Phần
5
ÐA
NGHI ẤY BỊNH PHÀM PHU
TRẢI
TÂM ÐỨC HẠNH ÐƯỜNG TU THÁNH HIỀN
Thuở
nọ hoàng tử Ma-ha-li (Mahàli) sống tại Tỳ Xá Li, nghe Ðức
Thế Tôn thuyết giảng công đức vô biên và hạnh nguyện
cao cả của thiên chủ Ðế Thích (Sakka), chàng đâm ra nghi
ngờ, tự hỏi:
- Ðấng
đại giác Thế Tôn mô tả thiên chủ Ðế Thích thật là rực
rỡ huy hoàng, nhưng không biết Ngài đã thực sự nhìn thấy
Ðế Thích chưa? Ngài đã quen biết Ðế Thích chưa? Ta sẽ
đến hỏi Ðức Thế Tôn cho ra lẽ mới được.
Thế
là hoàng tử Ma-ha-li đến gặp Ðức Thế Tôn, cung kính đảnh
lễ Ngài, rồi trịnh trọng ngồi sang một bên và thưa rằng:
- Bạch
Thế Tôn, Ngài đã thực sự nhìn thấy thiên chủ Ðế Thích
chưa?
- Thấy
rồi, Ma-ha-li! Ta đã nhìn thấy thiên chủ Ðế Thích tận mắt.
- Bạch
Thế Tôn, đó chẳng qua là bóng dáng giả danh của Ðế Thích
đó thôi, bởi vì, bạch Thế Tôn, Ðế Thích đâu phải là
lọ hoa, bình nước mà ai cũng nhìn thấy. Theo con, thấy được
Ðế Thích quả là chuyện hy hữu, nếu không muốn nói là
huyễn hoặc.
- Nhưng,
này Ma-ha-li, ta biết rõ Ðế Thích. Ta biết Ðế Thích đã
được hun đúc bởi những đức hạnh gì. Ta biết quả vị
Ðế Thích đã được thành tựu nhờ những công phu tu dưỡng
như thế nào.
Này
Ma-ha-li, ở một tiền kiếp xa xưa, thiên chủ Ðế Thích cũng
là người, một con người được may mắn sinh ra trong hoàng
cung nên được gọi là hoàng tử Ma-ga (Magha). Này Ma-ha-li,
ở một tiền kiếp xa xưa, thiên chủ Ðế Thích cũng là người,
một con người đã làm nhiều việc phước thiện nên được
gọi là Pu-rin-đa-đa (Purindada). Này Ma-ha-li, ở một tiền kiếp
xa xưa, thiên chủ Ðế Thích cũng là người, một con người
không ngừng phát huy hạnh nguyện bố thí nên được
gọi là Xa-ka (Sakka). Này Ma-ha-li, ở một tiền kiếp xa xưa,
thiên chủ Ðế Thích cũng là người, một con người luôn
luôn dốc tâm xây nhà, dựng trại cho kẻ gặp cảnh khốn
cùng nên được gọi là Va-xa-va (Vàsava). Này Ma-ha-li, ở một
tiền kiếp xa xưa, thiên chủ Ðế Thích cũng là người, một
con người có thể nghĩ ra trăm công nghìn việc chỉ trong khoảnh
khắc nên được gọi là Xa-ha-xa-kha (Sahassakkha). Này Ma-ha-li,
thiên chủ Ðế Thích cũng có một cô trinh nữ tên là Xu-ja-ta
(Sujata) làm vợ, nên được gọi là Xu-jam-pa-ti (Sujampati). Này
Ma-ha-li, thiên chủ Ðế Thích cũng giữ vai trò chủ quản thiên
thần ở tầng trời thứ Ba mươi ba nên được gọi là Thiên
Vương. Này Ma-ha-li, ở một tiền kiếp xa xưa, thiên chủ Ðế
Thích cũng là người, một con người đã phấn đấu hoàn
tất bảy lời thệ nguyện, nên đạt đến quả vị Ðế Thích.
Bảy lời thệ nguyện đó là:
Một
là phụng dưỡng mẹ cha,
Hai
là cung kính cúng dường Sa môn,
Ba
là ăn nói ôn tồn,
Bốn
là tránh tiếng vu oan cho người,
Năm
là bỏ tánh xan tham,
Ðầu
óc phóng khoáng, tâm hồn thanh cao,
Thuận
lời thỉnh nguyện thưa cầu,
Hoan
hỷ bố thí suốt đời không tranh,
Sáu
là nói giọng chân thành,
Bảy
là dứt hẳn mối manh giận hờn.
Này
Ma-ha-li, trong tiền kiếp xa xưa, thiên chủ Ðế Thích đã dốc
tâm, dốc sức hoàn tất bảy lời thệ nguyện như vậy nên
đạt được quả vị Ðế Thích.
Sau
đó Ðức Thế Tôn kể lại toàn bộ quá trình tu dưỡng và
công hạnh bố thí, cúng dường vĩ đại của thiên thần Ma-ga
(Maghà), rồi Ngài đọc kệ:
Ðế
thích đạt thiên vương,
Nhờ
tinh cần đi tới,
Tinh
cần được ca ngợi,
Buông
lung bị trách chê.
(PC.
30)
THOÁNG
NHÌN NGỌN LỬA RỪNG
LIỀN
BỪNG LÊN THÁNH ÐẠO
Thuở
nọ, có một Sa môn lãnh thọ yếu chỉ thiền quán từ Ðức
Thế Tôn rồi lui về rừng sâu tu tập. Mặc dù sư chuyên tâm
cần mẫn, nỗ lực tiến tu, phấn đấu hàng phục mọi trở
ngại, nhưng sư vẫn chưa đạt đạo quả. Do đó, sư tự nhủ:
- Ta
sẽ về thỉnh Ðức Thế Tôn cho ta một chủ đề thiền quán
khác hay hơn, cụ thể hơn, hợp với khả năng và nhu cầu
của ta hơn.
Tạm
biệt núi rừng, sư trở về Trúc Lâm để bày tỏ công phu
tu tập của mình chưa được thành tựu và xin Ngài một công
án khác. Trên đường về, sư bắt gặp một cảnh cháy rừng
khủng khiếp: những ngọn lửa phừng phừng cứ mỗi lúc một
lên cao, rồi trải dài, lan rộng như một biển lửa. Thầy
vội chạy lên ngồi trên một đỉnh đồi trọc để tránh
nạn. Thấy cây cối thảo mộc cứ dần dần bị thiêu hủy
bởi muôn ngàn ngọn lửa hung tàn, sư nhận ra yếu chỉ và
nhập định quán tưởng:
“Như
đám cháy cứ mỗi lúc một lan dần và thiêu sạch mọi chướng
ngại lớn nhỏ. Ta cũng vậy, phải dũng mãnh đi tới, bởi
vì hồng nào hồng chẳng có gai, thành công nào lại không
dài gian lao. Ta phải quyết chí vươn lên, đoạn diệt mọi
nghịch duyên vướng mắc bằng ngọn lửa trí tuệ và thánh
đạo” .
Ðang
thiền định trong tịnh xá, Ðức Thế Tôn nhìn thấy dòng
tư tưởng hưng phấn, quyết liệt của vị Sa môn tinh cần,
Ngài cất lời tán thán:
- Ðúng
thay!... Ðúng thay!... Sa môn . Như ngọn lửa thiêu hủy mọi
chướng ngại lớn nhỏ. Cũng vậy, cần có ngọn lửa trí
tuệ để thiêu sạch mọi ràng buộc vi tế hay thô lậu trong
mỗi chúng sanh.
Ngài
phóng quang rực rỡ, phân thân đến ngồi trước mặt vị
Sa môn trí tuệ và kiên định kia, ngỏ lời tán thán và đọc
kệ:
Tỳ
kheo sợ phóng dật,
Thích
nỗ lực tinh cần,
Như
ngọn lửa lan dần,
Thiêu
sạch mọi kiết sử.
(PC.
31)
Ngài
vừa dứt lời thì vị Sa môn liền chứng quả A la hán, đầy
đủ phước trí trang nghiêm, sung mãn thần thông diệu lực.
Sư xả thiền, lên đường trở về Trúc Lâm hầu thăm Ðức
Thế Tôn.
BIẾT
ÐỦ THÌ AN LÀNH
CẦU
CẠNH SANH KHỔ LỤY
Thuở
nọ có một thanh niên tên là Ni-ga-ma Ti-xa (Nigama Tissa), sinh
trưởng tại một thị trấn cách thành Xá Vệ không xa, xuất
gia theo Phật, gia nhập Tăng đoàn. Sư lúc nào cũng chu toàn
bổn phận, mẫu mực trang nghiêm, tinh chuyên nỗ lực; nổi
bậc nhất là hạnh cần kiệm, tri túc, thanh tịnh, quyết tâm,
và cũng chính nhờ những phẩm hạnh đó mà sư trở thành
biểu tượng cao đẹp cho toàn thị trấn. Sư thường đi khất
thực một vòng quanh làng, nơi bà con thân tộc của sư cư
ngụ. Mặc dù rất nhiều Phật tử, đặc biệt là trưởng
giả Cấp Cô Ðộc và quốc vương Ba Tư Nặc (Pasennadi), hai
đại thí chủ, cúng dường vô số lễ vật cho Tăng đoàn
tại thành Xá Vệ, nhưng Sa môn Ti-xa vẫn không bao giờ đến
đó.
Thấy
Ti-xa thường thiền hành và khất thực quanh quẩn trong làng,
các Sa môn một hôm đến thưa với Ðức Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, sư Ni-ga-ma Ti-xa lúc nào cũng bận bịu, vướng víu
với bà con thân tộc, không bao giờ lên Xá Vệ kinh hành khất
thực, cho dù trưởng giả Cấp Cô Ðộc và quốc vương Ba
Tư Nặc cúng dường rất nhiều lễ vật, không đâu sánh bằng.
Nghe
vậy, Ðức Thế Tôn cho mời Ti-xa đến, hỏi:
- Nghe
nói thầy ngày ngày quanh quẩn, lịu bịu với bà con xóm làng,
không bao giờ lên thành hóa duyên truyền đạo, khất thực
thiền hành, có đúng vậy không?
- Bạch
Thế Tôn, không phải con nặng lòng gắn bó với bà con thân
tộc. Con chỉ nhận vật thực của họ vừa đủ mỗi ngày
một bữa cho con. Dù ngon hay dở, con vẫn nhiếp tâm thọ dụng,
tán thán và chú nguyện công đức của đàn na thí chủ. Bạch
Thế Tôn, con nghĩ như vậy là đủ lắm rồi. Mình chẳng lao
động sản xuất ra của cải vật chất mà ngửa tay đón nhận
lễ vật cúng dường quá nhiều thì e rằng không hợp, con
sợ lắm!
Biết
rõ tánh hạnh của Ti-xa, Ðức Thế Tôn mỉm cười, ca ngợi:
- Lành
thay, lành thay, Sa môn! Ta rất vui là có được một môn đệ
như vậy. Này Ti-xa, cần kiệm là bản chất và tập quán của
ta đó!
Rồi,
theo yêu cầu của đại chúng, Ðức Thế Tôn kể một truyện
tích như sau:
*
*
*
Ngày
xưa, có một bầy két nhiều đến hàng mấy ngàn con sinh sống
tại một cánh rừng toàn cây vả, trong rặng Hy Mã Lạp Sơn,
trên bờ sông Hằng. Gặp mùa hạn hán, cây cỏ khô cằn, hoa
quả tàn rụi, sông ngòi cạn kiệt. Không còn trái cây để
ăn, bầy két mỗi lúc một lâm vào tình trạng nguy kịch. Bấy
giờ con két đầu đàn không chê ngon dở, hợp khẩu hay không;
nó gặp thứ gì ăn được thì ăn: hoặc lá chồi khô héo,
hoặc vỏ rễ cứng dòn; ăn xong xuống sông Hằng uống nước
rồi bay lên cành cây thong dong ca hót, vui vẻ hài lòng với
nếp sống hiện tại của mình. Thấy rõ nguyên nhân và phẩm
hạnh tri túc của con két đầu đàn, Ðế Thích quyết định
thử nghiệm bằng cách vận dụng thần thông xô ngã các cây,
chỉ còn trơ vơ những gốc rễ khẳng khiu, nứt nẻ lởm chởm.
Mỗi khi gió lộng, hơi nóng bốc lên, bụi bay mù mịt, két
đầu đàn vẫn ung dung tự tại, thư thả trong lòng: mổ rỉa
một vài mẩu rễ cây nho nhỏ rồi xuống sông uống nước,
lên cành líu lo, mặc cho gió gào, nắng gắt.
Thấy
phong thái tự nhiên, tâm hồn an lạc của con két, Ðế Thích
tự nhủ:
- Ta
sẽ đến gặp két để thấy rõ hơn tình thân hữu, và làm
cho cánh rừng vả đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái trở
lại.
Ðế
Thích cải dạng thành một con ngỗng trời xinh đẹp bay đến
đậu trên một gốc cây, rồi tỏ vẻ thân thiện bắt chuyện
với két:
Két
này:
Có
nhiều cây xanh lá,
Với
trái ngọt đầy cành,
Sao
két vẫn an phận,
Với
gốc rễ vây quanh!
Két
đáp:
Ta
vốn thích an lành,
Thuận
theo từng tình cảnh,
Tri
túc và chánh hạnh,
Cho
trọn vẹn ngày xanh!
Im
lặng trong giây lát, Ðức Thế Tôn mỉm cười, nói:
- Này
các thầy Tỳ kheo, Ðế Thích bấy giờ là A Nan, còn con két
đầu đàn chính là ta vậy. Các thầy thấy đấy, biết đủ
là bản chất và tập quán của ta đó! Và cũng chả có gì
xa lạ, Ni-ga-ma-va-xi Ti-xa (Nigamavàsi Tissa), luôn luôn an lạc
và biết đủ, đã từng là con trai của ta nên đã nhận ta
làm Thầy. Một Sa môn như thế thì nhứt định phải đạt
đến niết bàn.
Ngài
đọc kệ:
Tỳ
kheo thích tinh cần,
Sợ
hãi nhìn phóng dật,
Ắt
không bị thối thất,
Nhất
định gần niết bàn.
(PC.
32)
XA
CHÙA XA BẠN XA THẦY
NHƯ
CHIM XA TỔ NHƯ CÂY XA RỪNG
Thuở
xưa, vì sự ràng buộc, bức bách của ba dòng tư tưởng độc
hại tham, sân, si nên Trưởng lão Mê-ghi-da (Meghiya) không thể
tiếp tục tu tập hành thiền trong khu rừng xoài, mà phải
trở về gặp Ðức Thế Tôn để giải bày tâm sự. Vừa thấy
Thế Tôn ngồi giữa đại chúng, Trưởng lão Mê-ghi-da liền
ngỏ lời chào hỏi, cung kính đảnh lễ Ngài và thưa rằng:
- Bạch
Thế Tôn, con xin sám hối về cái tội đã không nghe lời khuyên
răn của Ðức Thế Tôn, đã tự ý vào rừng tịnh tâm tu niệm.
Nhưng, bạch Thế Tôn, tu tập một mình, xa cách đồng môn
pháp lữ quả thật vô cùng khó khăn. Cái cảm giác cô đơn
trống vắng cứ vang dội trong tim, trong óc con; nhất là từ
khi xa Ðức Thế Tôn, không biết sao tâm ý con cứ chập chờn
loạn động, thoạt đến thoạt đi, lăng nhăng lít nhít, không
sao tĩnh tâm, định ý được; ngay trong giấc ngủ con cũng
không cảm thấy an lành, cái tâm quả thật đáng sợ, khó
bề nhiếp phục làm sao!
Ðức
Thế Tôn mỉm cười, nói:
Vậy
đó! Tăng ly chúng tăng tàn, hổ ly sơn hổ bại. Tôi khuyên
thầy ở lại tu tập với tôi một thời gian, chờ thầy khác
đến rồi thầy hãy đi, vậy mà thầy nỡ để tôi một mình
một bóng nơi đây. Tỳ kheo không được tự ý bỏ Thầy ra
đi trong khi Thầy yêu cầu mình ở lại. Thầy đã phạm phải
một lỗi lầm nghiêm trọng đó, Mê-ghi-da! Hơn nữa, như thầy
biết đấy, trên bước đường tu tập, không phải Tỳ kheo
nào cũng cảm thấy dễ dàng trong việc điều phục thân tâm,
bởi vì tâm ý con người luôn luôn thay đổi, hiện khởi liên
tục như những đợt sóng cuồn cuộn trên mặt đại dương.
Nếu không thân cận với các bậc thiện hữu tri thức, tôn
đức minh sư thì khó mà hộ trì nhiếp phục, thúc liễm vọng
tâm lắm Mê-ghi-da à!
Ngài
đọc kệ:
Tâm
dao động bất thường,
Khó
hộ trì nhiếp phục,
Người
trí điều tâm phúc,
Như
thợ tên uốn tên.
Như
cá vớt khỏi nước,
Quăng
trên bờ vực khô,
Tâm
lo sợ vùng vẫy,
Vượt
thoát cảnh ma đồ.
(PC.
33, 34)
Vừa
nghe Ðức Thế Tôn đọc kệ xong thì Trưởng lão Mê-ghi-da
liền chứng quả Tu đà hoàn, một số Sa môn khác chứng quả
Tư đà hàm và A na hàm. Tất cả đều lâng lâng hỷ lạc,
đứng lên niệm danh hiệu Ðức Bổn Sư và đảnh lễ Ngài
ba lần. Sư đệ nhìn nhau bằng ánh mắt thân thương với nụ
cười nồng ấm như ánh nắng ban mai sưởi ấm rừng núi đông
phương.
CHỨNG
ÐẮC THA TÂM THÔNG
DO
KỲ CÔNG QUÁN NIỆM
Tại
vương quốc Kô-xa-la (Kosala), dưới chân một dãy núi, có một
ngôi làng xinh xinh tên là Ma-ti-ka (Matika). Một hôm, sáu mươi
Sa môn cung kính đảnh lễ Ðức Thế Tôn, lãnh thọ yếu chỉ
thiền quán, rồi đến ngay làng này khất thực. Ðây là ngôi
làng trù phú, dân cư đông đúc và rất mực thuần thành với
quý sư. Trưởng làng là Ma-ti-ka, một Phật tử trung kiên và
gương mẫu trong mọi công tác phật sự. Bấy giờ mẹ của
Ma-ti-ka, một ưu bà di nhân hậu, đứng nhìn đoàn Sa môn đang
lặng lẽ đếm từng bước thiền hành dưới bóng xoài râm
mát, bà sung sướng đem nhiều lễ vật ra cúng dường quý
sư và hỏi:
- Xin
thưa... quý sư định đi đâu?
- Ðến
nơi nào tạm ổn, thưa cụ.
Hiểu
được tâm trạng các Sa môn đang cần một nơi an cư trong
mùa mưa, bà liền quỳ xuống, đảnh lễ và thưa:
- Nếu
quý sư an trú ba tháng nơi đây thì thật là phúc cho cả làng,
chúng con sẽ có dịp thọ trì tam quy ngũ giới và thân cận
với quý sư.
Thấy
lời thỉnh nguyện chân thành của một cụ bà chánh tín, các
sư chấp thuận và có cùng một ý nghĩ:
- Lành
thay! Chúng ta đã gặp thiện duyên. Vậy là khỏi bận tâm
về chuyện ẩm thực và trú xứ. Chỉ còn nỗ lực tu tập
sao cho tương xứng với tấm lòng tinh khiết của bá tánh thập
phương.
Thế
là mẹ của Ma-ti-ka đích thân lo việc xây dựng một tu viện
và nhiều am thất làm nơi tịnh tâm tu dưỡng cho các Sa môn.
Trước tinh thần hộ trì Tam bảo cao cả của cụ bà khả
kính, các sư, một hôm, nhóm họp giữa chánh điện, và Thượng
tọa trưởng đoàn đã thốt lên những lời phát nguyện đầy
cảm kích, quyết tâm tu tập và sách tấn cho nhau:
- Thưa
quý huynh đệ, chúng ta đã có duyên lành sanh được làm người,
được Ðức Thế Tôn thọ ký và trao truyền giáo pháp, được
thập phương thí chủ lân mẫn hộ niệm; vậy chúng ta hãy
ra công tu tập, cần mẫn tinh chuyên, hàng phục vọng niệm
để khỏi phụ lòng đàn na tín thí, và nhất là khỏi rơi
vào tình trạng hoang mang lo sợ như đàn cá trong ao mỗi ngày
một cạn nước. Chắc quý huynh đệ đều nhận thấy rằng
ân đức và đạo nghiệp của Ðức Thế Tôn không thể đền
đáp bằng tâm ý buông lung, vọng cầu thất niệm. Mô Phật,
xin quý huynh đệ niệm tình cho cái tội trực ngôn tự đáy
lòng này.
Không
ai bảo ai, tất cả đều chấp tay, cúi đầu xá trong im lặng.
Sau
đó mỗi sư về tịnh thất riêng của mình với thỏa thuận
rằng: nếu có ai ngã bệnh thì đến chánh điện thỉnh ba
tiếng chuông, tất cả tăng chúng sẽ đến thăm và giúp đỡ
bệnh nhân.
Một
hôm, trong khi các sư đang nhập thất tịnh tu, thì cụ bà Phật
tử cùng với một nhóm gia nhân đem bơ, sữa, mạch nha, mật
ong v.v... đến cúng dường Tăng đoàn nhưng không thấy ai trong
tu viện. Bà hỏi vài ba Phật tử lân cận thì họ cho biết
là các sư đang chuyên tâm tu niệm trong am thất, không ra ngoài.
Nếu muốn gặp họ thì đến chánh điện thỉnh ba tiếng chuông.
Bà làm theo lời hướng dẫn và thấy các sư lác đác đến
từ khắp mọi phía. Bà thầm nghĩ:
- Hẳn
là các sư đã có chuyện bất hòa với nhau rồi!
Sau
khi đảnh lễ Tăng đoàn, bà lên tiếng thưa:
- Kính
bạch chư sư, chẳng hay các sư có gì chưa vừa ý? Có tranh
luận, cãi vã gì không? Sao Tăng đoàn trông có vẻ rời rạc
thế này?
- Dạ,
không có gì vướng mắc. Thượng tọa trưởng đoàn đáp.
Chúng tôi đang tu tập thiền định, đang quan sát và quán chiếu
32 thành phần cấu tạo cơ thể, gọi là niệm thân, thưa cụ!
- Quán
chiếu các thành phần cơ thể để làm chi?
- Ðể
biết thân này vốn do duyên sanh, không có thật tánh; để
thấy rõ bốn sự thật cao cả: sanh-lão-bịnh-tử mà Ðức
Thế Tôn đã tuyên dương sau ngày thành đạo cho năm người
bạn cũ của Ngài.
- Chỉ
có các sư mới được phép thực hành thiền định, quán chiếu
sắc thân? Phật tử chúng con tu tập như vậy được không?
- Ðược
chứ, thưa cụ! Pháp môn thiền định đâu chỉ dành riêng
cho ai.
- Vậy
thì xin các sư hướng dẫn cho chúng con với.
- Hay
thay, thưa cụ!
Các
sư dạy cho bà thực tập pháp môn quán niệm về 32 thành phần
cấu tạo sắc thân, và chỉ trong một thời gian ngắn, bà
chứng đắc ba thánh quả: Tu-đà- hoàn, Tư-đa-hàm, A-na-hàm;
bốn phép thần thông: thần túc thông, tha tâm thông, thiên
nhãn thông, thiên nhĩ thông, và vượt qua ba cõi: dục giới,
sắc giới và vô sắc giới.
Bằng
cái nhìn liễu ngộ siêu việt và niềm hoan hỷ đạt đạo,
bà tự nhủ:
- Không
biết đến bao giờ các sư mới đạt thánh quả! Các sư còn
nhiều bận bịu quá! còn bị vướng kẹt trong vòng xích tham
sân si. Các sư quán chiếu nhiều mà chưa nếm được hương
vị thiền duyệt.
Nhưng
sau đó bà nhận thấy các sư cũng có đủ nhân duyên và phương
tiện hành trì giáo pháp như y phục, phòng xá, thuốc thang
v.v... nhất là năng lực nội quán thanh lương của các sư
để đạt đến đạo quả. Bà thiết lễ trai tăng tại nhà
với nhiều lễ vật và thực phẩm đặc biệt rồi thỉnh
Tăng chúng đến thọ thực. Trong lúc chứng trai, các sư chú
tâm về ba mục tiêu: nguyện đoạn nhứt thiết ác, nguyện
tu nhứt thiết thiện, thệ độ nhứt thiết chúng sanh; và
năm phép quán về tự thân: 1. Xem xét khả năng thiền định.
2. Ðánh giá đức hạnh tu hành. 3. Hàng phục tham tâm vọng
tưởng. 4. Nghĩ thực phẩm là thuốc hay. 5.Vì đạo nghiệp
mà thọ thực. Trong lúc nhứt tâm quán niệm, các Sa môn bỗng
thấy thân tâm khinh an, thanh tịnh và chứng quả A-la-hán. Họ
cùng nhau tán thán:
- Lành
thay! Cao quý thay công đức hộ trì Tam bảo. Nếu không có
lễ Trai Tăng hôm nay, chúng ta hẳn không bao giờ chứng thành
đạo quả.
Sau
đó, Tăng chúng quyết định về hầu thăm Ðức Bổn Sư. Họ
cùng nhau đến thăm và ngỏ lời tạm biệt vị ân nhân cao
quý được xem như mẹ hiền.
- Kính
bạch tôn thân, hôm nay chúng con về thăm Ðức Từ Phụ, xin
cảm ơn đôi tay từ ái của mẹ, chúc mẹ ở lại mạnh khỏe
trong ánh hào quang của chư Phật.
- Lành
thay! Chúc các sư lên đường bình an. Và cho đệ tử kính
lời hầu thăm Ðức Thế Tôn.
Khi
tăng chúng về đến Xá Vệ, họ đảnh lễ Ðức Thế Tôn
và cung kính ngồi sang một bên. Ðức Thế Tôn hỏi:
- Các
thầy tu hành tiến bộ chứ? Có gì trở ngại trong việc sinh
hoạt, ẩm thực và trú xứ không?
- Bạch
Thế Tôn, chúng con đã gặp thiện duyên, đã được một Phật
tử Ưu bà di hết lòng hộ đạo nên ba tháng an cư của chúng
con rất hanh thông, tốt đẹp. Bà là mẹ của Ma-ki-ta. Bà đọc
được tâm trạng và ý nghĩ của chúng con nên bà hộ trì
vật thực rất chu đáo.
Một
Sa môn nghe quý huynh đệ tán thán công đức của nữ thí chủ
liền muốn đến đó tham thiền.
Sau
khi thọ lãnh yếu chỉ thiền quán từ Ðức Thế Tôn, sư đảnh
lễ Ngài, ngỏ lời tạm biệt Tăng chúng, từ giã tu viện
Kỳ Viên, và thẳng đường đến làng Ma-ti-ka. Vừa vào tu
viện, sư liền nghĩ: “Ta nghe nói có một tín nữ biết rõ
tâm tư nguyện vọng của người khác. Ước gì giờ đây có
người đến quét dọn tu viện chứ ta mệt lắm rồi, cuộc
hành trình dài quá!” .
Thế
là bà liền cho người đến vấn an sức khỏe sư và quét
dọn phòng ốc sạch sẽ.
Từ
đó sư nghĩ cần thức ăn thức uống gì thì bà liền cho người
mang đến ngay.
Ðược
ít lâu, sư thầm nghĩ: “Nữ thí chủ này đọc được từng
ý nghĩ của ta. Ta phải gặp bà tận mắt. Ước gì bà đích
thân mang lễ vật đến chùa lễ Phật cho ta thăm một chút”
.
Bà
liền đem lễ vật đến thăm sư.
Trong
lúc thọ thực, sư hỏi:
- Thưa
cụ, cụ là mẫu thân của Ma-ti-ka?
- Ðúng
vậy, bạch Ðại đức.
- Cụ
đã đắc tha tâm thông?
- Sao
sư hỏi thế?
- Cụ
đã đáp ứng mọi nhu cầu theo ý nghĩ của tôi.
- Biết
bao Sa môn cũng hiểu được như vậy.
- Tôi
không hỏi người khác. Tôi đang hầu chuyện với cụ.
Bà
cụ vẫn một mực tìm cách tránh né câu trả lời.
Bấy
giờ vị Sa môn liền tự nghĩ: “Ta đang ở trong một tư thế
lúng túng nhất. Cư sĩ mà có thần thông, thấy được tư
tưởng cao thượng hay thấp hèn của người khác. Nếu như
ta khởi tâm vọng niệm sai lầm thì chắc là bà sẽ vồ vào
đầu ta như tóm chặt một tên trộm. Khiếp quá! Ôi thôi,
tốt nhất là ta phải rời khỏi nơi này” . Sư nói:
- Thưa
cụ, tôi muốn đi đây.
- Sư
sẽ đi đâu?
- Về
thăm Ðức Thế Tôn.
- Hãy
ở lại đây thêm một thời gian nữa, bạch Ðại đức.
- Không
thể ở lâu hơn nữa. Tôi dứt khoát phải đi thôi, thưa cụ.
Và
thế là sư tạm biệt bà, lên đường trở về với Ðức
Thế Tôn.
Vừa
gặp sư, Ðức Thế Tôn hỏi:
- Thầy
không ở đó nữa sao?
- Bạch
Thế Tôn, con không thể ở đó được nữa.
- Vì
sao thế?
- Bạch
Thế Tôn, cụ bà Phật tử đó biết rõ từng ý nghĩ của
con. Con nhận thấy cư sĩ mà có thần thông, phân minh, tách
bạch được tư tưởng cao thượng hay thấp hèn của người
khác. Nếu như con khởi tâm vọng niệm sai lầm thì chắc bà
sẽ vồ vào đầu con như tóm chặt một tên trộm. Khiếp quá!
Bạch Thế Tôn, con phải về lại thôi.
- Này,
đó chính là nơi cho thầy an tâm tu tập.
- Con
không thể, bạch Thế Tôn. Con không dám ở đó nữa.
- Ơ
kìa! Vậy thầy có thể phòng hộ một điều duy nhất không?
- Dạ!...
Bạch Thế Tôn, ý Thế Tôn ... con chưa hiểu!
- Hãy
phòng hộ tâm tư, tức điều phục tư tưởng, vì tư tưởng
khó nhiếp phục lắm. Hãy thúc liễm tâm tư, đừng để tâm
dong ruổi, vì tâm tư khó hàng phục lắm.
Ngài
đọc kệ:
Tâm
đổi thay khó kiểm,
Vun
vút theo dục trần,
Lành
thay điều phục tâm,
Ðiều
tâm thì an lạc.
(PC.
35)
Theo
lời Ðức Thế Tôn, sư trở lại tu viện và, sau một thời
gian hành thiền, sư cũng chứng quả A la hán với sự trợ
giúp chân tình của cụ bà hảo tâm và đầy thần lực.