Phần
6
CHƯA
MẶC CA SA NGẠI VIỆC NHIỀU
MẶC RỒI VIỆC LẠI TRĨU VAI THÊM
Tương
truyền rằng trong khi Ðức Thế Tôn đang an trú tại Xá Vệ
thì có cậu thanh niên, con trai của một trưởng ty ngân khố,
đến gần một Trưởng lão đang đứng khất thực trước
nhà cậu và hỏi:
- Bạch
Trưởng lão, con muốn hết khổ. Xin Trưởng lão từ bi chỉ
cách cho con giải trừ đau khổ.
- Hay
thay! Nguyện cầu thập phương Tam bảo gia hộ cho cậu được
an lành.
Vị
Trưởng lão chấp tay chú nguyện và tiếp:
- Nếu
muốn hết khổ thì hãy phát tâm bố thí, cúng dường y phục,
thực phẩm, phòng xá, thuốc thang v.v... cho Tăng chúng. Hãy
chia tài sản ra làm ba phần: một phần để cậu kinh doanh,
phần thứ hai cho vợ con, và phần thứ ba phụng sự Tam bảo.
- Hay
thay! Bạch Trưởng lão.
Cậu
thanh niên hứa làm đúng theo lời dạy của vị Sa môn. Sau
đó cậu lại hỏi:
- Bạch
Trưởng lão, con còn phải làm gì nữa?
- Nên
quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, và thọ trì năm giới: không
sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và
không uống rượu.
- Hay
thay! Bạch Trưởng lão.
Cậu
nguyện thọ trì tam quy, ngũ giới. Rồi cậu hỏi tiếp:
- Còn
gì nữa, bạch Trưởng lão?
- Còn
chứ! Sau năm giới, đến mười giới. Con nên giữ thêm năm
giới nữa, tức là không được mang hoa, thoa hương, đánh
phấn; không được ca, múa, đàn, hát, hoặc đi xem, nghe; không
được ngồi giường cao, rộng lớn; không được ăn lắt
nhắt, phi thời; và không được cất giữ vàng bạc, châu
báu. Con thọ trì được không?
- Thưa
được, bạch Trưởng lão.
Cậu
phát tâm tôn kính Tam bảo và giữ gìn giới luật tinh nghiêm,
nhưng cậu lại hỏi:
- Còn
gì nữa, bạch Trưởng lão?
- Còn
việc duy nhất nữa là cậu nên xuất gia làm Sa môn như bần
tăng đây vậy.
Cậu
thanh niên vô nhà thưa với cha mẹ rồi theo Trưởng lão đến
gặp Ðức Thế Tôn, xin quy y và làm đệ tử Ngài.
Sư
được hai Trưởng lão hướng dẫn tu tập: một là thầy giáo
thọ, chuyên về luận lý (Abhidhamma) và một là thầy giám
luật, chuyên về giới luật (Vinaya). Khi học với thầy giáo
thọ thì phải đạt cách lý luận sắc bén, ngữ khí hùng
hồn; thế này hợp lý, thế kia phi lý v.v...Còn khi đến với
thầy giám luật thì đâu là dung nghi đỉnh đặc, ngôn hạnh
đoan trang, chỉ trì tác phạm v.v... Rồi còn phải khất thực,
thiền hành, chấp tác!... Ôi, sao mà phải học, phải nhớ,
phải làm nhiều thứ quá! Mệt quá! Cậu đâm ra chán nản,
thối chí và thầm nghĩ: “Ở đời vốn khổ, vô chùa thoát
khổ nhưng lại khổ hơn. Ðúng là: “Vị trước ca sa hiềm
đa sự, trước đắc ca sa sự cánh đa”. Thôi, thôi!... Ta
phải về lại với cuộc sống gia đình, tự do hơn, thoải
mái hơn; nhất là với vai trò một gia trưởng, khỏi phải
trùng tuyên văn nghĩa và lễ nghi cung cách gì cả” .
Từ
đó, sư đâm ra hoang mang, thất vọng, bất mãn, không thiết
tha học hành và thực tập thiền quán. Sư mỗi lúc một gầy
guộc, hốc hác, da thịt nhăn nheo, gân cốt nhô lên khắp người.
Tâm trạng chán chường, mệt mỏi dằn vặt sư khiến cho toàn
thân mang đầy sẹo vảy. Thấy sư tiều tụy cả thân tâm,
các chú điệu và Sa di đến thăm sư, hỏi:
- Sư
đi đứng ngồi nằm ở đâu mà mang bệnh tội nghiệp thế
này?! Ðừng buồn nghe! Chắc sư bị ung thư quá! Thấy sư ngày
một teo tóp, da thịt rúm ríu, gân cốt lồi ra, còn sẹo sọ
đầy người nữa chứ!... Sư đã làm gì đến nông nỗi này!
- Tôi
chán quá!
- Vì
sao?
Sư
kể hết tâm sự cho các chú nghe, các chú kể lại cho hai thầy
giáo thọ và giám luật biết, thế là hai Trưởng lão đưa
sư đến gặp Ðức Thế Tôn.
Thấy
các Sa môn đến, Ðức Thế Tôn hỏi:
- Các
thầy đến có chuyện chi?
- Bạch
Thế Tôn, sư này nản lòng, thối chí, không thích tu nữa.
- Sao
vậy?... Các thầy nói thế có đúng không?
- Dạ...
thưa đúng, bạch Thế Tôn!
- Thầy
bất mãn về chuyện gì?
- Bạch
Thế Tôn, con đi tu để cầu mong thoát khổ, nhưng vô chùa
thấy còn khổ hơn. Ðến thầy giáo thọ thì phải nghe, phải
thuộc những đoạn văn lý luận dài dằng dặc; còn đến
thầy giám luật thì phải luyện tâm dưỡng chí, trụ chỉ
oai nghi với những giới luật khắt khe, vi tế. Mệt quá! Bạch
Thế Tôn, con muốn hết khổ, nhưng lại chuốc khổ vào thân.
Ở đây, con nghĩ, không còn một kẽ hở cho con dang tay hít
thở khí trời. Bạch Thế Tôn, cho con về. Làm chủ hộ đỡ
khổ hơn làm thầy tu.
- Này,
thầy muốn giải thoát khổ đau, vậy mà thầy không hàng phục
được một điều gây ra đau khổ.
- Dạ!...
điều gì, bạch Thế Tôn?
- Thầy
có thể điều phục được tư tưởng của thầy không?
- Dạ!...
con có thể, bạch Thế Tôn.
- Vậy
thì hãy nỗ lực phòng hộ tư tưởng của thầy.
Ngài
đọc kệ:
Tâm
tế vi, khó thấy,
Vun
vút theo dục trần,
Người
trí phòng hộ tâm,
Phòng
tâm thì an lạc.
(PC.
36)
TÂM
LANG THANG PHIÊU BẠT
ÐẬP
QUẠT VÀO ÐẦU THẦY
Truyện
kể rằng có một thanh niên thuộc dòng danh gia vọng tộc sống
tại Xá Vệ. Sau khi nghe Ðức Thế Tôn thuyết pháp, cậu xin
xuất gia, hội nhập Tăng đoàn, thọ cụ túc giới, và chỉ
trong vài hôm, cậu chứng quả A la hán. Cậu được mệnh danh
là Trưởng lão Xan-ga-ra-ki-ta (Sangharakkhita). Khi cô em út của
Trưởng lão sanh được một bé trai, cô đặt tên cháu theo
tên Trưởng lão, và do đóù cháu được gọi là cháu Xan-ga-ra-ki-ta.
Ðến tuổi trưởng thành, cháu được phép vào Tăng đoàn
và mang cùng danh hiệu với Trưởng lão. Sau khi thọ giới sa
di, chú được an cư với đại chúng trong ba tháng mưa tại
một tu viện xa xôi ở nông thôn. Chú được cúng dường hai
bộ y hậu, một dài, một ngắn. Chú quyết định cúng bộ
y dài cho Trưởng lão y chỉ sư, và giữ lại cho mình bộ y
ngắn hơn. Mãn mùa an cư, chú trở về thăm Trưởng lão y chỉ,
và tiện đường thực tập thiền hành. Chú đến tu viện
trước khi Trưởng lão đi khất thực và hóa duyên về. Chú
quét dọn phòng ốc, trải bày tọa cụ, và chuẩn bị nước
rửa tay chân cho Trưởng lão rất tươm tất. Khi Trưởng lão
về, chú ra vái chào, mang hộ y bát và thỉnh Trưởng lão vào
ngồi nghỉ trong chánh điện. Sau đó chú mời Trưởng lão
uống nước, rửa chân cho Trưởng lão, rồi cầm chiếc quạt
lá kè quạt hầu sau lưng ngài. Cuối cùng chú đặt bộ y hậu
dưới chân Trưởng lão, quỳ xuống và thưa rằng:
- Bạch
Trưởng lão, con xin kính cúng dường Trưởng lão bộ y này.
Tác
bạch xong, chú tiếp tục hầu quạt.
Trưởng
lão nói:
- Này
Xan-ga-ra-ki-ta, thầy có bộ y hậu rồi. Con hãy cất nó đi
mà dùng.
- Bạch
Trưởng lão, từ khi con thọ nhận bộ y hậu này, con đã có
ý định cúng dường nó cho Trưởng lão. Xin Trưởng lão nhận
cho!
- Ðừng
bận tâm, Xan-ga-ra-ki-ta. Thầy có rồi. Hãy cất nó đi.
- Bạch
Trưởng lão, xin đừng từ chối thiện ý của con. Nếu Trưởng
lão mặc bộ y hậu này, con nhất định sẽ được phước
lớn.
Chú
tác bạch nhiều lần nhưng Trưởng lão vẫn không chấp thuận
lời thỉnh nguyện. Thế rồi chú tự nghĩ: “Khi Trưởng lão
còn là cư sĩ, thì ta là cháu kêu người bằng cậu. Nay ngài
là Sa môn, thì ta là pháp quyến của ngài. Ngài còn là y chỉ
sư của ta, thế mà ngài không thèm san sẻ với ta chút tình
thiêng liêng huyết tộc. Vậy ta ở chùa làm gì? Làm Sa
môn cầu đạo phỏng có ích chi! Thà làm nghiêm đường chủ
hộ còn hơn” .
Rồi
chú lại nghĩ: “Thật khó mà thích nghi với cuộc sống gia
đình. Giả sử ta là một gia trưởng, ta sẽ sinh sống ra sao?”
.
Cuối
cùng, cậu suy nghĩ: “Ta sẽ bán bộ y dài, mua một con dê
cái. Dê cái có lợi lắm. Chúng chóng sanh con. Ta sẽ bán dê
con, tích lũy vốn liếng dần dần, rồi sẽ kiếm một cô
vợ. Vợ ta sẽ sanh cho ta con trai, và ta sẽ đặt tên nó theo
tên cậu ta. Ta sẽ đặt con trai ta trên một chiếc xe đẩy,
đưa vợ con đến đảnh lễ người. Rồi khi đi trên đường,
ta sẽ bảo vợ ta:
“Hãy
đưa con cho anh bế một chút, em ạ!”
Nàng
đáp:
“Anh
bế con không được đâu! Hãy đến đây đẩy xe và ngắm
con cười nè” .
Nói
xong, nàng bế con, và nựng:
“Cục
cưng của mẹ đây!... Cục cưng của mẹ đây!...”
Bất
giác nàng sẩy tay, đánh rơi con xuống đường, và bị chiếc
xe cán qua em bé. Thế là ta trợn mắt mắng nàng:
“Cô
tệ lắm! Cô không cho tôi bế con. Yếu như sên mà ra bộ tài
giỏi. Cô hại tôi rồi!”
Nói
xong, ta chụp lấy cành cây bên đường và quất cho nàng mấy
phát vào lưng chí tử...
Ðứng
quạt hầu Trưởng lão mà đầu óc cứ chạy nhảy theo vọng
tưởng liên miên, đến khi giật mình sực tỉnh thì chú đập
phải chiếc quạt vào đầu Trưởng lão. Ngài thầm nghĩ: “Tại
sao Xan-ga-ra-ki-ta đập quạt vào đầu ta?”
Ngay
tức khắc, ngài thấy rõ từng ý nghĩ đã diễn ra trong đầu
óc của thằng cháu. Ngài nói:
- Xan-ga-ra-ki-ta,
đánh phụ nữ không được thì trút căm tức lên đầu ông
già này phải không? Già này đã làm gì nên tội hè?!
Chú
sa di liền nghĩ: “Thôi, chết rồi! Hình như thầy ta đã biết
hết mọi thứ suy nghĩ trong đầu ta rồi. Ta còn mặt mũi nào
là thầy tu nữa đây!” .
Chú
vội quăng chiếc quạt và cắm cổ chạy, nhưng các chú điệu
và Sa di khác đuổi theo, bắt được chú, và đưa chú đến
gặp Ðức Thế Tôn.
Thấy
các chú Sa di đến, Ðức Thế Tôn hỏi:
- Các
chú đến có chuyện chi?
- Bạch
Thế Tôn, chú này tự nhiên bỏ chạy, không biết chú bất
mãn hay u uất điều gì. Chúng con đã chạy theo, bắt được
chú, và đưa chú về đây.
- Này,
những gì họ nói chú thấy có đúng không?
- Dạ...
thưa đúng, bạch Thế tôn!
- Tại
sao chú làm một việc kỳ cục thế? Chú không phải là tu
sĩ ở thiền môn? Mai sau chú không phải là Như Lai sứ giả?
Chú không muốn trở thành một tam thừa tứ quả giải thoát
tăng? Chú thật có lỗi đấy nhé!
- Bạch
Thế Tôn, con chán quá! .- Chú vừa thưa vừa khóc.
- Chán
vì nỗi gì?
Chú
Sa di kể lại tự sự từ lúc nhận y cho đến khi đập quạt
vào đầu Trưởng lão, nhất là những tâm tư vọng tưởng
phiêu bạt trong đầu. Và cuối cùng chú thú thực:
-Bạch
Thế Tôn, con chán nản và sợ quá nên bỏ chạy.
- Này,
con lại đây.- Ðức Thế Tôn gọi.
Chú
đến quỳ dưới chân Ðức Thế Tôn. Ngài đưa tay xoa đầu
chú Sa di trẻ đẹp, dễ thương, và nói:
- Ðừng
phiền muộn nữa. Tâm tư lang thang, dong ruổi và vướng mắc
đủ thứ như thế. Phải tự nỗ lực tháo gỡ ba mối ràng
buộc tham, sân, si thì mới được tự do, tự tại. Ngài đọc
kệ:
Tâm
lang thang cô độc,
Vô
hình, ẩn hang sâu,
Người
điều phục tâm rồi,
Hẳn
thoát vòng ma buộc.
(PC.
37)
ÐẾN
CHÙA THẤY CẢNH MUỐN TU
VỀ
NHÀ LỊU ÐỊU CÔNG PHU KHÓ TRÒN
Truyện
kể rằng một hôm có một thanh niên thuộc gia đình khá giả,
sống tại Xá Vệ, vào rừng tìm một con bò đực đi lạc.
Cậu phải vất vả luồn lách từ bụi gai này đến lùm cây
nọ mới tìm thấy nó vào lúc giữa trưa. Phần mệt mỏi,
đói khát; phần nắng nóng gay gắt, cậu tự nghĩ:
- Ta
nên vào chùa xin quý sư chút gì lót lòng.
Cậu
đến gặp các sư, chấp tay cúi đầu chào lễ phép, và cung
kính đứng sang một bên. Bấy giờ còn một ít thức ăn thừa
đựng trong thố, các sư thấy cậu mồ hôi đẫm áo, mặt
mày hốc hác, bèn nói:
- Trông
cậu có vẻ đói và khát đấy. Còn thức ăn đó, hãy ăn đi.
Cậu
thanh niên đưa hai tay lên trán xá xá, rồi bê thố cơm ăn
ngon lành. Ăn xong, cậu rửa tay, uống nước, và thưa:
- Bạch
quý sư, hôm nay quý sư có dự lễ trai tăng?
- Không!
Chúng tôi đi khất thực như thường lệ.
Cậu
thanh niên liền nghĩ: “Dù ta có ngày đêm lao tác khổ nhọc
đến đâu cũng khó mà có được thực phẩm bổ dưỡng như
thế này. Còn các sư thì tứ thời sung túc, ăn uống thoải
mái, ngủ nghỉ thanh nhàn. Ôi, cuộc sống tu hành sao mà ung
dung, thư thái thế! Ta sẽ từ bỏ lối sống thế tục, lên
đường làm Sa môn” .
Sau
đó cậu xin xuất gia, được Ðức Thế Tôn chấp nhận và
cho gia nhập Tăng đoàn. Cậu siêng năng tu tập và hoàn tất
mọi nhiệm vụ của một tân Sa môn. Và sau một thời gian
sinh hoạt điều độ, tránh dãi nắng dầm mưa với ngày ngày
hai buổi lùa bò vào rừng, cậu đỏ da thắm thịt và quắc
thước hẳn ra.
Nhưng
rồi cậu thầm nghĩ: “Tại sao ta phải hành nghề khất sĩ,
sống nhờ vào thực phẩm của bá tánh thập phương? Ta phải
tự lực cánh sinh, phải tay làm hàm nhai mới rõ mặt anh hào”
.
Thế
là cậu trở về nhà, tiếp tục nếp sống năm xưa. Cậu cày
cuốc đào bới chỉ mấy tuần mà tay chân chai lì, mặt mày
sạm nám. Sau đó cậu thì thầm:
- Khổ
ơi là khổ! Tại sao ta tự đeo gông vào cổ? Ở chùa sướng
vậy không tu, về nhà thổi lửa khói mù mắt luôn! Ta phải
làm Sa môn thôi.
Cậu
đến chùa xin tu lại, làm thị giả quý sư, và chỉ được
ít lâu thì đâm ra bất mãn, cáu gắt, rồi lén bỏ chùa trở
về nhà. Nhưng ở nhà được mấy ngày thì tâm can ray rứt,
bức bách khó chịu đến nỗi cậu phải thốt lên:
- Tầm
thường quá! Tẻ nhạt quá! Quanh quẩn mãi cũng chỉ ngần
ấy
chuyện, lắm thê nhi là muôn kiếp trầm luân.
Nói
xong, cậu đi thẳng đến gặp Tăng đoàn xin sám hối. Thấy
cậu lễ lạy thiết tha, và nhất là đã một thời tận tình
phục vụ quý sư, cậu được phép xuất gia một lần nữa.
Và như thế là cậu đã liên tục vào ra giáo hội sáu lần.
Các sư đùa với nhau: “Sư ông dao động tâm tư, khi vui thì
đến khi đừ thì đi.” Và cậu được cho pháp danh là Tâm
Phục, sư Tâm Phục (Cittahattha).
Vì
đi về như thế nên vợ cậu có thai. Lần thứ bảy, cậu
mang cuốc cào từ rừng về nhà, cất chúng xong, vào phòng
riêng, và ngồi ngẫm nghĩ: “Ta sẽ khoác lại y vàng. Cuộc
sống thế gian sao mà nặng nề trầm nịch quá!” .
Bấy
giờ vợ cậu đang nằm ngủ sõng sượt trên giường, chỉ
có một mảnh đồ lót che thân, miệng mở toang hoác, nước
miếng chảy ra thành dòng, lại còn ngáy rồ rồ nghe phát tởm.
Cậu thấy nàng như một xác chết sình trương. Rồi một ý
nghĩ nghiêm mật hiện ra trong đầu cậu: “Mọi thứ trên
đời đều vô thường - khổ - không - vô ngã. Vì nàng mà
ta đã bao phen vào ra nơi tôn nghiêm tịnh địa, không tiếp
tục được cuộc sống thiền môn” .
Cậu
chụp lấy chéo y vàng, vọt ra khỏi nhà, cột y quanh bụng
và cắm đầu chạy một mạch đến tu viện.
Thấy
chàng rể hành động khác thường như thế, bà mẹ vợ vào
phòng, thấy con gái đang nằm tênh hênh gớm ghiếc mới vỡ
lẽ, bèn thầm trách:
- Phơi
ra bầy hầy thế này bảo ai không gớm! Ðúng là nái sề!
Bà
quát:
- Dậy!
Ðồ thứ đàn bà thối! Thấy mày ngủ trơ tráo như súc vật
nên chồng mày ghê tởm và bỏ đi rồi.
- Cái
gì! Ði đâu? Ði đâu rồi nó cũng về. Mẹ khỏi lo. Nàng vừa
vung tay vừa quát nhưng đôi mắt vẫn nhắm nghiền.
Chít-ta-ha-tha
vừa chạy vừa lẩm bẩm:
- Vô
thường! Vô thường! Tất cả đều vô thường - khổ - không
- vô ngã.- Và cậu chứng ngay sơ quả Tu đà hoàn.
Ðến
tu viện, cậu đảnh lễ Tăng đoàn, khẩn khoản xin tu lại,
nhưng các sư không chấp nhận, nói:
- Thiền
môn chúng tôi không dám nhận cậu vào giáo hội nữa. Phàm
việc gì cũng sự bất quá tam, đây cậu quá lục, sợ lắm!
Ðầu óc cậu giống như viên đá mà!
- Kính
lạy Thế Tôn, kính bạch đại chúng, lần này con quyết chí
tu hành, xin thương con, hu!... hu!...
Thấy
cậu quỳ khóc nức nở, tỏ vẻ thiết tha; vả lại cậu cũng
rất có tình với Ðức Bổn Sư và đại chúng, nên cậu lại
được Thế Tôn cho vào Tăng đoàn tu tập. Và chỉ vài hôm
sau, cậu chứng quả A la hán với vô lượng phép mầu vi diệu.
Sau
đó đại chúng nhắc khéo thầy:
- Này,
Chít-ta-ha-tha, chỉ có sư mới quyết định được ngày đi,
ngày về đấy nhé! Kỳ này tu hành như vậy là đủ lắm rồi!
- Thưa
quý tôn huynh, đệ đã bị thế trần ràng buộc. Nay đệ đã
cắt đứt xích xiềng, giải thoát hệ lụy, đệï không muốn
đi nữa.
Hơi
ngạc nhiên, các sư đến gặp Ðức Thế Tôn, thưa:
- Bạch
Thế Tôn, Chít-ta-ha-tha khẳng định là đã đoạn tuyệt dục
trần, như vậy là vọng ngôn hay chánh ngữ?
- Chánh
ngữ! .- Ðức Thế Tôn đáp. Khi tâm không an định thì có
đến có đi. Nay Chít-ta-ha-tha đã liễu ngộ chánh pháp, vượt
qua thiện ác thì đâu còn khái niệm đi và đến.
Nói
xong, Ngài đọc kệ:
Người
tâm không an định,
Chánh
pháp không liễu tri,
Tín
tâm bị lung lạc,
Trí
tuệ chẵng đạt gì.
Người
tâm không ái dục,
Không
bị sân nhuế hành,
Vượt
trên mọi thiện ác
Tỉnh
giác hết sợ quanh.
(PC.
38 -39)
Rồi
một hôm, sau thời tịnh niệm trong chánh điện, các Sa môn
bắt đầu bàn tán:
- Quý
huynh đệ thấy đấy, bảy lần xuất gia hoàn tục, tham dục
buộc ràng, vào ra thênh thang mà chứng thành đạo quả! Nghĩ
mà tủi cho thân phận phước mỏng nghiệp dày của anh em chúng
mình.
Nghe
các Sa môn nhỏ to bàn luận, Ðức Thế Tôn vào chánh điện,
ngồi đúng vị trí của mình, và hỏi:
- Các
thầy có gì vui mà bàn tán sôi nổi vậy hè?
Rồi
không đợi trả lời, Ngài tiếp:
- Ðúng
vậy, này các thầy Tỳ kheo, tham dục quả thật rất nguy hại.
Chúng
có thể phá vỡ mọi công trình nguy nga, thánh thiện. Chúng
có thể lôi kéo con người từ bệ phóng cao sang xuống tận
nấc thang cơ hàn, cùng khổ. Ai có thể mô tả hết những
tác hại rợn người của chúng đối với vạn loại hữu
tình? Ngay chính ta đây, trong một tiền kiếp, chỉ vì nửa
lon đậu giống với một cái mai cùn mà phải sáu lần khoác
áo cà sa, về nhà thế tục.
- Hồi
nào? Bạch Thế Tôn!
Các
Sa môn hỏi mà rởn ốc cả người.
- Các
thầy muốn nghe truyện này sao? Vậy thì hãy lắng nghe, này
các thầy Tỳ kheo.
*
*
*
Thuở
xưa, khi Bra-ma-đát-ta (Brahmadatta) trị vì xứ Ba La Nại, có
một nhà thông thái tên là Mai hiền giả, Ku-đa-la (Spade sage,
Kuddala). Ông là một tu sĩ thuộc phái ngoại đạo, ẩn cư
tám tháng trong rặng Hy Mã Lạp Sơn. Vào một đêm mưa đầu
mùa thoáng mát, mặt đất ẩm ướt, ông liền nghĩ: “Ta có
nửa lon đậu giống và một cái mai cùn. Chắc đậu chưa hư”
.
Thế
là ông quay về nhà, băm xới một lô đất nho nhỏ, gieo hết
hạt đậu, và cẩn thận làm một hàng rào bao quanh nó. Ðến
khi đậu chín, ông nhổ chúng lên, lặt hái để dành nửa
lon đậu giống, phần còn lại cất làm lương thực. Rồi
ông lại thầm nghĩ: “Tại sao ta phải sống cuộc đời thế
tục lụi đụi thế này? Ta sẽ vào Hy Mã Lạp Sơn tu thêm
tám tháng” .
Ông
giã từ gia môn, khoác áo thầy tu một lần nữa. Như thế
đấy, chỉ vì nửa lon đậu giống và một cái mai cùn mà
ông phải bảy lần về nhà ra núi.
Ðến
lần thứ bảy, ông thầm nghĩ:
- Ta
đã bảy lần xuất gia, rồi hoàn tục. Tất cả chỉ vì cái
mai cùn quái ác này. Ta sẽ vất quách nó đi cho rồi.
Ông
đi đến bờ sông Hằng, mang theo nửa lon đậu giống và cái
mai cùn. Ðứng trên bờ sông, ông suy nghĩ: “Nếu ta thấy
những thứ này rơi nơi đâu thì ta buộc phải xuống sông
tháo gỡ chúng ra. Chi bằng cẩn thận ném thế nào để khỏi
nhìn thấy điểm rơi của chúng. Ông liền gói nửa lon đậu
giống trong một miếng vải, và cột nó vào cán mai. Sau đó
ông nhắm mắt, cầm đầu cán mai quay tròn ba vòng trên không,
rồi ném mạnh một cái. Ông quay lui để khỏi nhìn thấy cái
mai rơi xuống sông, và ông reo lên ba lần: “ Ta đã chiến
thắng rồi! Ta đã chiến thắng rồi!”
Ngay
lúc đó, quốc vương Ba La Nại, từ cuộc dẹp loạn biên cương
trở về, dựng trại bên bờ sông Hằng, xuống sông tắm,
và nghe tiếng reo sảng khoái: “Ta đã chiến thắng rồi! Ta
đã chiến thắng rồi!”, tiếng reo mà xưa nay không một vua
chúa nào thích lọt vào tai. Quốc vương đến gặp Chít-ta-ha-tha,
gằn giọng hỏi:
- Ta
vừa bắt kẻ thù phủ phục dưới chân ta, và ta đã trở
về trong vinh quang hiển hách. Trong thâm tâm ta đang vang lên
khúc nhạc: “Ta đã chiến thắng!” Còn ngươi, ngươi vừa
hô to: “Ta đã chiến thắng rồi!” là nghĩa thế nào?
Mai
hiền giả đáp:
- Quốc
vương chinh phục đạo tặc và thổ phỉ bên ngoài. Chiến
thắng đó rồi sẽ bị kẻ khác chiếm lại. Còn thảo dân
đã chinh phục được kẻ thù bên trong, đó là tên cướp
tham dục. Hắn sẽ không bao giờ chế ngự thảo dân được
nữa. Thắng được hắn mới xứng danh là chiến thắng đích
thực.
Nói
xong, hiền giả đọc kệ:
Chinh
phục giặc ngoại xâm,
Chưa
phải là toàn thắng,
Người
dứt tâm tham đắm,
Là
đích thị thắng nhân.
Lúc
bấy giờ, hiền giả chuyên tâm trầm tư quán tưởng các yếu
tố cấu tạo nước trên dòng sông Hằng, và bỗng nhiên đại
ngộ. Người đứng lên, ngồi kiết già giữa hư không, và
tuyên thuyết pháp thoại. Quốc vương vô cùng kinh ngạc, định
tâm lắng nghe, rồi sụp lạy tôn giả và xin làm tu sĩ. Một
quốc vương khác thuộc nước láng giềng, nghe tin vua Ba La
Nại từ bỏ ngai vàng, xuất gia hành đạo, bèn nghĩ: “Nhân
cơ hội này ta sẽ tiến quân thôn tính vương quốc của hắn”
.
Nhưng
khi đến nơi, thấy kinh thành trù phú, dân tình hiền hòa,
nhà vua thầm nghĩ: “Một quốc vương có thừa uy dũng, cai
trị một nước hùng mạnh, đô thị nguy nga, quân dân hòa
mục, vậy mà quyết bỏ quốc thành thê tử, phát nguyện tu
hành, thật là hy hữu! Ta cũng nên theo gương ngài” .
Quốc
vương đến gặp tôn giả, thành tâm đảnh lễ, xin ngài xuất
gia và được cộng trú với đồ chúng. Tương tự như thế,
bảy quốc vương lần lượt từ bỏ ngôi vua, dốc lòng đầu
trần chân đất, đó đây khất thực qua ngày, và cùng với
pháp lữ du hóa bốn phương. Tôn giả đã thể hiện nếp sống
thánh thiện, và cuối cùng đạt đến cảnh giới Phạm thiên.
Ðức
Thế Tôn dừng lại trong giây lát, đảo mắt nhìn một lượt
các thầy rồi mỉm cười, nói:
- Này
các thầy Tỳ kheo, như các thầy suy đoán, lúc đó ta chính
là Mai hiền giả. Nên biết tham dục nguy hại như vậy.
TỪ
BI LÀ VŨ KHÍ
HÀNG
PHỤC SẠCH MA QUÂN
Truyện
kể rằng tại Xá Vệ có 500 Sa môn lãnh thọ yếu chỉ thiền
quán từ Ðức Thế Tôn rồi đến một ngôi làng rộng lớn
cách xa hàng trăm dặm. Dân chúng thấy đoàn Sa môn nghiêm trang
từng bước tiến vô làng, họ cùng nhau đem lễ vật, thức
ăn, nước uống ra nghinh tiếp, cúng dường Tăng đoàn, và
hỏi:
- Kính
bạch quý sư, quý sư đi đâu?
- Ðến
một nơi tạm ổn, thưa thí chủ.- Các Sa môn đáp.
- Vậy
thì phước cho chúng con. Xin thỉnh quý sư ở lại đây an cư
ba tháng. Chúng con sẽ được dịp thân cận quý sư, nương
tựa Tam bảo và thọ trì giới luật. Vị côi cả trong làng
chấp tay thưa.
- Lành
thay!... Lành thay!...
Sau
đó, thấy các sư đông quá, họ đổi ý:
- Bạch
quý sư, có một cánh rừng rộng cách đây không xa, các sư
có thể an trú, tu tập tại đó.
Thế
là đoàn Sa môn phải tiếp tục cuộc hành trình đến khu rừng
nọ.
Bấy
giờ các thần linh, yêu quái trong rừng liền nghĩ: “Ðoàn
Sa môn đã đến rồi. Nếu họ lưu trú nơi đây thì thật
là bất lợi cho ta về nhiều phương diện” .
Chúng
từ trên cây cao xuống ngồi dưới đất tiếp tục suy nghĩ,
tìm cách trấn an:
- Nếu
các Sa môn ở lại đây đêm nay thì sáng mai chắc họ sẽ
đi.
Nhưng
ngày hôm sau, sau khi khất thực và thiền hành quanh làng, các
Sa môn lại trở về cánh rừng trú xứ.
Các
thần linh thầm nghĩ:
- Hẳn
là đã có thí chủ thỉnh Tăng đoàn thọ trai nên họ đã
trở về lại nơi đây. Ngày mai chắc chắn là họ sẽ đi
thôi.
Chúng
ngồi trên mặt đất trầm tư suy diễn qua hai tuần như thế,
rồi chúng khẳng định:
- Rõ
ràng là đoàn Sa môn đã quyết tâm ở lại đây ba tháng. Như
vậy thì rất bất tiện cho nếp sinh hoạt gia đình chúng ta,
nhất là ta phải ngồi thừ ra thế này. Bằng cách nào chúng
ta cũng phải trục xuất họ. Thế là chúng thực hiện quỷ
kế hù dọa bằng cách biến hóa ra nhiều hình dạng âm binh,
ma quỷ: khi lơ lửng chiếc đầu không mình, lúc sừng sững
thân hình không đầu, đặc biệt là vào lúc nửa đêm, bốn
bề hoang vắng, từ trong bụi cây, hốc đá vang ra những âm
thanh kỳ dị, nghe rởn ốc, rợn người; trong lúc đó cơ thể
các Sa môn bỗng dưng bất an: hắc hơi, sổ mũi, ho khan v.v...
và tâm tư dao động về những bóng dáng âm binh, cô hồn chập
chờn, ẩn hiện. Tăng đoàn đồng lòng quyết định từ bỏ
trú xứ, trở về bổn tự với Ðức Thế Tôn.
Họ
rời khỏi cánh rừng rắc rối, đi thẳng về gặp Bổn Sư,
cung kính đảnh lễ Ngài, rồi ngồi sang một bên.
Ðức
Thế Tôn hỏi:
- Vì
sao các thầy trở về? Ở đó không tiện cho việc tu tập
sao?
- Dạ!...
rất bất tiện, bạch Thế Tôn. Chúng con bị nhiều ám ảnh
rùng rợn. Chúng cứ diễn đi diễn lại hoài trước mắt;
khủng khiếp nhất là những âm thanh quái dị, tru tréo cả
đêm, nên thân tâm chúng con thường bị bất an, dao động,
dẫn đến lâm bệnh thời khí khá nhiều. Bạch Thế Tôn nơi
đó quả thật nhiễu loạn, chúng con phải lui về thôi.
- Các
thầy nên trở lại nơi đó.
- Dạ...
không được, bạch Thế Tôn!
- Các
thầy thấy đấy! Lần trước các thầy đi với hai bàn tay
trắng, không một vũ khí hộ thân. Lần này các thầy đi phải
mang theo vũ khí.
- Vũ
khí gì, bạch Thế Tôn? Thầy trò mình tu hành có vũ khí gì
đâu! .- Các Sa môn hỏi với gương mặt hồn nhiên, ngơ ngác.
- Ðược
rồi, ta sẽ trao vũ khí cho các thầy.- Ðức Thế Tôn nói.
Sau
đó Ngài tụng toàn phẩm kinh Từ Bi (Metta sutta) với những
lời mở đầu như sau:
Người
khéo luyện thiện tâm,
Ðạt
cảnh giới tịch tịnh,
Ắt
thường niệm chân chính,
Chánh
trực và hiền hòa,
Nhu
nhuyến điều phục ma,
Diệt
trừ mọi kiêu mạn.
Tụng
xong, Ðức Thế Tôn nhắn nhủ như lời kệ:
Này
các thầy Tỳ kheo,
Hãy
tụng kinh Từ Bi,
Nơi
núi rừng cô quạnh,
Dù
không nơi thanh cảnh,
Cũng
sẽ được an lành,
Vào
tịnh địa rừng xanh,
Sẽ
có ngay am thất.
Theo
lời huấn thị, các Sa môn đảnh lễ Ðức Thế Tôn, rồi
lên đường trở lại cánh rừng tu tập. Trước khi vào trú
xứ, các sư đều tụng kinh Từ Bi, và thần linh ở rải rác
khắp nơi đều cảm thấy hân hoan, mát mẻ trong lòng. Chúng
kéo nhau đến vấn an Tăng đoàn, xin được mang y bát, đem
nước rửa chân tay các sư, và phát nguyện hộ trì cánh rừng
nghiêm mật. Từ đó, không một hồn ma vất vưởng, chờn
vờn; không một âm thanh oán than, văng vẳng. Tâm tư các sư
mỗi lúc một an nhiên, định tĩnh; tự tâm soi chiếu, nội
thủ u nhàn; và ngày đêm quán niệm về lẽ suy vong của sắc
thân ngũ uẩn:
Căn
thân vốn mong manh,
Bấp
bênh và dễ vỡ,
Như
lọ sành sặc sỡ,
Sớm
muộn sẽ tan hoang.
Ðức
Thế Tôn đang thiền định trong tịnh thất, thấy các Sa môn
đã phát huy cao độ năng lực thiền quán, bèn tuyên thuyết
pháp thoại cho họ:
- Ðúng
thế! Ðúng thế! Này các thầy Tỳ kheo, thân này vốn thật
mong manh. Bấp bênh dễ vỡ như bình sứ thôi.
Thuyết
xong, Ngài phân thân trong ánh hào quang đến ngồi hiện diện
trước mặt các Sa môn, đọc kệ:
Biết
thân như nồi đất,
Trụ
tâm như thành trì,
Ðánh
ma bằng gươm trí,
Thủ
thắng, đừng lụy gì.
(PC.
40)
RA
TAY SĂN THÚ BẪY CHIM
KẾT
DÂY OAN NGHIỆT TỰ TÌM KHỔ ÐAU
Có
một thanh niên thuộc hàng trưởng giả, gia tộc nhiều đời
giàu sang phú quý, và sinh sống tại Xá Vệ. Một hôm nghe Ðức
Thế Tôn thuyết giảng chánh pháp, cậu nhận thức được
giá trị đích thực của hạnh viễn ly thế tục, bèn dốc
lòng cầu đạo, từ giã gia đình, xin Phật xuất gia, được
Ngài thọ ký, và cho vào Tăng đoàn với pháp danh là Ti-xa (Tissa).
Thấy thời giờ như tên bắn, năm tháng tợ thoi đưa, sư Ti-xa
dốc tâm thọ trì giới luật, tinh cần nghiên cứu kinh văn,
nhưng rủi thay toàn thân sư bỗng dưng nổi đầy mụt nhọt.
Lúc đầu chúng to bằng hạt cải, sau đó chúng phát triển
dần dần bằng hạt bắp, hạt đậu, và cuối cùng chúng vỡ
ra, mủ máu rịn chảy loang lổ khắp người, đau nhức vô
cùng, tanh hôi khủng khiếp. Bấy giờ sư được gọi là Trưởng
lão Pu-ti-ga-ta Ti-xa (Putigatta Tissa). Sau một thời gian, xương
cốt của sư bắt đầu rệu rạo, cơ bắp bèo nhèo, y phục
nhăn nheo vì mủ máu kết thành từng mảng khô cứng. Các bạn
đồng môn pháp lữ đều động lòng thương xót, nhưng không
ai dám đến gần chăm sóc sư. Sợ bịnh tật lây lan, họ đành
phải nhẫn tâm khiêng luôn chiếc giường sư nằm ra ngoài
và để trên mặt đất dưới một tàng cây râm mát.
Bấy
giờ chư Phật, theo thông lệ, mỗi ngày nhập từ bi quán hai
lần: buổi sáng quán sát vạn loại hữu tình, buổi tối chiếu
rọi muôn loài vô thức. Ðức Thế Tôn, từ tịnh thất tôn
nghiêm, trải tâm lân mẫn, soi khắp tam thiên đại thiên thế
giới, bắt gặp Sa môn Ti-xa đang độ chín muồi trên đường
tu chứng A la hán. Ngài tự nhủ:
- Sa
môn này đã bị huynh đệ thiền môn bỏ rơi, không được
ai đoái hoài thương tưởng. Nếu ta không dang tay tiếp sức,
không an ủi trông nom thì sư còn biết nương tựa vào đâu.
Ðức
Thế Tôn liền xả định, ra ngoài thiền thất, giả bộ dạo
quanh tu viện một vòng, rồi đi thẳng vào nhà un lửa. Ngài
lấy một chiếc ấm đất khá lớn, rửa sạch, đổ đầy
nước, xong bắt nó lên lò và nổi lửa đun. Khi thấy nước
sắp sôi, Ngài đến đứng cạnh giường Ti-xa, nhìn sư một
lượt bằng ánh mắt từ ái, cảm thông, như người mẹ hiền
nhìn đứa con thoi thóp mà vô phương cứu chữa căn bệnh hiểm
nghèo, cô đặc nghiệp lực. Sợ Ðức Thế Tôn lây bịnh,
các sư lớn tiếng thưa:
- Bạch
Thế Tôn, mời Thế Tôn đi cho. Chúng con sẽ khiêng sư đó
vào phòng.
Họ
khiêng Ti-xa vào phòng nấu nước. Ðức Thế Tôn tự tay cởi
y phục Ti-xa, lấy nước nóng tắm rửa, lau chặm từng vết
lở nhầy nhụa khắp thân thể. Sau đó Thế Tôn cho khiêng
sư ra ngoài ánh nắng mặt trời để hong khô mụt nhọt. Khi
toàn thân được khô ráo, Ðức Thế Tôn cũng tự tay mặc
y hậu vàng tươi cho Ti-xa. Cảm thấy toàn thân khinh khoái,
tâm trí tinh anh, Ti-xa chấp tay nhìn Ðức Thế Tôn với ánh
mắt lung linh và nụ cười hàm tiếu. Thế Tôn đứng cạnh
gối Ti-xa, nói:
- Này
Sa môn Ti-xa, ý thức tư duy sắp từ giã thầy rồi đó. Căn
thân thầy sắp thành vô dụng như khúc gỗ mục nằm bên vệ
đường.
Nói
xong, Ngài đọc kệ:
Rồi
đây thân xác này,
Sẽ
nằm dài trên đất,
Bị
vất nằm vô thức,
Như
gỗ mục bên đường.
(PC.
41)
Ðức
Thế Tôn vừa đọc kệ xong thì Trưởng lão Pu-ti-ga-ta Ti-xa
chứng quả A-la-hán và vào Niết-bàn ngay. Ðức Thế Tôn làm
lễ hỏa táng cho Trưởng lão, thu nhặt xá lợi và dựng tháp
tôn trí.
Thấy
cử chỉ ân cần của Ðức Thế Tôn, các sư thắc mắc, hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, Trưởng lão Pu-ti-ga-ta Ti-xa sẽ tái sanh vào đâu?
- Ti-xa
đã vào Niết-bàn, này các thầy Tỳ kheo.
- Bạch
Thế Tôn, một Sa môn cưu mang trọng bịnh lại vào Niết-bàn?
Tại sao xương cốt của sư rệu rạo ra như thế? Trong tiền
kiếp sư đã gieo trồng thiện căn gì mà kiếp này chứng quả
A la hán nhanh vậy?
- Này
các thầy Tỳ kheo, tất cả đều do thiện nghiệp của Ti-xa
đã vun bồi từ kiếp trước.
- Bạch
Thế Tôn, Trưởng lão đã làm gì?
- Vậy
thì hãy lắng nghe, này các thầy Tỳ kheo.
*
*
*
Vào
thời Ðức Phật Ca Diếp (Kassapa), Ti-xa là một tay bẫy chim
chuyên nghiệp. Ông đã từng bắt vô số chim chóc, một nửa
dâng cho hoàng gia, phần còn lại ông bán lấy tiền. Ðể giữ
chim bắt được khỏi sẩy, ông thường bẻ cánh, bẻ chân
chúng và chất thành một đống, rồi đem bán chúng ngày hôm
sau. Khi nào bắt được nhiều, ông dành một ít để chiên,
nướng và cùng thưởng thức với gia đình hay bè bạn.
Một
hôm, khi thức ăn đặc sản chim trời được xào nấu dành
riêng cho ông thì có một Sa môn đã chứng quả A la hán đến
cửa nhà khất thực. Ngắm nhìn Trưởng lão, Ti-xa bỗng thấy
trong lòng hân hoan, cảnh vật tươi mát, vợ con trông đẹp
và dễ thương hẳn ra, ông bèn nghĩ: “Ta đã sát hại và
thụ hưởng quá nhiều chim muông thú vật. Nay gặp Trưởng
lão từ bi đến nhà, sẵn món đặc sản chim rừng ngon tuyệt,
ta sẽ cúng dường cho sư một ít lấy thảo.
Ông
đem thịt chim hầm và những thức ăn ngon khác đặt vào bát
của Sa môn, rồi ông chấp tay vái chào, và nói:
- Bạch
Trưởng lão, nguyện cầu mai sau con được thánh quả thù thắng
như Trưởng lão chứng ngộ vậy.
- Lành
thay! Xin hồng ân chư Phật chứng minh lời cầu nguyện chân
thành của thí chủ.
Này
các thầy Tỳ kheo, chính nhờ công đức bố thí cúng dường
vật thực cho bậc A la hán và nguyện lực thiết tha mà Ti-xa
ngày nay chứng thành đạo quả. Và cũng chính vì bẻ chân,
bẻ cánh các loài chim chóc mà Ti-xa phải cưu mang trọng bịnh:
xương cốt rệu rạo, lở loét khắp người. Nhân quả tương
ưng như hình với bóng. Các thầy thấy đấy!
- Hay
quá! Hay quá! bạch Ðức Thế Tôn. Namo Tassa Bhagavato Arahatto
Samma SamBuddhassa.
Ðại
chúng chấp tay đồng niệm danh hiệu Ðức Bổn Sư, đảnh
lễ Ngài và lui ra.