Phần
4
THUẬN
THEO TỪNG TÌNH CẢNH
ẮT
TRÁNH MỌI ÐAU THƯƠNG
Thuở
nọ có một nạn dịch bộc phát tại nhà của một đại phú
hào ở thành Vương Xá. Lúc đầu các loại gia cầm gia súc
như gà vịt trâu bò tự nhiên phình bụng vài hôm rồi lăn
đùng ra chết, tiếp đến là những người nô lệ và sau cùng
là ông bà chủ nhà. Vừa mới nhuốm bịnh, và biết thế nào
cũng chết, họ đứng nhìn đứa con trai duy nhất với hai hàng
nước mắt ràn rụa, nói rằng:
- Con
ơi! Con là đứa con trai duy nhất của cha mẹ. Cả đời cha
mẹ tảo tần gây dựng gia nghiệp cho con. Ðừng lưu luyến
cha mẹ nữa. Hãy trốn ra khỏi thành càng sớm càng tốt. Hãy
ẩn náu ở một nơi thật xa rồi một ngày thuận tiện nào
đó con sẽ trở về khai quật kho báu cha mẹ chôn ở nơi này
lên mà tiêu dùng.
Trước
trận dịch đang lan tràn khủng khiếp, đứa con phải sụt
sùi rơi lệ, chấp tay quỳ lạy và ngỏ lời vĩnh biệt song
thân. Chàng đi đến một cánh rừng già u tịch và sống ở
đó được mười hai năm.
Khi
chàng trở về, râu tóc bù xù, mặt mày hốc hác, áo quần
người ngợm trông lôi thôi lếch thếch như một kẻ ăn mày.
Không ai nhận ra chàng là “cậu ấm” của một danh gia vọng
tộc, vang bóng một thời. Chàng lần tìm đến nơi kho tàng
được cất giấu và thấy nó vẫn còn nguyên. Lòng mừng mừng
tủi tủi, loay hoay không biết phải làm gì. Cuối cùng chàng
tự nghĩ:
- Không
ai biết ta từng sống nơi đây. Nếu ta khai quật vàng bạc
ngọc ngà lên và sống theo lối trưởng giả thì e rằng sẽ
bị nghi ngờ, theo dõi; sẽ bị giam cầm, tra tấn hoặc bị
thủ tiêu vì cái kho báu này không chừng. Tốt hơn hết là
ta nên đến xóm lao động, làm thuê làm mướn, sinh sống qua
ngày, chả ai quấy rầy dòm ngó; cuộc sống bề ngoài trông
có vẻ quạnh hiu, lam lũ nhưng trong lòng thật tự tại, thênh
thang. Và thế là chàng quyết định giã từ báu vật, an phận
giản đơn, chấp nhận làm công cho một nông gia với sớm
chiều chăm lo trâu bò đồng áng, và chàng được cấp một
căn nhà.
Một
hôm, nhân chuyến tham quan cảnh sinh hoạt vụ mùa, vua Tần
Bà Sa La, người có tài đoán tướng qua âm thanh, nghe tiếng
nói của chàng và quả quyết rằng đó là âm thanh của người
đại phú, đại quý. Một cung nữ đứng bên vua nghe được
điều đó, nàng mật sai nô tỳ đi tìm cho được người có
âm thanh phú quý kia. Hai ba phen nhọc công tìm kiếm nhưng lần
nào nàng cũng được báo cáo là chỉ gặp một gã làm công
áo quần nhếch nhác, lu bu với trâu bò vườn ruộng suốt
ngày.
Ðể
xác định sự thật và tìm cho ra manh mối, cung nữ lại tâu
vua:
- Tâu
hoàng thượng, người có âm thanh phú quý kia, theo thiếp biết,
chỉ là một tên nô bộc không hơn không kém.
Quốc
vương nói:
- Không
đúng! Âm thanh đó đích thị là hiện thân của bậc đại
phú, đại quý.
Thế
là nàng liền xin phép quốc vương, cùng ái nữ của mình lên
đường đi tìm người có âm thanh đặc biệt đó.
Họ
cải dạng thành khách bộ hành lỡ bước, vào nhà chàng trai
làm công kia xin tá túc một đêm. Sáng hôm sau họ giả vờ
lên cơn sốt và thế là họ được ở lại mấy hôm chung
sống vui vẻ. Rồi một hôm nọ, nghe tiếng con gái thút thít
khóc, người mẹ hỏi:
- Có
việc gì vậy con?
- Me
ơi!... Con biết nói sao bây giờ.
Sáng
hôm sau chàng thanh niên thành thật xin lỗi và xin chịu mọi
biện pháp gia hình. Người mẹ nói:
- Chuyện
đã lỡ rồi! Nhưng mà hai đứa có thương nhau không?
- Cả
hai im lặng, chỉ khẽ liếc mắt nhìn nhau.
- Ðã
vậy thì hai đứa từ nay nên vợ nên chồng, phải thương
yêu, tin tưởng và đùm bọc lẫn nhau suốt đời.
- Cả
hai đều quỳ xuống và ôm hôn gối mẹ.
Thấy
cuộc sống chật vật, phần thương mẹ thương vợ, chàng
thanh niên Kum-ba-gô-xa-ka (Kumbhaghosaka) lén đến chỗ cất giấu
kho báu, gỡ lấy một ít vàng bạc đem về đưa cho vợ, và
thế là bà mẹ vợ mật chuyển số vàng bạc đó về tâu
vua. Quốc vương liền phái vệ binh đến tróc nã Kum-ba-gô-xa-ka.
Thất kinh, chàng thanh niên hồn nhiên, chất phác sững
sờ thấy mình bị trói tay, áp giải đến hoàng triều. Người
mẹ vợ thấy vậy nói:
- Bọn
nha môn hỗn man kia không được làm kinh động con rể ta.
Rồi
bà quay sang chàng, nói:
- Con
cứ bình tĩnh theo họ về triều. Mọi việc đã có mẹ.
Chàng
thanh niên nhìn mẹ, nhìn vợ với hai hàng nước mắt ròng
ròng.
Trước
mặt quốc vương, Kum-ba-gô-xa-ka khấu đầu lạy tạ và đợi
lời thẩm vấn. Quốc vương hỏi:
- Ngươi
là Kum-ba-gô-xa-ka?
- Thưa
vâng, muôn tâu bệ hạ!
- Tại
sao ngươi chiếm đoạt tài sản của người khác?
- Muôn
tâu bệ hạ, thảo dân đâu có tài sản. Con sinh sống bằng
nghề cày thuê cuốc mướn. Mong bệ hạ lượng xét.
- Hừ!...
Ngươi còn dám to gan lường gạt cả trẫm nữa sao?
- Muôn
tâu bệ hạ, thảo dân không dám!
Thế
là quốc vương đưa vàng bạc ra, hỏi:
- Vàng
bạc này của ai?
Thất
kinh, Kum-ba-gô-xa-ka chỉ biết đưa mắt nhìn quanh, và thấy
hai người phụ nữ quen thuộc ăn mặc lộng lẫy đứng hầu
dưới bệ rồng.
Quốc
vương quát:
- Nói
đi!... Tại sao ngươi dám trộm cắp châu báu của kẻ khác?
- Muôn
tâu bệ hạ, Kum-ba-gô-xa-ka cúi đầu thưa, kho báu đó quả
thật là của cha mẹ con để lại cho con. Nhưng nay cha mẹ
con không còn nữa, con tứ cố vô thân, không nơi nương tựa,
không người chở che, sợ khai quật kho báu sẽ liên lụy đến
tánh mạng, nên con đành phải chọn cuộc sống gánh thuê vác
mướn cho yên thân yên phận. Ước gì bệ hạ là nơi nương
tựa của con!
- Khá
khen cho ngươi, quốc vương nói.
Ðoạn
ngài ra lệnh chở toàn bộ châu báu về hoàng cung, sung vào
công quỹ, phong Kum-ba-gô-xa-ka làm quan thủ khố và gả công
nương cho chàng.
Sau
đó quốc vương đưa chàng đến đảnh lễ Ðức Thế Tôn,
và thưa rằng:
- Bạch
Thế Tôn, không ai như cháu này: không ham vàng bạc, không chuộng
công danh, chỉ vui với nếp sinh hoạt bình dị, khiêm tốn,
thật là hiếm có trên đời!
Nghe
qua, Ðức Thế Tôn nói:
- Ðại
vương, cháu ấy vốn có nếp sống cương trực, chánh niệm,
cẩn trọng, tự chế trong cả ngôn ngữ, tư tưởng và hành
động; người như vậy sẽ đi từ thành công này đến thành
công khác, từ sức mạnh này đến sức mạnh khác.
Ngài
đọc kệ:
Ai
nỗ lực, chánh niệm,
Trong
sạch và nghiêm cần,
Tự
chế, sống chân chánh,
Tiếng
lành tăng trưởng dần.
(PC.
24)
TINH
CHUYÊN BỢN CÁU THẢY TIÊU TRỪ
DŨ
SẠCH TRẦN DUYÊN LIỀN THANH TỊNH
Thuở
nọ, tại thành Vương Xá, có một thương gia giàu có nhưng
chỉ sanh được một cô con gái xinh đẹp nên ông bà rất
nuông chiều. Ðến tuổi trưởng thành, sợ ong bướm dập
dìu, động đến “cành vàng lá ngọc”, cha mẹ bắt cô ở
trên tầng thứ bảy của một biệt thự lộng lẫy và được
hầu hạ cẩn trọng bởi một gã nô lệ đứng tuổi. Lúc
đầu, chủ tớ phân minh, nói năng mực thước, nhưng rồi
lửa lòng của cô cứ mỗi ngày một thêm rạo rực trước
tấm thân rám nắng, chắc nịch của gã nô lệ, hai bên liếc
mắt đưa tình, dan díu vụng trộm và dần dần đi đến say
đắm lúc nào không hay. Sợ sự việc vỡ lỡ, nàng khuyên
chàng:
- Chúng
ta không thể ở đây lâu hơn nữa. Nếu thiên hạ đàm tiếu
và cha mẹ biết được chuyện này thì em sẽ bị tan xương
nát thịt. Tốt hơn là chúng mình nên đi nơi khác sinh sống,
anh nhé!
Cả
hai thu xếp một ít đồ đạc cần thiết rồi vội vã ra khỏi
nhà. Ði được một đoạn, chàng hỏi:
- Ði
đâu bây giờ hả em?
- Ði
đâu cũng được, nàng quả quyết nói, miễn là không ai hay
biết hay rêu rao dòm ngó gì đến chúng mình.
Họ
cùng nhau tay xách nách mang, dắt díu đùm túm đến một ngôi
làng xa xôi hẻo lánh và định cư ở đó. Chín tháng trôi
qua, gần đến ngày sinh nở, nàng nói:
- Nếu
em sanh con nơi đây thì chúng mình chắc phải khổ lắm. Chi
bằng đưa em về quê cũ, có cha có mẹ, có bà con quyến thuộc
thì hơn.
- Em
muốn anh bị treo cổ hả? Một liều ba bảy cũng liều, đã
đốn thì vác, con anh anh nuôi, khổ cách nào anh cũng không
ngán, miễn sao em sanh cho anh một thằng cu tèo.
- Không
được đâu anh! Ðàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển
mồ côi một mình. Xin anh thương em!
Nói
gì thì nói chàng cũng không nghe. Cuối cùng nàng tự nghĩ:
- Có
cha có mẹ thì hơn, không cha không mẹ như đờn đứt dây.
Và, thừa lúc chàng vắng nhà, nàng bụng mang dạ chửa, một
mình một bóng, lủi thủi lên đường trở về quê mẹ.
Về
tới nhà không thấy vợ, chàng cắm đầu cắm cổ chạy theo
và bắt kịp nàng giữa đường. Ngay lúc đó nàng chuyển dạ
và sanh được một hài nhi. Chàng sung sướng nhảy câng câng,
hỏi:
- Trai
hay gái... em? Trai hay gái... em?
- Con
trai. Em mệt quá! Cho em miếng nước! .- Nàng thều thào nói.
- Nước
đâu giữa đường em ơi! Ráng một chút nữa em nhé!
Chàng
vừa thương vợ thương con, vừa loay hoay cuống quít không
biết phải làm gì. Cuối cùng chàng quyết định bế vợ con
trở lại nhà.
Về
tới nhà, chàng đặt nàng trên một tấm phản, sung sướng
nói:
- Cảm
ơn em, cảm ơn em! Trời đã cho ta của quý. Con sanh giữa đường
thì đặt tên Rớt – cu Rớt – em chịu hôn?
Nàng
mỉm cười và liếc nhìn chồng bằng cái nhìn yêu thương,
trìu mến.
Vài
năm sau, nàng thọ thai và cũng sanh được một bé trai giữa
đường. Họ vui mừng và cũng đặt tên con là Rớt: Rớt anh
- Rớt em.
Ðến
khi biết nhận định đôi chút, nghe bọn trẻ khoe khoang về
ông bà dòng tộc của chúng, Rớt anh Rớt em cũng thắc mắc
hoài với mẹ về họ hàng thân thích của mình. Lòng tự hào
nổi dậy, hai vợ chồng quyết định đưa con về Vương Xá
để gặp ông bà, những thương gia cự phú, vang danh nhứt
vùng.
Ðược
tin con gái đưa chồng con về nương nhờ cha mẹ, ông bà thương
gia vừa mừng, vừa tức, vừa xót thương cho cảnh cơ hàn
khốn khổ của con, nhưng vì danh dự gia phong, họ chỉ nhận
nuôi hai cháu, còn cha mẹ chúng thì được cho tiền của và
phải đi nơi khác sinh sống.
Rớt
anh lanh lợi, khôi ngô, thường được ông nội dẫn đến
chùa nghe Ðức Thế Tôn thuyết pháp. Dần dần Rớt anh mến
Tăng, kính Phật, cuối cùng cậu xin xuất gia và tất nhiên
là được ông nội sung sướng cho phép lên đường theo Ðức
Thế Tôn.
Rớt
anh được một Trưởng lão hướng dẫn tu tập thiền định
và học hỏi kinh văn trước khi gia nhập giáo hội. Cậu thiếu
niên thông minh sắc sảo, cần mẫn chuyên tâm, học đâu nhớ
đó. Cậu được các bậc Trưởng lão và Ðức Thế Tôn quan
tâm yêu mến, cho nhập Tăng đoàn, thọ giới quy y và, sau một
thời gian tinh chuyên nỗ lực, cậu chứng quả A la hán.
Cảm
nghiệm được niềm hỷ lạc siêu thoát, thầy nghĩ: “Nếu
Rớt em tinh tấn tu học thì sẽ cũng được như vậy” . Thầy
về nhà thưa nội cho phép Rớt em theo thầy vào Ðạo, làm
đệ tử Phật. Rớt em được Ðức Thế Tôn thọ ký và được
Thượng tọa Rớt anh giáo dục. Khốn nỗi Rớt em căn trí
chậm lụt, học trước quên sau, nói đâu quên đó, bốn tháng
trôi qua mà không thuộc nổi một bài kệ bốn câu.
Thượng
tọa Rớt anh thấy vậy quyết định:
- Thôi!
Cậu nên ra về. Hình như cậu không có căn cốt tu hành. Chậm
lụt như vậy làm sao đạt đến thánh quả! Hãy ra khỏi chùa
ngay.
Rớt
em quỳ lạy anh ba lạy, mếu máo khóc cho thân phận u trệ
của mình...
Bấy
giờ có thí chủ Ji-va-ka Kô-ma-ra-ba-ka (Jivaka Komàrabhacca) đem
hương hoa đến chùa lễ Phật cúng dường và thỉnh đại
chúng trưa mai đến nhà thọ trai. Ðức Phật chấp thuận.
Thượng tọa Rớt anh, với tư cách là quản chúng, thông báo
cho 500 Tỳ kheo ngày mai đi trai tăng, trừ Rớt em.
Ðược
tin bị “lọt sổ”, Rớt em đau buồn, thầm nghĩ: “Vì ngu
si đần độn nên phải chịu cảnh thấp hèn, cốt nhục ly
cách. Thôi thì tép tôm theo phận tép tôm. Về thì về! Biết
đâu về nhà mình lại được an lạc và làm nhiều việc phước
thiện hơn ; thọ hưởng tứ sự cúng dường của thập phương
bá tánh mà tu hành chiếu lệ, học tập lai rai thì chỉ có
đọa” .
Sáng
sớm hôm sau, Rớt em đảnh lễ Thượng tọa Rớt anh ba lạy
rồi thỏng tay, lủi thủi ra về trong niềm cảm xúc nghẹn
ngào, buồn tủi.
Vừa
tới cổng chính, Rớt em gặp ngay Ðức Thế Tôn, cậu liền
chấp tay quỳ xuống với hai giọt nước mắt rưng rưng. Ðức
Thế Tôn ôn tồn hỏi:
- Con
đi đâu sớm vậy?
- Bạch
Thế Tôn, con không được ở chùa nữa! Rớt em mếu máo thưa.
Con ngu quá nên Thượng tọa đuổi con, hu... hu!...
- Về
hay ở là do Thầy chứ đâu phải do Thượng tọa của con.
Sao con không đến nói cho Thầy biết.
Ðoạn
Ðức Thế Tôn đưa tay xoa đầu Rớt em và dắt cậu về tịnh
xá. Sau đó Ngài đưa cho cậu một tấm vải trắng tinh, dạy
rằng:
- Con
hãy ngồi đây, mặt quay về phương đông, dùng tay vuốt tấm
vải này và nói: “Tẩy trừ cấu uế! Tẩy trừ cấu uế!”
Rớt
em, theo lời Phật dạy, ngồi xoay mặt về phương đông, hai
tay vuốt vuốt tấm vải, nói:
- Tẩy
trừ cấu uế! Tẩy trừ cấu uế!
Và
sau một lúc làm như vậy thì cậu thấy tấm vải bị hoen
ố. Cậu liền bừng sáng, nghĩ rằng: “Trước đây tấm vải
trắng tinh, sau khi tay ta chà vuốt một hồi thì nó trở nên
hoen ố. Cấu uế từ trong thân tâm này mà ra, không phải từ
ngoài vào. Thế thì mọi thứ hiện hữu trên đời cũng vậy:
vô thường, biến hoại!” .
Rớt
em ngộ lý duyên sanh và phát huy thiền quán đến cội nguồn
căn để của vạn pháp. Và, thấy cơ duyên đã đến, Ðức
Thế Tôn đến ngồi trước mặt Rớt em, nói:
- Rớt
em, đừng nghĩ rằng chỉ có tấm vải này bị hoen ố, bất
tịnh. Trong người con cũng dẫy đầy cấu uế. Hãy thanh tẩy
chúng. Con biết đấy: Tham dục là cấu uế. Hận thù là cấu
uế. Si mê là cấu uế.
Ðức
Thế Tôn vừa dứt lời thì Rớt em liền chứng quả A la hán,
sung mãn thần thông diệu lực và thông đạt tam tạng giáo
điển.
Trưa
hôm sau, khi Ji-va-ka Kô-ma-ra-ba-ka dâng nước cho Ðức Thế Tôn,
Ngài đưa tay che bát, nói:
- Ji-va-ka,
ở tu viện không còn ai nữa sao?
- Bạch
Thế Tôn, không còn thầy nào nữa ạ! Thượng tọa Rớt anh
nhanh nhẩu đáp.
- Nhưng
còn đấy, Ji-va-ka!
Thế
là Ji-va-ka cho người đến tu viện và Rớt em được mời
đến nhà thí chủ.
Thọ
trai xong, Ðức Thế Tôn bảo Rớt em thay mặt đại chúng có
đôi lời hồi hướng công đức. Như một chú sư tử con với
những biểu hiện thần thông kỳ lạ, Rớt em cất lên những
lời hùng tráng, linh hoạt, xảo diệu và hoàn toàn phù hợp
với giáo pháp. Mọi người chấp tay im lặng và thán phục
khôn cùng.
Tối
hôm đó, sau giờ hành thiền mà đại chúng vẫn còn ngồi
trong chánh điện, họ bàn tán và không ngớt lời ca ngợi
thành quả siêu việt của Rớt em. Thấy vậy Ðức Thế tôn
vào, hỏi:
- Quý
thầy có gì mà thảo luận vui thế?
- Bạch
Thế Tôn, một Trưởng lão đáp, hôm trước bài kệ bốn câu
không thuộc, hôm sau biện tài vô ngại, diệu lực thần thông;
đúng là niệm trước mê tức chúng sanh, niệm sau ngộ tức
Phật.
- Hay
thay! Hay thay! Này các thầy Tỳ kheo, Ðức Thế Tôn nói, thầy
nào nỗ lực tu hành, toàn tâm toàn ý với chánh pháp
thì sớm muộn gì cũng đạt đến thánh quả.
Ngài
đọc kệ:
Nhờ
nhiệt tâm cố gắng,
Tự
chế, sống nghiêm trang,
Người
trí xây hòn đảo,
Nước
lụt khó ngập tràn.
(PC.
25)
Ðại
chúng hoan hỷ, đảnh lễ Ðức Thế Tôn, rồi sư đệ cùng
lui về hậu thất.
NGU
PHU THƯỜNG LỘNG NGỮ
TRÍ
GIẢ LUÔN NHIẾP TÂM
Một
hôm, tại Xá Vệ có những ngày lễ gọi là “ngu phu lễ hội”:
ngày hội của bọn ngu si. Nhân dịp đó, những kẻ si mê đần
độn hăm hở trét tro và phân bò lên đầy người, đi đứng
nghênh ngang, nói năng thô tục, cử chỉ hỗn láo, và liên
tục trong bảy ngày, họ không hề bày tỏ dấu hiệu thân
thiện với bất cứ ai, kể cả bà con quyến thuộc, thân hữu
láng giềng hay các vị Sa môn họ gặp; họ chỉ đứng trong
cửa ngõ nguyền rủa, nhục mạ, tru tréo, chửi bới những
ai họ thấy đi qua. Ai không chịu nổi thái độ hỗn xược,
lời lẽ thô bỉ đó thì hối lộ cho chúng nửa xu hay một
cắc, tùy theo khả năng của mình, và chúng sẽ hân hoan, vênh
váo nhận tiền rồi ra khỏi nhà.
Bấy
giờ tại Xá Vệ có hàng vạn Phật tử thuần thành, quyền
uy chức tước ngỏ lời với Ðức Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, trong bảy ngày này, Thế Tôn và Tăng đoàn đừng
vào thành phố, nên an cư cấm túc tại tu viện.
Và
trong bảy ngày đó, các đệ tử trung kiên luân phiên chuẩn
bị trai phạn, rồi phái người đem đến chùa cúng dường
Thế Tôn và Tăng đoàn chứ họ cũng không ra khỏi nhà. Tuy
nhiên, đến ngày thứ tám, khi lễ hội kết thúc, các Phật
tử thỉnh Tăng đoàn vào thành phố và cúng dường rất nhiều
lễ vật. Sau khi đảnh lễ Ðức Thế Tôn và cung kính ngồi
sang một bên, họ trịnh trọng thưa:
- Bạch
Thế Tôn, chúng con đã phải trải qua bảy ngày bực tâm bực
trí, phiền não khôn cùng. Tai của chúng con gần như bị vỡ
ra vì phải nghe những lời ngông cuồng, thô lậu của bọn
ngu si, thiếu trí. Bạch Thế Tôn, khổ quá! Không còn lễ nghi,
thể thống gì cả! Không còn văn minh, lịch sự gì cả! Ðúng
là sống với kẻ si mê ắt bốn bề sầu tủi, gần với bọn
ngu muội giống như gặp kẻ thù: không còn nể nang tử tế
gì ráo! Chính vì thế mà chúng con không muốn Thế Tôn và
Tăng đoàn vào thành hóa duyên truyền Ðạo. Bản thân chúng
con cũng không ra khỏi nhà.
Ðức
Thế Tôn lắng nghe tín tâm và thiện chí kính Phật trọng
Tăng của họ, đoạn Ngài nói:
- Các
Phật tử quan ngại là phải. Không ai muốn sư trưởng và
thiện hữu tri thức của mình bị hủy báng, lăng nhục. Và
như quý vị thấy đấy, hạng ngu si mê muội thì có những
lễ lược và hành xử với nhau như vậy. Còn những ai thông
minh trí tuệ, nỗ lực tinh cần, chuyên tâm chánh niệm như
giữ kho bảo vật thì sẽ an lạc thân tâm, liễu sanh thoát
tử và chứng đắc Niết bàn.
Ngài
đọc kệ:
Kẻ
đần độn ngu si,
Thích
buông lung phóng dật,
Người
trí luôn nhiếp tâm,
Như
giữ kho bảo vật.
Không
say sưa dục lạc,
Không
phóng dật buông lung,
Người
chuyên tu thiền định,
Ðược
an lạc vô cùng.
(PC.
26, 27)
DUY
CHỈ TRI KIẾN PHẬT
QUÁN
TRIỆT VÒNG DUYÊN SANH
Thuở
nọ, Trưởng lão Ma Ha Ca Diếp (Mahà Kassapa) ẩn tu trong hang
động Pi-pa-li (Pipphali). Một hôm, sau khi khất thực một vòng
quanh thành Vương Xá, ngài trở về tịnh xứ thọ trai rồi
tham thiền, quán niệm. Ngài dùng thiên nhãn quán sát tất cả
chúng sanh: tinh cần hay phóng dật, dưới nước hay trên khô,
trong núi hay ngoài gò, hiện còn hay đã mất.
Bấy
giờ Ðức Thế Tôn đang an trú tại tu viện Trúc Lâm, Ngài
cũng dùng thiên nhãn quán sát thế gian và thấy Ma Ha Ca Diếp,
đệ tử vĩ đại của Ngài đang dốc tâm quán niệm cảnh
sinh diệt của chúng sanh, Ngài nói:
- Nhận
thức về cảnh sinh diệt của chúng sanh không thể lãnh hội
được. Chúng sanh luân chuyển từ hiện hữu này sang hiện
hữu khác và luôn có khái niệm mới trong bào thai của người
mẹ mà không có nhận thức của người mẹ hay người cha,
và nhận thức đó không thể nắm bắt được. Ca Diếp, tri
kiến của ông chưa được sâu sắc lắm, chưa có thể quán
triệt được chúng đâu. Chỉ tri kiến của chư Phật mới
biết và thấy được toàn bộ quá trình sinh diệt của chúng
sanh.
Nói
xong, Ngài phóng quang sáng ngời và hiện thân rực rỡ trước
mặt Ca Diếp, đọc kệ:
Nhờ
diệt trừ phóng dật,
Người
trí hết ưu phiền,
Lên
lầu cao trí tuệ,
Nhìn
chúng khổ triền miên,
Như
người hiền trên núi,
Nhìn
đám ngu đất liền.
(PC.
28)
TINH
CẦN NÂNG ÐẠO NGHIỆP
GIẢI
ÐÃI HẠI THÂN TÂM
Thuở
nọ, có hai Tỳ kheo lãnh thọ yếu chỉ thiền quán từ Ðức
Thế Tôn rồi lui về rừng Khổ Hạnh tu tập. Sáng sớm hôm
đó, một vị mang củi ra, chuẩn bị lò than chu đáo để suốt
canh một đêm đó ngồi sưởi ấm, tán dóc với các chú sa
di và các chú điệu, thôi thì bàn tán đủ thứ: chuyện trong
chùa ngoài phố, chuyện thiện nam tín nữ, chuyện xuất gia
hoàn tục, chuyện giải đãi trầm luân, chuyện cải trang khất
thực, chuyện giả danh Sa môn, chuyện nghe kinh ngủ gục v.v...
Các chú sa di và các chú điệu cứ há mồm ra nghe thầy nhận
xét và luận chuyện phiếm mà không biết chán. Trong khi vị
Sa môn kia thì nhứt tâm quán niệm, hạ thủ công phu. Thấy
pháp hữu của mình phí phạm giờ giấc một cách oan uổng,
thầy ngỏ lời nhắc nhở:
- Thưa
huynh, xin huynh đừng giận nghe! “Trung ngôn nghịch nhĩ” đó.
Thấy huynh đêm đêm ngồi chơi tán gẫu uổng quá. Huynh biết
đấy, thời giờ như tên bắn, ngày tháng tợ thoi đưa; vả
lại “Thị phi chỉ vị đa khai khẩu”. Nói nhiều thì lỗi
nhiều. Chê khen nhiều thì tâm hồn mình bị rối rắm. Ðức
Thế Tôn từng dạy:
Vậy
đó A tu la,
Xưa
nay đều thế cả,
Ngồi
im bị đả phá,
Nói
nhiều bị người chê,
Nói
ít bị người phê,
Không
ai không bị trách,
Trên
trần thế bộn bề!
Phân
tích, mổ xẻ, phê bình, chỉ trích thì dễ lắm, nhưng bắt
tay vào việc, âm thầm hành đạo, mang lại lợi ích cho mình
cho người, cho hiện tại và cho tương lai thì khó khăn vô
cùng. Ðúng là:
Khó
thay sống khiêm tốn,
Thanh
tịnh tâm vô tư,
Giản
dị đời trong sạch,
Sáng
suốt trọn kiếp người.
Tỳ
kheo mà buông lung cẩu thả, lộng ngữ phóng tâm, lững thững
qua ngày thì nhứt định phải đắm chìm khốn khổ. Không
thể dùng xảo ngôn, lợi khẩu mà lường gạt ân đức của
Phật Tổ, Tôn Sư. Chỗ huynh đệ thâm giao, xin huynh tha cho
những lời chân tình, thắm thiết.
Ðộng
lòng tự ái, vị Sa môn giải đãi buông lời hờn mát:
- Ôi!...
Phật pháp nhiệm mầu, thậm thâm vi diệu, tám vạn bốn ngàn
pháp môn; ông tu ông đắc bà tu bà đắc, hơi đâu mà bận
tâm đến gia phong đạo nghiệp của người khác. Xin cảm ơn
thiện tâm, hảo ý của đại sư. Thấy mình chưa đủ sức
cảm hóa thân hữu, vị Sa môn tinh chuyên, cần mẫn liền nhập
từ bi quán, cất bước hành thiền và đi vào chánh định.
Sau
canh tán dóc bên lò lửa, vị Sa môn thích ba hoa đi vào cùng
lúc với vị Sa môn tinh tấn, đã xả thiền và về am riêng
của mình. Lát sau, thấy vị sư tinh tấn nằm ngủ, vị giải
đãi đến thả giọng đâm hông:
- Ủa!
Ðại sư lãnh thọ yếu chỉ thiền tông của chư Phật để
rồi vào rừng ăn no, ngủ kỹ như vậy à?! Ðại sư không
chuyên tâm tỉnh thức, nội quán thanh lương nữa sao?
Nói
xong, sư về phòng nằm đánh một giấc ngon lành tới sáng.
Còn sư tinh tấn thì canh ba thức dậy, quán niệm, thiền hành,
và sau một thời gian nỗ lực tu tập, sư chứng quả A la hán,
đầy đủ thần thông diệu dụng; trong khi sư ba hoa kia thì
mãi lún sâu vào nếp sống buông lung, phóng dật.
Sau
giai đoạn ẩn tu trong rừng khổ hạnh, hai sư cùng về thăm
Ðức Thế Tôn, cung kính đảnh lễ Ngài rồi ngồi sang một
bên. Ðức Thế Tôn rất hoan hỷ và ngỏ lời thăm dò:
- Ta
tin là các thầy đã nỗ lực trong nếp sống tinh tấn tu hành.
Ta tin là các thầy đã thành tựu đạo nghiệp.
Vị
sư phóng túng đáp:
- Bạch
Thế Tôn, làm sao thầy ấy có thể được gọi là tinh chuyên
cần mẫn! Từ khi xa Ðức Thế Tôn, thầy ấy chỉ biết trưởng
dưỡng sắc thân, ngủ nghỉ thoải mái.
- Còn
thầy thì sao? .- Ðức Thế Tôn hỏi.
- Con
ấy à! Bạch Thế Tôn, sáng sớm con đem củi ra chuẩn bị
một lò than tươm tất để đêm đêm ngồi sưởi ấm và luận
chuyện đông tây kim cổ chứ không ngủ.
- Thầy
đã hoang phí thời giờ trong buông lung thất niệm mà gọi
là chuyên tâm thiền định sao?! .- Ðức Thế Tôn nói. Thầy
đã lầm hạnh nỗ lực tinh cần với tính buông lung cẩu thả.
Thầy biết đấy, trong cuộc so tài, con tuấn mã bao giờ cũng
bỏ xa con ngựa hèn.
Ngài
đọc kệ:
Tinh
cần giữa phóng dật,
Tỉnh
thức giữa ngủ mê,
Người
trí như tuấn mã,
Bỏ
xa con ngựa hèn.
(PC.
29)