MỤC
LỤC
Lời
giới thiệu
Ðôi
lời soạn dịch
LỜI
GIỚI THIỆU
Kinh
Pháp Cú vốn thuộc về loại kinh “Vô vấn tự thuyết”,
như kinh Di Ðà.v.v... trong 12 phần giáo của Ðức Phật. Kinh
Pháp Cú là một quyển kinh được dịch thành nhiều thứ tiếng
nhất, in nhiều lần nhất, cũng như nhiều người dịch nhất.
Kinh Pháp cú mang nhiều tên như: Pháp Cú Kinh, Pháp Cú Tập
Kinh, Pháp Cú Lục, Ðàm Bát Kinh, Ðàm Bát Kệ... Trong Ðại
Chánh tập 4, kinh này cũng có nhiều tên, như: Pháp Cú Thí
Dụ Kinh, Pháp Cú Bổn Mạt Kinh, Pháp Cú Dụ Kinh, Pháp Dụ
Kinh, Pháp Cú Thí Kinh,.v.v... Kinh Pháp Cú nguyên bổn có cả
1.000 kệ (cú), theo thời gian thanh lọc lần lần còn 900 - 800
- 700 kệ...... hiện nay là 423 kệ, được lưu hành phổ thông.
Năm
1973, trường Chuyên khoa Phật Học Viện Hải Ðức Nha Trang,
thầy Tuệ Sỹ đã dịch 20 cú đầu (Song Yếu) - cả mẩu truyện
và kệ - để dạy cho Tăng Ni sinh Chuyên khoa Phật học. Theo
nguyên văn của bản dịch này thì mẩu truyện duyên khởi
dành cho mỗi cú diễn tả dài quá. Sau đó, tôi đọc bản
dịch của ông Phạm Kim Khánh dịch từ nguyên bản của ngài
Narada thì thấy ngắn gọn quá, có truyện bị hụt hẫng, khó
hiểu.
Ðộ
mươi năm gần đây, tôi thấy thầy Tịnh Minh (Ðặng Ngọc
Chức) - đệ tử Cố Hòa Thượng Viên Giác, cựu Học tăng
Phật Học Viện Hải Ðức Nha Trang, nguyên Giảng viên Phật
khoa Viện Ðại Học Vạn Hạnh, và hiện là Giảng viên Anh
văn của trường Cao Cấp Phật Học Vạn Hạnh, thành phố
Hồ Chí Minh... có dịch các mẩu truyện duyên khởi của Kinh
Pháp Cú đăng trên báo Giác Ngộ. Vốn dĩ, tôi thích và “ghiền”
Pháp Cú nên tôi gợi ý Tịnh Minh sau khi đăng báo rồi, tập
trung lại đưa tôi in thành sách để phổ biến.
Nay,
Tịnh Minh soạn dịch được phần đầu của Kinh Pháp Cú,
gồm 59 mẩu truyện, không dài dòng lắm, cũng không thu gọn
quá, trao cho tôi xem, mang tên TỪNG GIỌT NẮNG HỒNG, tôi hoan
hỷ viết lời giới thiệu và xếp vào tập 121-A của Pháp
Tạng Phật Giáo Việt Nam (Phần còn lại của Kinh sẽ được
tiếp tục in và xếp vào các tập 121-B, 121-C). Ðồng thời
tôi cũng dùng tập sách này để kỷ niệm Ðệ nhị chu niên
ngày thành lập Ban phiên dịch Pháp tạng Phật giáo Việt Nam
(19.2 Nhâm Ngọ – 19.2 Giáp Thân, vía đức Bồ-tát Quán Thế
Âm).
Tôi
mong quý Tăng Ni Phật tử dành thì giờ đọc truyện Kinh Pháp
Cú này để cùng nhau hưởng pháp lạc từ những lời vàng
ngọc do lòng từ bi mà đức Thích Ca Bổn Sư của chúng ta
đã ban bố trong từng vấn đề.
THÍCH
ÐỖNG MINH
Kính
cẩn cúng dường
ÐÔI LỜI
SOẠN DỊCH
1.
Duyên khởi:
Sau
khi ấn phẩm “Thi Hóa Pháp Cú Kinh” được chuyển
thể từ bản tản văn tiếng Anh (Dhammapada) của ngài Nàrada,
xuất bản tại Colombo năm 1962, sang vận văn tiếng Việt, và
được phép lưu hành nội bộ tại trường Cơ Bản Phật Học
thành phố Hồ Chí Minh năm 1990, thì được Hòa thượng Thích
Ðức Chơn, trụ trì tu viện Quảng Hương Già Lam, quận Gò
Vấp, người rất yêu văn phong thiền vị, cảm mến và mời
một số văn nghệ sĩ nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh
ngâm vào băng cassette. Ðến năm 1995, ấn phẩm được tái
bản với tựa đề: “Thi Kệ Pháp Cú Kinh”, mục đích là
để tránh sự hiểu nhầm từ “Thi Hóa” và để đảm bảo
tính nghiêm túc của bản dịch.
Rồi
một hôm, tình cờ gặp được bộ sách “The Harvard Oriental
Series”, gồm 3 cuốn, do Charles Rockwell Lanman làm chủ
biên với sự hợp tác của nhiều học giả nổi tiếng khác,
cùng với Hội Pali Text tái bản bộ “Buddhist Legends”,
do Eugene Watson Burlingame dịch và chú giải kinh Pháp Cú từ
nguyên bản Pali ra Anh ngư,õ tại Anh quốc năm 1990, dưới
sự cho phép của nhà xuất bản Ðại Học Harvard. Từ đó,
duyên khởi của mỗi kệ Pháp Cú được lần lượt xuất
hiện trên tuần báo Giác Ngộ. Lúc đầu chỉ chọn tựa đề
“Pháp Thoại Pháp Cú” chung cho các truyện, nhưng rồi nhân
dịp hàn huyên tại tòa báo, Thượng tọa Giác Toàn gợi ý:
“Thầy nên đặt một tựa đề tế nhị, hấp dẫn, phù hợp
với
tình tiết cốt truyện thì hay hơn”. Nhất là khi gặp
Hòa thượng Thích Ðỗng Minh tại chùa Già Lam, Ôn đưa tay
ra dạng xá xá, nói: “ TM. ơi, ông biết tôi mê Pháp Cú rồi
đó; ráng hoàn tất phần duyên khởi cho tôi đọc, chứ
bản dịch của ông Phạm Kim Khánh sao tôi thấy hụt chạt
quá!...” Trời ơi, các bậc đạo sư tôn đức thường khích
lệ môn đồ hậu bối bằng những ngôn từ, cử chỉ thâm
diệu mà sấm sét như thế. Tôi chấp tay xá Ôn, ngầm lãnh
trách nhiệm, nhưng trong lòng thấy lo ngại vì sợ rằng không
đáp ứng được hoài vọng của Ôn. Từ đó, tôi càng quý
trọng thời gian và siêng giữ hai thời công phu hơn. Ví dụ
sáng nào đi làm sớm thì tôi phải tụng kinh bù trên đường
đến trường, coi như mình đã hoàn thành nhiệm vụ buổi
mai. Mục đích là để nạp thêm năng lượng, nhớ tưởng
công trình. Thế rồi nay một ít, mai một ít, dần dần rồi
cũng đạt được đôi chút công phu. Ðúng là đã đi thì sẽ
đến, dừng lại tức thụt lùi. Xin được chia sẻ chút thiện
duyên hỷ lạc với những ai đã và đang âm thầm làm công
tác văn hóa văn nghệ cho Phật giáo và dân tộc.
2.
Xung động:
Ðứng
về phương diện dịch thuật (translation) mà nói thì có nhiều
cách: dịch nguyên văn (technical), dịch văn chương (literary),
dịch truyền đạt (communicative), dịch ngữ nghĩa (semantic),
dịch sát nghĩa (literal) v.v..., nhưng dịch cách nào thì cũng
phải tôn trọng ba nguyên tắc cốt lõi: trung thực với nguyên
bản, diễn đạt hài hòa, và văn phong tao nhã. Ở đây, khi
động đến truyện tích về duyên khởi Pháp Cú, tôi phải
ứng dụng phương pháp soạn dịch, chứ không thể nào dịch
nguyên văn hay sát nghĩa được, vì có truyện nội dung đơn
giản, ngắn gọn; có truyện tình tiết quá dài, bao hàm nhiều
truyện tiền thân liên kết với nhau, nhất là ngôn từ xa
xưa, văn phong cổ kính, khó mà tách bạch rạch ròi, quán triệt
cốt truyện. Người dịch xin gồng mình tinh luyện, biến chế,
xông ướp, gia giảm sao cho tình tiết cốt truyện thêm phần
mạch lạc và sinh động, độc giả dễ dàng tiếp nhận sự
kiện và biện luận trong lòng.
Ðiều
thú vị nhất mà người soạn dịch có được mỗi khi chạm
đến từng trang duyên khởi Pháp Cú là cách vận hành lý trí,
hoạt dụng ngôn từ, thể nhập tâm tư, nhào lộn biến hóa
theo từng nhân vật cốt truyện: khi thì thấy tự thân hiển
hiện như Phật Tổ Thánh Tăng, lúc thì đột nhiên hóa kiếp
thành lục lâm yêu quái, khi thì nuôi dưỡng hành vi hiền thiện,
lúc thì vung vít ngôn hạnh hoang sơ, khi thì chân tình ân nghĩa,
lúc thì hỗn láo bạo tàn v.v... Chao ôi!... tất cả, tất
cả đều lờ mờ ẩn khuất hay phơi phới tưng bừng
qua từng sát na mầu nhiệm như vài ba cảm nghiệm sau
đây:
2.1
Thăng hoa:
“
... Này các thầy Tỳ kheo, để tiến đến Thánh đạo hay chứng
quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, bước đầu hành giả
phải tu tập thân khẩu ý theo bảy điều cơ bản như sau:
1.
Chánh niệm: suy nghĩ và ghi nhớ chánh pháp, loại bỏ tạp
niệm vọng tưởng, một đường thẳng đến mục tiêu tối
thượng.
2.
Trạch pháp: xem xét, khảo sát, tuyển chọn cho mình những
đối tượng tư duy chân thật, lành mạnh; nhất là chọn đúng
pháp môn tu tập, phù hợp với căn cơ và thể trạng tâm sinh
lý của chính mình.
3.
Tinh tấn: xác định hướng đi đích thực rồi thì phải nỗ
lực phấn đấu, phát huy thiện căn, hàng phục tập khí, dõng
mãnh tiến bước trên lộ trình giải thoát.
4.
Hỷ lạc: vui vẻ phấn chấn, hòa hợp lạc quan; nghe dông tố
như gió lộng đồi non, thấy tuyết sương như nắng hồng
sưởi ấm; nhất là xem ốm đau nghịch cảnh như quân bình
thể lý tâm tư, gặp hủy báng khinh khi như xoa bóp thần dược
tiêu trừ kiêu căng ngạo mạn.
5.
Khinh an: nhẹ nhàng thanh thản, tự tại thong dong; ăn rau rừng
như nhai cam thảo, uống nước suối như nuốt đề hồ; nghe
chim ca như nhạc trời vang vọng, ngắm hoa nở như cánh mạn
đà la; phiền não tiêu tan, kiến chấp khô kiệt.
6.
Thiền định: tâm tư tịch tịnh, vắng lặng, đứng yên; vọng
tưởng hết duyên dấy khởi, thân tâm rũ sạch hồng
trần.
7.
Hành xả: buông bỏ, xả ly; dứt bặt kiến chấp, ngã pháp
tiêu vong, tâm cảnh dung thông, tuệ giác hiển lộ.”
2.2
Ngậm ngùi:
“
... Kính bạch Pháp sư, hôm nay chúng con có chút duyên lành,
được gặp Pháp sư, xin Pháp sư từ bi chỉ dạy cho chúng
con một số vướng mắc về Phật pháp.
- Nghi
gì cứ hỏi. Biết đâu nói đó. Miễn khách sáo!
- Dạ...
thưa Pháp sư, lâu nay chúng con học tập kinh văn nhưng chưa
hiểu rõ thế nào là “ngũ uẩn giai không và tứ đại phù
trì”.
- Có
thế mà cũng hỏi! Ngũ uẩn giai không là năm uẩn đều không.
Tứ đại phù trì là bốn đại giữ giúp.
- Sao
đơn giản thế, thưa Pháp sư! Theo giáo lý chúng con học thì
ngũ uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức; tức là hình
sắc, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức. Năm yếu
tố này hoàn toàn lệ thuộc vào các điều kiện thời gian
và không gian, chúng không có thật tánh, không hiện hữu độc
lập, nên gọi là không. Còn tứ đại là: đất, nước, gió,
lửa; tức là bốn nguyên tố: rắn, lỏng, khí và nhiệt vận
hành trong mỗi cá thể chúng sanh. Ngũ uẩn và tứ đại hỗ
tương duyên hợp với lục căn lục trần mà hoạt dụng tương
tục theo dạng giả danh, nên gọi là không.
- Thiện
tai! Thiện tai! Cái uyên áo và diệu dụng của Pháp sư là
ở chỗ đó. Khơi gợi. Khơi gợi cho ý thức tham vấn bùng
vỡ đúng lúc. U-đa-di gõ gõ ngón tay trỏ xuống thành pháp
tòa nói.
- Thưa
Pháp sư, chúng con còn một mối nghi nữa!
-
Tự nhiên!
-
Thế nào là quán “tứ niệm xứ”?
-
Chà!... thấy các sư thông thái quá mà còn hỏi chi nữa hè!
-
Chúng con muốn lĩnh thọ thâm ý kiến giải của Pháp sư.
-
Vậy là các ngươi muốn đố ta! Muốn chơi ta hả?
-
Dạ không dám! Chúng con thật sự muốn cầu học, xin Pháp
sư hoan hỷ!
-
Ừ!... thế thì được. Nhưng trước hết ta muốn thấy sự
hiểu biết của quý vị. Hãy trình bày ta xem.
- Thưa
Pháp sư, theo chúng con biết thì quán “tứ niệm xứ” là
quán niệm, suy xét về bốn lĩnh vực hay đối tượng cơ bản,
tiên quyết cho cuộc hành trình của người xuất gia, tu hạnh
giải thoát. Ðó là: 1. Quán thân bất tịnh: quán sát sâu sắc
để thấy rõ căn thân là một tổ hợp không trong sạch, nói
cách khác là bẩn thỉu. 2. Quán thọ thị khổ: chiêm nghiệm
tận cùng để thấy mọi cảm thọ vui buồn đều khổ; nói
chung, nhận lãnh sắc thân và nhu cầu sinh hoạt là đương
đầu với vô vàn khổ lụy. 3. Quán tâm vô thường: soi rọi
tinh tế để thấy tâm tư máy động, luồn lách vô thường.
4. Quán pháp vô ngã: rà xét toàn triệt để thấy các pháp
hữu vi vô vi, tức là đối tượng của nhận thức, đều
do duyên sanh, không có tự tánh, hoàn toàn vô ngã. Quán niệm
và ngộ đạt “tứ niệm xứ” sẽ giúp hành giả vững bước
trên lộ trình thẳng đến mục tiêu thánh đạo.
- Hay!...
Cái bí quyết ưu việt của Pháp sư là thế đó. Khơi gợi.
Khơi gợi cho tinh hoa phát tiết, nghi vấn tự tiêu.”
2.3
Gian
trá:
“
... Tan lễ, trên đường về nhà, Mật Thủ cười nói huyên
thuyên, ra vẻ rất tâm đắc về những lời thuyết giảng
của Ðức Phật. Ðoạn gã quay sang Chí Thiện, hỏi:
-
Này, cậu đã nấu cơm ở nhà chưa?
-
Chưa! Tay làm hàm nhai ấy mà. Ðịnh trên đường về, mua ít
gạo nấu cho tiện.
-
Thấy cậu giờ này mà còn lận đận, thiếu trước hụt sau.
Ðộc thân là hẩm hiu thế đó! Lấy vợ đi. Kiếm cô nào
phốp pháp, lanh lợi, xông xáo một chút. Như vợ tớ đấy!...
vừa về tới ngõ là đã nghe tiếng cười nói rổn rảng từ
trong nhà vọng ra. Mình luồn lách cực khổ cỡ nào cũng thấy
mát ruột khi có được một nội tướng đồng thanh đồng
thủ như thế. Nghe lời tớ đi! Ðừng chần chừ nữa! Hay...
để tớ làm mai cho một tiểu thư... đúng mốt!
-
Xin cảm ơn! Nghe Thế Tôn thuyết pháp riết rồi mình muốn
đi tu quá.
-
Ngu!... Mật Thủ quắc mắt nói như một nhát búa phập vào
khúc gỗ mục. Cậu tưởng đi tu sướng lắm hả! Sống lệ
thuộc vào lòng hảo tâm của bá tánh lương dân mà hãnh diện!
Mọi người như tớ thì thầy trò ông Cồ Ðàm có nước treo
y máng bát chứ ở đó mà dài lưỡi “luân hồi sanh tử,
vô ngã giả danh”. Ðã vô ngã giả danh thì nhận lễ vật
cúng dường làm gì? Chẳng lẽ để ra sức nuôi dưỡng cái
thân tướng vô ngã giả danh ấy! Thấy chưa? Toàn là mâu thuẫn
và phi lý. Này... mà “lý sự vô ngại, sự sự vô ngại”
là gì cậu? Tớ nghe ổng nói hồi sáng mà như vịt nghe sấm,
chả hiểu gì cả.
-
Ðầu óc anh đâu có tập trung vào chuyện lễ nghi giáo điển
mà hiểu. Thế anh có bao giờ nghe nói đến câu tục ngữ:“Ngưu
tầm ngưu, mã tầm mã” chưa?
-
Có!... Trâu theo trâu, ngựa theo ngựa. Ðúng quá!
-
Ðó đó!... na ná như vậy đó. Mèo hoang thì gặp chó hoang,
chàng đi móc túi gặp nàng chỉa chôm.
-
Cậu nói ai móc túi? Ðừng vu khống nhé! Cậu là cái thá gì
mà dám mỉa mai vợ chồng tớ là phường đầu trộm đuôi
cướp, trâu ngựa chó mèo. Hãy giữ miệng giữ mồm đấy!
Mật Thủ nói với vẻ mặt choắt lại và đôi môi run run
mím mím như điện giật.”
2.4
Ti
tiện:
“
... Thọ trai xong, với âm thanh ngọt ngào êm dịu, Thế Tôn
cất lời hồi hướng công đức:
Cung
nguyện thập phương tam thế Phật
Hộ
trì gia đạo vĩnh an khương
Viễn
ly ác kiến tam đồ khổ
Bát
nhã hoa khai tuyệt đoạn thường.
Thế
Tôn vừa dứt lời thì tín nữ và các Phật tử phụ hầu
trai lễ đều đồng thanh niệm danh hiệu Ðức Bổn Sư, biểu
lộ sự hoan hỷ và hãnh diện được Phật quang lâm, thọ
ký.
Từ
phòng sau, nghe mọi người đồng niệm hồng danh Bổn Sư, ẩn
sĩ lõa thể khởi tâm kiêu mạn, ghen tức trong lòng, bèn xông
ra phòng ngoài, lớn tiếng hủy báng:
- Con
đĩ già kia, mi đâu còn là tín nữ của ta. Rồi đây mi sẽ
tan xương nát thịt vì cái tội tán dương, cung kính lão ăn
mày lẻo mép này.”
Còn
rất nhiều, rất rất nhiều giây phút hưng phấn hay xót
xa, chan hòa hay cô độc. Xin mời quý độc giả thiện
chí lên đường, làm cuộc hành hương “Về nguồn” để
tận mắt ngắm lại “khuôn viên” nhà mình có nhiều hoa
thơm trái ngọt, hay rong rêu nấm mốc giăng mắc khắp nơi.
3.
Xúc tác:
Một
điều thú vị nữa trong việc sàng lọc chữ nghĩa là được
những bậc thiện hữu tri thức, huynh đệ xa gần, hoặc trực
tiếp hay gián tiếp, tán dương, khích lệ, và dĩ nhiên là
phải phù hợp với nội dung, thực chất. Thỉnh thoảng mới
năm, sáu giờ sáng đã có điện thoại reo. Khi thì Thượng
tọa Hoằng Ðức, trụ trì chùa Pháp Hoa, Bình Thạnh, độc
giả ưu ái báo Giác Ngộ, thấy duyên khởi Pháp Cú là vui
cười hoan hỷ, ngỏ lời ca ngợi hay góp ý thẳng thừng, nếu
có gì thắc mắc. Thượng tọa Ðạt Ðạo, viện chủ tu viện
Bát Nhã, Bình Thạnh, có lần la lên: “Ðã quá!... Ðã quá!...
sư huynh ơi! Mới lạy thù ân ra đó nghe!” Thậm chí có lúc
thầy còn “mail” cho những lời quá ư đậm đặc tương
chao: “Hạt ngọc trong văn thơ Phật giáo” khi đọc
được mấy câu tôi dịch của Shakespeare:
“What’s
in a name? That which we call a rose
By
any other name would smell as sweet.”
Sá
gì trong một danh xưng
Thế
mà thiên hạ kẻ mừng người đau
Hoa
hồng dù gọi thế nào
Thì
hương vị vẫn ngọt ngào xưa nay.
Có
lẽ khí vị Việt ngữ và thần thái của Shakespeare đã phóng
trúng tầng số của thầy. Bấy giờ đầu óc tôi trống rỗng
nhưng đôi mắt thì dính chặt vào màn hình computer.
Rồi
một hôm, mới sáng sớm, Thượng tọa Thiện Bảo, tổng thư
ký tạp chí Giác Ngộ, điện thoại với ngữ điệu hiền
hòa quen thuộc nhưng không kém phần phấn khích tươi vui: “
Hay quá anh TM. ơi, đặc biệt là lối văn biền ngẫu, và nhất
là tựa đề anh chọn, có duyên và thâm thúy làm sao!
Tôi
cười sảng khoái, đáp lời cảm ơn, và tự thấy mình phải
nỗ lực hơn nữa.
Có
lần vừa thấy tôi đến tòa soạn, thầy Trí Chơn vụt đứng
dậy, dang tay, nghiêng nghiêng cái đầu, reo lên: “Ồ!... chỉ
thấy tựa đề của thầy là độc giả bỏ ba ngàn ra mua tờ
Giác Ngộ ngay.” Lại một niềm vui ran người chợt đến!
Xin cảm ơn lời gợi ý của Thượng tọa Giác Toàn.
Cảm
động nhất là Thượng tọa Thích Phước Ðường, trụ trì
chùa Trúc Lâm Paris, gởi thư tán thán, lời lẽ chơn chất
mộc mạc, nhưng nội hàm vời vợi tình thân.
Còn
những anh em huynh đệ khác, khi xưa chung sống trên đồi Hải
Ðức, Nha Trang, hay Quảng Hương Già Lam, Sài Gòn, nay tản mác
khắp bốn phương trời, nhưng khi gặp nhau, có người ôm tôi
nói: “Mỗi khi đọc bài của anh là em thấy anh từ đầu
đến chân.” Tôi được nhiều bất ngờ thú vị quá. Những
giây phút như thế thì ngôn ngữ đành bất lực, không sao
diễn tả nổi sự cảm thông, quý trọng và rưng rức trong
lòng. Vinh quang thay cho những ai nửa đêm vùng dậy, bật đèn,
ghi nhanh một tứ thơ chợt lóe trong giấc ngủ, hoặc trên
đường, dừng xe lại, mở cặp ghi nhanh một tựa đề bị
nghẹn mấy hôm. Xin chân thành cảm ơn từng vòng tay rộng
mở, bao ánh mắt nồng nàn của tất cả quý thân bằng thiện
hữu, giáo thọ ân sư; những người đã mặc nhiên truyền
nhiệt cho công trình này được thành tựu đôi nét.
4.
Chí
thiết:
Như
trên đã nói, đây là công trình soạn dịch, tức có thêm
có bớt, có tín có đạt, có nhã có thô; mục đích là khơi
bật tinh hoa cốt truyện, tái hiện thế sự nhân tình,
giải trình vọng tâm tập khí, biện lý trạch pháp công phu
. Mong độc giả nên hội ý ly ngôn, đạt nghĩa vong từ mà
thấy được con người trong vô lượng kiếp.
Ðiểm
đáng đề cập nữa là danh vị của tựa đề: Từng Giọt
Nắng Hồng. Ðây là mỹ ý hoạt hiện với hy vọng mỗi khi
đụng đến ấn phẩm này, ai ai cũng được phơi phới trong
lòng như đang tắm mình dưới ánh nắng hồng trên đỉnh đồi
cao. Rõ là: mỗi truyện duyên khởi, một giọt nắng hồng,
sưởi ấm lòng người, tô điểm trần gian.
Cuối
cùng, xin chân thành cảm ơn Eugene Watson Burlingame, Charles Rockwell
Lanman, và hội Pali Text đã tạo thiện duyên giao tiếp cho văn
tự Việt Nam được dịp phô diễn thêm hình tượng, thiết
lập thêm thanh sắc, và xông ướp thêm thi vị, thiền vị
vào kho tàng văn hóa Phật giáo nước nhà.
Cuối
Ðông Nhâm Ngọ, 2002
TỊNH
MINH
Chân
thành cảm ơn TT. Thích Nguyên Tạng Tu Viện Quảng Đức đã
gởi tặng TVHS phien bản điện tử tập sách này.(Tâm Diệu)
05-12-2005
10:23:14