Phần
3
LỜI
KINH QUÁN NIỆM NGÂN VANG
CHÁNH
TÍN TAM BẢO THOÁT VÒNG TRẦM LUÂN
Thuở
nọ, tại Xá Vệ có 500 Phật tử thuần thành, chánh trực.
Mỗi vị có 500 thân hữu rất mực tin yêu và giúp đỡ nhau
trong cuộc sống cũng như trên bước đường tu học. Vị Phật
tử cao niên và uy tín nhất sanh được bảy người con trai
và bảy người con gái. Họ rất hảo tâm và giàu lòng bố
thí. Gia đạo của họ mỗi ngày một thêm hưng thịnh, hạnh
phúc. Họ làm ăn càng phát đạt bao nhiêu thì họ càng chánh
tín Tam bảo bấy nhiêu, và họ coi việc bố thí người nghèo,
giúp đỡ người khó, hộ trì Phật pháp là nghĩa vụ thiêng
liêng đối với họ.
Một
hôm, vị Phật tử cao niên và thâm tín chư Phật ngã bịnh.
Thấy sức khỏe mỗi ngày một yếu, sinh lực mỗi ngày một
khô và thọ mạng mỗi ngày một giảm, ông gởi lời đến
Ðức Thế Tôn, cung thỉnh mười sáu vị Sa môn đến nhà ông
tụng kinh, thuyết pháp cho ông nghe. Ðức Phật chấp thuận,
và mười sáu thầy tức khắc đến thăm hỏi và ngồi quanh
giường bịnh chuẩn bị khai kinh, thuyết pháp. Ông nói:
- Kính
bạch chư tôn đức, thật là vạn hạnh cho con được thân
cận và gặp gỡ quý thầy. Con yếu lắm rồi! Cái chết đang
cận kề bên con. Kính mong quý thầy từ bi tụng cho con nghe
một thời kinh ngắn gọn.
- Ðạo
hữu muốn nghe thời kinh gì?.- Một trưởng lão hỏi.
- Xin
quý thầy cho con nghe thời kinh Quán niệm (Satipatthana Sutta),
thời kinh cúng dường chư Phật đó.
Các
Sa môn bắt đầu tụng những lời kinh quen thuộc: “Chỉ có
một con đường, này các thầy Tỳ kheo, đây là con đường
duy nhất đưa chúng sanh đến bến bờ giải thoát ...”
Ngay
lúc đó có sáu cỗ xe được trang hoàng lộng lẫy do một
ngàn tuấn mã kéo, nối dài một trăm năm mươi dặm từ sáu
thiên giới hiện đến. Trên mỗi cỗ xe đều có một thiên
thần đứng uy nghiêm trong thế nghinh đón. Họ đều cất tiếng
thỉnh nguyện:
- Xin
cung nghinh ngài lên thế giới chư thiên, nơi thọ hưởng phước
điền, an vui hạnh phúc của những chúng sanh đã bao đời
vun trồng phước thiện.
Không
muốn bị gián đoạn nghe Pháp, vị đạo hữu chánh tín Tam
bảo kia đưa tay ra hiệu, nói:
- Khoan,
khoan!
Tưởng
là ông yêu cầu ngưng tụng kinh, các Sa môn liền dừng lại.
Thế là con trai con gái của ông òa lên khóc, than rằng:
- Trước
đây cha chúng con chưa bao giờ được nghe Pháp trọn vẹn,
nay được quý Trưởng lão cho văn Kinh thính Pháp thì
đột nhiên bảo dừng lại. Thật là thiếu duyên thiếu phước,
tội nghiệp cho cha chúng con quá! Nhưng xét cho cùng, không ai
là người không sợ chết.
Các
Sa môn nhìn nhau, nói:
- Vậy
là nhân duyên chưa hội ngộ, chúng ta đâu còn thì giờ và
lý do ở lại đây.
Họ
đứng lên, ngỏ lời cáo từ và ra về.
Sau
một lúc, vị đạo hữu hồi tâm, hỏi các con:
- Vì
sao các con khóc?
- Cha
ơi! - Chúng nói - Cha thỉnh quý Trưởng lão đến tụng Kinh
thuyết Pháp, rồi bỗng dưng cha bảo các ngài dừng lại. Chúng
con khóc là vì rốt cuộc thì không ai là người không sợ
chết.
- Thế
các bậc tôn đức hiện giờ ở đâu?
- Các
sư bảo rằng nhân duyên chưa tròn, không còn thời giờ và
lý do lưu lại nên họ đã ra về hết rồi!
- Trời
ơi! Cha đâu có nói gì với quý thầy.
- Vậy
chứ cha nói chuyện với ai?
- Sáu
vị thiên thần đứng trên sáu cỗ xe cực kỳ lộng lẫy từ
sáu thiên giới đến trụ giữa hư không nói với cha rằng:
- Xin
cung thỉnh ngài lên thiên giới, xin cung thỉnh ngài lên thiên
giới. Cha nói chuyện với chư thiên đấy.
- Thế
các cỗ xe đâu, thưa cha? Chúng con nào có thấy gì!
- Các
con có thể cho cha một vòng hoa?
- Vâng,
thưa cha!
- Các
con biết cảnh giới nào an lạc nhất?
- Cảnh
Cực lạc, tức cõi Tịnh độ (Tusita), thưa cha, nơi an trụ
của hằng hà sa số phụ mẫu chư Phật trong quá khứ, hiện
tại và vị lai.
- Thế
thì hãy tung vòng hoa này lên, và xin nguyện vòng hoa gắn vào
cỗ xe từ cảnh giới Cực lạc đến.
Các
con làm theo lời cha, và vòng hoa kia gắn vào cỗ xe đong đưa
giữa hư không. Mọi người đều thấy vòng hoa phất phơ theo
gió nhưng không thấy cỗ xe. Vị đạo hữu nói:
- Các
vị có thấy vòng hoa không?
- Vâng,
chúng tôi có thấy.
- Vòng
hoa đang gắn vào cỗ xe từ cảnh Cực lạc đến đó. Ta sắp
về cõi Tịnh độ đây. Ðừng bịn rịn đau buồn nhé! Nếu
quý vị muốn sanh về thế giới Cực lạc với ta thì hãy
tạo nhiều công đức phước thiện như ta vậy.
Nói
xong, ông đưa tay ra hiệu cáo biệt mọi người và đôi mắt
của ông tù từ khép lại. Ông đã để lại cho đời biết
bao phước điền ân ích.
Khi
các Sa môn về tới tu viện, Ðức Thế Tôn hỏi:
- Này
các thầy Tỳ kheo, vị đạo hữu đó có chí tâm nghe các thầy
tụng Kinh thuyết Pháp không?
- Thưa
có, bạch Thế Tôn. Nhưng đến giữa chừng ông ta bỗng dưng
đưa tay bảo: “Khoan, khoan!” nên chúng con dừng lại. Sau
đó đám con của ông khóc òa lên, và chúng con thấy phải
cáo từ ra về là hợp lý.
- Này
các thầy Tỳ kheo, ông ấy đâu có nói gì với các thầy.
Sáu thiên thần đứng trên sáu cỗ xe lộng lẫy từ sáu cõi
chư thiên đến rước ông ấy về thế giới Cực lạc, ông
ấy không muốn thời Kinh bị gián đoạn nên yêu cầu chư
thiên: “Khoan khoan!”
- Ðúng
vậy sao, bạch Thế Tôn?
- Ðúng
vậy!
- Hiện
giờ ông ấy được sanh về đâu, bạch Thế Tôn?
- Hẳn
là về thế giới Cực lạc.
- Bạch
Thế Tôn, trước đây ông ấy sống an vui hạnh phúc giữa
gia đình và bà con quyến thuộc, nay ông ấy lại được sanh
về cõi Tịnh độ và tiếp tục vui hưởng thanh bình.
- Ðúng
như vậy, này các thầy Tỳ kheo. Những ai tinh cần cẩn trọng,
chánh hạnh đoan nghiêm, dù tu sĩ hay cư sĩ cũng được thái
hòa an lạc ở hai nơi.
Ngài
đọc kệ:
Nay
vui, đời sau vui,
Làm
phúc hai đời vui,
Hắn
an vui, hoan hỷ,
Thấy
tịnh nghiệp mình nuôi.
(PC.
16)
VỪA
MANH TÂM PHẢN PHÚC
LIỀN
ÐÚC KẾT OAN KHIÊN
Thuở
nọ, Ðức Thế Tôn theo lời cung thỉnh của vua Tần Bà Sa
La (Bimbisàra), khởi cuộc hành trình từ Xá Vệ đến Vương
Xá. Ði được nửa đường, Ngài dừng chân tại một thị
trấn để giáo hóa dân chúng địa phương. Nhiều người đã
theo Ngài xuất gia học đạo. A Nậu Lâu Ðà (Anuruddha), một
vương tử dòng Thích Ca, thấy bàn dân thiên hạ theo Thế Tôn
tu hành và giải thoát khá đông, bèn xin mẹ xuất gia theo Ngài.
Bà một mực từ chối, nhưng A Nậu Lâu Ðà cứ van xin
mãi, cuối cùng bà nói:
- Nếu
quốc vương Bạt Ðề (Bhaddiya), bạn thân của con, xuất gia
làm Sa môn thì mẹ cũng chiều theo ý con.
Thế
la A Nậu Lâu Ðà đến gặp Bạt Ðề, nhỏ to tâm sự:
- Anh
thấy đấy, chúng mình là hoàng thân quốc thích, dòng họ
Thích Ca, vậy mà chả có mống nào dám từ bỏ quyền quý
cao sang, lên đường theo Thế Tôn học đạo. Trong khi hào quang
của Ngài đang tỏa khắp nơi thì chúng ta vẫn còn lủi thủi
trong rừng núi vô minh, đêm trường dày đặc, nghĩ mà xấu
hổ!
Nghe
bùi tai, Bạt Ðề cùng A Nậu Lâu Ðà đến thuyết phục A
Nan (Ànanda), Ba-gu (Bhagu), Kim Tỳ La (Kimbila), và Ðề Bà Ðạt
Ða (Devadatta), tất cả đều quyết tâm giã từ kinh thành,
theo Thế Tôn xuất gia, cầu đạo giải thoát.
Trên
đường tầm sư học đạo, họ gặp Ưu Ba Ly (Upàli), một
gã hớt tóc, và biếu hết ngọc ngà châu báu cho ông. Biết
họ là những công tôn vương tử thuộc dòng quý tộc, Ưu
Ba Ly quỳ mọp dưới chân họ van xin từ chối, nhưng họ nói:
- Ơ
kìa! Chúng tôi thật tình biếu hết báu vật này cho anh. Chúng
tôi không cần những thứ này nữa. Chúng tôi đang trên đường
đến gặp Ðức Thích Ca Mâu Ni và xin Ngài xuất gia học đạo.
Ưu
Ba Ly tay nâng châu báu mà mắt ngó trân trân các vị vương
tử. Họ vẫy tay, cười chào và tiếp tục lên đường. Một
lát sau, Ưu Ba Ly tự nghĩ:
- Công
danh cái thế, quyền lực ngút trời mà họ còn vất đi như
ném bó rạ khô, huống nữa là thân phận hèn mọn và cái
quán ọp ẹp của mình. Không, đừng điên rồ mà vướng vào
cái của nợ này!
Ưu
Ba Ly máng hết báu vật lên cành cây rồi cùng theo họ đến
gặp Ðức Thế Tôn và được nhận vào giáo hội đầu tiên.
Về sau, Ưu Ba Ly trở thành một trong mười vị đệ tử vĩ
đại của Phật, nổi danh về hạnh giữ giới. Sáu vị kia
cũng đạt được thánh quả A la hán. Riêng Ðề Bà Ðạt Ða,
vừa được thần thông thì đã hiu hiu tự mãn.
Một
hôm, các Phật tử đến Kiều Thưởng Di (Kosambi) thăm viếng,
cúng dường lễ vật cho Ðức Thế Tôn và các Trưởng lão
như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Bạt Ðề,
A Nậu Lâu Ðà, A Nan, Ba-gu, Kim Tỳ La v.v... Thấy không ai nhắc
đến tên mình, Ðề Bà Ðạt Ða trong lòng cay cú, ấm ức:
- Ta
cũng dòng võ tướng, cũng giai cấp cao sang, cũng xuất gia một
ngày, cũng đạt được trí tuệ, vậy mà không ai thèm điếm
xỉa đến danh tánh. Khinh ta hả! Rồi các ngươi sẽ biết!
Sau
đó một ý nghĩ oan nghiệt chợt đến với Ðề Bà Ðạt Ða
: triệt hạ quốc vương Tần Bà Sa La, đệ tử trung kiên của
Ðức Thế Tôn, và ám sát Phật để thống lãnh Tăng đoàn.
Biết
A Xà Thế (Ajàtasattu), nghịch tử của quốc vương Tần Bà
Sa La, là một thanh niên nhẹ dạ, ham danh và mù quáng, Ðề
Bà Ðạt Ða cải dạng thành một dị nhân, đầu mình tay chân
quấn đầy rắn độc, từ trên không hiện xuống ngồi vào
lòng A Xà Thế. Thất kinh, A Xà Thế chấp tay với giọng nói
run run:
- Xin
thưa ... ngài là ai?
- Thái
tử không nhận ra bần đạo sao? Ðề Bà Ðạt Ða vừa đáp
vừa đứng dậy và hiện nguyên hình Sa môn với ca sa bình
bát đầy đủ.
Lòng
thầm thán phục, A Xà Thế liền kết thân với Ðề Bà Ðạt
Ða và hứa cùng nhau thực hiện mưu đồ.
Một
hôm, Ðức Thế Tôn đang thuyết giảng giữa đại chúng, Ðề
Bà Ðạt Ða từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính đảnh lễ
Ngài và thưa rằng:
- Bạch
Ðức Thế Tôn, Ngài nay tuổi cao sức yếu, khó khăn lắm mới
điều khiển nổi Tăng đoàn. Thế Tôn nên an thân lập mệnh
theo giáo pháp thượng thừa mà Ngài đã chứng đạt, còn giáo
hội, xin hãy để đó cho bần tăng.
Ðức
Thế Tôn im lặng không trả lời, sau đó bảo Xá Lợi Phất
thông báo cho đại chúng và Phật tử thành Vương Xá biết
rằng Ðề Bà Ðạt Ða muốn thống lãnh Tăng đoàn; và, từ
nay về sau, giáo hội không chịu trách nhiệm về hành vi ngôn
ngữ của sư ấy nữa.
Uất
ức về lời thông báo của Ðức Thế Tôn, Ðề Bà Ðạt Ða
quyết tâm thực hiện mưu đồ lãnh tụ. Y đến gặp A Xà
Thế và trổ tài thuyết phục:
- Này!
Thái tử thấy đấy, chúng ta đang sống trong một thời
đại nhiễu nhương, những bậc hiền tài đáng ngôi thiên
tử thì phải sống dở chết mòn hay trọn đời làm tôi vào
luồn ra cúi chứ không bao giờ được lên ngôi để cứu dân
cứu nước. Ðời người quả thật mong manh, thọ mạng của
phụ vương ngài làm tôi lo cho ngài không ít. Nào! Hãy ra tay
dứt điểm. Do dự là đại nghiệp bất thành. Hãy thanh toán
phụ hoàng càng nhanh càng tốt, còn bổn mạng của Gô-ta-ma
thì để ta hạ thủ. Ðược như vậy là vạn phúc cho sơn
hà xã tắc và quần chúng nhân dân.
Như
bị thôi miên bởi quyền lực và địa vị, A Xà Thế soán
ngôi và hành hình vua cha trong ngục tối.
Cậy
quyền A Xà Thế, Ðề Bà Ðạt Ða quyết tâm triệt hạ Ðức
Thế Tôn. Y thuê một nhóm côn đồ đến ám sát Ngài, nhưng
vừa trông thấy ánh mắt hiền hòa và thân tướng uy nghiêm
của Ngài là chúng quăng ngay dáo mác, quỳ lạy chân thành
và xin quy y với Ngài.
Lòng
tràn đầy căm tức, Ðề Bà Ðạt Ða đích thân leo lên đỉnh
núi Kền Kền phục kích và chỉ tay lên trời thề rằng: chỉ
có cánh tay này mới triệt tiêu mạng sống của Gô-ta-ma. Và
y đã xô một tảng đá khổng lồ xuống Ðức Thế Tôn khi
Ngài đi ngang qua chân núi, nhưng tảng đá chỉ làm chân Ngài
chảy máu chút ít.
Tức
khí, Ðề Bà Ðạt Ða tung Na-la-gi-ri (Nàlàgiri), một con voi
cực kỳ hung ác để sát hại Ngài. Thấy con voi hung hăng từ
xa chạy đến, A Nan vội chạy ra trước, đứng dang hai tay
để che cho Ðức Thế Tôn, nhưng Ngài kéo A Nan qua một bên,
và con voi liền sụp hai chân trước xuống với hai giọt nước
mắt lăn tròn như tỏ lòng ân hận, sám hối.
Sau
đó, thấy Phật tử mỗi ngày một thêm phẫn uất và tẩy
chay mình, Ðề Bà Ðạt Ða liền đưa ra cái gọi là năm điểm
cương lĩnh, mục đích là để vớt vát uy tín, nhằm xác định
vai trò và đường hướng tu hành theo giáo hội mới, giáo
hội ly khai. Ðó là: Tỳ kheo phải sống trong rừng, phải đi
khất thực, phải mặc áo vá, phải ngủ dưới gốc cây và
không được ăn thịt cá, tức là không được ăn mặn.
Với
500 Tăng chúng quy phục, Ðề Bà Ðạt Ða dẫn họ đến sống
tại Ga-da-xi-a (Gayãsĩa) và sinh hoạt theo tôn chỉ dị giáo.
Một
hôm, sau chín tháng mang bịnh liệt giường, Ðề Bà Ðạt Ða
muốn gặp Ðức Bổn Sư, y bày tỏ ý định với đồ
chúng nhưng được họ đáp:
- Khi
khỏe mạnh thì thầy hiềm khích với Ðức Thế Tôn, bây giờ
đau yếu khốn khổ thế này thì đi đâu!
- Xin
đừng giết ta trong tủi nhục và ân hận. Ta đã phạm phải
sai lầm và tội ác. Ta đã căm thù Thầy ta, nhưng Thầy ta
chưa bao giờ dấy lên một cọng lông hay sợi tóc than trách
ta. Kính lạy Ðức Như Lai từ bi và hỷ xả!
Ðề
Bà Ðạt Ða được đồ chúng khiêng trên một cái cáng đến
sám hối Ðức Thế Tôn. Tăng chúng hay tin, họ đến báo cho
Thế Tôn biết và ngỏ ý không muốn Ngài ngó mặt hạng người
phản phúc đó.
- Cứ
tự nhiên, Ðức Thế Tôn nói. Khi thành lập cái gọi là giáo
hội ly khai, Ðề Bà Ðạt Ða đã tuyên thệ là không bao giờ
gặp Như Lai nữa. Chính vì lời thề tuyệt hậu đó mà dù
cho Ðề Bà Ðạt Ða có đến tu viện Trúc Lâm cũng không thể
gặp được Như Lai.
Ðề
Bà Ðạt Ða được môn đệ khiêng đến Trúc Lâm và để
nghỉ cạnh một hồ sen. Trong khi họ xuống hồ tắm, Ðề
Bà Ðạt Ða ngồi dậy và vừa đặt hai chân xuống đất thì
toàn thân cứ lún dần, lún dần và chìm hẳn vào lòng đất.
Sau
đó, đại chúng đến đảnh lễ Ðức Thế Tôn, hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, cái chết của Ðề Bà Ðạt Ða thật là khủng khiếp,
chẳng hay người ấy đầu thai về đâu?
- Ðịa
ngục A tỳ, Ðức Thế Tôn đáp.
- Bạch
Thế Tôn, đời này người ấy đã khổ như vậy, đầu thai
nơi khác người ấy cũng khổ nữa sao?
- Ðúng
thế! Này các thầy Tỳ kheo, những ai buông lung phóng dật,
ngạo mạn, ác tâm, tu sĩ hay cư sĩ đều bị khốn khổ, cơ
hàn ở hai nơi.
Ngài
đọc kệ:
Nay
than, đời sau than,
Làm
ác hai đời than.
Hắn
than: “Ta làm ác”.
Ðọa
cõi khổ, càng than.
(PC.
17)
CHĂM
LO GIÚP ÐỠ CHƯ SƯ
HỘ
TRÌ TAM BẢO CHỨNG TƯ ÐÀ HÀM
Thuở
nọ, tại Xá Vệ, hằng ngày có 2.000 Sa môn thọ trai tại nhà
trưởng giả Cấp Cô Ðộc (Anàthapiịđika), và 2.000 Sa môn
thọ trai tại nhà tín nữ Vi-xa-kha (Visàkhà). Ðể tránh lời
ra tiếng vào, nhỏ to dị nghị, những ai phát tâm cúng dường
chúng tăng đều được yêu cầu tự mình mang lễ vật đến
văn phòng hộ trì Tam bảo của hai Phật tử thuần thành đó.
Một
hôm, Vi-xa-kha thấy mình mỗi ngày một yếu, cần phải có
người trẻ trung tháo vác, thành tâm thiện chí thay bà
phục vụ ẩm thực cho đại chúng. Bà chọn cháu gái của
bà đảm trách công việc đó. Cấp Cô Ðộc cũng chọn
cô gái đầu lòng của mình là Ma-ha Xu-ba-đa (Maha Subhaddà)
chăm sóc trai phạn cho chúng tăng. Ái nữ của Cấp Cô Ðộc
là người rất mực thuần thành, chăm lo các sư sớm hôm chu
đáo, nhất là chí tâm tu hành, lắng lòng nghe Pháp. Nhờ thế
mà cô sớm chứng quả Tu đà hoàn. Sau đó cô lập gia đình
và về sống bên nhà chồng. Cấp Cô Ðộc lại chỉ định
Cu-la Xu-ba-đa (Culla Subhaddà), em gái của Ma-ha Xu-ba-đa, giúp
đỡ các sư. Cô này nhẹ nhàng, cẩn trọng, noi gương thành
tín của chị mình và cũng chứng quả Tu đà hoàn. Sau đó
lấy chồng và cũng về sống bên nhà chồng. Cuối cùng ông
chỉ định cô gái út là Xu-ma-na (Sumanà) thay chị phục vụ
Tam bảo. Xu-ma-na một lòng kính Phật trọng Tăng, phát tâm
cúng dường, vun bồi phước huệ; và chẳng mấy chốc cô
ấy chứng quả Tư đà hàm. Một hôm cô cho người mời cha
cô đến. Ông hỏi:
- Có
chuyện gì mà con cho người mời cha vậy, con gái cưng của
cha?
- Em
nói sao? Hỡi người em út yêu thương của chị! Xu-ma-na hỏi
vặn lại.
- Con
ăn nói gì mà điên rồ vậy con! Bộ con ... không nhận ra cha
sao? Con bị sốt nặng rồi, tội nghiệp con tôi!
- Không!
Chị không bao giờ nói năng điên rồ. Chị luôn luôn thương
em. Em là em yêu của chị. Chị có đau yếu cảm sốt gì đâu!
- Con
có sợ ... lộng ngôn không con?
- Không!
Chị chưa bao giờ lộng ngôn ỷ ngữ. Chị luôn luôn trung thành
với lời Phật dạy chân thật bất hư.
Nói
xong, cô lên giường, miệng mỉm cười và đôi mắt từ từ
khép lại.
Cấp
Cô Ðộc tuy đã chứng quả Tu đà hoàn nhưng không chịu nổi
cảnh đau buồn mất mát cứ dâng lên trong lòng. Tang lễ xong,
ông đến quỳ dưới chân Thế Tôn khóc sướt mướt. Ðức
Thế Tôn hỏi:
- Trưởng
giả, vì sao ông đau buồn, khóc lóc khổ sở thế?
- Bạch
Ðức Thế Tôn, Xu-ma-na, con gái yêu thương của con mất rồi!
- Vậy
hả! Thế ông khóc vì lẽ gì? Chết không phải là định luật
tất yếu cho mọi người?
- Con
vẫn biết thế, bạch Thế Tôn, nhưng con gái của con rất
mực thông minh trí tuệ, hiền hòa khiêm tốn, làm việc gì
cũng thành tựu viên mãn. Ðiều làm cho con đau khổ nhất là
tư tưởng hoảng loạn của nó trước khi qua đời. Nó đã
bỏ con ra đi trong cơn mê sảng. Bạch Thế Tôn, tội nghiệp
con của con quá!
- Nhưng
mà con gái của ông đã nói gì, này trưởng giả?
- Bạch
Thế Tôn, con gọi nó là con gái cưng của cha, nó bảo con là
em yêu quý của chị! Con bảo nó nói năng điên rồ, nó nói
là chân thật bất hư. Sau đó nó nhẹ nhàng ra đi không một
lời trăn trối.
- Này
trưởng giả, Ðức Thế Tôn nói, con gái ông nói năng nghiêm
chỉnh, đâu có điên rồ!
- Vậy
tại sao nó nói thế?
- Chỉ
vì ông chính là em trai út của cô ấy. Này trưởng giả, con
gái của ông đã chứng quả Tư đà hàm trong khi ông mới chứng
quả Tu đà hoàn. Và như ông đã biết, tứ thánh quả là Tu
đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán. Cô ấy gọi ông em
út là vậy đó.
- Mô
Phật ... té ra là như thế!
Cấp
Cô Ðộc chấp tay xá Ðức Thế Tôn với ánh mắt hiện rõ
nét cung kính và hoan hỷ.
- Nhưng
... chẳng hay hiện giờ con gái của con tái sanh nơi đâu, bạch
Thế Tôn?
- Nơi
cảnh trời Ðâu Suất.
- Bạch
Thế Tôn, khi sống với gia đình và bà con quyến thuộc, con
của con lúc nào cũng an lành hạnh phúc, nay đầu thai nơi khác,
nó cũng được an lạc êm đềm?
- Ðúng
vậy! Này trưởng giả, những ai chuyên tâm cần mẫn, nỗ
lực tiến tu, tu sĩ hay cư sĩ đều được thong dong an lạc
ở hai nơi.
Ngài
đọc kệ:
Nay
mừng, đời sau mừng,
Làm
phúc hai đời mừng,
Hắn
mừng: “Ta làm phúc”
Sanh
căn lành, mừng hơn.
(PC.
18)
BIỆN
TÀI KIÊU MẠN MANG CHƯỚNG NGHIỆP
CHÁNH
NIỆM KHIÊM CUNG HƯỞNG VÔ ƯU
Thuở
nọ, tại Xá Vệ có hai người bạn tuổi tác chênh lệch nhưng
rất thân nhau và coi nhau như anh em ruột. Một hôm, nhân theo
Phật tử đến tu viện Trúc Lâm nghe Ðức Thế Tôn thuyết
pháp, nhận ra lẽ vô thường biến dịch của vạn vật trên
đời, họ đâm ra xem thường công danh, nhàm chán lạc thú,
dốc lòng theo Phật, cầu đạo giải thoát. Sau năm năm thọ
trì giới luật, học hỏi kinh văn với các vị giáo thọ,
họ đến đảnh lễ Ðức Thế Tôn và thưa rằng:
- Bạch
Thế Tôn, lâu nay chúng con được hân hạnh tu học với đại
chúng, nhưng chưa biết nhiệm vụ của một Sa môn, xin Thế
Tôn từ bi chỉ dạy.
- Vậy
sao! Ðức Thế Tôn nói. Nhiệm vụ chính yếu của một Sa môn
là phải nghiên cứu kinh văn và tu tập thiền định. Có định
thì có tuệ, có tuệ thì mới có từ bi, hỷ xả và giải
thoát, phải vậy không?
- Ðúng
vậy! Vị Sa môn cao niên nói. Nhưng, bạch Thế Tôn, con nay
tuổi già sức yếu, e khó mà thực hiện nhiệm vụ nghiên
cứu kinh văn, xin Thế Tôn cho phép con thực hiện nhiệm vụ
tu tập thiền định.
- Ðược
rồi! Vậy thầy hãy nỗ lực tinh tấn, y theo giáo pháp mà
quán niệm hành thiền cho đến khi thành tựu đạo nghiệp.
- Bạch
Thế Tôn, vị Sa môn trẻ nói, con sẽ hoàn thành nhiệm vụ
nghiên cứu kinh văn. Con sẽ quyết tâm nghiên cứu toàn bộ
tam tạng giáo điển, vì đó là những lời vàng ngọc của
Ðức Thế Tôn đã thuyết giảng.
Thế
là, từ đó đi đâu thầy cũng trịnh trọng xiển dương giáo
pháp. Chẳng mấy chốc thầy trở thành một pháp sư nổi tiếng,
làm giáo thọ cho 500 Tỳ kheo và y chỉ cho mười tám cộng
đồng Tăng già.
Bấy
giờ có một nhóm Sa môn chuyên tu thiền định đến yết kiến
Thầy mình, vị Trưởng lão tu thiền đã chứng quả A la hán,
và ngỏ ý xin phép về thăm Ðức Thế Tôn. Thiền sư đáp:
- Lành
thay! Cho tôi gởi lời về hầu thăm Ðức Thế Tôn, các vị
Trưởng lão và pháp sư thân hữu của tôi.
Các
Sa môn về Trúc Lâm đảnh lễ Ðức Thế Tôn, viếng thăm các
vị Trưởng lão rồi đến vấn an pháp sư, nói:
- Kính
bạch Thượng tọa, Thầy chúng con xin gởi lời thăm sức khỏe
Thượng tọa.
- Thầy
của quý vị là ai? .- Pháp sư hỏi.
- Bạch
Thượng tọa, Thầy của chúng con là pháp hữu của Thượng
tọa.
- Thế
... quý vị đã học được gì với thầy ấy? Trong các Trường
bộ kinh, Trung bộ kinh, Tiểu bộ kinh v.v... quý vị đã học
được bộ nào? Trong ba tạng kinh điển, quý vị đã học
được tạng nào?
Và
rồi pháp sư tự nghĩ:
- Một
bài kệ bốn câu không biết, chuyên môn lượm giẻ rách làm
y, vào rừng ngồi lim dim suốt buổi, vậy mà nay cũng có môn
đồ pháp quyến, sư đệ như ai! Có dịp ta sẽ hỏi sư ấy
năm ba câu xem sao.
Ít
lâu sau, vị Sa môn cao niên về thăm Ðức Thế Tôn, các vị
Trưởng lão và đến viếng pháp sư thân hữu. Ðược dịp
trổ tài, vị pháp sư thông minh lanh lợi kia định lên mặt
chơi khăm pháp hữu của mình thì Ðức Thế Tôn liền nghĩ:
- Nếu
khởi tâm khinh miệt, xúc phạm Thánh tăng thì thầy ấy có
thể bị đọa địa ngục.
Vì
lòng lân mẫn, Ðức Thế Tôn giả vờ dạo quanh sân tu viện
rồi ghé vào tịnh xá hỏi vị Sa môn thông thái đôi điều
về thế giới hữu hình, vô hình; và, để chứng tỏ
tài bát thông kinh luận của mình, pháp sư lên giọng hùng
hồn về ý nghĩa của dục giới, sắc giới, vô sắc giới;
rồi nào là không vô biên xứ thiên, thức vô biên xứ thiên,
vô sở hữu xứ thiên, phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên v.v...
Thầy ấy giảng thao thao như gió reo thác đổ, Ðức Phật
và vị Sa môn cao niên rất hoan hỷ về tài hùng biện và trí
nhớ tuyệt vời của pháp sư. Nhưng đến khi đức Thế Tôn
hỏi làm thế nào thấy rõ thực tướng của vạn pháp và
đoạn trừ sanh tử luân hồi thì pháp sư biện giải loanh
quanh như kiến bò miệng chén, trong khi vị Sa môn chứng quả
A la hán giải đáp vấn đề rõ ràng, dứt khoát bằng kinh
nghiệm tu chứng của chính mình. Và Ðức Thế Tôn tán thán:
- Hay
thay!... Hay thay!... Sa môn!
Nghe
Ðức Thế Tôn tán thán vị Sa môn cao niên, môn đồ của pháp
sư làu thông kinh điển lấy làm khó chịu, sau đó họ đến
đảnh lễ Ðức Thế Tôn, hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, Thầy của chúng con biện tài vô ngại, trí nhớ
tuyệt vời, và hiện là giáo thọ của 500 Tỳ kheo, vậy mà
không được Thế Tôn tán thán; trong khi thiền sư kia chưa
từng miệt mài kinh điển, chỉ biết nhập định tham thiền
thì lại được ân huệ của Thế Tôn!
- Này
các thầy Tỳ kheo, Ðức Thế Tôn nói, các thầy nói sao? Nên
biết thầy của các ngươi hành trì giáo pháp cũng như kẻ
chăn bò thuê, ngày ngày lùa bò ra đồng, chăm sóc vỗ béo
từng con, nhưng không có con nào là của mình cả, và cũng
chả bao giờ nếm được hương vị của sữa bò. Còn vị
Sa môn cao niên kia thì giống như ông chủ, không chăn bò mà
hưởng được những sản phẩm tuyệt diệu từ sữa bò làm
ra.
Ngài
đọc kệ:
Dầu
đọc tụng nhiều kinh,
Tâm
buông lung cẩu thả,
Như
kẻ chăn bò thuê,
Khó
hưởng Sa môn quả!
Dầu
đọc tụng ít kinh,
Nhưng
hành trì giáo pháp,
Như
thật, tâm giải thoát,
Từ
bỏ tham sân si,
Hai
đời không chấp trì,
Thọ
hưởng Sa môn quả.
(PC.
19, 20)
MƯU
SÂU CÀNG KẾT NGHIỆP DÀY
TÍN
TÂM NIỆM PHẬT SẠCH NGAY OÁN THÙ
Ma-gan-đi-da
(Màgandiyà) và Xa-ma-va-ti (Sàmavàti) là hoàng hậu và cung phi
của quốc vương U-đe-na (Udena), một vị vua thông minh, anh
dũng và rất mực hiền đức. Cung phi Xa-ma-va-ti, vốn thâm
tín chư Phật, hướng dẫn 500 thị nữ quy y Tam bảo, cúng
dường chúng tăng và tinh tấn nghe Pháp; trong khi hoàng hậu
Ma-gan-đi-da thì nghi ngờ chánh pháp, hủy báng Tăng đoàn và
thường ganh tị với cung phi Xa-ma-va-ti.
Một
hôm, Ma-gan-đi-da đến cung thất của các thị nữ, thấy trong
phòng có một lỗ trống, bèn hỏi:
- Cái
gì thế này?
Không
biết hoàng hậu căm tức Ðức Thế Tôn, các thị nữ thưa:
- Ðức
Thế Tôn đã du hóa đến thành này, thị nữ chúng em đang
đứng chờ chiêm ngưỡng dung nhan và đảnh lễ Ngài.
- Thế
là tên ẩn sĩ Gô-ta-ma đã đến đây rồi!
Ma-gan-đi-da
thầm nghĩ: “Ta biết phải làm gì. Bọn thị nữ rất thuần
thành với gã. Các ngươi rồi sẽ biết tay ta”.
Nàng
đến gặp quốc vương, tâu rằng:
- Tâu
hoàng thượng, Xa-ma-va-ti và đám cung nữ hẳn đã không trung
thành với hoàng thượng, bọn chúng đang âm mưu tước đoạt
mạng sống của hoàng thượng đó.
- Họ
không nỡ nào làm như vậy đâu! .- Quốc vương ngỏ lời xác
tín.
Nàng
lập đi lập lại lời cáo trạng hai ba lần, nhưng quốc vương
vẫn không tin. Cuối cùng nàng khẳng định:
- Nếu
hoàng thượng không tin thần thiếp thì xin mời hoàng thượng
đến cung thất của họ sẽ rõ.
Quốc
vương đến đó, thấy trên tường phòng nào cũng có một
lỗ trống, bèn hỏi:
- Thế
này là thế nào?
Sau
khi nghe lời giải thích của họ là để chiêm ngưỡng dung
nhan và đảnh lễ Ðức Thế Tôn, quốc vương đã không
tỏ vẻ nóng giận, quát mắng, mà còn cho thay các lỗ trống
bằng những cửa sổ xinh xắn.
Không
trị được các cung nữ, Ma-gan-đi-da lại mưu tính:
- Bất
cứ giá nào ta cũng phải triệt hạ cho được lão Gô-ta-ma.
Và
thế là nàng mua chuộc dân chúng xúi giục đám nô lệ sỉ
vả, lăng nhục và ra sức tẫn xuất Tăng đoàn ra khỏi thành
thị. Giới ngoại đạo nhân đó lại càng lên mặt, cuồng
ngôn lộng ngữ thóa mạ Ðức Thế Tôn:
- Ngươi
mà là Ðạo sư! Ngươi chỉ là một tên trộm cướp đầu
đường xó chợ, một gã ngu ngốc vất vưởng lang thang, một
âm binh ma quái, một súc sanh trá hình, một loại trâu bò lừa
ngựa; ngươi mà cũng mong cầu giải thoát, ngươi sẽ bị vĩnh
kiếp đọa đày. Chúng vừa theo sau Ngài vừa vung vít lời
lẽ rất hỗn xược trong khi Ðức Thế Tôn vẫn thản nhiên
theo từng bước thiền hành.
Thấy
thầy trò bị xúc phạm, A Nan đau buồn, thưa:
- Bạch
Thế Tôn, dân chúng ở đây hung dữ quá, mình nên đi nơi khác
thì hơn.
- Nên
đi đâu, A Nan? .- Ðức Thế Tôn hỏi.
- Ðến
một thành phố khác, bạch Thế Tôn.
- Nếu
ở đó có người hủy báng nữa thì sao?
- Thì
đến thành phố khác nữa.
- Nếu
bị hủy báng nữa?
- Thì
đến nơi khác nữa.
- A
Nan, ta như một thớt voi lâm trận, chấp nhận mọi cung tên
và kham nhẫn mọi hủy báng. Có ai nghe voi than phiền giữa
trận mạc bao giờ! A Nan, đừng phiền muộn nữa. Hãy tu tập
hạnh nhẫn nhục. Chỉ trong bảy ngày thì mọi việc sẽ đâu
vào đó. Và đúng như vậy, sau bảy ngày, mọi việc trở lại
bình thường, tốt đẹp.
Âm
mưu bài Phật bị thất bại, Ma-gan-đi-da lại bày ra một quỷ
kế khác. Biết cung phi thị nữ là Phật tử trung kiên, nàng
bèn quyết tâm triệt tiêu họ trước. Nhân một hôm quốc
vương U-đe-na vui vầy trong yến tiệc, nàng mật sai cậu nàng
mang đến tám con gà trống sống và tâu với quốc vương ra
lệnh cho đám cung nữ làm thịt đãi hoàng thượng. Quốc vương
chuẩn y. Các cung nữ được lệnh, liền tâu:
- Tâu
hoàng thượng, chúng thần là Phật tử, không bao giờ sát
hại sinh mạng, mong hoàng thượng lượng thứ.
Ma-gan-đi-da
thừa thế, làm tới:
- Ðấy!
Hoàng thượng thấy chưa? Họ đâu có xem hoàng thượng ra gì!
Lệnh của quốc vương từ nay không còn hiệu lực nữa rồi!
.- Bỗng nàng gằn giọng:
- Hoàng
thượng hãy lệnh cho họ làm thịt tám con gà trống đó để
đãi Sa môn Gô-ta-ma xem sao.
Rồi
nàng mật bảo nô tỳ mang tám con gà trống chết đến cho
cung nữ và được họ chấp thuận làm tiệc ngay. Thế là
Ma-gan-đi-da được trớn quát lên:
- Bọn
nô tỳ đáng chết, dám khi quân phạm thượng. Hoàng thượng
đã tin lời thần thiếp chưa? Phải mà! Thần thiếp có ra
gì mà hoàng thượng phải tin! Giờ thì cháy nhà mới ra mặt
chuột, rõ là nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà!
Quốc
vương vẫn bình thản, xem như không có chuyện gì xảy ra.
Tức
khí, Ma-gan-đi-da ngầm nhờ cậu nàng tìm một con rắn độc,
bỏ nó vào lỗ ống tiêu luyện voi mà quốc vương đi đâu
cũng mang theo, rồi cắm vào lỗ đó một cành hoa, chờ cơ
hội thực hiện yêu kế.
Hôm
sau, quốc vương đến lượt viếng khuê phòng của Xa-ma-va-ti,
Ma-gan-đi-da liền cản:
- Tâu
hoàng thượng, thần thiếp nghĩ hoàng thượng không nên đến
đó hôm nay.
- Vì
sao? Quốc vương hỏi:
- Ðêm
qua thần thiếp nằm mộng chẳng lành, e hoàng thượng ...!
- Ta
không tin mộng mị.
- Tâu
hoàng thượng, hay là cho thần thiếp theo hầu hoàng thượng
để có gì xảy ra thì ...
Thế
là sau khi dự tiệc vui thú với Xa-ma-va-ti, quốc vương nằm
ngủ và để ống tiêu bên cạnh gối đầu. Ma-gan-đi-da giả
vờ đứng hầu, rồi lén rút cành hoa, con rắn độc từ từ
bò ra, phùng mang thở phì phì và Ma-gan-đi-da thét lên:
- Hoàng
thượng! Hoàng thượng! Rắn độc! Cứu hoàng thượng với!...
Người đâu!... Người đâu!...
Quốc
vương thất kinh lăn xuống giường, Ma-gan-đi-da trợn mắt
đay nghiến:
- Ta
biết từ lâu rồi mà! Bọn đốn mạt vô lại kia lúc nào
cũng muốn ám sát hoàng thượng. Hoàng thượng thấy chưa?
Hoàng thượng có bao giờ nghe lời thần thiếp đâu!
Nhìn
thấy con rắn thè thè cái lưỡi đen ngòm với đôi mắt đỏ
ngầu, quốc vương vỗ bàn, hạ chỉ:
- Lôi
Xa-ma-va-ti và 500 cung nữ ra pháp trường, sắp thành hàng một,
Xa-ma-va-ti đứng đầu!
Và
đích thân quốc vương trương cung nhắm ngay ngực Xa-ma-va-ti
bắn một phát, nhưng lạ thay, mũi tên bay đến ngực Xa-ma-va-ti
thì rớt xuống đất. Quốc vương trợn mắt, buông cung, và
tay chân run lẩy bẩy, vì mũi tên quốc vương bắn ra có thể
xuyên thủng một tảng đá.
Xa-ma-va-ti
chấp tay, quỳ xuống, và tâu rằng:
- Muôn
tâu hoàng thượng, thần thiếp và cung nữ đã quy y Phật,
quy y Pháp, quy y Tăng. Chúng thần lúc nào cũng trang trải tình
thương và tôn trọng sự sống.
Quốc
vương cảm kích đến rơi lệ. Ngài dang hai tay, ngửa mặt
lên trời, nói lớn:
- Huyền
diệu thay! Hỡi Ðức Thế Tôn, đấng cha lành của nhân
thế.
Mưu
kế bị thất bại liên tục, lần này Ma-gan-đi-da lại nghĩ
ra một quái chước oan nghiệt hơn. Nàng lệnh cho cậu nàng
nhúng vải vào dầu rồi quấn chúng vào các trụ cột của
cung thất Xa-ma-va-ti và thị nữ. Thấy vậy, Xa-ma-va-ti hỏi:
- Ngài
đang làm gì thế?
- Xin
quý nương nương hãy vào trong an nghỉ. Ðây là lệnh của
quốc vương muốn cột trụ được rắn chắc hơn.
Xa-ma-va-ti
và đám cung nữ vừa vào trong thì các cửa được khóa chặt,
và những ngọn lửa hung tàn chẳng mấy chốc đã xông lên
rần rật một góc trời.
Xa-ma-va-ti
lên tiếng nhắn nhủ:
- Này
các tỷ muội, chắc các tỷ muội còn nhớ đấy! Ðức Thế
Tôn dạy: Chúng ta đã trải qua vô lượng vô biên kiếp sanh
tử luân hồi trong đau thương khói lửa; nay chúng ta được
may mắn làm người, lại được gặp Phật, Pháp và Thánh
tăng; chúng ta hãy nhứt tâm chánh niệm, chánh niệm thì an
lạc. Họ chí tâm niệm danh hiệu Ðức Thế Tôn ba lần rồi
cùng nhau đi vào chánh định trong ngọn lửa hung tàn.
Quốc
vương nhìn thấy cảnh tượng ghê hồn mà ngậm ngùi than thở
cho lòng dạ ghen ghét, ác độc của con người. Sau đó quốc
vương ra lệnh bắt hết gia quyến của Ma-gan-đi-da, chôn họ
tới cổ, rồi chất rơm trên đầu mà đốt cho đến tan xương
nát thịt. Rõ là một bi kịch khủng khiếp trên cõi trần
ai!
Các
Sa môn hay tin, đến đảnh lễ Ðức Thế Tôn và thắc mắc
không biết vì sao những Phật tử tinh tấn thuần thành, hiền
lành, hiếu đạo như Xa-ma-va-ti và các cung nữ lại phải chết
thảm như thế! Ðức Thế tôn nói:
- Này
các thầy Tỳ kheo, nếu nhìn những hiện tượng xảy ra trên
cõi đời này thì lắm khi thấy bất công và phi lý lắm. Nhưng,
như các thầy đã biết, trong vòng xích sanh tử luân hồi,
mắc xích nào cũng có nguyên nhân và kết quả của nó. Nay
thì Xa-ma-va-ti và các cung nữ đã thành tựu đạo nghiệp,
thấp nhất là quả vị Tu đà hoàn.
- Nhưng,
bạch Thế Tôn, họ đã làm gì mà nay lâm vào cảnh thê thảm
như thế?
Vậy
thì hãy lắng nghe, này các thầy Tỳ kheo.
*
*
*
Trong
một tiền kiếp xa xưa, Xa-ma-va-ti và các cung nữ đó là thần
phi mỹ nữ của quốc vương Bra-ma-đát-ta (Bramadatta) trị vì
tại thành Ba La Nại. Một hôm đi thưởng ngoạn, tắm sông
đến chiều tối, các phi tần thấm lạnh, họ bèn rủ nhau
kiếm củi đốt lên sưởi ấm. Họ đã đốt nhầm một vị
Phật Ðộc giác đang nhập định trên đống cỏ khô, và sau
khi phát hiện, sợ vua nghiêm phạt, họ cố tình phi tang bằng
cách chất thêm cỏ và đổ dầu lên đốt cho mau xong việc.
Hành động trước thì vô tình, hành động sau thì cố ý.
Thật là nhân quả trùng trùng, nghiệp cảm điệp điệp.
- Nhưng,
bạch Thế Tôn, cái chết của Xa-ma-va-ti và các cung nữ cùng
với cái chết của Ma-gan-đi-da có gì khác biệt?
- Này
các thầy Tỳ kheo, những ai buông lung phóng dật, lòng dạ
hẹp hòi, ghen ghét đố kỵ, thương mình hại người như Ma-gan-đi-da
thì sống cũng như đã chết, còn ngược lại như Xa-ma-va-ti
và các cung nữ thì chết cũng như đang sống.
Ngài
đọc kệ:
Tinh
cần là đường sanh,
Buông
lung là ngõ tử,
Tinh
cần là bất tử,
Buông
lung như thây ma!
Hiểu
rõ sai biệt ấy,
Người
trí luôn tinh cần,
Hoan
hỷ không phóng dật,
Vui
thánh quả xuất trần.
Ai
chuyên tập thiền định,
Quyết
tâm tu vững vàng,
Giải
thoát mọi trói buộc,
Chứng
vô thượng niết bàn.
(PC.
21, 22, 23)