Phần
7
TÍN
TÂM BỐ THÍ CÚNG DƯỜNG
NGHIỆP
DUYÊN CHƯA DỨT TẤT VƯƠNG OAN TÌNH
Truyện
kể rằng tại Xá Vệ, trưởng giả Cấp Cô Ðộc (Anathapindika)
có một mục tử gia nhân tên là Nan-đa (Nanda) chăm sóc bầy
gia súc của ông. Nan-đa mặc nhiên có lắm tiền nhiều của,
và thừa phương tiện vui chơi, hưởng thụ. Một hôm Nan-đa
thấy Ke-ni-da (Keniya), một ẩn sĩ khổ hạnh đã thoát ly thế
tục, du hóa đó đây với phong thái ung dung, thanh thoát. Nan-đa
bèn nảy sanh một ý là thỉnh thoảng cậu đem năm loại sản
phẩm làm bằng sữa bò đến nhà Cấp Cô Ðộc để được
ngắm nhìn Ðức Thế Tôn, nghe Ngài thuyết pháp, và thỉnh
Ngài đến nơi trú ngụ của mình. Ðức Thế Tôn chần chừ
chưa đến, vì Ngài chờ cho trí tuệ của Nan-đa đến hồi
chín muồi. Nhưng rồi một hôm, Ðức Thế Tôn cùng Tăng đoàn
thiền hành khất thực, nhận thấy trí tuệ của Nan-đa đã
đến thời lưu lộ, Thế Tôn liền tách ra khỏi đoàn đến
ngồi dưới gốc cây nơi trú ngụ của Nan-đa.
Thấy
Ðức Thế Tôn an nhiên thiền tọa, Nan-đa mừng quá, chạy
đến đảnh lễ Ngài cùng chào hỏi Tăng đoàn với tấm lòng
thiết tha hộ đạo. Sau đó Nan-đa dâng năm loại sản phẩm
đặc biệt như bơ, bánh ngọt, phô mai v.v... làm bằng sữa
bò cho Ðức Thế Tôn và Tăng chúng suốt tuần. Ðến ngày
thứ bảy, Ðức Thế Tôn đáp lễ bằng cách tuyên thuyết
một bài pháp thoại nói lên công đức vô biên của hạnh
bố thí, bao gồm tài thí, pháp thí và vô úy thí. Tài thí
là phân phát, cúng dường y phục, lương thực, trụ xứ, thuốc
thang và những vật cần dùng khác cho các bậc tu hành chân
chính, hay lương dân gặp cảnh cơ hàn. Pháp thí là giáo dục
quần sanh, hay trao truyền chánh pháp của Ðức Như Lai cho thính
chúng với tâm bình đẳng. Ðó là nghĩa vụ thiêng liêng của
một Sa môn. Tăng đoàn thọ dụng lễ vật cúng dường của
thập phương tín thí thì phải chuyên tâm tu tập giới - định
- tuệ, nghiên cứu kinh - luật - luận để thuyết giảng giáo
lý, hướng dẫn Tăng ni và tín đồ Phật tử theo đúng lộ
trình tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn. Vô úy thí
là an ủi, truyền đạt, phổ biến quan điểm chính trực cho
người nghe ngỏ hầu tăng thêm sức mạnh nội tâm, không dao
động hoảng hốt trước nghịch cảnh khủng bố, trấn áp,
hay phủ dụ độc chiêu. Khi Ðức Thế Tôn kết thúc thời
pháp thoại thì Nan-đa chứng ngay sơ quả Tu đà hoàn, tức
mới bắt đầu vào dòng thánh trí. Cậu cảm thấy tâm hồn
thanh thảng, đầu óc rổng rang, hình hài đứng trên mặt đất
mà nhẹ nhàng như bay giữa hư không. Cậu đảnh lễ Ðức
Thế Tôn, xin bê bình bát và đi theo tiễn Ngài một đoạn
rất xa. Sau đó Ðức Thế Tôn nói:
- Ðược
rồi! Hãy dừng lại, tín đồ của ta.
Theo
lời Ðức Thế Tôn, Nan-đa đảnh lễ Ngài và quay lui.
Ngay
lúc đó, một mũi tên oan nghiệt từ cánh cung của một thợ
săn vô tình đã xé gió kết liễu cuộc đời cậu. Thấy cảnh
thương tâm đột ngột, các Sa môn chạy báo tin cho Ðức Thế
Tôn với vẻ thầm trách:
- Bạch
Thế Tôn, vì chúng ta đến đây mà Nan-đa phải thiệt mạng.
Tội nghiệp quá! Mới bê lễ vật cúng dường, vui vẻ tiễn
Thầy lên đường để rồi quay về thọ nạn. Nếu Thế Tôn
không đến đây, Nan-đa đâu ra nỗi này!
Ðức
Thế Tôn đáp:
- Này
các thầy Tỳ kheo, dù ta có đến hay không, dù Nan-đa có viễn
du bốn phương tám hướng đi nữa thì cũng không thể nào
thoát khỏi tử vong. Không ai thay thế hay san sẻ được nghiệp
lực của tự thân.
Nói
xong, Ngài đọc kệ:
Kẻ
thù hại kẻ thù,
Oan
gia hại oan gia,
Không
bằng tâm niệm ác,
Do
chính ta hại ta.
(PC.
42)
Tăng
chúng lắng nghe Ðức Thế Tôn nhưng không ai hỏi gì về tiền
kiếp của Nan-đa, nên Ngài không nói thêm gì nữa.
CẦU
ÐƯỢC ƯỚC THẤY VỐN XƯA NAY
PHÓNG
TÂM LỘNG NGỮ ẮT CÓ NGÀY
Khi
Ðức Thế Tôn an trú tại Xá Vệ, có người con trai của một
trưởng ty ngân khố tên là Xô-ray-da (Soreyya) cùng bạn bè
thân tộc dong xe ra ngoài thành để tắm sông. Bấy giờ Trưởng
lão Ma-ha Ka-cha-da-na (Maha Kaccàyana) đang thiền hành khất thực
với y bát vàng rực ngoài thành Xô-ray-da. Nhìn thấy sắc thân
vàng óng của Trưởng lão, Xô-ray-da thầm nghĩ:
- Ồ,
ước gì Trưởng lão là vợ của ta! Hoặc vợ ta có sắc thân
vàng óng như Trưởng lão!
Ý
nghĩ vừa thoáng qua đầu óc Xô-ray-da thì chàng liền biến
thành một phụ nữ. Chàng xuống xe với tâm trạng bối rối
và cắm đầu chạy. Không biết chuyện gì xảy ra, đám tùy
tùng thắc mắc:
- Thế
là thế nào? Tại sao vậy?
Sau
khi biến nam thành nữ, Xô-ray-da hoảng quá, lầm lũi đi thẳng
về hướng Ta-ka-xi-la (Takkasila). Các bạn đồng hành tìm chàng
khắp nơi nhưng không gặp. Số người đang tắm vội lên bờ,
thay đồ và về gấp. Họ bị chất vấn:
- Xô-ray-da
đâu?
- Chúng
tôi nghĩ tắm xong cậu ấy đã về rồi.
Cha
mẹ Xô-ray-da thất kinh, chạy tìm cùng khắp, nhưng không gặp
chàng. Họ vò đầu bứt tóc, than khóc nghe não nuột. Cuối
cùng họ cho rằng Xô-ray-da đã chết đuối, và thiết lễ
ma chay giải oan.
Thấy
đoàn người đang đi về hướng Ta-ka-xi-la, Xô-ray-da, một
thiếu nữ kiều diễm, lững thững theo sau xe ngựa của viên
trưởng đoàn. Thấy vậy, một thanh niên trong đoàn hỏi:
- Xin
lỗi, cô là ai? Sao cô theo hoài xe chúng tôi vậy? Hay là mời
cô lên xe cho đỡ mệt.
- Cảm
ơn! Tôi đi bộ được rồi. Các ông cứ tự nhiên.
Ði
được một đoạn khá xa, Xô-ray-da thấm mệt. Không thể tiếp
tục từng bước bộ hành, nàng đành phải hối lộ cho người
trưởng đoàn một viên ngọc quý để có chỗ trên xe. Ðoàn
lữ hành liền nghĩ: “Con trai của trưởng ty ngân khố ở
Xá Vệ chưa vợ. Chúng ta sẽ cho cậu ấy biết về cô phụ
nữ xinh đẹp này, và chúng ta chắc sẽ có quà hậu hỷ”
.
Khi
đến Ta-ka-xi-la, họ báo tin cho cậu ngay:
- Cậu
hai, chúng tôi đã mang về cho cậu một viên ngọc quý của
người phụ nữ kiều diễm.
Ðược
tin vui, chàng liền cho mời Xô-ray-da đến. Thấy cô xinh đẹp
và trạc tuổi với mình, chàng yêu nàng và lấy nàng làm vợ
tức khắc.
Xô-ray-da
lấy con trai của trưởng ty ngân khố thành Ta-ka-xi-la, và sau
ba năm, nàng sanh được hai bé trai nữa. Thế là Xô-ray-da làm
cha của hai bé trai tại thành Xô-ray-da, và làm mẹ của hai
bé trai ở thành Ta-ka-xi-la, tổng cộng là bốn trai.
Bấy
giờ có bạn đồng hành của Xô-ray-da đem 500 thương xa từ
Xô-ray-da đến thành Ta-ka-xi-la buôn bán. Xô-ray-da đứng tại
cửa sổ trên lầu nhìn xuống đoàn xe, và nhận ra ngay người
bạn thân của mình. Nàng sai thị nữ đi mời khách quý đến
tư dinh và tiếp đãi rất nồng hậu. Ngạc nhiên trước sự
đón tiếp trọng vọng, khách hỏi:
- Thưa
bà, tôi chưa bao giờ gặp bà, nhưng bà tiếp tôi tử tế quá.
Bà biết tôi?
- Vâng,
tôi biết rất rõ. Ngài sanh ra và lớn lên tại thành Xô-ray-da,
phải không?
- Vâng,
đúng thế, thưa bà.
Sau
đó Xô-ray-da hỏi thăm sức khỏe cha mẹ, vợ con và được
khách cho biết tất cả đều khỏe mạnh. Nhưng khách thắc
mắc hỏi:
- Sao
bà biết họ?
- Vâng,
tôi biết họ rõ lắm. Họ có một người con trai duy nhất.
Bây giờ anh ấy ở đâu, thưa ngài?
- Xin
bà đừng nhắc đến anh ấy. Một hôm, chúng tôi cùng đánh
xe ra ngoài thành để tắm, thình lình anh ấy biến mất. Chúng
tôi không ai biết anh ấy đi đâu, và việc gì đã xảy ra.
Chúng tôi tìm khắp mọi nơi, nhưng không thấy tăm hơi gì
cả. Cuối cùng, chúng tôi báo tin buồn cho cha mẹ anh ấy.
Họ khóc than ai oán và lập đàn giải oan cho vong linh của
người xấu số.
- Trời
ơi, anh ấy là tôi đây nè!
- Thưa
bà, không phải chuyện đùa! Anh ấy là bạn chí thân của
tôi. Anh ấy thông minh, tài trí và rạng rỡ như một thiên
thần.
- Khỏi
lo, này ông bạn quý của ta! Ta chính là con trai của trưởng
ty ngân khố thành Xô-ray-da.
- Sao
có chuyện lạ vậy!
- Thế
ông bạn còn nhớ gặp Trưởng lão Ma-ha Ka-cha-da-na ngày hôm
đó không.
- Có
chứ, làm sao quên được! Người trông vàng rực như ông Phật
ấy mà!
- Ờ,
khi nhìn Trưởng lão, ta dấy tâm tham luyến: “Ước gì Trưởng
lão là vợ ta, hoặc vợ ta có sắc thân vàng óng như Trưởng
lão”. Và ngay lúc khởi niệm như thế, ta liền biến nam thành
nữ. Bối rối và xấu hổ quá, không dám cho ai biết, đành
phải trôi giạt đến đây.
- Thế
là sai lầm! Tại sao không cho tôi biết? Và anh đã sám hối
Trưởng lão chưa?
- Chưa!
Tôi không dám. Làm sao mở miệng nên lời. Nhưng cậu có biết
hiện giờ Trưởng lão ở đâu không?
- Ngài
ở gần đây, ngay trong thành này.
- Giá
mà ngài an trú nơi đây, ta sẽ cúng dường vật thực và giúp
đỡ ngài.
- Thế
thì tốt! Hãy chuẩn bị lễ vật. Tôi sẽ đi xin ngài hỷ
xả cho anh.
Người
bạn năm xưa của Xô-ray-da đến gặp Trưởng lão, cung kính
đảnh lễ ngài, ngồi sang một bên và thưa:
- Bạch
Trưởng lão, ngày mai thỉnh ngài đến nhà con thọ nhận lễ
vật cúng dường.
- Xin
lỗi, cậu không phải là du khách?
- Xin
Trưởng lão đừng bận tâm về việc con là du khách hay không
du khách. Thỉnh Trưởng lão ngày mai đến nhà con.
Ngày
hôm sau, theo bước thiền hành, Trưởng lão đến đứng trước
cửa nhà thí chủ. Ngài được mời ngồi trên một chiếc
ghế sang trọng với nhiều lễ vật quý hiếm bày ra trên bàn
trước mặt. Sau đó thí chủ dẫn người phụ nữ ra quỳ
dưới chân ngài, đoạn cậu đảnh lễ và thưa:
- Bạch
Trưởng lão, xin Trưởng lão từ bi hỷ xả cho cái tội tạp
niệm của bạn con đây.
- Thế
là thế nào?... Ta chưa hiểu!
- Bạch
Trưởng lão, người phụ nữ này vốn là bạn trai của con.
Một hôm ngắm sắc tướng kỳ diệu của ngài, bỗng khởi
tâm tham luyến, và liền biến nam thành nữ. Xin ngài xót thương
hỷ xả cho cái tội vô minh của chúng sanh.
- Thôi
được rồi! Hãy đứng lên. Ta không biết việc này, nhưng
nguyện hỷ xả tất cả.
Sau
đó ngài tán dương sắc diện của Ðức Bổn Sư:
Dung
nhan Phật tổ tợ trăng rằm,
Như
vầng hồng nhựt tỏa nắng trong,
Lung
linh chiếu khắp vòng trời đất,
Hỷ
xả từ bi khởi tận lòng.
Trưởng
lão vừa dứt lời thì Xô-ray-da liền biến nữ thành nam. Quý
tử của trưởng ty ngân khố thành Ta-ka-xi-la nói với vợ:
- Em
yêu quý, chúng ta là cha là mẹ của hai con thơ. Chúng ta phải
có bổn phận chăm sóc chúng nên người. Em đừng buồn, và
không nên đi đâu.
- Anh
yêu, em đã trải qua hai lần biến đổi thân tướng trong một
kiếp người: từ nam qua nữ, rồi từ nữ trở lại nam. Trước
kia là cha của hai con trai, gần đây là mẹ của hai con trai.
Vậy là quá đủ rồi. Em không thể vào ra căn nhà thế tục
nữa. Em sẽ là Sa môn, là đệ tử của Trưởng lão. Anh chăm
sóc hai con cẩn thận, đừng để chúng tủi thân.
Nói
xong, Xô-ray-da ôm con vào lòng, hôn chúng, xong trả con lại
cho cha chúng, và ra khỏi nhà với chí nguyện xuất gia, hành
đạo.
Trưởng
lão chấp thuận Xô-ray-da vào Tăng đoàn với nguyên danh hiệu
và lên đường về Xá Vệ.
Ðược
tin kỳ lạ, dân chúng trong thành rất hân hoan, phấn khởi.
Họ đến gần Sa môn Xô-ray-da, hỏi:
- Tin
đồn Trưởng lão là cha của hai bé trai, rồi là mẹ của
hai bé trai nữa, có đúng vậy không? Nếu đúng thì Trưởng
lão thương cặp trai nào hơn?
- Cặp
trai mà ta là mẹ! Ta khẳng định như thế.
Sau
khi từ giã đám đông, Trưởng lão Xô-ray-da thường đi đứng
nằm ngồi một mình, lúc nào cũng trầm tư quán tưởng về
lẽ sinh diệt, biến hoại và cuối cùng chứng quả A la hán
với phép mầu vi diệu.
Sau
đó nhiều người đến thăm Trưởng lão và hỏi:
- Sự
thể như vậy sao? Sư thương yêu hai cháu nào nhất?
- Sự
thật là như vậy, này các huynh đệ, và ta không còn luyến
ái với cháu nào nữa cả.
Nghe
thế, các Sa môn đến gặp Ðức Thế Tôn, thưa:
- Bạch
Thế Tôn, Sa môn Xô-ray-da nói năng e chưa thật. Trước kia
sư nói sư thương hai cháu mà sư làm mẹ nhất. Nay sư nói
không luyến lưu thương cảm ai cả. Như vậy phải chăng là
vọng ngôn, bạch Thế Tôn!
- Này
các thầy Tỳ kheo, tâm tư ngôn hạnh của Xô-ray-da đã quang
minh chính đại từ khi thầy ấy chứng thành đạo quả. Không
mẹ cha hay con cái nào mang lại phước điền cho nhau, trừ
tự tâm thanh tịnh và sở nguyện chân thành.
Nói
xong, Ngài đọc kệ:
Mẹ
cha hay bà con,
Không
làm gì được cả,
Chính
nhờ tâm nguyện lành,
Ðưa
ta lên cao cả.
(PC.
43)
ÐẤT
ƯƠM MẦM SỐNG VÔ BIÊN
KẾT
GIAO MẠNG MẠCH LƯU TRUYỀN TÔNG MÔN
Một
đêm nọ, sau cuộc hành trình vất vả, xuyên suốt cả một
vùng nông thôn rộng lớn, các Sa môn cùng Ðức Thế Tôn cuối
cùng cũng về tới Kỳ Viên. Các sư nhứt trí họp nhau trong
chánh điện để rút ra những bài học kinh nghiệm cho các
chuyến viễn hành, du hóa về sau. Thượng tọa niên trưởng
Chơn Tâm bắt đầu đề cập đến những hình thái sinh động
qua các mẫu đất đá đa dạng với màu sắc lung linh, kỳ
dị của chúng. Sư nói:
- Quý
huynh đệ thấy đấy, chuyến viễn du vừa qua đã giúp ta tai
nghe mắt thấy vô số điều thú vị. Ai bảo cỏ cây hoa lá,
sỏi đá núi rừng không tình không nghĩa với con người, nhứt
là với những bần tăng viễn ly dung dị, du hóa bốn phương
theo hạnh nguyện mà Ðức Thế Tôn đã dày công tu tập, chứng
ngộ và truyền đạt cho chúng ta:
Bát
cơm lý tưởng khắp ngàn nhà
Bước
chân đạo nghiệp muôn dặm xa
Chỉ
vì sinh tử hai việc lớn
Xuân
thu giáo hóa tháng ngày qua.
Không
biết quý huynh nghĩ sao, thấy gì, chứ Chơn Tâm này đắc ý
nhứt là những loại đất đá kiên gan bền chí, phơi mình
ra trước phong ba bão tố, nắng hạn mưa dầm, không than thân
trách phận mà lại tô điểm thanh sắc, khí vị cho khách đi
đường. Tuyệt quá!
- Thượng
tọa nói sao chứ em thấy có gì đâu mà phải thi vị hóa như
vậy! Ðất đá muôn đời vẫn là đất đá. Không khéo như
sư Chánh Trí suýt nữa trượt chân lăn xuống đồi vì một
cục đá mất nết, thấy người đi tới mà vẫn nằm chình
ình ra đó.- Sư Thiện Hỷ phát biểu và đại chúng che miệng
cười thú vị.
- Em
thấy cũng nên suy nghĩ, đúng hơn là quán niệm về các loại
đất đá. - Sư Ngộ Giải trịnh trọng nói - Suốt cuộc hành
trình, chúng ta chứng kiến vô số cảnh quan, nổi bật nhất
vẫn là đất đá. Mà không đáng quan tâm sao được! Chúng
ta sống cũng nhờ đất mà chết cũng nhờ đất. Vạn loại
hữu tình và vô tình đều đang nương nhờ, tá túc và sanh
sôi nảy nở trên mặt đất này. Kỳ diệu thay! Quý huynh xem,
cùng từ dưới lòng đất vươn lên, nhưng mỗi loài hoa đều
có màu sắc và hương vị khác nhau, đó là chưa kể ngô khoai
lúa nếp, cây trái bốn mùa; chúng luân lưu sinh diệt với
muôn màu, muôn vẻ trên ruộng đồng, rừng núi từ năm này
qua tháng nọ, nhưng khí chất đất đá có khác gì đâu!
- Có
chứ! .- Sư Nhất Thanh tỏ vẻ không cùng quan điểm. Nói sỏi
đá có cùng khí chất thì hình như chưa chính xác. Em thấy
đất đá cũng có hình dạng và màu sắc khác nhau, vậy là
khí chất và biên độ không đồng, nhất là các loại đất
ruộng, đất gò : nơi này bằng phẳng, nơi kia gồ ghề; chỗ
này lầy lội, chỗ nọ khô khan; rồi thì đất đen, đất
đỏ, đất trắng, đất vàng ... úi dzời, nhiều loại pha
tạp lắm!
- Hay!
không ngờ Nhất Thanh nín nín mà nay ra đòn ác liệt ta! .-
Sư Tâm Trực vụt nói và Tăng chúng cười ồ vui vẻ.
- Nghe
đại chúng nói cười hưng phấn trong chánh điện, Ðức Thế
Tôn bước vào, hoan hỷ ngồi giữa các sư, nói:
- Chà!
các thầy có gì mà hân hoan, sôi nổi vậy hè?
- Bạch
Thế Tôn, Trưởng lão Minh Hạnh đáp, quý huynh đệ đang nhận
xét về các loại đất đá đã bắt gặp trên cuộc hành trình
vừa qua.
- Vậy
sao! Này các thầy Tỳ kheo, các thầy chỉ mới luận bàn hay
góp ý cho nhau về những lớp đất đá dễ thấy bên ngoài.
Các thầy nên nhìn sâu, thấy rõ những lớp đất đá cô đặc
bên trong để rồi lau chùi, mài giũa sao cho chúng trở thành
những hạt kim cương lung linh phản chiếu ra muôn màu muôn
vẻ, thế mới là đúc kết kinh nghiệm, quán sát tinh tường
sau mỗi chuyến hành trình.
Ngài
mỉm cười, đọc kệ:
Ai
chinh phục Thiên giới,
Ðịa
cầu và Dạ ma,
Thông
giảng kinh Pháp Cú,
Như
người khéo hái hoa.
Hữu
học chinh phục đất,
Thiên
giới và Dạ ma,
Thông
giảng kinh Pháp Cú,
Như
người khéo hái hoa.
(PC.
44, 45)
LANG
THANG NHƯ ÁNG MÂY TRỜI
BỒNG
BỀNH NHƯ BỌT NƯỚC PHƠI CHÂN GHỀNH
Truyện
kể rằng thuở nọ có một Sa môn dốc tâm cầu đạo, quyết
chí tu hành. Sư tha thiết đảnh lễ Ðức Thế Tôn, xin Ngài
trao truyền yếu chỉ thiền quán, rồi một mình một bóng
đi vào rừng sâu thực hành thiền định. Sau một thời gian
dài nỗ lực cao độ, ngày đêm trầm tư quán tưởng về lẽ
sanh-trụ-dị-diệt của vạn loại hữu tình, nhưng tia chớp
liễu ngộ vẫn chưa lóe sáng trong tâm. Cây cảnh quanh sư vẫn
hồn nhiên đâm chồi nảy lộc và thay màu đổi sắc theo chu
trình xuân sanh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàn. Một cơn
gió nhẹ thổi qua, dăm ba chiếc lá chao động lìa cành, rồi
nằm trơ vơ trên mặt đất cho đến thời tan loãng theo vũ
trụ vần xoay. Sư quán niệm hoài, thiền định mãi mà chưa
khám phá ra nguyên nhân của sự tồn vong, luân chuyển. Một
buổi mai nọ, nhìn những tia nắng vàng lung linh nhảy múa,
khi ẩn khi hiện qua các cành lá rì rào, sư lại càng thắc
mắc về lẽ sinh thành, hủy diệt. Sư quyết định tạm biệt
núi rừng, trở về thỉnh Ðức Thế Tôn trao cho một công
án khác, phù hợp với khả năng và nguyện vọng của sư hơn.
Trên
đường về Trúc Lâm, sư phải băng qua một khu đồi trọc,
rồi đến một cánh đồng rộng. Mặt trời mỗi lúc một
lên cao, độ nóng càng thêm gay gắt. Sư bỗng thấy một hiện
tượng quái dị cứ chờn vờn ẩn hiện trước mặt. Sư đi
thì nó đi. Sư đứng thì nó đứng. Sư chạy thì nó chạy
như thể trêu chọc sư. Sư tự hỏi không biết đó là phép
mầu huyền bí hay hiện tượng ảo hóa thường xuất hiện
ở những nơi đồng không mông quạnh. Bỗng dưng sư nhớ lại
lời pháp thoại của Ðức Thế Tôn:
Này
các thầy Tỳ kheo,
Hãy
trụ tâm thiền quán,
Pháp
hữu vi tan loãng,
Như
mây
nổi, sương sa,
Như
điện chớp lóe nhòa,
Như
mộng mị huyễn hóa.
Ngay
tức khắc, sư trực nhận ra vòng sinh diệt của mọi hiện
tượng đang quay cuồng theo nghiệp cảm duyên khởi và đang
liên tục diễn ra trên cõi đời này. Cảm thấy sảng khoái,
phấn khích, sư tiếp tục đếm từng bước thiền hành cho
đến khi mặt trời đứng bóng. Phần nóng nực, phần đói
khát và thấm mệt, sư ngồi nghỉ mát dưới một tàng cây
trên bờ sông A-chi-ra-va-ti (Aciravatĩ). Một lát sau, sư xuống
sông uống nước, tắm rửa và ngâm mình thư giãn trong dòng
nước trong xanh; đoạn sư lên ngồi thanh thản trên một tảng
đá bằng phẳng trong bóng râm, cạnh một dòng thác đang tuôn
nước rào rào. Nhìn những chiếc bong bóng tròn vo, to tướng
cứ liên tục nhấp nhô, sanh diệt theo sức ép của từng làn
sóng luân phiên xô vào ghềnh đá, sư như bắt được của
quý, miệng mỉm cười, nói: “À... ta thấy rồi. Sanh tử,
tồn vong là thế!” . Sư từ từ đi vào chánh định với
niềm hỷ lạc vô biên.
Ðức
Thế Tôn bấy giờ đang nhập định trong thiền thất, thấy
tướng mạo của sư uy nghi như núi Tu Di và rạng rỡ như ánh
trăng rằm, Ngài cất lời tán thán: “Ðúng thế! Ðúng thế!
Này Sa môn. Những bong bóng nước và hiện tượng ảo hóa
nhấp nhô sanh diệt thế nào thì vòng sanh tử miên trường
của chúng sanh cũng nổi trôi tan biến như thế đó”.
Ngài
đọc kệ:
Hình
hài như huyễn hóa,
Thân
xác tợ bọt bèo,
Bẻ
tên hoa dục vọng,
Tử
thần hết dõi theo.
(PC.
46)
Thế
Tôn vừa đọc kệ xong thì sư liền chứng quả A la hán với
pháp lực nhiệm mầu, thần thông quảng đại. Trưởng lão
xả thiền, tiếp tục hành trình về thăm Bổn Sư với tâm
trạng ung dung thư thái, khinh khoái khôn lường. Trưởng lão
vừa đi vừa tán thán dung nghi, uy lực của Ðức Ðạo Sư:
Báo
thân Phật tổ lộng ánh vàng,
Uy
đức vang lừng khắp thế gian,
Mát
nụ cười tươi – thiên đế phục,
Bao
dung ánh mắt – quỷ vương hàng.
MỘT
THOÁNG SÂN TÂM BUÔNG ÁC NGỮ
KHỔ
ÐAU OAN TRÁI KẾT BAO ÐỜI
Thuở
xưa, khi Bra-ma-đát-ta (Brahmadatta) trị vì nước Ba La Nại,
có một thân vương húy Tú Phát (Kesava) dứt khoát từ bỏ
ngôi vị, xa lánh thế trần, sống đời phạm hạnh. Năm trăm
môn nhân quyến thuộc thấy vậy cũng giã từ quyền thế cao
sang, theo gương thân vương lên đường khổ tu hành đạo.
Sau đó thân vương rất được quần chúng tin yêu, kính phục.
Ka-pa (Kappa), quan thủ khố của thân vương cũng theo chủ nhân
làm đệ tử. Ẩn sĩ Tú Phát cùng môn đệ vào Hy Mã Lạp
Sơn khổ tu tám tháng. Khi mùa mưa đến, họ cùng nhau về thành
Ba La Nại khất thực những vật dụng cần thiết như muối,
dấm v.v... Quốc vương rất vui mừng đón tiếp ẩn sĩ, chấp
thuận phái đoàn lưu trú tại hoa viên hoàng cung qua bốn tháng
mưa, và nhà vua hứa sáng tối nào cũng đích thân đến vấn
an, chăm sóc ẩn sĩ.
Nhóm
môn đệ tạm trú được vài hôm thì cảm thấy khó chịu,
ray rứt trong lòng vì những tiếng ngựa hí, voi gầm. Họ đến
thưa với Ðạo sư Tú Phát:
- Bạch
Thầy, phiền quá! Chúng con phải đi nơi khác mới an định
được thân tâm.
- Ði
đâu bây giờ, quý huynh đệ?
-
Trở lại vùng Hy Mã Lạp Sơn, bạch Thầy.
-
Ðâu được! Quốc vương đã hứa cho chúng ta an trú tại đây
qua hết mùa mưa. Nửa chừng bỏ đi khó coi lắm!
-
Nhưng chúng con không thể lưu trú lâu hơn nữa, bạch Thầy!
Chúng con sẽ chọn một nơi gần đây để tiện việc liên
hệ với Thầy.
Họ
đảnh lễ và tạm biệt Ðạo sư, chỉ còn Ka-pa ở lại chăm
sóc và thân cận với Thầy.
Sáng
hôm sau quốc vương đến vấn an Ðạo sư, không thấy các
ẩn sĩ, bèn hỏi:
- Ủa!
môn đồ đi đâu hết rồi?
-
Họ nói ở đây bất an quá nên họ đã về lại vùng Hy Mã
Lạp Sơn rồi, tâu đại vương.
Ít
lâu sau, Ka-pa cũng nản lòng, và mặc dù Ðạo sư Tú Phát hết
lời thuyết phục môn đệ mình đừng bỏ đi, nhưng cậu vẫn
nằng nặc xin tạm biệt Thầy, trở về núi rừng với huynh
đệ khổ hạnh.
Ðạo
sư Tú Phát cứ bận tâm về cách sinh hoạt và nếp khổ luyện
của nhóm môn sinh mà đâm ra xao xuyến, bức bách trong lòng.
Quốc vương cho mời y sĩ đến chữa trị cho Ðạo sư, nhưng
bịnh trạng không mấy khả quan. Cuối cùng, Tú Phát gặp quốc
vương, tha thiết tâu rằng:
- Tâu
đại vương! Ðại vương muốn bần đạo chóng được khỏe
mạnh lắm phải không?
-
Ðúng thế, Ðạo sư! Giá mà ta có phép mầu kỳ diệu thì
ta khôi phục sức lực cho Ðạo sư ngay giờ phút này.
-
Ða tạ đại vương. Nếu đại vương muốn bần đạo được
thân tâm an lạc, bịnh tật tiêu trừ thì cho bần đạo về
lại núi rừng, công phu tu tập với môn đệ của bần đạo.
-
Tốt lắm, Ðạo sư!
Quốc
vương truyền bốn cận thần, do Na-ra-đa (Naràda) chỉ đạo,
khiêng Tú Phát đến gặp đồ chúng và để tâm theo dõi bịnh
tình của ẩn sĩ.
Ðược
tin Ðạo sư sắp về, Ka-pa liền thông báo cho tất cả huynh
đệ đều biết. Họ cùng nhau hân hoan đến đảnh lễ, vấn
an, và dâng nhiều loại hoa quả đặc biệt cho Ðạo sư. Ngay
lúc đó, ngay lúc tình sư đệ được chan hòa theo ánh mắt
nụ cười, theo tâm tư nguyện vọng của những người viễn
ly thế nghiệp, tịch tịnh tâm hồn thì Ðạo sư Tú Phát khỏe
mạnh lại ngay: đầu óc linh hoạt, da dẻ như vàng ròng.
Sau
đó quốc vương cứ thắc mắc: “Ta ưu ái phái đoàn ẩn
sĩ như thế mà họ vẫn ra đi, vẫn nghi ngờ thiện chí của
ta. Làm sao ta chiếm được niềm tin yêu của họ. Chỉ còn
cách duy nhất là có được một ái nữ thuộc dòng tộc Ðức
Thế Tôn, và như vậy thì họ sẽ coi ta là bà con quyến thuộc
với đấng Ðại Giác” . Quốc vương liền truyền lệnh gởi
văn thư đến hoàng tộc Thích Ca (Sakyas) với nội dung cầu
hôn một nương tử xinh đẹp. Nhà vua còn phái sứ thần tìm
hiểu tiểu nương kia thuộc dòng công khanh nào.
Hoàng
tộc Thích Ca nhóm họp, xem xét vấn đề và nhận định rằng:
- Tên
hôn quân bạo chúa đó là kẻ thù không đội trời chung của
chúng ta. Nếu từ chối yêu sách, hắn sẽ có cớ cất binh
tàn sát hoàng triều. Vả lại hắn đâu ngang hàng đẳng cấp
với vương tộc nhà mình, biết làm sao đây!
Hoàng
thân Ðại Danh (Mahãnãma) tự nguyện đứng ra tháo gỡ
rắc rối:
- Ta
có một thiếu nữ đang độ đương thì, cực kỳ xinh đẹp,
tên là Va-xa-ba-kha-ti-da (Vãsabhakhattiyã), con gái đầu lòng
của một tiện nữ nô lệ khỏe mạnh, tháo vác. Chúng ta đem
nộp cho hắn.
Sau
đó thân vương đón tiếp phái đoàn sứ giả, trịnh trọng
thưa rằng:
- Hy
hữu thay! tiểu quốc chúng tôi được diễm phúc kết thân
với quý quốc, được vinh dự dâng cho đại vương một công
nương tú lệ, đa tài.
- Tên
gì?... Con ai?... .- Trưởng đoàn sứ giả hỏi với giọng đầy
quyền uy, thế lực.
- Dạ
thưa ... tôn nữ cách cách của hoàng thân
Ðại
Danh, huynh đệ của Ðức Thế Tôn đấy ạ! Nàng đa tài, xinh
đẹp và rất có hiếu với hoàng thân quốc thích.
- Như
vậy thì tốt lắm!
Sau
đó phái đoàn sứ giả cung tay cáo từ, trở về hoàng cung
tâu lại mọi việc với quốc vương.
Ðược
tin sảng khoái, quốc vương liền ra khẩu dụ đem kiệu xe
rước công nương về hoàng triều cho người gấp. Nhưng đám
trung thần của quốc vương lắm mưu nhiều kế, bán tín bán
nghi, sợ hoàng tộc Thích Ca chơi trò tráo trở, đem nộp ả
dân đen tiện tỳ nào đó thì nguy! Họ bàn với quốc vương
gởi văn thư yêu cầu hoàng thân Ðại Danh cùng ăn chung bàn
với công nương. Ðại Danh chấp thuận, cho người trang điểm
tiểu thư xiêm y rực rỡ, dung mạo diễm kiều, rồi đưa nàng
đến quan phủ cùng dự yến tiệc, và sau đó trao tiểu nương
cho sứ giả. Nàng được đưa về Xá Vệ và được quốc
vương hết lòng yêu quý, phong làm hoàng hậu, cai quản 500
cung phi, mỹ nữ.
Một
năm sau, hoàng hậu hạ sanh được một hoàng tử, trông khôi
ngô tú dị, toàn thân lấp lánh như ánh vàng ròng. Quốc vương
vô cùng hưng phấn, truyền lệnh thái giám báo tin cho thái
hậu biết là hoàng hậu, công nương của hoàng thân Ðại
Danh thuộc hoàng phái Thích Ca đã sanh được một hoàng tử,
và thỉnh thái hậu đặt quý danh cho cháu. Thái hậu được
tin, lòng lâng lâng cảm kích, thầm nghĩ hoàng hậu là người
đoan trang thùy mị, trung hậu đảm đang, được thần dân
tôn vinh mến phục; nay lại sanh cho quốc vương một hoàng
tử kỳ vĩ, hẳn là được quốc vương sủng ái tuyệt đối,
vậy ta nên đặt tên cháu là Va-la-ba (Valabã), có nghĩa là
tôn quý; nhưng thái giám đã trọng tuổi, hơi nặng tai, nghe
nhầm ra Vi-đu-đa-ba (Vidũdabha), và tâu với quốc vương rằng
thái hậu rất tâm đắc với danh xưng này. Thoạt đầu quốc
vương lấy làm lạ, vì húy danh chả có ý nghĩa gì cả.
Tên hoàng tử là đại diện cho sơn hà xã tắc mai sau, vậy
mà nghe ra rất ngớ ngẩn; hay biết đâu đó là vương hiệu
xa xưa của hoàng triều, quốc vương đành phải âm thầm chấp
thuận. Thế là hoàng tử được vinh hạnh mang tên Vi-đu-đa-ba,
và được phong chức tổng lãnh binh khi còn là một cậu bé.
Quốc vương tin rằng vai trò của Vi-đu-đa-ba ở hoàng triều
hẳn làm đẹp lòng Ðạo sư lắm.
Vi-đu-đa-ba
trưởng thành trong nhung lụa và quyền lực. Khi lên bảy tuổi,
thấy các công tôn khác được ông ngoại cho nhiều trò chơi
trẻ em như ngựa, voi, lạc đà, khỉ, gấu v.v..., hoàng tử
lên tiếng hỏi mẹ:
- Mẫu
hậu ơi, các công tử kia được ông ngoại cho nhiều quà đẹp
quá! Con không có gì cả! Mẫu hậu không có cha mẹ sao? Con
không có ông bà ngoại sao?
- Con
yêu quý của mẹ, ông bà ngoại của con là hoàng thân dòng
Thích Ca, ở cách đây xa lắm, nên không tiện gởi quà cho
con.
Ðến
năm mười sáu tuổi, hoàng tử lại hỏi:
- Thưa
mẫu hậu, con muốn về quê ngoại thăm ông bà và gia phong
mẫu hậu.
- Này,
con yêu quý của mẹ, con còn nhỏ, phần đường sá xa xôi
hiểm trở, đi lại bất tiện lắm. Con nên nỗ lực luyện
văn múa võ, cưỡi ngựa bắn cung cho thật giỏi để mai sau
thay phụ hoàng mà giữ gìn xã tắc, nghe con!
Không
hài lòng với những lời tâm huyết của mẹ, hoàng tử vẫn
khăng khăng đòi về thăm quê ngoại. Cuối cùng mẫu hậu chấp
thuận lời đề nghị của con. Chàng báo tin cho phụ hoàng
và lên đường với một đám tùy tùng hùng hậu. Va-xa-ba-kha-ti-da
liền gởi mật thư báo cho hoàng thân biết trước mọi việc,
và vương triều Thích Ca cố tình đưa đám công tôn trai trẻ
về thôn làng nghỉ mát. Do đó, khi Vi-đu-đa-ba đến thành
Ca-tỳ-la (Capila), họ tập trung tại hoàng cung khách đường
và hoàng tử được tiếp đón tại đó. Họ nói:
- Hoàng
tử, đây là lịnh tôn, đây là lão bá bá, đây là lão đại
thúc ... của hoàng tử.
Chàng
phải đi giáp vòng, thi lễ từng người nhưng không một ai
đáp lễ lại. Thấy bị xúc phạm, chàng nghiêm giọng hỏi:
-
Tại sao không ai đáp lễ ta?
Nhóm
hoàng tộc đáp:
- Hoàng
tử, các công tôn trai trẻ như hoàng tử đã đi nghỉ mát
hết rồi.
Tuy
nhiên, chàng vẫn được tiếp đón trọng hậu. Và sau vài
hôm, chàng cáo từ ra về với phái đoàn.
Bấy
giờ có một phụ nữ nô lệ đem sữa và nước ra rửa chỗ
ngồi của Vi-đu-đa-ba với một tay che mũi, tỏ vẻ khinh khi,
gớm ghiếc và nói:
- Ðây
là chỗ ngồi của thằng con mụ nô lệ Va-xa-ba-kha-ti-da!
Ngay
lúc đó, một cận thần trở lại lấy chiếc khăn để quên,
thấy nghe mọi chuyện, và sau giây lát tìm hiểu mới nắm
được ngọn nguồn của chốn bí sử thâm cung. Té ra
mẫu hậu tôn quý kia đích thị là đứa con hoang của mụ
gia nô trong cung phủ của lão hoàng thân Ðại Danh thuộc dòng
tộc Thích Ca. Gã cận thần liền thông báo cho đoàn vệ binh
biết, và thế là nộ khí hốc lên ngùn ngụt. Khi Vi-đu-đa-ba
biết rõ sự thật đau lòng, chàng nắm tay đấm thẳng lên
trời và lớn tiếng thề độc:
- Hôm
nay dòng giống Thích Ca rửa chỗ ngồi của ta bằng sữa và
nước, mai kia lên ngôi ta sẽ rửa chỗ đó bằng máu họng
của bọn chúng.
Khi
phái đoàn sứ giả về tới Xá Vệ, họ tâu rõ mọi việc
tai nghe mắt thấy với đại vương. Nhà vua vô cùng phẫn uất
trước hành vi khinh suất, tráo trở của hoàng thân, và hạ
lệnh truất phế tước hiệu hoàng hậu, đày mẹ con xuống
hàng nô lệ như xưa.
Vài
hôm sau, quốc vương đến gặp Thế Tôn, thưa rằng:
- Bạch
Thế Tôn, ta rất đau lòng phải nói ra điều này. Hoàng tộc
Thế Tôn vọng ngôn thất tín, lừa đảo gian manh, đã trao
cho ta con gái của một tiện nữ nô lệ mà dám bảo là
tôn nương cách cách của hoàng thân Ðại Danh. Ta đã tước
hết danh hiệu cao quý của hoàng triều ban tặng, đày mẹ
con hoàng hậu xuống hàng nô lệ cho phù hợp với triều cương
quốc pháp.
- Tâu
đại vương, như vậy thì e bất công, khe khắt với hoàng
tộc Thích Ca. Va-xa-ba-kha-ti-da được tấn phong cách cách tại
tôn phủ của hoàng thân Ðại Danh, thuộc dòng võ tướng,
thế là con của hoàng thân. Còn Vi-đu-đa-ba là con của đại
vương, là hoàng tử chánh hiệu; vậy thì gia phong mẫu hệ
có dính dáng gì với tôn tộc đương triều?
Nghe
lời biện giải thâm trầm, hữu lý và nhân hậu của Thế
Tôn, quốc vương an tâm, hoan hỷ, phục chức hoàng hậu và
hoàng tử cho hai mẹ con.
Khi
Vi-đu-đa-ba lên ngôi, thay thế phụ hoàng phát huy thế lực,
tân vương liền nghĩ đến cái nhục rửa ghế năm xưa mà
nghiến răng tuyên bố:
- Ta
sẽ tàn sát dòng tộc Thích Ca cho chúng biết thế nào
là uy quyền và danh dự.
Quốc
vương lên đường thân chinh với một đoàn quân hùng hậu:
binh khí lấp lánh, giáp trụ oai hùng.
Sáng
hôm đó, như thường lệ, Ðức Thế Tôn thiền định trong
tịnh thất, trải tâm từ bi quán chiếu thế gian, thấy dòng
tộc Thích Ca sắp đến hạn tuyệt diệt. Ðộng lòng bi mẫn,
Ngài thầm nhủ:
- Nguy
khốn thay! Ta không thể không để tâm che chở thân tộc hoàng
triều.
Và
sau một vòng thiền hành, khất thực, Thế Tôn trở về tịnh
thất với tâm tư hóa giải hận thù. Ðêm đó, bằng thần
lực nhiệm mầu, Ngài đến sát biên giới giữa thành Ca-tỳ-la
và vương quốc của Vi-đu-đa-ba, thiền định dưới một tàng
cây nho nhỏ.
Trưa
hôm sau, trên đường phục thù rửa hận, Vi-đu-đa-ba chợt
thấy Ðức Thế Tôn đang nhập định sừng sững như núi Tu
di dưới tàng cây thưa lá. Ðộng lòng kinh ngạc, nhà vua cung
kính đảnh lễ đấng Ðại Giác, và nói:
- Bạch
Thế Tôn, sao Thế Tôn không thiền định hay nghỉ mát dưới
tàng cây đa cổ thụ bên vương quốc của trẫm? Ở đây nóng
bức quá!
- Cảm
ơn đại vương quan tâm! Bóng râm dòng tộc của ta đủ che
mát cho ta rồi!
Ngầm
hiểu Thế Tôn hẳn đã đến với mục đích bảo bọc thân
tộc hoàng triều, Vi-đu-đa-ba ngỏ lời tạm biệt Ngài và
lui binh về Xá Vệ. Sau đó Thế Tôn cũng về lại Trúc Lâm.
Nhưng
mối hận truyền kiếp với dòng tộc Thích Ca cứ ray rứt
tâm can, lảng vảng trong đầu, khiến quốc vương phải cất
binh rửa nhục lần thứ hai. Lần này cũng thấy Thế Tôn uy
nghi bất động dưới tàng cây như lần trước, và Vi-đu-đa-ba
lại phải quay về. Lần thứ ba cũng thế. Ðến lần thứ
tư, thấy ác nghiệp của dòng tộc Thích Ca quá đỗi sâu dày,
đã một thời đổ thuốc độc xuống sông vì tranh nhau ngọn
nước vào ruộng, tưới tắm hoa màu, Thế Tôn đành phải
im lặng, để cho oan khiên ác trược vận hành theo duyên nghiệp
của nó.
Vi-đu-đa-ba
tiến quân với quyết tâm tàn sát dòng tộc Thích Ca. Và lạ
thay, dòng tộc của đấng Ðại Giác Thế Tôn sẵn sàng thuận
theo số kiếp điêu tàn, mặc dù họ được coi là những binh
sĩ dạn dày sương gió, kinh nghiệm chiến trường, múa kiếm
bắn cung cực kỳ điêu luyện. Họ đã bị quân lính của
Vi-đu-đa-ba tàn sát đến từng em bé còn nằm nôi hay đang
ngậm vú mẹ, chỉ tha mạng cho những ai thuộc tôn phủ hoàng
thân Ðại Danh. Thế là quốc vương Vi-đu-đa-ba đã trừ được
mối hận năm xưa, đã rửa sạch chỗ ngồi của mình bằng
máu huyết của quân khinh bạc. Dòng tộc Thích Ca bị tru diệt
đến tận gốc.
Hoàng
thân Ðại Danh được quốc vương Vi-đu-đa-ba, cháu ngoại,
cung kính đưa về hoàng triều, tiếp đãi nồng hậu. Tới
bữa điểm tâm, hoàng thân tự nghĩ:
- Thế
nào ta cũng sẽ được mời ăn sáng với hắn. Bá quan văn
võ hoàng triều thà tán thân thất mạng chứ quyết không ăn
chung bàn với con bọn nô lệ.
Thấy
ngoài vườn thượng uyển có một hồ sen nên thơ, hoa lá đong
đưa, hương thơm ngào ngạt, hoàng thân ngỏ ý:
- Quốc
vương, ta muốn ra bờ hồ dạo mát một chút.
- Hoàng
thân tự nhiên, giang sơn này vĩnh viễn là xã tắc của hậu
duệ hoàng thân. Mong hoàng thân an tâm, thoải mái, và hãy quên
đi những ấn tượng không vui.
Nhìn
dòng nước trong xanh với từng đàn cá tung tăng bơi lội,
Ðại Danh trầm ngâm suy nghĩ: “Nếu từ chối ăn sáng, sẽ
bị hắn giết liền. Nếu chung mâm cùng bàn, thì còn gì là
tông phong đẳng cấp. Cá ơi! cho ta theo các ngươi với!”
.
Ðại
Danh xõa tóc, bện thành hai lọn, buộc vào hai ngón chân cái,
rồi lặng lẽ lao nhẹ xuống hồ.
*
*
*
Một
hôm, trên bước đường thân chinh dẹp loạn, Vi-đu-đa-ba cùng
binh đoàn dựng trại nghỉ đêm trên bờ sông A-chi-ra-va-ti
(Aciravati). Một số quân sĩ ngủ trên nền cát mịn giữa lòng
sông khô cạn, số còn lại nằm trên bờ đất gồ ghề. Nửa
đêm, số nằm trên bờ thức dậy, bảo kiến ra nhiều quá,
cắn, đốt không ngủ được. Thế là họ đổi chỗ, xuống
ngủ dưới lòng sông, còn nhóm kia lên nằm trên bờ. Bấy
giờ ở thượng nguồn có cơn giông tố nổi lên, mưa tuôn
như thác đổ, nước theo sông cuồn cuộn xuôi dòng, cuốn
phăng mọi thứ, và số binh sĩ nằm giữa lòng sông kia đều
bị nước lôi ra biển, làm mồi cho các loại kình ngư, chỉ
số nằm trên bờ thì an toàn, hú vía.
Dân
chúng thấy thế bàn tán xôn xao, cho rằng chính bọn ác ôn
man dã kia đã tàn sát dòng tộc Thích Ca nên nay bị trời tru
đất diệt, trả lại công bình cho bá tánh lương dân. Môn
đồ của đấng Ðại Giác Thế Tôn cũng hơi nóng mũi, lên
tiếng rì rào sau thời tịnh niệm:
- Quý
huynh đệ thấy đấy, oan oan tương báo, nghiệp chướng khôn
cùng. Ðúng là sinh sự sự sinh ngày nào dứt, hại người
người hại thuở nào nguôi.
Nghe
các sư nhỏ to nhận định trong chánh điện, Ðức Thế Tôn
bước vào, ngồi giữa đại chúng, tươi cười, hỏi:
- Chà!
Các thầy có gì mà bàn luận ra vẻ cẩn mật thế?
- Bạch
Thế Tôn, vụ tàn sát dòng tộc Thích Ca năm xưa và cảnh lũ
lụt khủng khiếp vừa qua phải chăng là oan gia tụ hội, nghiệp
báo khó lường!
- Này
các thầy Tỳ kheo, Ðức Thế Tôn thấp giọng nói, nhân quả
như bóng với hình. Cho dù những ai kia có thành đạt mục
tiêu hay an tâm mãn nguyện cỡ nào thì cũng khó mà thoát khỏi
cơn lũ khủng khiếp tràn qua ngôi làng đang thiếp ngủ, tử
thần hẳn lôi họ ra khơi và dìm họ xuống tận biển sâu
đau khổ.
Ngài
đọc kệ:
Người
hái hoa dục lạc,
Tâm
tham nhiễm say sưa,
Tử
thần sẽ kéo bừa,
Như
lụt cuốn làng ngủ.
(PC.
47)