Phần 2
VỌNG
TÂM TÀ Ý TIÊU PHƯỚC THIỆN
CHÁNH
NIỆM TINH CẦN ÐẠT CÔNG PHU
Ka-la-út,
Ka-la-thứ và Ka-la-cả (Culla Kãla, Majjhima Kãla, Mahà Kãla) là
ba anh em ruột sống tại Xê-ta-vy-a (Setavya). Ka-la-út và Ka-la-cả
thường đem 500 cổ xe ngựa ra nước ngoài mua hàng về cho
Ka-la-thứ bán. Bấy giờ họ đang trên đường đến Xá Vệ
và dừng lại nghỉ giữa Xá Vệ với Kỳ Viên.
Một
hôm, Ka-la-cả thấy rất nhiều Phật tử thuần thành cầm
hoa đi lễ Phật, nghe pháp. Ông dặn người em coi chừng xe
cộ và cùng theo họ đến chùa cầu kinh, thính pháp.
Hôm
đó Ðức Ðạo Sư thuyết giảng về sự hiện hữu của khổ
đau, cảnh vô thường sanh diệt của ngũ uẩn và sự mê muội
đắm chìm trong dục lạc. Cảm nhận được lẽ thăng trầm,
biến dịch của kiếp người và vạn vật, ông trở về giao
toàn bộ tài sản cho người em rồi đến xin Ðức Thế Tôn
xuất gia. Ka-la-út hết lời khuyên can anh mình nhưng không được,
cậu bèn sắp xếp công việc, theo anh làm Sa môn với ý nghĩ
rằng sau một thời gian cậu sẽ hoàn tục và đem anh cậu
về.
Ka-la-cả
tu hành rất tinh tấn. Và sau khi thọ giới Tỳ kheo, sư tự
thấy mình tuổi cao sức yếu, không thể thực hành đạo nghiệp
qua việc nghiên cứu kinh văn, nên xin Ðức Thế Tôn tu theo
pháp môn quán niệm, và thế là sư được phép đến gò thiêu
tu tập.
Sa
môn Ka-la đến gặp Ka-li (Kàli), một phụ nữ quản lý gò
thiêu và được bà yêu cầu:
- Bạch
thầy, trong khi tu tập tại gò thiêu, thầy không được ngủ
ban ngày, phải có nghị lực và toàn tâm toàn ý; và trong khi
họ mang xác chết vất bừa nơi đây, con sẽ đặt thi hài
lên giàn thiêu với đầy đủ hương hoa, lễ nghi cúng bái.
Nếu thầy không ngộ đạo, con sẽ đốt rụi giàn thiêu, kéo
xác ra ngoài, băm ra từng mảnh rồi vất chúng vào ngọn lửa
hung tàn, đốt sạch.
- Hay
thay! Hay thay! Thưa bà.
Nhưng
nếu bà thấy thi hài nào phù hợp với mục tiêu quán niệm
về sắc thân thì xin cho biết.
- Thưa
vâng, bạch thầy!
Bấy
giờ có một thiếu nữ vừa qua đời, thi hài còn nguyên, chưa
biến dạng; thân quyến mang xác cô đến gò thiêu với củi,
dầu v.v... và nhờ Ka-li thiêu xác. Họ trả tiền lệ phí rồi
ra về. Trong khi cởi đồ tẩm liệm, Ka-li sững sờ thấy xác
cô thiếu nữ xinh đẹp, vàng óng, liền nghĩ :
- Xác
này đích thị là một chủ đề thiền quán rất phù hợp
với Trưởng lão.
Bà
liền báo cho Ka-la-cả biết. Sư đến xem xét thi hài từ lòng
bàn chân đến đầu sợi tóc, rồi nói:
- Hãy
ném thi thể xinh đẹp, vàng óng này vào lửa, và khi ngọn
lửa phủ lấy thi hài thì cho thầy biết. Nói xong sư trở
về vị trí và tham thiền nhập định.
Khi
ngọn lửa đã hừng hực lên cao, bà đến báo tin cho Trưởng
lão. Sư đến quan sát thi thể và thấy thân xác nàng như một
con bê thui: chân cẳng thò ra, lủng lẳng; hai tay co quắp, đen
nám và không còn một chút da nào trên trán. Trưởng lão suy
nghĩ:
- Thân
hình này có thể đã làm cho bao người đắm đuối, quên đi
chữ nghĩa thánh hiền, nay lại tới hồi suy tàn, tới kỳ
hủy diệt.
Trưởng
lão trở lại am tranh, thiền quán, trực nhận ra lẽ vô thường
sanh tử và an vui niết bàn.
Các
pháp 1à vô thường,
Bản
chất là sanh diệt,
Sanh
diệt đoạn diệt rồi,
Tịch
diệt ấy là vui.
Lời
kệ vừa thoáng qua đầu óc thì Trưởng lão Ka-la-cả liền
chứng quả A la hán.
Ðược
tin Ðức Thế Tôn cùng Tăng đoàn vân du giáo hóa nay đã đến
thành Xê-ta-vy-a, và vào rừng Xim-xa-pa (Simsapa). Các bà vợ
của Ka-la-út liền nghĩ:
- Thế
là chúng ta sẽ bắt lại chồng.
Họ
tổ chức lễ trai tăng, thỉnh Ðức Thế Tôn và đại chúng
đến thọ thực. Ka-la-út được phái đến chỉ đạo sắp
xếp bàn ghế, và vừa trông thấy sư, các bà lên tiếng trêu
chọc:
- Sư
làm gì đây? Chỉ xớ rớ hả? Sư lấy quyền gì chỉ
tay năm ngón? Ai cho phép sư khoác áo Sa môn? Sư đến đây với
mục đích gì?
Họ
vừa trêu tức vừa ôm xé y phục của Ka-la-út, khoác lên mình
sư một bộ đồ màu trắng, đặt lên đầu sư một
vòng hoa, rồi xô sư ra ngoài, nói:
- Ði
thỉnh Ðức Thế Tôn đến đây! Tránh chỗ cho chúng tôi thiết
lễ.
Không
bận tâm về vấn đề y phục, Ka-la-út đến thỉnh Ðức Thế
Tôn chứng trai.
Khi
thọ trai xong, các bà vợ của Ka-la-cả tự nghĩ:
- Các
bà thê thiếp của Ka-la-út đã giành được chồng, chúng ta
cũng sẽ giành được chồng.
Thế
là họ cung thỉnh Ðức Thế Tôn và đại chúng thọ trai ngày
hôm sau. Nhưng lần này một Tỳ kheo khác đến chỉ đạo sắp
xếp bàn ghế chứ không phải Ka-la-cả nên các bà không có
cơ hội gần gũi sư. Trong khi chứng trai, đại chúng mới phát
hiện ra rằng Ka-la-út có hai bà, Ka-la-thứ bốn bà, và Ka-la-cả
tám bà. Một số các sư thấy khó chịu, đứng dậy ra về,
số khác thì tiếp tục thọ trai, còn Ðức Thế Tôn thì an
nhiên tự tại, dùng bữa như thường. Xong việc, các bà thưa:
- Bạch
Thế Tôn, thỉnh Ngài về trước, Ka-la-cả có đôi lời cảm
niệm rồi về sau.
Ðức
Thế Tôn mỉm cười, hồi hướng công đức rồi ra về.
Khi
Ngài ra tới cổng làng, đại chúng thắc mắc nói:
- Ðức
Thế Tôn hôm nay thế nào ấy! Ngài làm vậy là vô tình hay
cố ý? Hôm qua Ka-la-út đến trước, và thế là hết đời
tu sĩ. Hôm nay sư khác đến thì không sao. Bây giờ trưởng
lão Ka-la-cả ở lại, sư ấy là người đức hạnh, chân chánh,
nhưng liệu họ có kết thúc cuộc đời tu hành của sư ấy
không?
Nghe
các sư thắc mắc, Ðức Thế Tôn dừng lại, hỏi:
- Các
thầy nói sao? Các thầy nghĩ là Ka-la-cả không giống như Ka-la-út
chứ?
- Vâng,
bạch Thế Tôn. Ka-la-út có hai bà, còn Ka-la-cả có tám bà.
Nếu tám bà bao vây tóm gọn Ka-la-cả thì thầy ấy sẽ ra
sao, bạch Thế Tôn!
Ðức
Thế Tôn nói:
- Này
các thầy Tỳ kheo, đừng nói thế. Ka-la-út lúc nào cũng bận
rộn, xông xáo và nghĩ đến dục lạc. Ka-la-cả thì trái lại,
không mong cầu lạc thú, tâm hồn an nhiên bất động như một
núi đá kiên cố.
Ngài
đọc kệ:
Ai
sống theo lạc thú,
Không
nhiếp hộ các căn,
Ăn
uống thiếu tiết độ,
Lười
biếng kém siêng năng,
Sẽ
bị Ma vương kéo,
Như
cây yếu gió quằn.
Ai
sống quán bất tịnh,
Nhiếp
hộ được các căn,
Ăn
uống có tiết độ,
Thành
tín và siêng năng,
Ma
vương không chuyển nổi,
Như
núi đá gió qua.
(PC.
7,8)
LÀNH
THAY CHIẾC ÁO CÀ SA
NGUY
THAY NGƯỜI MẶC CHẲNG LÀ SA MÔN
Thuở
nọ có hai vị thượng thủ, mỗi vị hướng dẫn 500 Tỳ kheo
đảnh lễ tạm biệt Ðức Thế Tôn và lên đường đi từ
Kỳ Viên đến Vương Xá. Dân chúng thành Vương Xá, theo phong
tục, tập trung thành từng nhóm cúng dường lễ vật cho các
Sa môn dọc hai bên đường. Một hôm, Trưởng lão Xá Lợi
Phất (Sàriputta) ngỏ lời tán thán công đức của các thí
chủ như sau:
- Này
các đạo hữu, người nào bố thí mà không hướng dẫn người
khác bố thí, người ấy đời sau được an lạc phú quý mà
không được quần chúng hậu thuẫn; người nào hướng dẫn
người khác bố thí mà chính mình không bố thí, người ấy
đời sau được quần chúng hậu thuẫn mà không được an
lạc phú quý; còn ai không hề bố thí và cũng không muốn
người khác bố thí, người ấy đời sau phải chịu khốn
khổ cơ hàn. Tuy nhiên, ai hoan hỷ bố thí và khuyến khích
người khác bố thí, người ấy vô lượng vô biên kiếp sau
sẽ được an lạc phú quý và quần chúng hậu thuẫn.
Bấy
giờ có một hiền giả tự nghĩ:
- Lời
thuyết giáo của Trưởng lão Xá Lợi Phất thật là thậm
thâm vi diệu. Ta cần phải tích lũy công đức sao cho được
hai thành tựu này.
Ông
cung thỉnh Trưởng lão Xá Lợi Phất ngày mai đến nhà ông
thọ trai.
Trưởng
lão nói:
- Ðạo
hữu muốn mời bao nhiêu sư?
- Nhưng,
bạch Trưởng lão, hiện nay trong Tăng đoàn có bao nhiêu Sa
môn?
- Có
một ngàn, thưa đạo hữu.
- Thế
thì hay quá! Xin Trưởng lão mời tất cả quý sư ngày mai đến
nhà con thọ trai.
Trưởng
lão Xá Lợi Phất hoan hỷ chấp thuận.
Sau
đó, vị đạo hữu đi khắp phố phường khuyến khích dân
chúng cúng dường và được mọi người hưởng ứng: người
thì cúng mè cúng gạo, kẻ thì dâng sữa dâng đường, thôi
thì đủ thứ.
Bấy
giờ có một gia chủ cung kính dâng lên một tấm vải may áo
cà sa lộng lẫy, trị giá hàng trăm quan tiền, nói:
- Nếu
lễ vật cúng dường chưa đủ thì bán tấm vải này để
đắp vô cho đủ; còn nếu đủ rồi thì ngài dâng nó cho sư
nào tùy ý.
Lễ
vật cúng dường đã đầy đủ, duy chỉ thiếu một điều,
vị đạo hữu thưa:
- Kính
bạch quý Thượng tọa và Ðại đức, tấm vải may áo cà
sa này do một thí chủ cúng dường với mục đích bán nó
để lấy tiền mua lễ vật cho đủ, nhưng nay lễ vật đủ
rồi, vậy thỉnh ý quý thầy dâng vải cho ai?
Số
thì đệ nghị Trưởng lão Xá Lợi Phất, số thì bảo Xá
Lợi Phất thường vân du đây đó theo vụ mùa; chỉ có Ðề
Bà Ðạt Ða (Devadatta) là thường trú, lúc nào cũng sẵn sàng
như cái bình nước trên bàn, chúng ta nên dâng tấm cà sa đó
cho Ðề Bà Ðạt Ða.
Sau
một hồi thảo luận, cuối cùng đa số biểu quyết dâng tấm
vải sang trọng đó cho Ðề Bà Ðạt Ða.
Lòng
lâng lâng sung sướng, Ðề Bà Ðạt Ða cắt tấm vải ra làm
hai phần, một phần làm y, một phần làm hậu, khâu kết rất
thời trang, đem nhuộm và lấy làm hãnh diện mỗi khi mặc
chúng ra ngoài. Tăng chúng thấy vậy nói:
- Y
hậu đó mà để cho Ðề Bà Ðạt Ða mặc thì chả hợp tí
nào, Trưởng lão Xá Lợi Phất thì phải hơn.
Bấy
giờ có một Sa môn từ Vương Xá đến Xá Vệ hầu thăm Ðức
Thế Tôn và thiền môn pháp lữ. Sau khi đảnh lễ và bày tỏ
niềm vui mừng gặp lại Bổn Sư và đại chúng, sư được
Ðức Thế Tôn hỏi thăm tình hình tu tập và cách hướng dẫn
Tăng đoàn của hai vị thượng thủ ở đó. Sư cứ thật tình
thuật lại sự kiện dâng y và được Ðức Thế Tôn dạy
rằng:
- Này
các thầy Tỳ kheo, đây không phải là lần đầu tiên Ðề
Bà Ðạt Ða mặc áo cà sa không phù hợp. Trong tiền kiếp
thầy ấy cũng đã làm như vậy. Các thầy muốn nghe tích truyện
này không?
- Hay
thay, bạch Thế Tôn!
- Vậy
thì hãy lắng nghe, này các thầy Tỳ kheo.
*
*
*
Ngày
xưa, khi Bra-ma-đát-ta (Brahmadatta) trị vì tại thành Ba La Nại,
có một thợ săn chuyên sinh sống bằng nghề săn giết voi,
lấy ngà, móng và những thứ có giá trị đem bán. Bấy giờ
trong rừng có một đàn voi đông đến hàng ngàn con; mỗi khi
ra vào đồng cỏ, chúng đều cung kính đảnh lễ chư vị Ðộc
Giác.
Một
hôm, nhìn thấy cung cách lễ bái của đàn voi, gã thợ săn
suy nghĩ:
- Ta
khó có thể hạ sát được đàn voi này. Nhưng mỗi khi ra vào
chúng đều đảnh lễ chư vị Ðộc Giác. Ðiều gì đã làm
chúng cung kính như thế?
Sau
đó gã tìm hiểu và đi đến kết luận rằng chỉ vì chiếc
áo cà sa. Thế là gã tìm cách đoạt cho được chiếc y quý
hiếm kia.
Gã
đi đến hồ nước và lén đánh cắp chiếc áo cà sa để
trên bờ của một tôn giả đang tắm. Hắn đến ngồi bên
vệ đường, nơi đàn voi thường qua lại với ngọn giáo ác
nghiệt trong tay và chiếc cà sa hiền thiện trùm đầu. Ðàn
voi nhìn thấy, tưởng hắn là Ðức Phật, bèn sụp hai chân
trước đảnh lễ rồi tiếp tục đi qua; đến con cuối cùng,
hắn phóng một giáo vào yết hầu, con voi ngã lăn ra chết.
Chờ một lát cho đàn voi đi khuất, hắn tung cà sa đứng lên,
cắt lấy ngà và các thứ có giá trị, đoạn chôn xác voi
rồi mang thành tích lên đường.
Sau
đó có một Ðức Phật vị lai tái sanh thành một con voi chúa,
gọi là tượng vương, cai quản đàn voi đông đúc đó. Bấy
giờ gã thợ săn chuyên nghiệp kia cũng dùng thủ thuật như
xưa để giết voi kiếm lời. Voi chúa thấy dòng tộc
mình mỗi ngày một giảm, bèn đâm ra nghi ngờ:
- Gã
mang áo cà sa ngồi bên vệ đường hẳn là nguyên nhân gây
ra sự tổn thất này, hắn đang âm mưu gì đó!
Voi
chúa dùng kế, để cho đàn voi đi trước, tượng vương đi
sau cùng và quan sát cẩn thận. Khi đàn voi lần lượt đảnh
lễ như thường lệ và đi qua, thấy voi chúa tiến đến gần,
gã thợ săn liền kéo tấm cà sa ra khỏi đầu và phóng ngay
một giáo. Voi chúa trờ lui, tránh được ngọn giáo oan nghiệt,
và nói:
- À,
đúng rồi! Ðích thị là tên sát hại đàn voi của ta rồi!
Nói
xong, voi chúa phóng tới, vung vòi chộp lấy gã thợ săn, nhưng
hắn liền nhảy đại vào một bụi cây, co rúm người lại.
Voi chúa thét lên:
- Ta
sẽ phong tỏa bụi cây này, tóm cho được tên thợ săn quỷ
quyệt kia và ném hắn xuống đất cho tan xác tan hồn.
Gã
thợ săn sợ quá, vội cầm áo cà sa đưa lên; và khi nhìn
thấy pháp y, voi chúa liền nghĩ:
- Nếu
ta xúc phạm người này tức là xúc phạm đến hằng hà sa
số chư Phật và chư vị A la hán.
Ðành
phải ẩn nhẫn, voi chúa hỏi:
- Chính
ngươi đã giết hại nhiều bà con huynh đệ của ta phải không?
- Vâng,
thưa ngài!
- Tại
sao ngươi làm một việc tàn ác quá vậy! Ngươi khoác áo cà
sa, một loại pháp y chỉ dành cho những ai đã đoạn trừ
tham dục. Còn ngươi, chẳng hợp tí nào! Ngươi đã phạm phải
một tội ác khủng khiếp. Ngươi không xứng đáng mặc chiếc
áo giải thoát đó.
Dừng
lại trong giây lát, Ðức Thế Tôn mỉm cười nói:
- Này
các thầy Tỳ kheo, người thợ săn đó là Ðề Bà Ðạt Ða,
còn voi chúa kia chính là ta vậy.
Ngài
đọc kệ:
Ai
mặc áo cà sa,
Tâm
chưa sạch uế trược,
Không
tự chế, không thực,
Không
xứng mặc cà sa.
Ai
tẩy trừ uế trược,
Giới
luật khéo nghiêm trì,
Tự
chế, sống chân thực,
Xứng
đáng mặc pháp y.
(PC.
9, 10)
CHÂN
TÌNH ÐÔI BẠN TÂM GIAO
ÐOẠN
TRỪ TÀ KIẾN LIỀN VÀO CHÂN NHƯ
Trước
khi Ðức Thế Tôn xuất hiện trên đời, có hai ngôi làng Bà
la môn cách thành Vương Xá không xa, đó là làng U-pa-ti-xa (Upatissa)
và Kô-li-ta (Kolita). Một hôm, vợ của Ru-pa-xa-ri (Rùpasàri),
người làng U-pa-ti-xa, cấn thai, và vợ của Mô-ga-li (Moggali),
người làng Kô-li-ta cũng cấn thai. Tương truyền rằng hai
gia đình này đã ba đời thân thiện và gắn bó với nhau nên
họ rất lấy làm vui mừng chăm sóc hai bà mẹ mang thai cho
đến ngày khai hoa nở nhụy, và hai bà đã sanh được hai cậu
con trai tuyệt vời.
Ðến
ngày thôi nôi, để đánh dấu hai gia đình cội cả trong làng,
họ đặt tên U-pa-ti-xa là Xá Lợi Phất (Sàriputta) cho cậu
bé sanh ở làng U-pa-ti-xa, và Kô-li-ta tức Mục Kiền Liên (Moggallàna)
cho cậu bé ở làng Kô-li-ta. Khi lớn lên, hai cậu học hành
xuất chúng trong các lãnh vực nghệ thuật và khoa học. Mỗi
khi đi xem cảnh ở hoa viên hay sông hồ, Xá Lợi Phất được
500 chiếc kiệu vàng và Mục Kiền Liên 500 cổ xe ngựa với
500 tuỳ viên theo hầu. Hai cậu học hành và sinh hoạt như
hai ông hoàng ở hai ngôi làng nhỏ.
Bấy
giờ có một lễ hội truyền thống được tổ chức tưng
bừng tại Vương Xá. Hai cậu đến xem nghi thức và ngồi chung
trên một chiếc ghế đặc biệt. Cả hai đều biểu lộ tình
cảm như nhau theo từng tình tiết trình diễn: cảnh vui, cả
hai đều cười sảng khoái; cảnh buồn, cả hai đều khóc
sụt sùi; đến cảnh quyên góp bố thí, cả hai đều dốc
túi làm phước. Cả hai hân hoan theo dõi hội diễn trong mấy
ngày liền. Rồi một hôm, khi đã lớn khôn, cả hai không còn
cảm thấy hân hoan, bi lụy hay sẵn lòng giúp đỡ theo tình
tiết như xưa. Hai cậu đều suy nghĩ:
- Tại
sao ta phải xem hoài cái màn hội diễn khóc cười điên đảo
này? Hàng trăm năm qua, bao lớp người đã ngất ngây quằn
quại, khóc khóc cười cười theo cảnh đời ngược xuôi xuôi
ngược, để rồi cùng chung số kiếp đi vào lãng quên. Ta
nên tìm đường giải thoát.
Họ
ngồi cạnh bên nhau, Mục Kiền Liên nói:
- Xá
Lợi Phất, hình như bạn không được vui như những ngày nào,
trông bạn có vẻ u buồn thống thiết lắm! Bạn đang suy nghĩ
gì?
- Này
Mục Kiền Liên! Vâng, ta đang suy nghĩ. Ta thấy hình như không
có một niềm vui nào lâu bền, tất cả đều vô vị. Ta phải
tìm đường giải thoát đi thôi.
Cả
hai tán đồng quan điểm, rủ nhau xuất gia, nhưng chưa biết
theo vị đạo sư nào.
Bấy
giờ có một du sĩ tên là Xan-ja-da (Saĩjaya) vào thành Vương
Xá với nhiều môn đệ tháp tùng. Xá Lợi Phất và Mục Kiền
Liên nói:
- Ta
sẽ xuất gia theo Xan-ja-da.
Thế
là cả hai cho phép 500 tùy viên ra về và nói:
- Hãy
đem hết xe kiệu này đi.
Sau
đó cả hai cùng với 500 thuộc hạ đến gặp Xan-ja-da xin xuất
gia tu học. Từ khi có hai thanh niên ưu tú xuất gia, Xan-ja-da
đã đạt đến tột đỉnh uy danh vinh dự. Nhưng chỉ trong
một thời gian ngắn, cả hai đã nắm được toàn bộ giáo
nghĩa của Xan-ja-da. Vì thế họ hỏi ông:
- Thưa
Thầy, đây là toàn bộ giáo thuyết mà Thầy đã đạt, hay
còn gì khác?
- Ðây
là tất cả. Những gì ta chứng ngộ, hai con đã quán triệt.
Xá
Lợi Phất và Mục Kiền Liên liền nghĩ:
- Nếu
đây là toàn bộ giáo nghĩa của Xan-ja-da thì làm môn đệ
của người cũng chả ích lợi gì. Con đường giải thoát
chúng ta đang tìm chả dính dáng gì với vị đạo sĩ này.
Hãy tiếp tục lên đường tìm thầy học đạo!
Từ
đó trở đi, nghe nơi nào có đạo sĩ Bà la môn uyên bát, họ
đều đến tham vấn, nhưng rốt cuộc họ không thỏa mãn với
một đạo sĩ nào. Thất vọng, họ bèn lui bước trở về.
Nhưng trước khi chia tay, Xá Lợi Phất nói với Mục Kiền
Liên:
- Này
Mục Kiền Liên, nếu ai trong hai ta đạt đạo trước thì hãy
báo cho người kia biết.
Họ
đồng ý và chia tay nhau trong niềm thao thức kiếm tìm chân
lý.
Bấy
giờ Ðức Thế Tôn vân du đến thành Vương Xá, tiếp nhận
tu viện Trúc Lâm (Veluvana) và an trú tại đó. Ngài phái 61
vị A la hán lên đường truyền bá chánh pháp và nói:
- Hãy
lên đường, này các thầy Tỳ kheo, hãy lên đường truyền
bá chánh tín Tam bảo đến cho mọi người.
Sáng
sớm hôm đó, Trưởng lão A-xa-ji (Assaji) vào thành Vương Xá
khất thực. Xá Lợi Phất trên đường đi đến rừng khổ-hạnh
thì gặp Trưởng lão. Vừa thoáng thấy ngài, Xá Lợi
Phất tự nhủ:
- Ta
chưa bao giờ thấy một tu sĩ nào hiền hòa uy nghi như thế.
Ngài chắc là đã chứng quả A la hán hoặc trên đường tiến
đến quả vị đó. Ước gì ta được thân cận bên ngài!
Ngài xuất gia với ai? Ai là thầy của ngài? Ngài theo giáo
thuyết nào?
Nhưng
rồi Xá Lợi Phất liền nghĩ:
- Bây
giờ không phải là lúc tham vấn vị tu sĩ này. Ngài đang khất
thực. Ta nên lặng lẽ theo sau ngài. Những ai muốn làm môn
đồ đều phải tình nguyện dõi theo từng bước chân đi của
Thầy.
Khất
thực xong, Trưởng lão A-xa-ji định ngồi dưới một tàng
cây thọ thực. Xá Lợi Phất vội tiến ra phía trước, thi
lễ và xin được phép trải tọa cụ hầu ngài. Xong bữa,
Xá Lợi Phất dâng nước cho Trưởng lão và sau đó bày tỏ
niềm hân hoan tiếp chuyện với ngài. Xá Lợi Phất tán thán:
- Thưa
sư huynh, thân tướng của sư huynh trông thanh tịnh trang nghiêm
làm sao! Sắc diện của sư huynh sao mà hồng hào trong sáng
thế! Sư huynh xuất gia với ai? Ai là Thầy của sư huynh? Sư
huynh theo giáo thuyết nào?
Trưởng
lão A-xa-ji tự nghĩ:
- Các
vị du sĩ thường không mấy thân thiện với đạo giáo của
ta. Ta sẽ chứng tỏ cho vị du sĩ này nhận ra chỗ thâm diệu,
uyên áo của giáo pháp Phật đà.
Ngài
tỏ vẻ khiêm tốn:
- Thưa
huynh, tôi mới xuất gia tu học, hãy còn là một tu sĩ tập
sự, chưa tiếp cận được nhiều với giới luật kinh văn;
do đó, khó mà lý giải giáo pháp một cách tường tận.
- Thưa
sư huynh, bần đạo là Xá Lợi Phất, xin sư huynh giảng giải
ít nhiều gì cũng được. Bần đạo có thể nhận ra yếu
nghĩa bằng trăm ngàn cách.
Trưởng
lão A-xa-ji vừa đọc câu thứ nhứt trong bài kệ bốn
câu:
- Các
pháp do duyên sanh...
Ðôi
mắt của Xá Lợi Phất bỗng dưng sáng lên, miệng mỉm cười
và trực nhận được lý duyên sanh của vạn hữu. Ðể nhấn
mạnh ý nghĩa của giáo pháp, Trưởng lão đọc hết bài kệ:
Các
pháp do duyên sanh,
Lại
cũng do duyên diệt,
Thầy
ta là Ðức Phật,
Thường
thuyết giảng như vậy.
Không
còn nghi ngờ gì nữa, Xá Lợi Phất hỏi:
- Bạch
Trưởng lão, Thầy của chúng ta hiện giờ ở đâu?
- Tại
tu viện Trúc Lâm, thưa huynh.
- Thế
thì mời Trưởng lão về trước. Bần đạo còn một
người bạn đã từng giao ước với nhau rằng ai tìm ra chánh
đạo, người ấy phải báo cho người kia biết. Bần đạo
sẽ đưa người bạn đó đến xin quy y với Ðức Thế Tôn
và xin được hân hạnh cùng tu tập với Trưởng lão.
Nói
xong, Xá Lợi Phất sụp lạy dưới chân Sa môn A-xa-ji, đi ba
vòng quanh ngài theo chiều kim đồng hồ, rồi ngỏ lời tạm
biệt ngài để về gặp Mục Kiền Liên.
Thấy
Xá Lợi Phất từ xa đi lại, Mục Kiền Liên lòng hân hoan
phơi phới và tự nhủ:
- Hôm
nay nét mặt của bạn ta sao mà tươi sáng thế! Chắc là Xá
Lợi Phất đã tìm ra chánh đạo. Mục Kiền Liên hỏi ngay
và được Xá Lợi Phất đáp:
- Vâng,
thưa huynh! Tôi đã tìm ra chánh đạo, tôi đã nhận ra diện
mục của bất tử vô sanh.
Xá
Lợi Phất vừa đọc xong bài kệ của Trưởng lão A-xa-ji thì
Mục Kiền Liên hỏi ngay:
- Thế...
Thầy của chúng ta hiện giờ ở đâu?
- Tại
tu viện Trúc Lâm.
- Vậy
thì chúng ta cùng đến diện kiến Ngài.
Ðể
tỏ lòng biết ơn Thầy cũ, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên
đến thăm đạo sĩ Xan-ja-da với dụng ý thuyết phục
ông theo họ đến quy y Phật. Nhưng vừa thấy hai người, Xan-ja-da
cất tiếng hỏi:
- Xin
chào, hai bạn tu hành đắc đạo rồi chứ?
- Vâng,
thưa Thầy! Chúng tôi đã thấy Ðức Thế Tôn xuất hiện trên
đời. Chánh pháp đã được thuyết giảng và giáo hội đã
được thành lập. Thầy đang làm một cuộc hành trình phi
chân, vô vọng. Hãy theo chúng tôi đến cầu đạo Ðức Thế
Tôn. Chúng tôi khuyên Thầy với lòng chân thành cảm mến.
- Các
bạn đi đi, ta không thể!
- Vì
sao?
- Ta
đã là đạo sư thuyết giảng trước bá quan vạn dân, nay
bỗng dưng làm đồ đệ, chuyện đó khôi hài và phi lý lắm!
Ta không thể nào làm cái chuyện bê nước pha trà cho Thầy
nữa.
Thưa
Thầy, hiện nay biết bao vua chúa thần dân cung kính cúng dường
Ðức Thế Tôn.
- Các
bạn nghĩ xem, trên thế gian này số người nào đông hơn,
hạng ngu si hay giới thông thái?
- Thưa
Thầy, hạng ngu si thì nhiều, giới thông thái thì ít.
- Vậy
thì hãy để cho những ai thông thái đến với Gô-ta-ma, còn
bọn ngu si thì hãy lại đây với kẻ đần độn này. Các
bạn đi đi, ta không đi đâu cả!
- Chúc
Thầy khỏe mạnh và rạng danh đạo sĩ!
Xá
Lợi Phất và Mục Kiền Liên đi rồi, đồ chúng của Xan-ja-da
liền tan rã. Thấy môn đệ ly tán, cảnh vật điêu tàn, Xan-ja-da
uất ức ho lên mấy tiếng và máu trong miệng ông vọt ra xối
xả. 500 du sĩ đi với Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên được
một đoạn thì 250 vị quay gót trở về với Xan-ja-da, còn
250 vị thì tiếp tục theo Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên
đến tu viện Trúc Lâm.
Bấy
giờ Ðức Thế Tôn đang thuyết pháp giữa đại chúng, thấy
hai du sĩ từ xa đi lại, Ngài dang tay, nói:
- Này
các thầy Tỳ kheo, hai bạn Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên
đến kìa, hỡi hai đệ tử vĩ đại của ta!
Hai
vị du sĩ đảnh lễ Ðức Thế Tôn và thưa:
- Bạch
Thế Tôn, chúng con đến đây với mục đích duy nhất là xin
được xuất gia tu học với đại chúng. Mong Thế Tôn từ
bi chấp thuận cho chúng con. Namo Sakya Muni Buddha!
Ðức
Thế Tôn nói:
- Hãy
đến đây, này các thầy Tỳ kheo! Chánh pháp đã được thuyết
giảng một cách tốt đẹp. Hãy sống đời phạm hạnh. Sống
đời phạm hạnh thì hết sạch khổ đau.
Xá
Lợi Phất và Mục Kiền Liên liền có y bát như hai vị
Trưởng lão đã tu hành cả trăm năm.
Với
sự hiện diện của hai vị đại đệ tử này, chánh pháp
được thuyết giảng mỗi ngày một thêm lan rộng, mặc dù
Mục Kiền Liên sau bảy ngày và Xá Lợi Phất sau mười bốn
ngày quy y thọ giới mới chứng đạt thánh quả và thành tựu
trí tuệ viên mãn.
Một
hôm, nhân lúc thuyết giảng về lý vô thường, vô ngã và
duyên sinh, Ðức Thế Tôn hỏi Xá Lợi Phất và Mục Kiền
Liên vì sao từ giã giáo thuyết và phương pháp tu hành của
Xan-ja-da, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên thuật lại quá trình
thao thức kiếm tìm chân lý, đặc biệt là đụng phải tà
kiến, hoài nghi, bất tín nhân quả của Xan-ja-da. Ðức Thế
Tôn mỉm cười, đọc kệ:
Phi
chân tưởng chân thật,
Chân
thật thấy phi chân.
Ai
ôm ấp tà vọng,
Không
bao giờ đạt chân.
Chân
thực biết chân thực,
Phi
chân biết phi chân,
Ai
nuôi dưỡng chánh hạnh,
Ắt
hẳn đạt được chân.
(PC.
11, 12)
TÂM
RỖNG RANG THANH TỊNH
ẮT
AN ÐỊNH NỘI TÂM
Sau
khi chuyển vận bánh xe chánh pháp, Ðức Thế Tôn lui về Vương
Xá và an trú tại Trúc Lâm. Phụ thân Ngài, quốc vương Tịnh
Phạn, phái chín sứ thần đến gặp Ngài, thỉnh Ngài về
cung, nhưng cả chín đều xuất gia theo Thế Tôn, chứng quả
A la hán và không về hoàng triều nữa. Cận thần Ka-la U-đa-di
(Kàla Udàyi) là người thứ mười, được quốc vương tin
yêu nhất, nhận lãnh sứ mạng cung thỉnh Thế Tôn nhưng cũng
không về. U-đa-di khoác áo Sa môn và cũng chứng quả A la hán.
Một
hôm, thấy thời tiết êm dịu, khí hậu mát mẻ, rất thuận
lợi cho Thế Tôn và đệ tử về thăm hoàng triều, U-đa-di
đảnh lễ Ðức Thế Tôn và bạch rằng:
- Bạch
Thế Tôn, đã đến lúc Thế Tôn nên về thăm phụ hoàng, thân
quyến và dân thành Ca-tỳ-la Vệ. Tất cả đang mong chờ Ngài.
Ðức
Thế Tôn chấp thuận, và cùng với hàng ngàn môn đệ tháp
tùng, Ngài lên đường về thăm thành đô vào một ngày nắng
vàng rực rỡ.
Về
tới hoàng thành, Ngài và phái đoàn được hoàng thân quốc
thích và bá quan văn võ long trọng đón tiếp trong tiếng khóc
cười chứa chan hoài cảm. Sau đó mọi người đều được
tắm mình trong cơn mưa pháp thanh bình. Quốc vương Tịnh Phạn
và hoàng hậu Ma Ha Ba Xà Ba Ðề đều nhận ra yếu chỉ, liền
quy y Phật và thọ trì giáo pháp.
Ngày
hôm sau, trong khi cả nhà đang nô nức tổ chức hôn lễ cho
hoàng tử Nan Ðà (Nanda) thì Ðức Thế Tôn đến khất thực.
Ngài đặt chiếc bình bát của Ngài trong tay Nan Ðà và chúc
chàng gặp nhiều may mắn. Sau đó Ngài đứng lên, ra đi mà
không quay nhìn chiếc bình bát. Với lòng tôn kính Như Lai,
Nan Ðà không dám nói gì, cứ lặng lẽ ôm bát theo sau Ngài.
Bấy
giờ có người đến báo với Ja-na-pa-đa Ka-ly-a-ni (Janapada
Kalyàni), vị hôn thê của Nan Ðà, rằng:
- Công
nương ơi, Ðức Thế Tôn đã đem Nan Ðà đi rồi, Ngài cố
tình cướp đoạt chàng đấy!
Ja-na-pa-đa
Ka-ly-a-ni giật mình hoảng hốt, cắm đầu cắm cổ chạy theo
Nan Ðà với hai hàng nước mắt ròng ròng, và lớn tiếng gọi:
-
Hoàng tử ơi, về ngay nhé!
Âm
vang của nàng đã làm choáng váng đầu óc và rung động tâm
can Nan Ðà, nhưng Ðức Thế Tôn vẫn lặng lẽ dẫn chàng về
tu viện. Sau đó Ngài hỏi:
- Nan
Ðà, em muốn làm Sa môn không?
Vì
lòng kính trọng Ðức Thế Tôn, Nan Ðà đáp đại:
- Em
rất muốn, thưa tôn huynh.
- Vậy
thì hay quá! Hãy ở lại đây tu học với đại chúng.
Và
thế là sau ba ngày về thăm kinh thành Ca-tỳ-la Vệ, Ðức Thế
Tôn đã hóa độ Nan Ðà khoác áo Sa môn.
Ðến
ngày thứ bảy, Da Du mặc y phục sang trọng cho La Hầu La (Rahula)
rồi ôm con vào lòng dạy rằng:
- Con
à, hãy đến gặp vị Sa môn kia, cha của con đó! Hãy nói con
là thái tử dòng Thích Ca, chẳng bao lâu nữa con sẽ nối nghiệp
hoàng gia, trị vì thiên hạ và mở mang xã tắc. Cha ơi, xin
cha trả lại di sản cho con, cái di sản mà đã một thời nằm
trong tay của cha đó!
Chờ
cho Ðức Thế Tôn thọ trai xong, La Hầu La đến đứng bên
Ngài thỏ thẻ:
- Hạnh
phúc thay cho con đứng trong vòng tay ấm áp của cha.
Thản
nhiên, Ðức Thế Tôn hồi hướng công đức, đứng lên và
ra đi. Thái tử La Hầu La lẽo đẽo theo sau Ngài, chốc chốc
lại nói:
- Thưa
cha, xin cha trả lại di sản cho con.
Ðức
Thế Tôn vẫn im lặng đếm từng hơi thở theo nhịp bước
thiền hành. Và La Hầu La cũng theo Ngài từng bước về đến
Trúc Lâm. Sau đó Ðức Thế Tôn chợt nghĩ:
- Cái
di sản phụ tử mà La Hầu La tìm kiếm hẳn là mang sẵn mầm
mống suy tàn, hủy diệt. Ta sẽ trao cho La Hầu La cái di sản
cao quý mà ta đã đạt được dưới cội Bồ đề. Ta sẽ
giáo dục La Hầu La trực nhận cái di sản siêu việt đó.
Ðức
Thế Tôn cho mời trưởng lão Xá Lợi Phất đến, nói:
- Xá
Lợi Phất, hãy giúp ta giáo dục La Hầu La trở thành Sa môn.
Và
thế là La Hầu La được nhận vào giáo hội, còn quốc vương
Tịnh Phạn thì đau khổ vô vàn. Ngài bày tỏ nỗi niềm đau
buồn, thương nhớ với Ðức Thế Tôn và ngỏ lời thỉnh
nguyện:
- Bạch
Thế Tôn, từ nay về sau xin Ngài đừng nhận ai vào giáo hội
nếu không có sự đồng ý của cha mẹ họ. Ðừng để họ
phải đêm đêm trằn trọc khóc thầm như trẫm đã từng héo
hon thương nhớ con cháu của trẫm.
Ðức
Thế Tôn chấp tay với nụ cười chứa chan thông cảm.
Sau
đó Ngài về Xá Vệ và an trú tại Kỳ Viên. Bấy giờ Nan
Ðà hơi bất mãn, bộc lộ những điều phiền não ẩn tàng
của mình với một số huynh đệ:
- Các
thầy biết đấy, tôi chán quá! Cuộc đời tu hành đôi lúc
thấy đơn điệu và tẻ nhạt làm sao! Chắc tôi phải về
lại với nếp sống gia đình.
Nghe
lời than trách, Ðức Thế Tôn cho gọi Nan Ðà đến hỏi
và được thầy ấy đáp:
- Thưa
tôn huynh, hình ảnh cực kỳ diễm lệ của Ja-na-pa-đa Ka-ly-a-ni
cứ ngày đêm hành hạ tâm trí em. Anh ơi, anh là tôn huynh của
em, xin anh hãy cho em về! Em về thì phụ hoàng vui, mẫu hậu
vui, vợ em vui, hoàng thân quốc thích vui, bá quan văn võ vui,
quốc dân đồng bào vui, cả anh cũng vui nữa... hà-hà!...
Chẳng
nói chẳng rằng, Ðức Thế Tôn nắm tay Nan Ðà, bằng thần
thông diệu lực, Ngài đưa sư đến tầng trời thứ Ba mươi
ba. Và trên đường đi, Ðức Thế Tôn chỉ cho Nan Ðà thấy
một con khỉ đói gớm ghiếc, đã bị lửa cháy sém tai sém
mặt và mất cả đuôi, đang ngồi trơ vơ trên một gốc cây
đen nám giữa cánh đồng xám xịt tro than. Khi lên đến tầng
trời thứ Ba mươi ba, Ngài lại chỉ cho Nan Ðà thấy 500 tiên
nữ duyên dáng thướt tha trong những bộ xiêm y rực rỡ đang
lui tới hầu hạ thiên chủ Ðế Thích (Sakka). Sau đó Ngài
hỏi:
- Này
Nan Ðà, cô vợ mà ông cho rằng yểu điệu thục nữ đó so
với các tiên nữ ở đây ai đẹp hơn ai?
- Bạch
Thế Tôn, dung nhan của Ja-na-pa-đa Ka-ly-a-ni chỉ đẹp hơn con
khỉ khốn nạn giữa cánh đồng trơ trụi dưới kia chứ không
thể nào sánh bằng nhan sắc của các tiên nữ ở đây.
- Hay
thay, Nan Ðà! Ta đoan chắc rằng ông cũng sẽ được những
cô tiên nữ như thế.
- Bạch
Thế Tôn, nếu Ngài bảo đảm như vậy thì con nguyện tinh
tấn tu hành, nhiếp tâm chánh hạnh.
Sau
đó Ðức Thế Tôn và Nan Ðà trở về Kỳ Viên.
Chẳng
mấy chốc, đại chúng hay tin và một số Sa môn nhạy miệng
châm biếm:
- Sư
Nan Ðà, bào đệ của Ðức Thế Tôn, nay hạ thủ công phu,
an tâm lập mệnh chỉ vì muốn chiếm đoạt 500 tiên nữ chứ
chẳng phải hảo tâm thiện chí gì. Tội nghiệp và khốn khổ
lắm thay!
Nan
Ðà vẫn an nhiên tự tại, nỗ lực tiến tu, toàn tâm toàn
ý trên bước đường vun trồng đạo nghiệp, và cuối cùng
thầy chứng quả A la hán.
Một
hôm Nan Ðà đến hầu chuyện với Ðức Thế Tôn, cung kính
đảnh lễ Ngài và bạch rằng:
- Bạch
Thế Tôn, con xin trả lại lời hứa của Ngài trước kia. Con
không quan tâm đến 500 tiên nữ nữa.
- Hay
thay, Nan Ðà! Ðức Thế Tôn nói. Thầy nào sống rỗng rang
thanh tịnh, cần mẫn chuyên tu, nhứt tâm quán niệm; thầy
ấy sẽ sớm diệt trừ vọng tưởng điên đảo, thành tựu
trí tuệ siêu việt và đạt đến cứu cánh niết bàn.
Thấy
Nan Ðà mỗi ngày một thêm linh hoạt, vui tươi, tướng hảo,
nhất là không hề than phiền hay tỏ vẻ khó chịu trước
những lời châm chọc thái quá, một số Sa môn hơi nông nổi
kia đến đảnh lễ Ðức Thế Tôn và bạch rằng:
- Bạch
Thế Tôn, thầy Nan Ðà dạo này trông thật là đường đường
tăng tướng, dung mạo khả quan, lại thuyết giảng thao thao,
quán thông kinh điển, khác với tâm trạng bi quan thất vọng
trước kia.
Ðức
Thế Tôn mỉm cười trong giây lát, đoạn Ngài nói:
- Này
các thầy Tỳ kheo, cá tính của Nan Ðà trước kia cũng giống
như ngôi nhà vụng lợp, nhưng nay thì cá tính ấy đã giống
như ngôi nhà khéo lợp. Kể từ lúc gặp tiên nữ, thầy ấy
đã quyết chí tu hành, nhứt tâm thiền quán, và tất nhiên
là thầy ấy đã thành tựu công hạnh, thầy ấy đã chứng
quả A la hán.
Ngài
đọc kệ:
Như
ngôi nhà vụng lợp,
Nước
mưa len lỏi vào,
Tâm
không tu cũng vậy,
Tham
dục rỉ rả vào.
Như
ngôi nhà khéo lợp,
Nước
mưa không thấm vào,
Tâm
khéo tu cũng vậy,
Tham
dục khó lọt vào.
(PC.
13, 14)
NHÂN
QUẢ XƯA NAY VỐN NHÃN TIỀN
VUNG
TAY TẠO TỘI KHỔ TRIỀN MIÊN
Cun-đa
(Cunda) sinh sống bằng nghề mổ lợn trong suốt 55 năm và được
mệnh danh là tay đồ tể dạn dày kinh nghiệm. Thoáng nhìn
qua con heo là ông biết ngay nó khoảng bao nhiêu ký, mắc bệnh
hay khỏe mạnh, thịt nạc nhiều hay thịt mỡ nhiều v.v...
Ông dành một khoảng đất trống khá rộng phía sau nhà, rào
chắn cẩn thận, thả heo vào đó và nuôi chúng bằng đủ
loại thức ăn, kể cả chất thải của con người.
Khi
nào muốn giết lợn, ông buộc chặt con heo vào một cột trụ,
dùng một khúc cây quất nó cho da thịt phồng lên và mềm
ra. Sau đó ông banh miệng heo, nhét vào đó một cái nêm và
đổ nước sôi vào. Nước sôi sẽ vào bụng heo, ngấm vào
ruột non ruột già, làm lỏng phân giãi và tống các chất
cặn bã theo đường hậu môn ra ngoài. Bao lâu nước thải
còn đục là ông còn tiếp tục đổ nước sôi vào miệng
heo. Làm như vậy cho đến khi nào nước trong bụng heo thải
ra trong sạch mới thôi.
Phần
nước sôi còn lại ông đem đổ trên lưng heo cho bong hết
lớp da đen đúa, rồi dùng một bó đuốc thui cháy hết lông,
cắt đầu, lấy máu trét khắp thân heo, sau đó quay nó trên
lửa cho thật chín rồi cùng vợ con ngồi lại bên nhau đánh
chén. Nếu thịt còn thừa thì ông đem ra chợ bán. Ông sinh
sống như vậy trong suốt 55 năm mà không hề thân thiện hay
quà cáp cho ai chút gì, ngay cả Ðức Phật ở tại một tịnh
xá gần làng mà ông cũng không bao giờ lui tới hay cúng dường
Ngài một vốc gạo, một cành hoa! Ông sống keo kiệt, lầm
lũi; chỉ biết đến vợ con và gia đình mình.
Rồi
một hôm, ông bị căn bệnh hiểm nghèo ập đến, dày vò hành
hạ ông cả ngày lẫn đêm. Ông chỉ cầu mong sao cho sớm trút
hơi thở cuối cùng, nhưng không được. Ông đau đớn quằn
quại và lửa dữ cứ phừng phừng hừng hực trước mắt
ông. Ông cảm thấy đầu óc bị quay cuồng bởi những tiếng
kêu la thất thanh eng éc, tay chân tê buốt như bị trói chặt,
ruột gan nóng rát như bị thiêu đốt và đứt ra từng đoạn.
Ông lăn lộn, vật vã, tru tréo; rồi bỗng dưng ông chồm dậy,
trợn mắt, nhe răng, gầm gừ, chắp nuốt như heo và bò đi
lổm ngổm, xiêu vẹo khắp sàn nhà. Chốc chốc ông lại húc
đầu vào tường và kêu lên the thé như tiếng heo sắp tắt
thở. Người nhà cố giữ ông lại, kẻ thì bịt miệng, người
thì cột tay chân và bấy giờ trông ông giống như một con
heo bị trói nằm trên sàn.
Vừa
thương, vừa sợ, vừa cảm thấy tội nghiệp cho cha ông của
mình, con cháu trong nhà luân phiên túc trực, đóng cửa cài
then, canh phòng nghiêm mật, để cho ông được tự do bò tới
bò lui trong nhà và mặc sức gầm gừ tru tréo. Ðến ngày thứ
bảy, ông lăn đùng ra chết và bị đọa vào địa ngục A
tỳ.
Một
số Sa môn, trên đường khất thực, ngày ngày đi ngang qua
nhà Cun-đa, thấy cửa ngõ kín mít nhưng trong nhà thì ồn áo
với tiếng heo kêu eng éc, bèn đến gặp Ðức Thế Tôn và
thưa rằng:
- Bạch
Thế Tôn, trong bảy ngày qua, cửa ngõ căn nhà của đồ tể
Cun-đa đóng kín mít, nhưng trong nhà họ vẫn tiếp tục mổ
heo, chắc là ông ta sắp mở tiệc lớn. Bạch Thế Tôn, biết
bao nhiêu heo đã bị giết chết! Rõ ràng là ông ta không có
một chút thiện tâm, nhân ái gì cả! Chưa thấy ai dã man,
tàn ác như ông ấy.
- Này
các thầy Tỳ kheo, Ðức Thế Tôn nói, nhân nào thì quả nấy;
sự trừng phạt nào cũng phù hợp với hành động quá khứ
của mỗi người. Ngay khi còn sống, Cun-đa cũng đã bị thiêu
đốt bởi ngọn lửa hung tàn của nghiệp lực. Do vậy mà
ông phải bò tới bò lui, xiêu xiêu vẹo vẹo, té lên té xuống
và gầm gừ rên rỉ trong bảy ngày liền. Hôm nay ông ấy giã
từ dương thế, thì lại bị đầu thai vào địa ngục A tỳ.
- Bạch
Thế Tôn, các Sa môn nói, Cun-đa đã bị đau khổ ở đời
này, nhưng khi tái sanh ở nơi khác cũng bị đau khổ nữa sao?
- Ðúng
vậy! Này các thầy Tỳ kheo, những ai buông lung phóng dật,
keo kiệt ác tâm, tu sĩ hay cư sĩ cũng bị điêu linh khốn khổ
ở hai nơi như nhau.
Ngài
đọc kệ:
Nay
buồn, đời sau buồn,
Làm
ác hai đời buồn,
Hắn
u buồn, tàn tạ,
Thấy
ác nghiệp mình luôn.
(PC.
15)