Phần
8
CHO
DÙ BIỀN BIỆT SƠN KHÊ
NHƯNG
TÂM TƯ VẪN VỌNG VỀ CỐ HƯƠNG
Truyện
kể rằng thiên thần Hoa Mang, Ma-la-ba-ri (Garland-Wearer, Mãlabhãrĩ)
một hôm vào lạc viên ở tầng trời thứ Ba mươi ba với
một ngàn tiên nữ. 500 tiên nữ trèo lên cây hái hoa, thả
xuống; 500 tiên nữ nhặt hoa, kết thành từng tràng và trang
điểm cho thiên thần. Một tiên nữ ngồi trên cành cây cao
bỗng dưng đầu thai vào một gia đình vọng tộc ở Xá Vệ.
Vừa mở mắt chào đời, cô đã nhớ rõ kiếp trước của
cô là vợ của thiên thần Hoa Mang. Do đó, khi lớn lên, cô
thường hái nhiều loại hoa khác nhau, kết thành từng tràng
cúng dường Ðức Thế Tôn và Tăng đoàn với ước nguyện
sẽ được tái sanh với người chồng cũ.
Khi
lên mười sáu tuổi, cô được cha mẹ gả cho một thanh niên
khỏe mạnh, nhanh nhẹn thuộc gia đình thâm tín Tam bảo. Nhờ
thế, cô thường viếng chùa, lễ Phật, cúng dường lương
thực, y phục và những vật dụng cần thiết khác cho Thế
Tôn và đại chúng với lời khấn nguyện:
- Nguyện
cầu Thế Tôn và hiện tiền chúng Tăng chứng minh công đức,
giúp con được tái sanh với người chồng cũ.
Mỗi
khi cúng dường, lễ Phật cô đều dâng lời ước nguyện
duy nhất như thế. Tăng chúng thấy vậy nhìn nhau, thắc mắc:
- Cô
này lạ thật! Coi bộ nết na thùy mị, lễ Phật cúng dường
như vậy mà vẫn đa sầu, đa cảm. Chồng ngồi bên cạnh trơ
vơ, đang tâm tơ tưởng chồng hờ kiếp nao! Ðúng là: sông
ái ân nước dâng ngàn thước, biển khổ đau sóng dập muôn
trùng.
Các
sư không ngần ngại tặng cho cô biệt hiệu là Trọng Phu,
Pa-ti-pu-ji-ka (Husband-Honorer, Patipũjikã). Cô thường xuyên chăm
sóc tăng đường được thiết lập giữa một ngôi làng hiền
hòa, vắng vẻ. Cô ngày ngày quét dọn phòng xá sạch sẽ,
chuẩn bị nước nôi và bàn ghế tươm tất cho Tăng chúng.
Cô cẩn trọng tích lũy công đức, nuôi dưỡng thiện nghiệp;
và niềm vui đã đến với gia đình nhà chồng, côø có thai
và sanh được một cháu trai bụ bẫm, dễ thương sau mười
tháng tinh chuyên chăm lo ẩm thực cho Tăng đoàn. Khi cháu vừa
biết đi, cô sanh thêm đứa thứ hai, rồi đứa thứ ba, đứa
thứ tư; và trong vòng sáu năm, côø sanh được bốn cháu trai
khỏe mạnh, lanh lợi, thông minh.
Một
buổi sớm mai, tiết trời dịu mát, cô dâng lễ vật cúng
dường Ðức Thế Tôn, nghe Ngài thuyết pháp, thọ trì giới
luật, và đến cuối ngày thì cô lặng lẽ qua đời sau một
chút choáng váng. Cô được tái sanh với người chồng trước
theo ước nguyện thiết tha của mình.
Trong
khoảng thời gian cô làm dâu, làm vợ, sanh con, lễ Phật, cúng
dường, giúp chùa, công quả và giã từ dương thế thì các
tiên nữ vẫn còn đang trang điểm hương hoa cho thiên thần.
Vừa chợt thấy cô, thiên thần Hoa Mang hỏi:
- Từ
sáng tới giờ ta không thấy thiếp. Phu nhân đi đâu về đó?
- Thiếp
đã đầu thai một kiếp, thưa phu quân.
- Phu
nhân nói sao?
- Ðúng
thế, thưa phu quân! Thiếp đã đầu thai một kiếp.
- Phu
nhân đầu thai vào cõi nào?
- Trong
một gia đình khá giả ở Xá Vệ.
- Phu
nhân ở đó được bao lâu?
- Cuối
tháng thứ mười thì thiếp được mẹ thiếp cho ra đời.
Khi lên mười sáu tuổi, thiếp phải theo chồng về một gia
đình khác. Thiếp đã sanh được bốn người con trai. Rồi
thiếp lo việc nhà, việc chùa quần quật suốt ngày. Chẳng
hạn như lễ Phật, cúng dường, tụng kinh, bái sám, bửa củi,
nấu ăn, giặt giũ, rửa ráy v.v... nhưng thiếp lúc nào cũng
cầu nguyện sao cho được tái hợp với phu quân.
- Hay
lắm! Thế ... thọ mạng của người đời được bao lâu?
-
Chỉ vỏn vẹn một trăm năm!
-
Ngắn ngủi vậy sao?
-
Ðúng vậy, thưa phu quân!
-
Nếu thọ mạng người đời ngắn như vậy thì họ chỉ biết
ăn chơi, ngủ nghỉ hay lễ Phật, cúng dường?
-
Dạ!... Họ vốn thích buông lung phóng dật, tận hưởng khoái
lạc, sống thác theo đời; cho dù sống đến muôn kiếp
họ vẫn thế, chả có chủ đề hay định hướng gì cho chu
trình sanh - lão - bịnh - tử.
Vô
cùng ái ngại, thiên thần Hoa Mang cất tiếng hỏi:
- Nếu
như phu nhân nói người đời chỉ sống trăm năm, và nếu
như họ thường phóng ngôn lộng ngữ, cẩu thả buông lung,
ăn ngủ vô độ thì làm sao trong thời gian ngắn ngủi ấy
họ có thể liễu sanh thoát tử, tận khử khổ đau?
-
Phu quân hỏi nhiều quá! Hạ giới một chuyến thì biết. Thiếp
thấy sao nói vậy.
- Ha!...
Ha!... Thôi được rồi. Cảm ơn phu nhân đã cho ta biết đôi
điều ở dương thế.
Sáng
sớm hôm sau, các sư vào làng khất thực, đến tăng đường,
thấy nước nôi không có, bàn ghế ngổn ngang, trên thềm dưới
sân lá dồn chồng chất, bèn vui miệng nói:
- Ủa,
cô Trọng Phu nay sao giải đãi thế! Nhớ đức lang quân năm
xưa đến nỗi quên cả nghĩa vụ thiền môn sao? Thưa bà Trọng
Phu kính mến!
Một
Phật tử từ trong nhà chạy ra, chấp tay xá xá và nói lắp
bắp:
- Bạch
chư sư, cô ấy mất tối hôm qua rồi. Tội nghiệp! suốt ngày
lễ Phật, cúng dường, bòn mót công quả; tối về tắm rửa,
cơm nước xong, lên giường nằm là đi luôn. Tội nghiệp quá!
Các
sư đã chứng quả A la hán thì thản nhiên trước sự vận
hành của các pháp hữu vi, còn các sư chưa thành đạt thì
ngậm ngùi, liếc nhìn nhau và đưa tay lau nước mắt.
Sau
thời thiền hành, khất thực, các sư đến tu viện, đảnh
lễ Ðức Thế Tôn, thưa rằng:
- Bạch
Thế Tôn, Phật tử Trọng Phu mất rồi. Cô ấy cẩn trọng,
chăm chỉ, góp nhiều công sức cho chùa, nhưng vẫn một lòng
nguyện tác hợp với người chồng cũ. Bạch Thế Tôn, cô
ấy đầu thai về đâu? Liệu cô ấy có gặp lại người chồng
cũ không?
- Này
các thầy Tỳ kheo, người chồng cũ mà cô ấy nguyện tác
hợp không giống như ý nghĩ suy diễn của các thầy. Ðó là
thiên thần Hoa Mang ở tầng trời thứ Ba mươi ba. Cô ấy đầu
thai trong khi đang trang điểm hoa hương cho thiên thần đó.
Nay cô ấy đã về quê cũ, gặp lại người xưa trong bầu
không khí phu thê hạnh phúc.
- Ðúng
vậy sao, bạch Thế Tôn?
- Như
Lai chơn ngữ giả, thật ngữ giả, bất cuống ngữ giả.
- A
Di Ðà Phật! Bạch Thế Tôn, thọ mạng của chúng sanh trên
cõi đời này sao ngắn ngủi quá! Buổi sáng lễ Phật tụng
kinh, tối về giã từ dương thế!
- Này
các thầy Tỳ kheo, thọ mạng của con người trên cõi đời
này quả thật mong manh, cho nên họ bỏ công tìm kiếm và hưởng
thụ dục lạc. Nhưng tiếc thay, ý dục lạc chưa thỏa thì
đã bị tử thần lôi họ ra đi với những lời khóc than ai
oán.
Dừng
lại trong giây lát, Thế Tôn mỉm cười, đưa mắt nhìn
đại chúng một lượt, xong Ngài đọc kệ:
Người
hái hoa dục lạc,
Tâm
tham nhiễm say sưa,
Dục
vọng, ý chưa vừa,
Ðã
bị tử thần kéo.
(PC.
48)
VUI
THAY BỐ THÍ CÚNG DƯỜNG
XAN
THAM ÐOẠN TUYỆT, MƯỜI PHƯƠNG AN LÀNH
Truyện
kể rằng tại thị trấn Thịnh Ðường (Jaggery), cách thành
Vương Xá không xa, có một phú ông vang danh giàu có nhưng khét
tiếng bủn xỉn nên quần chúng gọi ông là lão gia Chí Kiệt
Kô-xi-da (Nigardly Kosiya). Lão không bao giờ cho ai một hạt đậu,
hạt mè; thậm chí vợ con trong nhà, gia nhân phục vụ, và
ngay cả bản thân lão cũng phải tách bạch khẩu phần theo
kiểu đo lọ tương ớt, đếm củ dưa hành. Kết quả là cái
gia sản kết sù của lão chả có ý nghĩa gì, chẳng mang lại
cho ai trong gia đình một chút tự hào hãnh diện, mà chỉ gây
nghẹn ngào u uất như một ngục tù đầy dẫy âm binh.
Một
sáng tinh mơ, trời trong gió mát, bốn bề vắng lặng, cảnh
vật êm đềm và thanh thoát làm sao! Ðức Thế Tôn xả thiền
sau một thời khởi tâm đại bi, vận dụng Phật nhãn quán
chiếu thế gian, thấy ngay vợ chồng phú ông đang trầm ngâm
suy nghĩ bên ánh đèn leo lét trong chốn cô phòng. Họ tận
dụng từng giờ từng phút để tích lũy lương thực, tàng
trữ châu báu, nhưng lại khép kín tâm hồn đến lạnh lùng
xơ cứng. Ðộng lòng từ ái, Thế Tôn chờ dịp khai mở trí
tuệ, khơi mầm thiện căn cho họ đến gần với chánh pháp.
Ngày
hôm sau, Chí Kiệt đến hoàng cung hầu hạ quốc vương, trải
thân qụy lụy hoàng gia để có được chút danh bá hộ. Rồi
trên đường về nhà, Chí Kiệt thấy một gã ăn mày đang
cạp chiếc bánh gai gần nát cả lá. Thế là dịch vị trong
người lão cứ rần rần tiết ra, làm cho lão nuốt nước
bọt liên hồi mà chả chế ngự được cơn thèm khát. Khi
về tới nhà, lão ngồi phịch xuống ghế, đăm chiêu suy nghĩ:
- Nếu
bảo ta muốn ăn bánh gai thì bao nhiêu người trong nhà cũng
sẽ nhao nhao mong ngóng bánh gai, và thế thì hao tốn lắm! Gạo
mè đường nếp đâu mà chịu cho xuể! Phải nhịn thôi!
Chí
Kiệt đi tới đi lui để hàng phục cơn đói, và nhất là
để tìm ra kế sách ăn bánh một mình. Thời gian lặng lẽ
trôi qua, cơn đói bức bách đến nỗi da thịt Chí Kiệt bỗng
dưng đổi sắc vàng khè, gân cốt nổi lên ngoằn ngoèo như
đàn giun lãi rục rịch trên bó rạ khô. Lão vội vã vào phòng,
quăng mình trên chiếc giường gỗ, tâm trạng lo sợ thất
thoát tài sản còn hơn là sợ ai biết mình thèm ăn bánh gai.
Thấy
chồng nằm úp mặt xuống giường, chốc chốc lại thở dài
nghe não nuột. Người vợ đến ngồi trên mép giường, đưa
hai tay xoa xoa lưng chồng, an ủi:
- Mình
nghe em nói này. Có chuyện gì vậy?
- Chả
có chuyện gì cả!
- Quốc
vương có đòi hỏi gì nữa không? Chơi thân với bọn vua quan
có lúc sẽ đi ăn mày hay mang gông vào cổ nghe anh!
- Suỵt!...
câm mồm. Nói năng bậy bạ có ngày mất lưỡi cả đám!
- Vậy
thì con cái và đám gia nhân có đứa nào tiêu xài tùy tiện,
làm phiền anh không?
- Không
có gì cả, mệt bà quá!...
- Anh
đừng giấu em! Không có gì cả thì tại sao nom anh khốn khổ
thế này! Da thịt bỗng dưng vàng khè, gân cốt nổi lên lố
nhố trông phát ớn! Hay là anh thèm khát thứ gì? Một vợ
sáu con chưa vừa hả?
Chí
Kiệt nằm im bất động. Nỗi lo sợ hao hụt tài sản khiến
lão không nói nên lời.
Dằn
lòng hết nổi, người vợ thét lên:
-
Nói!... Ông mê con nào? Một hớp rượu ngon không dám dính
môi nhưng sẵn sàng dâng cả hương hỏa từ đường này cho
nó phải không?
- Bà
sao!... Nói nho nhỏ có được không! Vâng, tôi thèm lắm! Chí
Kiệt vừa nói vừa nuốt nước miếng ừng ực.
- Thèm
thứ gì? Ông nai lưng ra làm giàu để được chết đói chết
khát hả?
- Ước
gì bà cho tôi một chiếc bánh gai. Lão nói với đôi môi như
mếu.
- Tại
sao ông không nói là ông thèm ăn bánh gai? Ông nghèo khổ lắm
hả? Ông mằn tro mò trấu không ra bánh gai hả? Ông mang danh
Chí Kiệt là phải lắm! Ðược rồi, tôi sẽ làm bánh đãi
cả làng cho ông xem.
- Ơ
kìa!... Chí Kiệt ngồi phắt dậy. Bà khùng hả? Việc gì phải
quan tâm đến họ! Tay làm hàm nhai! Quảng đại từ bi cũng
bị tù! Bà hiểu chưa?
- Vậy
thì ít ra cũng vui vẻ với bà con chòm xóm chứ?
- Ðánh
chết cái nết không chừa! Cái tật hoang phí của bà khó ưa
lắm!
- Thế
mọi người trong nhà này ngồi nhìn ông ăn bánh. Họ là gỗ
đá trơ trơ, không có cảm xúc!
- Nữa!...
Bà thật sự không hiểu thế nào là bừa bãi, vung vít!
- Vậy
con cái của ông thì sao? Chẳng lẽ cha ăn bánh, con liếm lá!
- Chúng
dùng cơm canh rau đậu như thường lệ là được rồi.
- Còn
tôi đây?
- Bà
ấy à!... Khổ quá! Tại sao bà phải kể hết người này đến
người nọ?
- Thôi
được!... Tôi chỉ làm một cái cho ông vừa lòng.
- Nhưng
coi chừng chứ chúng nó sẽ thấy bà làm bánh trong nhà. Tốt
nhất là đem một ít gạo nếp sữa mật, nồi niêu xoong chảo
với ba cục gạch lên sân thượng là ổn. Bánh làm xong là
tôi ăn liền, khỏi ai thấp thỏm dòm ngó gì cả.
Ðể
vừa lòng chồng, người vợ đem các thứ cần thiết lên lầu
bảy, đóng cửa cài then, cấm con cái và gia nhân lên xuống,
âm thầm nhóm lửa làm bánh cho lão gia Chí Kiệt.
Sáng
hôm đó Thế Tôn bảo Trưởng lão Mục Kiền Liên (Moggallãna)
đến thành Vương Xá khất thực, tìm cách gặp vợ chồng
Chí Kiệt đang nấu bánh trên lầu cao, thuyết giảng cho họ
biết thế nào là vô ngã, vô thường, vị tha và nội kết;
xong, bằng thần thông diệu lực, đưa họ đến tu viện Trúc
Lâm gặp Thế Tôn với 500 Tỳ kheo để cùng nhau thưởng thức
hương vị đặc thù của loại bánh gai Chí Kiệt.
Chỉ
trong khoảnh khắc, Mục Kiền Liên đã đứng sừng sững giữa
hư không trước phòng Chí Kiệt như một pho tượng rực rỡ.
Vừa thấy dung nghi Trưởng lão, Chí Kiệt hết hồn, đứng
bật dậy, nhưng chỉ trong giây lát thì trấn an được ngay
và gằn giọng nói:
-
Ông đạo, ông muốn gì? Dù cho ông trổ tài phù phép đi lại
giữa hư không cũng chả kiếm được chút gì. Mời ông đi
ngay cho!
Trưởng
lão cất bước đi đi lại lại trong không trung.
Nổi
nóng, Chí Kiệt quát:
- Ông
đạo, cho dù ông ngồi kiết già ở đó thì cũng chả đánh
động được lòng vị tha của ta đâu!
Trưởng
lão liền xếp chân ngồi kiết già như đang nhập định.
Bực
quá, Chí Kiệt thách thức:
- Ông
đứng trên ngưỡng cửa sổ này cũng vô ích thôi. Cơm gạo
đâu mà cho các ông. Một lũ lười biếng. Thấy ai có của
thì lò mò tới. Thật không biết xấu hổ, liêm sĩ gì cả!
Trưởng
lão liền đứng trên ngưỡng cửa sổ.
Hết
chịu nổi, Chí Kiệt trợn mắt, chỉ tay vào mặt Trưởng
lão, nói:
- Ông
có phun mây, nhả khói đi nữa thì cũng chả sờn một sợi
lông chân của ta.
Trưởng
lão huýt nhẹ một cái và căn nhà liền chìm trong khói mù
dày đặc.
Chí
Kiệt phẫn uất, định nói: “Dù mi có ho ra cát, khạt ra
lửa cũng thế thôi”. Nhưng vì vừa ho, vừa sặc, nước mắt
nước mũi trào ra, và nhất là sợ căn nhà bị thiêu rụi,
nên lão dằn được sân tâm, ôn tồn nói với vợ:
- Mình
ơi!... Làm thêm một cái bánh cỏn con cho hắn để hắn đi
cho khuất mắt. Hắn đang trí mạng đòi ăn đấy!
Người
vợ cho một chút bột vào nồi, nhưng bánh lại nở to, làm
nước trong nồi tràn ra. Chí Kiệt đau lòng thầm nghĩ: “Hẳn
là bà ấy đã lấy nhiều bột quá!” ; và thế là Chí Kiệt
đích thân nhéo một tí bột dính trên đầu thìa cho vào nồi,
nhưng bánh lại to hơn cái trước. Và cứ thế, bánh họ nấu
cái nào cũng lớn hơn cái trước. Cuối cùng Chí Kiệt nói
với vợ:
- Bà
ơi!... Coi cái nào nho nhỏ cho đại nó một cái. Nó đứng
đó hoài làm tôi xốn mắt lắm!
Nhưng
khi người vợ vừa lấy một cái thì tất cả bánh trong rổ
đều dính chùm lại với nhau, ngạc nhiên, bà nói:
- Mình
ơi!... Bánh dính chùm, không gỡ ra được!
- Ðể
đó tôi gỡ cho. Chuyện nhỏ mọn thế mà cũng kêu réo!
Chí
Kiệt gắng sức tách bánh ra, nhưng càng tách chúng càng dính
chặt. Cuối cùng, chồng nắm một đầu, vợ nắm một đầu,
cố kéo tách bánh ra, nhưng vẫn không được.
Trong
khi Chí Kiệt hì hục chiến đấu với bánh, mồ hôi toát ra
đẫm người, và lòng tham bỗng dưng biến mất. Quay sang nhìn
vợ, lão nói:
- Bà
ơi!... Tôi không cần những thứ này nữa. Cúng dường rổ
bánh cho ông sư đó đi.
Theo
lời chồng, người vợ bê rổ bánh đến trước mặt Mục
Kiền Liên. Trưởng lão mỉm cười, tán thán:
Vui
thay bố thí cúng dường,
Xan
tham đoạn tuyệt, mười phương an lành,
Vô
thường, vô ngã, vô danh,
Vô
công dụng xứ viên thành đạo tâm.
Chí
Kiệt sững sốt đến trân người, mắt đăm đăm nhìn Trưởng
lão mà hai gối quỳ xuống lúc nào không hay. Ông chấp tay,
thưa:
- Kính
bạch Trưởng lão, mời Trưởng lão đến đây, ngồi trên
chiếc giường này và dùng bánh tự nhiên.
- Cảm
ơn thí chủ. Ðức Thế Tôn và 500 Sa môn đang chờ bánh gai
của thí chủ tại tu viện Kỳ Viên. Nếu không trở ngại,
mong lão gia và phu nhân đem bánh và những thực phẩm khác
đến cúng dường Thế Tôn và đại chúng, rồi cùng nhau thưởng
thức cho vui.
- Nhưng
Trúc Lâm cách đây xa quá, bạch Trưởng lão. Chúng con đi bằng
cách nào?
- Khỏi
lo!... Miễn sao thí chủ hoan hỷ thì mọi việc sẽ đâu vào
đó.
Thế
là một chiếc cầu thang xinh xinh nối liền giữa biệt thự
của lão gia với ngọ môn Kỳ Viên. Vợ chồng Chí Kiệt đến
chùa nhằm giờ thọ trai. Họ đem bánh gai, bơ, sữa, đường,
mật vào trai đường, đảnh lễ cúng dường Thế Tôn và đại
chúng, rồi tất cả cùng nhau thọ thực trong bầu không khí
chan hòa, thân mật.
Thọ
trai xong, vợ chồng Chí Kiệt được Thế Tôn tán thán công
đức và ban cho một thời pháp thoại về hạnh xả ly xan tham,
vun bồi trí tuệ và lợi ích phước điền. Sau đó họ ngỏ
lời tạm biệt Thế Tôn, đại chúng, và ra về trong niềm
hạnh phúc vô biên.
Tối
hôm sau, đại chúng họp nhau trong chánh điện, ai ai cũng hãnh
diện ca ngợi thần lực của Trưởng lão Mục Kiền Liên.
- Quý
huynh đệ thấy đấy, thần thông diệu lực của Trưởng lão
Mục Kiền Liên quả thật bất khả tư nghì. Chỉ trong giây
lát, Trưởng lão đã giáo hóa lão gia Chí Kiệt nhận thức
được lý vô thường, vô ngã; đem vật thực đến chùa cúng
dường lễ Phật, thật là thậm thâm hy hữu.
Nghe
các Sa môn tán dương hưng phấn trong chánh điện, Thế Tôn
bước vào, nói:
- Vui
hỷ?!... Các thầy có gì mà họp nhau bàn luận thú vị thế
này?
Ðại
chúng vừa liếc nhìn nhau thì Thế Tôn tiếp lời:
- Này
các thầy Tỳ kheo, các thầy hóa duyên với chúng sanh phải
đến tận thôn làng, gặp mặt từng người, viếng thăm từng
hộ mà không làm suy giảm niềm tin, hao tổn tài vật, và phiền
lòng thí chủ. Hãy thuyết giảng cho họ biết đức hạnh của
Ðức Phật cũng giống như sứ mạng của một con ong, đúng
không? Ong suốt đời tần tảo, bay tìm khắp muôn nơi, hút
nhụy hoa làm mật, dâng hương vị cho đời, nhưng ong không
tác hại gì cả. Tỳ kheo Mục Kiền Liên là thế đó.
Im
lặng trong giây lát, Thế Tôn mỉm cười và đọc kệ:
Tỳ
kheo vào làng xóm,
Như
ong đến vườn hoa,
Lấy
mật xong bay ra,
Không
hại gì hương sắc.
(PC.
49)
Không
ai bảo ai, đại chúng đồng chấp tay, cúi đầu, khẽ niệm:
A Di Ðà Phật. Rồi họ đứng lên đảnh lễ Ðức Thế Tôn
và lui ra với những bước chân nhẹ nhàng nhưng vững
chãi hơn.
TUYẾT
RƠI TRƯỚC CỬA CHƯA TỪNG QUÉT
LẠI
LO SƯƠNG PHỦ MÁI NHÀ NGƯỜI
Truyện
kể rằng tại Xá Vệ có một tín nữ, vợ của một thương
gia giàu có, rất mực thuần thành, chăm lo ẩm thực và những
nhu cầu cần thiết khác cho một ẩn sĩ lõa thể hiệu Pa-thi-ka
(Pãthika) như chăm lo yêu quý đứa con trai duy nhất của bà
vậy. Một hôm, những người láng giềng đến chùa nghe Thế
Tôn thuyết pháp, rồi về nhà hết lời tán dương dung nghi
uy lực của Ðức Ðạo Sư: nào là pháp âm ngọt ngào, êm
dịu; nào là diện mạo rạng rỡ như ánh trăng rằm; hai tai
Phật dài, đầy đặn và đẹp làm sao; đôi mắt Ngài hiền
hòa, trong sáng và đẫm lòng nhân ái v.v... Khi nghe các bà ca
ngợi đức hạnh và phong thái thanh thoát của Thế Tôn, tín
nữ cũng muốn đi chùa nghe pháp. Bà bày tỏ ý định
với ẩn sĩ:
- Bạch
thầy, con muốn đến chùa nghe Phật thuyết pháp.
- Có
gì mà nghe! Quanh đi quẩn lại cũng chỉ ngần ấy chuyện:
cũng Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên,
nghe cũ rích! Còn nữa, tu hành mà lo y phục chỉnh tề, làm
đỏm làm dáng, đi đứng quy cách, ngủ nghỉ điều độ, ăn
uống tùy duyên ... khó tin lắm!
Lần
nào tín nữ định đi chùa cũng bị ẩn sĩ tìm cách ngăn cản
với lời lẽ gần như thóa mạ. Cuối cùng, bà quyết định
thỉnh Thế Tôn đến nhà để bà được nghe pháp.
Một
đêm nọ, bà bảo đứa con trai duy nhất của bà đến chùa
thỉnh Ðức Thế Tôn trưa hôm sau đến nhà bà thọ trai. Cậu
thiếu niên, theo nếp lễ giáo, đến chào ẩn sĩ, và thế
là Pa-thi-ka bắt chuyện:
- Cậu
đi đâu mà đến đây đêm hôm khuya khoắt thế này?
- Dạ!...
Mẹ con bảo con đến chùa thỉnh Phật trưa mai đến nhà thọ
trai.
- Ði
đâu cho phí sức, về đi! Có gì xảy ra ta chịu.
- Dạ...
nhưng con sợ mẹ con mắng lắm!
- Có
ta đây còn sợ nỗi gì? Thầy trò mình sẽ hưởng phần dâng
lễ đặc biệt đó.
- Không
được!... Mẹ con sẽ đánh con chết.
- Ơ
kìa!... Vậy thì đi đi, nhưng đừng cho địa chỉ. Nói vòng
vo đôi điều rồi về gấp, nghe chưa?
Theo
lời ẩn sĩ, cậu thiếu niên đến chùa gặp Thế Tôn, thưa
mời Ngài xong là hối hả ra về.
Vừa
gặp ẩn sĩ, Pa-thi-ka liền hỏi:
- Sao!...
Cậu làm đúng những điều ta dặn chứ?
- Dạ...
vâng ạ! Thầy bảo sao con làm vậy.
- Khá
lắm!... Ðêm nay ở lại đây. Ngày mai chúng ta sẽ mặc nhiên
thọ dụng lễ vật cúng dường đó.
Sáng
sớm hôm sau, ẩn sĩ đưa cậu thiếu niên về nhà, và cả
hai ngồi nghe ngóng ở phòng sau.
Ðược
tin Thế Tôn đến thọ trai, bà con chòm xóm hăng hái đến
trang hoàng nhà cửa tươm tất, nhất là thiết kế một chỗ
ngồi cao sang để cung nghinh Ðức Phật an tọa.
Từ
tờ mờ sáng hôm đó, Thế Tôn vận y, ôm bình, thiền hành
thẳng đến căn nhà của tín nữ. Bà ra tận cổng tiếp đón
và gieo mình sát đất đảnh lễ Thế Tôn. Xong bà mời Ngài
vào trai phòng, bê nước cho Ngài rửa tay, chân và thỉnh Ngài
ngồi vào chánh tòa, thọ dụng lễ vật cúng dường.
Thọ
trai xong, với âm thanh ngọt ngào êm dịu, Thế Tôn cất lời
hồi hướng công đức:
Cung
nguyện thập phương tam thế Phật,
Hộ
trì gia đạo vĩnh an khương,
Viễn
ly ác kiến tam đồ khổ,
Bát
nhã hoa khai tuyệt đoạn thường.
Thế
Tôn vừa dứt lời thì tín nữ và các Phật tử phụ hầu
trai lễ đều đồng thanh niệm danh hiệu Ðức Bổn Sư, biểu
lộ sự hoan hỷ và hãnh diện được Phật quang lâm, thọ
ký.
Từ
phòng sau, nghe mọi người đồng niệm hồng danh Bổn Sư, ẩn
sĩ lõa thể khởi tâm kiêu mạn, ghen tức trong lòng, bèn xông
ra phòng ngoài, lớn tiếng hủy báng:
- Con
đĩ già kia, mi đâu còn là tín nữ của ta. Rồi đây mi sẽ
tan xương nát thịt vì cái tội tán dương, cung kính lão ăn
mày lẻo mép này.
Pa-thi-ka
trợn mắt, khuỳnh tay trút lời đê tiện xong là vọt ra khỏi
cửa, chạy mất. Tín nữ vô cùng ân hận về những lời nhục
mạ trơ tráo của tên ẩn sĩ ác tâm đến nỗi đầu
óc rối bù, tâm tư loạn động, không còn lòng dạ mặt mũi
nào hầu Phật nghe pháp. Hiểu rõ tâm trạng của tín nữ,
Thế Tôn hỏi:
- Tín
nữ, ngươi không thể định tĩnh tâm hồn, lắng nghe chánh
pháp nữa phải không?
- Ðúng
vậy, bạch Thế Tôn! Con rất đau buồn về những lời hồ
đồà, thô lậu của gã ẩn sĩ đó. Không ngờ lâu nay con
tận tâm chăm sóc một gã côn đồ, điên loạn. Thật có tội
với Tam bảo. Xin Thế Tôn từ bi, hỷ xả cho gia đình con.
- Có
gì mà hỷ xả! Thế Tôn tươi cười nói. Không nên nhận xét,
đánh giá lời lẽ của một kẻ ngoại đạo như thế. Không
nên quan tâm đến hạng người như vậy. Hãy tỉnh giác. Hãy
quán chiếu lỗi lầm do chính mình gây ra. Ðừng trĩu lòng
ray rứt theo kiểu: tuyết rơi trước cửa chưa từng quét,
lại lo sương phủ mái nhà người.
Ngài
mỉm cười, đọc kệ:
Ðừng
tò mò vạch lỗi,
Việc
người làm hay chưa,
Hãy
nhìn lại việc mình,
Ðã
làm hay vất bừa.
(PC.
50)
TRAO
TRUYỀN GIỚI LUẬT PHẬT ÐÀ
ÐÓ
LÀ SỨ MẠNG TĂNG GIÀ SA MÔN
Tại
Xá Vệ, có một cư sĩ đã chứng quả Tư đà hàm, tên là
Ðắc Thủ (Chattapãni). Một sáng sớm nọ, nhằm ngày chay tịnh,
và theo nếp sinh hoạt thiền môn, Ðắc Thủ phải đến chùa
lễ Phật, nghe Pháp.
Trong
lúc Ðắc Thủ đang ngồi nghe pháp thoại trong chánh điện
thì quốc vương Pa-xen-na-đi Kô-xa-la (Pasenadi Kosala) đến lễ
Phật cúng dường. Ðắc Thủ thấy lòng mình phân vân, ái
ngại, không biết có nên đứng lên cung đón quốc vương hay
không. Cuối cùng, ông quyết định:
- Ta
đang ngồi trước sự hiện diện của bậc Chuyển luân thánh
vương, tức là vua trong những vì vua. Nếu ta đứng lên chào
quốc vương thì hóa ra ta xem thường uy đức cao dày của đấng
Pháp vương. Nhưng nếu ta không đứng lên cung nghinh hoàng thượng
thì mạng sống này khó bề an toàn. Một khi nhà vua cau mày
thì cỏ cây cũng phải gục đầu vàng úa, biết làm sao đây!
Nhưng thôi! Ðã quyết thì làm, đã đốn thì vác, thà chết
chứ không chịu thất lễ với Ðức Thế Tôn. Thế là Ðắc
Thủ cứ mặc nhiên tịnh tọa.
Thấy
Ðắc Thủ không đứng lên chào mình, tâm can quốc vương bỗng
dưng sôi lên sùng sục, nhưng nhà vua liền trấn an, vui vẻ,
thản nhiên đảnh lễ Thế Tôn và cung kính ngồi sang một
bên. Tuy nhiên, những tia lửa sân hận, kiêu khí cứ chập
chờn, thấp thoáng vút qua khóe mắt quốc vương. Nhận thấy
hậu quả nguy kịch có thể xảy ra, Thế Tôn dịu giọng, nói:
- Ðại
vương, Ðắc Thủ là một hiền giả, thông đạt tam tạng
giáo điển, và lúc nào cũng hoan hỷ với duyên nghiệp thành
tựu hay bất hạnh của mình.
Nghe
Thế Tôn tán thán nhân cách trung hậu của Ðắc Thủ, quốc
vương hạ hỏa, lờ đi hành vi xem ra như trịch thượng của
một thần dân.
Rồi
một hôm, sau bữa điểm tâm, quốc vương đứng trên lan can
hoàng cung, nhìn thấy Ðắc Thủ tay cầm dù vải, chân mang
giày hạ, đi ngang trước sân. Ngay tức khắc, quốc vương
lệnh vệ sĩ đưa Ðắc Thủ đến trước bệ rồng. Ðược
lệnh diện kiến long nhan, Ðắc Thủ liền cởi bỏ giày, dù
; trịnh trọng từng bước đến trước mặt quốc vương,
khấu đầu thi lễ với lời chúc thọ theo kiểu thiết triều:
- Hoàng
thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!
Sau
đó Ðắc Thủ bình thân, rón rén bước sang một bên.
Thấy
ngôn hạnh đoan trang, cung cách tự tin và cẩn mật của Ðắc
Thủ, quốc vương hỏi:
- Này
cư sĩ, tại sao ngươi phải cởi bỏ giày, dù; phải đi đầu
trần chân đất thế?
- Muôn
tâu hoàng thượng, khi được lệnh triệu kiến long nhan, thảo
dân đã cởi bỏ giày dù ngay.
- Hôm
nay ngươi mới nghe danh hoàng thượng?
- Thưa
không ạ! Thảo dân đã biết hoàng thượng là bậc anh minh
thánh đức, là biểu tượng phước điền cho sơn hà xã tắc
Xá Vệ ạ!
- Thế
thì tại sao hôm nọ thấy ta đến chùa lễ Phật, nghe pháp,
ngươi vẫn điềm nhiên tọa thị, không đứng lên chào ta?
- Muôn
tâu hoàng thượng, thảo dân đang ngồi trước đức Chuyển
luân thánh vương, đứng lên chào hoàng thượng e lỗi đạo
với đấng Pháp vương, người mà đại vương còn phải cung
kính đảnh lễ; xin hoàng thượng lượng thứ.
- Khá
lắm! Thôi, việc đã qua, cho qua! Nhưng này, nghe nói ngươi
bát lãm kim cổ, thông đạt tam tạng thánh giáo; vậy ngươi
hãy vào cấm cung, thuyết giảng giới luật cho cung phi,
được không?
- Dạ...
không dám! Muôn tâu hoàng thượng.
- Tại
sao?
- Dạ...
vào ra cung cấm hoàng triều dễ bị dư luận lên án lắm,
dù là việc quốc gia đại sự hay thăm viếng thâm tình, tâu
hoàng thượng!
- Nói
thế không được! Hôm nọ gặp ta, ngươi bảo đứng lên chào
hoàng thượng là lỗi đạo tông môn; nay vào cung vua thì ngươi
cho là thiên hạ đàm tiếu. Ngươi định lộng giả thành chơn,
buông lời sỉ nhục đấy chắc!
- Dạ...
không dám, không dám, muôn tâu hoàng thượng! Cư sĩ mà đăng
đàn thuyết pháp, tụng giảng giới luật, ôm trọn chức năng
của giới Sa môn thì khó coi lắm, e sẽ bị nặng lời chỉ
trích! Xin hoàng thượng cung thỉnh một Trưởng lão thâm uyên
lo việc đó cho.
- Thôi
được! Ngươi có thể lui ra.
Sau
đó quốc vương phái một sứ thần đến gặp Thế Tôn với
lời thỉnh nguyện:
- Bạch
Thế Tôn, hoàng hậu Ma-li-ka (Mallikã) và chánh phi Va-xa-ba-kha-ti-da
(Vãsabhakhattiyã) của trẫm muốn thọ trì giới luật. Vậy
thỉnh Thế Tôn phái 500 Sa môn thường xuyên đến hoàng triều
thuyết giảng giới luật cho họ.
- Ðại
vương.- Thế Tôn đáp, xưa nay chư Phật không thể thường
xuyên đến một nơi nào.
- Vậy
thì, bạch Thế Tôn, thỉnh một Tỳ kheo.
Thế
Tôn giao trách nhiệm cho Trưởng lão A Nan. Và thế là A Nan
ngày ngày đến cấm cung thuyết giảng giới luật cho hoàng
hậu và chánh phi. Ma-li-ka chí tâm cầu học, nghe đâu nhớ
đó, và nhất là ứng dụng giới luật vào nếp sinh hoạt
hằng ngày trong cung phủ, nên quốc vương hoan hỷ lắm; còn
Va-xa-ba-kha-ti-da thì học hành chiếu lệ, tai nghe giới luật
mà lòng dạo hoa viên, kết quả là không nắm được phần
tinh hoa, cốt tủy của giới luật.
Một
hôm Thế Tôn hỏi A Nan:
- Này,
A Nan, quý vị Ưu bà di của thầy có hiểu và áp dụng được
giới luật vào nếp sống hằng ngày không?
- Dạ...
thưa có, bạch Thế Tôn!
- Ai
đạt hiệu quả cao nhất?
- Dạ...
Ma-li-ka. Hoàng hậu dốc tâm tu học nên nắm được tông chỉ
của giới luật, còn chánh phi thì hay giải đãi, không tha
thiết mấy với cung cách điều thân, luyện tâm nên còn nhiều
mặt hạn chế.
Nghe
A Nan trình bày kết quả trao truyền và hành trì giới luật,
Thế Tôn nói:
- Này,
A Nan, giới luật ta thuyết giảng, đối với những ai không
tha thiết lắng nghe, không học, không ứng dụng, không truyền
bá, thì chả lợi ích gì cả; giống như một đóa hoa sắc
màu rực rỡ mà thiếu hẳn hương vị ngọt ngào. Hình thức
huy hoàng mà nội dung rỗng tuếch thì chưa được gọi là
viên mãn. Nhưng nếu ai chí tâm lắng nghe, học tập, ứng dụng
và truyền bá giới luật thì được công đức và phước
báo vô lượng, vô biên.
Ngài
đọc kệ:
Như
bông hoa tươi đẹp,
Có
sắc nhưng không hương,
Nói
hay làm không được,
Kết
quả có chi lường.
Như
bông hoa tươi đẹp,
Có
sắc lại thêm hương,
Nói
hay và làm giỏi,
Kết
quả thật vô lường.
(PC.
51-52)
TÍN
TÂM VUN XỚI PHƯỚC ÐIỀN
PHÁT
HUY NGUYỆN LỰC VÔ BIÊN QUẢ LÀNH
Tương
truyền rằng Minh Nguyệt (Visàkhà) là một nữ đại thí chủ
đối với Ðức Thế Tôn và Tăng đoàn. Bà thâm tín chư Phật,
suốt đời toàn tâm tận lực vun xới phước điền bằng
cách chăm lo ẩm thực, cung cấp y phục, xây dựng phòng xá
và phục vụ thuốc thang cho Tăng chúng. Bà phụng sựï Tam
bảo với tâm hồn rỗng rang, thanh tịnh, hồn nhiên và vô
ngại.
Một
đêm rằm tháng tư, nhân lúc dự lễ khánh thành một tu viện,
thấy công đức xây dựng của mình được thành tựu viên
mãn, nhất là niềm vui được thể hiện qua từng bước thiền
hành của Ðức Thế Tôn và đại chúng vòng quanh chánh điện,
bà cùng con cháu chấp tay chánh niệm theo sau chúng Tăng. Bỗng
dưng bà thầm nghĩ: “Thế là tâm nguyện bấy lâu của ta
nay được thành tựu”. Bằng ngữ điệu uyển chuyển ngọt
ngào, bà cất lời tán thán:
Bao
năm tứ sự cúng dường,
Hộ
trì Tam bảo tuyên dương pháp mầu,
Thiền
môn lộng ánh trăng sao,
Nghe
trong cây cỏ dạt dào tình quê.
Nghe
âm thanh luyến láy mượt mà của bà, các sư lấy làm ngạc
nhiên, hỏi Phật:
- Bạch
Thế Tôn, chúng con chưa bao giờ nghe Minh Nguyệt hát. Thế mà
hôm nay thấy bà cùng con cháu hân hoan ca khúc khải hoàn vòng
quanh tu viện. Phải chăng bà ấy lên cơn tâm thần hay có điều
uẩn khúc trong lòng?
- Này
các thầy Tỳ kheo, Thế Tôn đáp, tín nữ đâu có hát. Chỉ
vì tâm nguyện xây chùa được thành tựu nên phấn khởi reo
lên thành lời đấy thôi.
- Nhưng...
bạch Thế Tôn, Minh Nguyệt phát nguyện xây chùa hồi nào?
- Các
thầy muốn biết sao?
- Vâng
ạ, bạch Thế Tôn!
- Vậy
thì hãy lắng nghe, này các thầy Tỳ kheo.
*
*
*
Thuở
xưa, cách đây vô lượng kiếp, có một Ðức Phật hiệu là
Pa-đu-mút-ta-ra (Padumuttara) xuất hiện tại thành Ham-xa-va-ti
(Hamsavatĩ). Cha của Ngài là Xu-nan-đa (Sunanda) và mẹ Ngài là
Xu-ja-ta Ðê-vi (Sujàtà Devi). Bấy giờ có một tín nữ chăm
lo tứ sự cúng dường cho đấng Ðạo Sư. Bà có người bạn
thân thường cùng nhau đến chùa lễ Phật, nghe pháp. Thấy
bà tiếp xúc thân thiện và được Ðạo Sư quý mến, bà bạn
tự nhiên thắc mắc trong lòng: “Vì sao phụ nữ được chư
Phật ưu ái như thế?”
Một
hôm, để giải tỏa nghi vấn, bà mạnh dạn lên tiếng:
- Kính
bạch Ðạo Sư, con có chút vướng kẹt, xin Ðạo Sư từ bi
hỷ xả tháo gỡ cho. Thú thiệt, người phụ nữ này quan hệ
thế nào với Ngài?
- Cô
ấy là ân nhân, là nữ đại thí chủ của ta.
- Ðạo
Sư, vì sao phụ nữ thường là ân nhân của chư Phật?
- Vì
nguyện lực thiết tha của họ.
- Ðạo
Sư, liệu một phụ nữ có thể trở thành ân nhân bằng nguyện
lực như thế ngay trong lúc này?
- Dĩ
nhiên!
- Thế
thì, bạch Ðạo Sư, con xin cúng dường vật thực cho hàng
ngàn Sa môn trong bảy ngày.
- Lành
thay!... Lành thay!...
Suốt
bảy ngày, bà tịnh tâm cúng dường thức ăn, nước uống
cho Tăng đoàn. Ðến ngày thứ bảy, bà gieo người đảnh lễ
dưới chân Ðạo Sư và tỏ lời thiết tha phát nguyện:
Kính
bạch Ðạo Sư, con cúng dường lễ vật không phải vì phước
báo chư thiên mà chỉ nguyện được chút phước điền trong
tay Phật tổ như Ðạo Sư vậy. Ước sao con là mẫu thân của
một Ðức Phật tương lai. Con là tín nữ trung kiên hàng đầu
tận tâm cung hiến y phục, vật thực, phòng xá, thuốc thang
cho Ðức Phật đó.
Bỗng
dưng một ý nghĩ chợt đến với Ðức Ðạo Sư: “Liệu ước
nguyện thiết tha như vậy có được thành tựu?” Và sau một
thoáng quán chiếu tương lai, Ngài nói:
- Ngàn
vạn kiếp sau sẽ có Ðức Phật hiệu Gô-ta-ma (Gotama) ra đời.
Lúc đó cô là một nữ cư sĩ chánh tín Tam bảo, tên là Minh
Nguyệt. Cô sẽ có dịp trang trải công đức, thiết lập phước
điền nơi tay Thế Tôn. Cô sẽ là mẫu thân của Ngài. Cô
sẽ là tín nữ hàng đầu nguyện dâng tứ sự cúng dường
cho Ngài.
Và
tất nhiên là ước vọng của bà sẽ được thành tựu viên
mãn. Bà qua đời, tái sanh vào thế giới chư thiên. Ðến khi
mãn phần thoát kiếp, bà lại được đầu thai dưới danh
hiệu công chúa thứ bảy, út nhất nhưng cũng được cưng
chiều nhất của quốc vương Ka-xi (Kàsi), nhằm thời Ðức
Phật Ca Diếp (Kassapa). Lớn lên, bà được phụ hoàng và mẫu
hậu xây dựng gia thất, theo chồng lập nghiệp, và cũng suốt
đời lễ Phật, công quả, cúng dường Tam bảo với các chị
em khác trong gia đình.
Một
hôm, bà đảnh lễ Ðức Ca Diếp và phát lời thệ nguyện:
- Kính
bạch Tôn Sư, ước sao con là mẫu thân của một Ðức Phật
tương lai như Tôn Sư vậy. Con là tín nữ trung kiên hàng đầu
nguyện dâng tứ sự cúng dường cho Ðức Phật đó.
Và
sau khi hoàn tất hạnh nguyện một đời, bà lại được hóa
kiếp thành ái nữ của lão gia tỷ phú Ða-nan-ja-da (Dhananjaya).
Thế là những chuỗi ngày vun bồi phước huệ, thanh tẩy thân
tâm, thân cận thiện hữu lại tiếp tục gắn liền với bà.
- Vậy
đó, này các thầy Tỳ kheo.- Thế Tôn lập lại. Tín nữ
đâu có hát. Chỉ vì tâm nguyện viên thành nên lòng mừng
reo lên thành lời đấy thôi.
Rồi
Ðức Phật kết luận:
- Này
các thầy Tỳ kheo, từ nhiều loại hoa khác nhau, người làm
hoa gom chúng thành từng đống, rồi kết chúng thành từng
tràng, tạo thành những vòng hoa rực rỡ sắc màu, đậm đà
hương vị. Tâm trí của Minh Nguyệt cũng vậy: nhiều kiếp
huân tu, tận lực công quả.
Ngài
mỉm cười, đọc kệ:
Nhiều
tràng hoa được kết,
Từ
những đóa hoa tươi,
Thân
sanh diệt kiếp người,
Phải
làm nhiều việc thiện.
(PC.
53)