạng thái chứng
đắc này có thể làm lợi lạc cho các chúng sanh có một liên
hệ tích cực với người ấy trong các đời quá khứ, trong
đời hiện tại, đến một mức mà vào giây phút đó, mười
triệu chúng sanh sẽ được đưa đến cùng một mức độ
ấy trong cùng một thời gian và vô số chúng sanh được giải
thoát khỏi khổ ách. Đối với người đã đạt đến mức
độ như vậy, cái chết chẳng là gì cả, cái chết là một
trạng thái của tự do và chứng ngộ.
Vậy
thì có các giai đoạn tu hành, như chúng ta vừa đề cập.
–
Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn phát triển, mà những mức
độ khác nhau giúp cho chúng ta chuyển hóa tất cả các kinh
nghiệm mà chúng ta đã có trong quá khứ, vào lúc chết, trong
khoảng thời gian giữa cái chết và nhập thai, đúng trước
khi ra đời và suốt kinh nghiệm về sự sanh ra.
Để
chuyển hóa bao nhiêu kinh nghiệm đã sống trong quá khứ cũng
như trong đời hiện tại – mọi kinh nghiệm mà chúng ta trải
qua và chúng in dấu vào tâm thức nền tảng – có những tu
hành mà chúng ta đã đề cập nhiều lần để có thể nhận.
Mặc dầu chủ đề thì rất rộng, nói vắn tắt, người ta
làm việc trên thân, ngữ, tâm : liên hệ với thân, ngữ, tâm
chúng ta có những tri giác ; các sự tu hành này được thực
hành để chuyển hóa những tri giác thành trạng thái thanh
tịnh giác ngộ về bản tánh tuyệt đối của chúng. Không
chỉ để chuyển hóa những kinh nghiệm của quá khứ, mà còn
để tự sửa soạn cho kinh nghiệm về cái chết. Và khi chúng
ta đi vào giai đoạn sự hòa tan các nguyên tố cái này trong
cái kia, điều này liên hệ và tùy thuộc vào các giai đoạn
khác nhau của thực hành thiền định mà chúng ta sẽ thấy
lát nữa.
Vậy
thì, đối với nhiều hành giả, khi các nguyên tố hòa tan
cái này trong cái kia, thì đấy là một hình thức thấy lại,
ôn lại các kinh nghiệm đã làm trong khi thiền định. Thế
nên đó không phải là một kinh nghiệm lo lắng, mà nó giống
hơn với sự kiện thấy lại, gặp lại và nhận ra lại những
người bạn cũ.
–
Trong giai đoạn thứ hai, giai đoạn hoàn thiện hay viên mãn,
dzog-rim, có những thực hành hơi thở, tập trung vào những
trung tâm khác nhau và sự lưu chuyển của năng lực, những
thực hành thiền định bao gồm trong Sáu Yoga (của Naropa).
–
Ở mức độ đại toàn thiện hay đại viên mãn, dzog-pa-chenmo,
người ta được đưa vào bản tánh thật sự của tâm thức.
Giai đoạn này gồm các phần của maha mudra và maha sandi. Nhờ
các tu hành này người ta có thể nhận biết bản tánh chân
thực của tâm thức ngay trong đời này. Kinh nghiệm về ánh
sáng (quang minh) mà người ta có sau khi sự hòa tan của các
nguyên tố sẽ được biết như sự gặp gỡ của mẹ và con.
Ánh sáng Mẹ và ánh sáng Con hòa tan, lúc đó người ta nhận
biết điều ấy và người ta giải thoát. Đối với người
đã đạt đến một mức độ thực hành ấy, thì cái chết
chẳng có gì để lo lắng, đó là một sự việc cùng cực
giản dị.
Với
người không có thì giờ hay khả năng hiến mình cho các tu
hành như vậy, có một thực hành ngắn mà người ta gọi là
phowa, chuyển di tâm thức. Pháp phowa này cũng gồm các mức
độ khác nhau, ba lần ba mức độ – ba cho những hành giả
có khả năng cao, ba cho các hành giả khả năng trung bình, ba
cho những hành giả khả năng kém.
Ở
đây chúng ta chỉ đề cập đến một cách ngắn gọn. Nếu
người ta tự hỏi chuyển di là gì, thì phowa nghĩa là chuyển
di tâm thức. Nếu chúng ta tu hành phowa trong một tuần hay hơn
nữa ba tuần, chúng ta đạt một kết quả. Đó là một cách
tu hành chuẩn bị cho chúng ta để không cần trải qua các
kinh nghiệm chi tiết khác nhau hiện đến sau khi chết, và cho
chúng ta một sự làm chủ toàn diện tình huống.
Người
ta có thể xem yếu tố tâm thức như một người du lịch,
và thân thể này của cuộc đời hiện tại như là một phòng
khách sạn mà một người đi du lịch bỏ lại để đi từ
khách sạn này đến khách sạn khác khi thăm viếng các vùng
khác nhau. Và khi người ta phải rời cái thân này để qua
một đời khác, điều đó cũng giống như một người du lịch
rời bỏ một nơi chốn để qua chỗ khác, người ta có thể
chọn lựa nếu muốn hoặc là một đời sống khác hay đến
một quốc độ của chư Phật.
Với
một tu hành như thế, người ta không cần phải lo âu về
cái chết nữa, người ta biết đó cũng như một sự dọn
nhà. Khi chúng ta phải dọn nhà, chúng ta thường lâm vào tình
trạng bối rối, hốt hoảng ; chúng ta không muốn đối diện
với tình huống, thay đổi khuôn khổ đã quen, điều đó với
chúng ta rắc rối khủng khiếp. Nhưng khi chúng ta biết rằng
tuyệt đối phải làm chuyện đó, chúng ta quyết định, chúng
ta chấp nhận, thì sẽ tìm ra một chỗ thích hợp và chúng
ta sửa soạn. Khi không chấp nhận, thì có những xung đột
bên ngoài và bên trong. Cũng thế, khi phải rời thân xác này,
nếu chuẩn bị, điều ấy trở nên thật đơn giản.
Khi
muốn dời nhà từ một nơi này sang một nơi khác và biết
rằng phải làm thế thôi, thì mọi sự trôi chảy tốt đẹp,
nhưng thông thường, vì phải từ bỏ bà con láng giềng, bạn
bè, người trong gia đình ở rải rác nhiều chỗ, chúng ta
không muốn chấp nhận điều ấy. Mặt khác, chúng ta không
chắc tìm thấy được nơi chỗ ở mới có các láng giềng
tốt... Thế nên, chúng ta không thể chấp nhận ý nghĩ phải
dời nhà ; đặc biệt chúng ta thấy điều đó rất khó khăn
khi chúng ta đang ở yên, trong một mái nhà tiện nghi, với
một hoàn cảnh xung quanh dễ chịu.
Trước
hết, chúng ta có thể kiểm chứng xem chúng ta thật sự phải
ra đi hay không và chúng ta có muốn ra đi hay không, chẳng hạn
chúng ta không muốn đi nhưng vì những lý do như thời hạn
sử dụng đất đã hết, chúng ta buộc phải làm chuyện đó.
Tiếp theo, điểm đầu tiên là xác nhận liệu có một khả
năng nào đó đểø kéo dài sự tạm trú của chúng ta nơi
chúng ta đang ở hay không.
Vậy
thì, nếu người ta có những dấu hiệu tiên khởi của cái
chết, cũng có những pháp môn thực hành để kéo dài đời
sống. Khi đi đến lúc chấm dứt đời này, việc đó có nhiều
nguyên nhân, ở mức độ vật lý, mức độ nghiệp quả –
ở mức độ vật lý, vì một cơn bệnh, vì sự quân bình
các nguyên tố bị phá vỡ ; ở mức độ nghiệp quả, thời
gian chúng ta có quyền sử dụng sắp cạn kiệt. Trong cả hai
trường hợp, vẫn có những khả năng kéo dài cuộc sống
này.
Nếu
là nguyên nhân vật lý, chẳng hạn đó là một mất quân bình
của các nguyên tố, người ta có thể dùng thuốc và thử
lập lại quân bình, như thế kéo dài đời sống. Nếu là
nguyên do nghiệp quả, có những sự thực hành trường thọ
gồm những thực tập thiền định có thể dùng để kéo dài
cuộc sống. Một nguồn vốn sống lâu cũng rất quan trọng
là cứu mạng cuộc sống của các chúng sanh khác : kết quả
của hành động tích cực này kéo dài cuộc đời chúng ta
và đời của người khác. Ví dụ trên đường chúng ta gặp
các con vật người ta đưa tới lò sát sanh, nếu chúng ta có
thể cứu mạng chúng, điều ấy sẽ kéo dài thêm mạng sống
của ta. Như vậy, khi cứu vớt các cuộc đời khác, chúng
ta có thể kéo dài cuộc đời mình.
Chúng
ta cũng có thể kéo dài thọ mạng bằng sự thực hành bình
thường, chẳng hạn người ta dùng các thần chú, khi ấy người
ta hút vào tinh túy của các nguyên tố, bằng sự thực hành
các yoga...
Và
một ngày nào, khi chúng ta đến lúc biết rằng thật khó kéo
dài thêm nữa các hiệu quả của các thực hành này, lúc đó
quan trọng là phải sửa soạn những gì liên quan đến tài
sản, đến gia đình, đến những cái xung quanh chúng ta. Dầu
bắt buộc phải làm, điều quan trọng là hoàn thành các công
việc ấy với một thiện ý, để không có điều gì đáng
tiếc. Tất cả các sở hữu của chúng ta phải được phân
phối rành mạch phù hợp với nguyện vọng sâu xa của chúng
ta, để không có vấn đề nào, ân hận nào. Mặt khác, khi
người ta dọn nhà qua ở ngay trước mặt, nếu quên một cái
gì đó thì rất đơn giản, nhưng khi dọn nhà đến một nơi
rất xa, thật sự phải lo đến việc bị phải trở lại vì
một chi tiết nào đó.
Vậy
thì quan trọng là ra đi vào lúc ấy mà không có một hối
tiếc nào. Theo các giáo huấn, có một số rất nhiều các
dấu hiệu báo trước xuất hiện hoặc là ở mức độ vật
lý hoặc ở mức độ tâm thức, qua các giấc mơ. Cách gì
thì sự chỉ dẫn cũng rất chính xác về lúc khởi hành và
giờ phút chết, nghĩa là chúng ta được chỉ cho thời gian
để chuẩn bị.
Về
chuyện này, phải biết rằng tâm thức chúng ta hoạt động
một cách rất đặc biệt và đôi khi chúng ta cứ lo cho những
sự việc vặt vãnh mà quên cái chính. Thế nên, biết rằng
chết sắp đến, phải chuẩn bị, tổ chức tất cả cho sự
chôn cất và nói rõ ràng tài sản sẽ được phân phối như
thế nào. Tất cả những cái mà chúng ta đang giữ hiện giờ,
chúng ta đã nhận được hoặc bằng thừa kế hoặc bằng
làm việc. Vậy thì cách nào nó cũng là kết quả lao động
của ai đó, và chúng là những thứ phải chú ý để sử dụng
cho đúng. Như thế, không để ai bên ngoài bó buộc, chúng
ta phải có những quyết định tài sản chúng ta phải được
sử dụng cách nào. Nếu người ta có thể dùng chúng trong
mục đích từ thiện, như giúp trường học, nhất là các
trường trẻ em tật nguyền, hay các viện dưỡng lão, các
tu viện tâm linh, đó là những yếu tố sẽ rất ích lợi
cho chúng ta vào giây phút chết và những ngày sau đó. Có thể
người ta có cảm tưởng rằng đang mất đi điều gì hay điều
đó cũng chẳng ích gì. Nhưng hoàn toàn không phải thế đâu
: nếu người ta trồng một hạt, không tức thời người ta
thấy được trái, có lẽ phải khoảng 3, 6, 9 hay 12 tháng ;
nhưng luôn luôn dĩ nhiên có một cái gì đó sẽ mọc lên từ
cái mà người ta đã trồng và theo cách mà người ta đã trồng.
Một
hành động đích thực chính đáng luôn luôn có một kết quả
tích cực, điều đó cũng tùy thuộc vào ý định mà người
ta làm việc đó. Một hành động chính đáng được làm với
một ý định tích cực sẽ có một kết quả cực kỳ mạnh
mẽ.
Khi
nói đến nghiệp, nghiệp (karma) đơn giản chỉ là hành động.
Hành động là gì ? Đó là năng lực. Nếu người ta dùng năng
lực ấy với một thiện ý, điều đó đem lại một kết
quả tốt ; nếu dùng nó với một ác ý, sẽ đem lại một
kết quả xấu. Vậy thì mọi điều chúng ta có thể làm với
một ý định tốt sẽ có những kết quả tốt không chỉ
cho chính chúng ta mà còn cho những người khác.
Tâm
thức thì rất đặc biệt như chúng ta đã nói. Những điều
nhỏ nhặt gây lên nó những ảnh hưởng lớn lao. Chúng ta
có những ví dụ về những vị cao cả, những hành giả rất
tiến hóa họ có một sự làm chủ hoàn toàn trạng thái mộng
và các vị có thể liên lạc với những chúng sanh đang sống
trong trung ấm, bên kia cái chết. Các vị có thể biết những
kinh nghiệm của các chúng sanh ấy và những bận bịu lo toan
của họ. Tôi nghĩ rằng điều ấy phải khá phổ biến trong
mọi xứ ở thời quá khứ ; ở Tây Tạng đó là một truyền
thống còn sống động tới ngày hôm nay. Những người mà
mức độ chứng nghiệm rất cao, rất tiến bộ trên con đường
Bồ tát, có khả năng thiên nhãn rất phát triển, bằng sự
thực hành có thể dễ dàng có những liên lạc với các chúng
sanh đang trong tình trạng trung ấm sau cái chết. Người ta
có nhiều câu chuyện về đề tài này ; để giải trí cho
các bạn tôi sẽ kể cho các bạn nghe một câu chuyện thôi,
nó rất giản dị.
Nhưng
câu chuyện này không phải là một chuyện kể dành cho trẻ
em. Đó là một câu chuyện sống thực, đã xảy ra cách đây
khoảng hai mươi lăm năm ở miền đông Tây Tạng. Có một
trung tâm tu học được điều khiển bởi một vị thầy vĩ
đại, Dugpa Rinpoché. Ngài có thói quen đi ra xung quanh vùng phụ
cận, ban cho các lời chỉ dạy cho nhiều đệ tử thuộc nhiều
cấp độ, họ quây quần quanh ngài, có cả nhiều người ăn
xin. Các người ăn xin này chẳng chú ý bao nhiêu tới lời
dạy của ngài hơn là tới thức ăn mà ngài phân phát cho tất
cả. Trong đám họ, có một người ăn xin già rất thích món
xúp. Có lẽ điều này cũng có trong các xứ khác, nhưng ở
Tây Tạng vì những lý do y học và các lý do khác mà người
ta nấu xúp cả xương lẫn tủy. Đó là món xúp ông ăn xin
già ưa thích. Ngày nọ, ông chết thình lình, và trong nhiều
đêm chó của trang trại quấy rầy mọi người khi sủa không
ngớt và chạy vòng quanh căn nhà hư nát nơi ông ăn xin già
nua thường ẩn mình ở đó để ăn. Vị lạt ma biết bằng
thiên nhãn rằng người mới chết rất thích xương và mỗi
lần ông dùng một bữa ăn có xương tủy ông giữ lại một
ít để nấu xúp. Ông đã cất giấu kho tàng của mình trong
một kẻ hở của bức tường, giấu mấy con chó, và ngay cả
sau khi chết, ông cũng không thể bỏ được các xương ấy.
Dugpa Rinpoché chỉ ra nơi để xương, bảo người ta tán ra
thành bột và làm một lễ cúng cầu an cho ông ăn xin. Yên
bình trở lại với trang trại.
Tâm
thức gắn bó với các vật vô nghĩa như vậy, đôi khi chỉ
là vài mảnh xương. Cũng có những câu chuyện về các bà
lão không thể lìa bỏ các cây kim, cuộn chỉ của họ... Nhưng
chuyện này xảy ra chỉ mới hai mươi lăm năm ! Thế nên, những
sự vật nhỏ bé và thấp kém có thể gây cho chúng ta một
lo âu lớn, thật quan trọng cần sắp xếp trước khi người
ta cảm thấy gần với sự chấm dứt, và phải chuẩn bị
tất cả để thoát khỏi mọi bám níu.
Và
nếu đến lúc các người thân quanh ta chết, thì cực kỳ
quan trọng phải tuân theo các ý muốn cuối cùng của họ,
phải tôn trọng chặt chẽ các nguyện vọng hay chúc thư của
họ, để không có một xung đột nào với chúng sau khi họ
chết, bởi vì họ còn hiện hữu với tư cách là thân thể
tâm thức. Họ sẽ rất dễ dàng biết điều mà người khác
nghĩ và làm vì không có hàng rào của thân thể vật lý nữa.
Trong trạng thái thân thể tâm thức, người ta cực kỳ nhạy
cảm với mọi điều đó, và vì thông thường người ta có
thể ở khoảng bốn mươi chín ngày trong thân thể tâm thức
– thông thường vì điều đó tùy theo cá nhân. Người chết
thường ở vùng xung quanh chỗ ở hàng ngày. Nếu người ấy
biết rằng người ta không dùng các tài sản của mình theo
cách mình muốn, người đó có thể khởi ra oán giận, điều
ấy bấy giờ với họ là một nguyên nhân của khổ đau và
của những sự khó khăn. Thế nên, điều chính yếu với người
ở lại là hoàn toàn vâng theo ý muốn của người chết.
Bây
giờ tôi muốn nói với các bạn một chút về sự thực hành
phowa, nghĩa là chuyển di tâm thức. Khi người ta sửa soạn
một cuộc du lịch để từ bỏ một nơi này để đến một
nơi khác, điều quan trọng là cần biết con đường phải
theo để đến chỗ kia và các phương tiện cần dùng – người
ta có thể đến đó bằng xe hơi, máy bay hay đi bộ, như người
ta muốn. Ở đây là sự chuyển di mà nơi đến sẽ là các
quốc độ thanh tịnh của chư Phật, và người ta sẽ kết
hợp tâm thức mình với bản tánh tự do toàn hảo của Phật.
Để
làm sự tu hành này, người ta có thể dùng nhiều hình tướng
của các bậc giác ngộ ; ở đây sẽ là Amitabha (A Di Đà Phật).
Người ta quán tưởng Phật A Di Đà và trộn lẫn tâm thức
mình với bản tánh của tâm thức ngài. Người ta dùng kinh
mạch trung ương để làm được việc đó : trong thân thể
chúng ta có nhiều kinh mạch vi tế khác nhau ; người ta hãy
dùng kinh mạch trung ương cho sự đi qua của yếu tố tâm thức
bởi một cái cửa đã được xác định. Trong thân ta có nhiều
trung tâm hay là chakra (luân xa) : cái của đầu, cái của cuống
họng, cái ở trái tim, cái ở rốn và trung tâm bí mật. Có
nhiều trung tâm khác trong thân, nhưng những trung tâm trên là
những cái chính, và chúng đều liên hệ với trung tâm thứ
năm nằm trong đầu.
Chúng
ta có những cửa đi ra khác nhau : những lỗ mắt, tai, mũi,
miệng và các lỗ bên dưới.
Khi
có các vực thẳm ở đâu đó, người ta tìm cách tránh chúng
và sửa soạn đường đi. Ở đây người ta hãy tìm cách đóng
lại tất cả các cửa ra khác và chỉ mở lối ra của trí
huệ, ở trên đỉnh đầu.
Người
ta quán tưởng rất rõ ràng kinh mạch trung ương và đóng mọi
lối ra khác nhờ vào một vài âm thần chú bít chặt các lối
ra. Trong kinh mạch trung ương, người ta quán tưởng một quả
cầu bằng ánh sáng hay một chữ thần chú. Người ta cũng
quán tưởng hình tướng một vị Phật, đặc biệt là hình
tướng của Phật A Di Đà, ở trên đầu mình. Và, nhờ vào
một âm thần chú được phát ra một cách cương quyết, người
ta chuyển di tâm thức mình vào trong tâm thức của Phật, hình
tướng Phật là một biểu tượng của trạng thái thanh tịnh
thuần túy của tâm thức. Vậy là người ta chuyển di yếu
tố tâm thức và người ta hòa tâm thức mình với tâm thức
của Phật. Tiếp theo, trở lại, người ta làm cho yếu tố
tâm thức đi xuống trở lại. Đó là cách mà người ta tu
tập.
Khi
người ta thấy các triệu chứng báo trước một sự ra đi,
một cái chết kề cận, người ta sẽ thực hiện phép chuyển
di và lúc đó người ta không trở lại nữa. Còn trong khi tu
tập người ta phóng xuất tâm thức và tiếp theo làm cho nó
trở lại, và lúc chót của sự thực tập, Phật biến thành
Phật Vô Lượng Thọ và tan thành ánh sáng và hòa tan với
chúng ta, ở giây phút chính xác này, cần phải quán tưởng
là người ta đóng lại cánh cửa của trí huệ. Chỉ để
mở nó khi thật sự là lúc ra đi.
Khi
người ta trở nên có khả năng sử dụng sự tu hành này,
điều ấy rất là lợi lạc và có thể giúp đỡ phụng sự
người khác, nghĩa là khi người ta có thể áp dụng nó cho
mình khi chết thì người ta cũng có thể giúp đỡ những người
đang chết hay vừa chết. Đó là một tu hành cực kỳ lợi
lạc và hiệu quả. Rõ ràng có một vài thay đổi trong kỹ
thuật theo nhu cầu. Nếu đó là người khác thay vì chính mình,
người ta quán tưởng các chữ thần chú... trong thân của
người ấy, và nhờ vào sự định tâm và lòng đại bi của
chúng ta, người ta có thể thật sự dẫn dắt người này
về con đường đúng và che chở cho người ấy khỏi mọi
khổ não và mọi kinh nghiệm khó khăn mà họ có thể gặp.
Khi
người ta chuyển di yếu tố tâm thức vào trong tâm của Phật
A Di Đà, A Di Đà có nghĩa là ánh sáng vô lượng, Vô Lượng
Quang... Phật là một bậc thức tỉnh giác ngộ, đó không
phải là một người xa lạ, một người đến từ một xứ
sở khác, thật ra đó là một phương diện của trạng thái
thanh tịnh vốn có của tâm, nó thường trực hiện diện nơi
chúng ta. Và khi người ta nói đến năm
Đức
Phật A Di Đà
mối
phiền não mà người ta học cách tịnh hóa, chuyển hóa chúng
thành năm hình thái của trí huệ ; khi người ta nói đến
năm ấm – sắc, thọ, tưởng, hành, thức – thì dưới hình
thức thuần túy, thanh tịnh của chúng, đó là năm vị Phật
Thiền (Dhyani Buddha) ; đó không phải là các sự vật ở ngoài
chúng ta, đó là những phương diện của trạng thái thanh tịnh
vốn có của tự tâm chúng ta.
Khi
người ta thực hiện việc chuyển di tâm thức, tuyệt đối
phải chú ý là chỉ làm nó đúng vào lúc đáng làm, nghĩa
là khi người ta thấy những dấu hiệu bên ngoài và bên trong
của sự tan rã các nguyên tố và người ta đã bắt buộc
đến chỗ không thể trở lại. Trước khi đó, không chính
đáng để làm sự chuyển di tâm thức. Thân thể này vô cùng
quý giá, đó là một mạn đà la toàn hảo của các hình sắc
của Phật. Nếu người ta thực hiện sự chuyển di trước
khi đúng lúc, đúng thời, đó là một hành động rất tiêu
cực, một ác hạnh cho mình và cho người. Vậy thì người
ta tu hành sự chuyển di tâm thức theo cách có thể thực hiện
nó, nhưng độc nhất chỉ dùng vào thời điểm chính xác.
Thực
hành thiền định trong đời mình cũng rất hữu ích vào thời
điểm chuyển di tâm thức. Người ta có thể hành những thiền
định với tâm đại bi bao la hay với tâm Bồ đề. Đó là
một trợ giúp lớn lao trong đời hiện tại và trong lúc chết.
Thái
độ tích cực thật là một năng lực vĩ đại. Trong suốt
cuộc đời, chúng ta gặp nhiều tình huống khác nhau, những
tình huống khó khăn chắc chắn có thể đến với ta ; ngược
lại có những lúc mà mọi sự đều hanh thông. Những lúc
đó, không có gì để kiêu căng vì thành công và hạnh phúc,
mà đơn giản chỉ hưởng thụ chúng một cách tự tại và
cầu chúc cho mọi người khác cũng được hưởng thụ hạnh
phúc đó, mà chúng ta đang có.
Không
nên phá hủy hạnh phúc đó bằng cách suy nghĩ “vâng, chắc
chắn tôi có điều này điều nọ, nhưng nó chẳng là gì cả,
hãy xem những người khác, họ có còn nhiều hơn tôi !” ;
“công việc tôi thành công, tốt lắm, nhưng người khác còn
có một nghề nghiệp sáng chói hơn !” Không ích gì mà phá
hoại hạnh phúc chúng ta đang có ; chúng là kết quả các nghiệp
thiện đã chín và nếu người ta phá hủy nó, người ta sẽ
có thể không hưởng được nó. Trái lại, phải an vui với
những tình huống sung sướng này và thành thật cầu mong rằng
tất cả đều có thể biết đến hạnh phúc và an vui !
Rất
quan trọng thâu hoạch được sự tu hành mà người ta gọi
là sự thực hành cho-nhận. Khi nói đến cho-nhận, điều đó
nghĩa là người ta thu vào sự khổ đau của những người
khác, người ta chuyển hóa nó và gởi lại những tia sáng
của lòng đại bi, như thế chia xẻ năng lực tích cực với
những người khác. Đây là một việc mà người ta phải làm
mỗi ngày trong cuộc đời thường nhật, điều ấy sẽ là
một giúp đỡ lớn lao cho chúng ta vào giờ phút chết. Thật
vậy, người ta có thể bảo trì thái độ này vào lúc chết
– khi hít vào, người ta hấp thu tất cả mọi khổ đau của
những ai đang phải sống trong một hoàn cảnh tương tự, họ
cũng đang phải thực hiện sự ra đi ; mỗi ngày, mỗi phút,
luôn luôn có vô số người đang hấp hối. Người ta hít vào
tất cả đau khổ của họ, người ta chuyển hóa nó thành
đại bi và gởi trả lại những tia ánh sáng. Nếu chúng ta
thở hơi cuối cùng theo cách này, thì không có cách nào hay
hơn để thực hiện chuyển di tâm thức !
Thái
độ tinh thần trổi bật lúc chết là cực kỳ quan trọng
và nó làm mạnh thêm tất cả mọi hành động nghiệp lực
của quá khứ, dầu tốt hoặc xấu. Thế nên thật chính yếu
cần có một thái độ tích cực, tốt vào lúc chết. Nếu
tham dự với các người hấp hối, lý tưởng là có thể cho
họ một môi trường chung quanh an bình và thanh tĩnh để thực
hiện việc ra đi, và nhất là tránh tất cả những gì có
thể gây ra một cơn giận mạnh, một tức bực hay một tham
đắm ích kỷ vào giây phút đó vì điều ấy sẽ gây ra các
khó khăn sau đó. Như thế, khi người ta đang lo cho người
hấp hối, điều quan trọng nhất là luôn luôn có một thái
độ tích cực và một lòng đại bi. Đó là cách tốt nhất
để giúp đỡ họ, sự nâng đỡ tốt nhất mà người ta có
thể trao cho họ.
(Ngưng
nghỉ mười lăm phút)