Phần
9
HƯƠNG
NGƯỜI ƯƠM ÐỨC HẠNH
NGƯỢC
GIÓ BAY MUÔN PHƯƠNG
Tương
truyền rằng một đêm nọ, trong lúc hành thiền, nhứt tâm
đại định, Trưởng lão A Nan lại nảy ra ý nghĩ như sau:
- Thế
Tôn có ba loại hương ưu việt, gọi là đàn hương, căn hương
và hoa hương. Tuy nhiên, loại hương nào cũng bay theo chiều
gió. Vậy thì có loại hương nào bay ngược chiều gió, hoặc
có loại hương nào vừa thuận theo gió, vừa bay ngược gió?
Sau
đó một ý nghĩ khác cũng chợt đến với Trưởng lão:
- Một
mình ta ra sức giải đáp vấn đề này thì phỏng có ích gì!
Ta sẽ tham vấn Ðức Bổn Sư, và chỉ có Ngài mới đủ trí
tuệ diễn giải nghĩa lý.
Trưởng
lão đến gặp Bổn Sư, trịnh trọng thưa rằng:
- Bạch
Thế Tôn, theo con biết thì có ba loại danh hương: đàn hương,
căn hương và hoa hương, nhưng loại hương nào cũng bay theo
chiều gió. Vậy thì, bạch Thế Tôn, có loại hương nào vừa
thuận theo gió, vừa bay ngược gió?
- Này
A Nan, Thế Tôn đáp, thường thì loại hương nào cũng bay theo
chiều gió, nhưng có một loại hương đặc biệt, loại hương
thù thắng, vừa thuận theo gió, vừa bay ngược gió.
- Nhưng...
bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn giải thích thêm loại hương nào
vừa thuận theo gió, vừa bay ngược gió.
- Này
A Nan, hãy lắng nghe:
Nếu
ở bất cứ thôn làng hay thị tứ nào trên cõi đời này mà
có người, bất luận nam nữ già trẻ, chí tâm quy y Phật,
quy y Pháp, quy y Tăng; suốt đời giữ vững năm giới, tức
là không sát sanh hại mạng, không cướp đoạt trộm cắp,
không gian díu tà hạnh, không bịp bợm dối trá, không rượu
chè nghiện ngập; người như thế nhứt định sẽ có được
hương vị siêu việt, vừa thuận theo gió, vừa bay ngược
gió.
- Này
A Nan, Thế Tôn tiếp:
Nếu
ai nuôi dưỡng đức hạnh,
Thuận
theo nếp sống chân thành,
Quyết
tâm xả ly tham dục,
Ðoạn
tuyệt thành kiến, ghét ganh.
Nếu
ai khoan dung, khoáng đạt,
Vị
tha, bố thí, tu thiền,
Thân
cận Sa môn phạm hạnh,
Tụng
kinh, bái sám tinh chuyên.
Nếu
ai tán dương ân đức,
Chư
Phật Bồ Tát mười phương,
Nỗ
lực chu toàn hạnh nguyện,
Khuyên
người nương tựa Pháp vương.
- Này
A Nan, nếu tại thôn làng hay thị tứ nào có thiện nam tín
nữ thiết tha làm được những việc nêu trên, thì đó chính
là hương vị siêu việt, vừa thuận theo gió, vừa bay ngược
gió.
Thế
Tôn đọc kệ:
Hương
các loại hoa thơm,
Không
thể bay ngược gió,
Hương
người đức hạnh đó,
Ngược
gió bay muôn phương.
Hương
chiên đàn, già la,
Hương
sen và vũ quý,
Ngần
ấy loại hương vị,
Không
sánh bằng giới hương.
(PC.
54, 55)
Dừng
lại trong giây lát, Ðức Thế Tôn hỏi:
- A
Nan, thầy hết thắc mắc rồi chứ?
- A
Di Ðà Phật! Bạch Thế Tôn, nghe Thế Tôn diễn giải con càng
thấm thía ấn tượng: “... xuất quảng trường thiệt tướng
biến phú tam thiên đại thiên thế giới...”
- Thế
Tôn mỉm cười.
- A
Nan đứng lên đảnh lễ Bổn Sư, lui ra với tâm trạng lâng
lâng rằng mình có được một Tôn Sư đích thực!
SA
MÔN XÔNG GIỚI ÐỨC HƯƠNG
CHƯ
THIÊN NHÂN LOẠI CÚNG DƯỜNG QUY Y
Một
thời Thế Tôn an trú tại tu viện Trúc Lâm, thành Vương Xá.
Bấy giờ Trưởng lão Ðại Ca Diếp (Mahà Kassapa) ẩn tu trong
hang động Pi-pa-li (Pipphali). Sau bảy ngày đoan thân chánh tọa,
nội quán thâm sâu, đắm mình trong hương vị thiền duyệt,
Trưởng lão đang từ từ xả định thì một ý nghĩ chợt
đến:
- Nếu
như ta khất thực quanh thành Vương Xá thì ...
Bấy
giờ có 500 tiên nữ phát nguyện cúng dường thực phẩm cho
Trưởng lão Ca Diếp, nhưng Trưởng lão từ chối tiếp nhận.
Sáng hôm đó, Trưởng lão mặc pháp phục chỉnh tề, tay bê
bình bát, nhứt niệm ung dung vào thành hóa duyên, hành đạo.
Lúc
đó thiên chủ Ðế Thích (Sakka) cũng muốn dâng lễ vật cúng
dường cho Trưởng lão nên cải dạng thành một thợ dệt
đang kéo sợi với Thiện Sanh (Wellborn), một thiên thần A-tu-la
(Asura), cũng đang mắc thoi, luồn chỉ. Thấy Trưởng lão thả
từng bước uy nghi từ xa đi tới, thiên chủ Ðế Thích vội
vã đứng lên, ra tiếp đón ngài. Ðế Thích ôm bát, mời ngài
vào nhà, bê nước cho ngài rửa tay chân, đoạn đặt thức
ăn sang trọng vào bát, rồi đảnh lễ và ngỏ lời cúng dường.
Bấy
giờ một ý nghĩ thắc mắc lại chợt đến với Trưởng
lão: “Người này là ai mà thần lực siêu việt thế?” .
Và
chỉ trong giây lát, ngài nhận ra gốc tích ngay: “Ðây hẳn
là thiên chủ Ðế Thích” .
Nghĩ
thế, Trưởng lão liền hỏi:
- Vì
sao phải thay hình đổi dạng? Ðừng làm vậy nữa nhé, thí
chủ Mai Danh Kô-xi-da (Kosiya)!
- Bạch
Trưởng lão, chúng con muốn tích lũy công đức; chúng con muốn
vun xới phước điền.
Sau
đó thiên chủ Ðế Thích cáo từ Trưởng lão bằng cách cung
kính đi nhiễu ba vòng quanh ngài theo chiều quay mặt trời,
rồi biến lên không trung với những lời tán dương khinh khoái:
Vui
thay được cúng dường,
Ðệ
tử đấng Pháp vương,
Trưởng
lão Ðại Ca Diếp,
Ngào
ngạt giới đức hương.
Thế
Tôn đang đứng giữa chánh điện Trúc Lâm với Tăng chúng,
nghe lời tán thán vang vọng trong không trung, Ngài nhìn quanh
đại chúng và nói:
- Này
các thầy Tỳ kheo, hãy ngắm nhìn thiên chủ Ðế Thích đang
lượn người trên không kìa!
- Thiên
chủ đang làm gì vậy, bạch Thế Tôn?
- Ðế
Thích đã thay hình đổi dạng, cúng dường phẩm vật
cho Trưởng lão Ðại Ca Diếp, và giờ đây đang hưng phấn
tán dương vang vọng khắp trời.
- Bạch
Thế Tôn, làm sao Ðế Thích biết Trưởng lão mà dâng
lễ vật cúng dường?
- Các
thầy thấy đấy, cả thiên thần lẫn nhân loại đều tỏ
lòng tôn kính và sẵn sàng hiến dâng lễ vật cúng dường
cho Trưởng lão Ðại Ca Diếp.
Nói
xong, Thế Tôn cất lời tán thán:
Tỳ
kheo tu khổ hạnh,
Thường
quán pháp cúng dường,
Như
thuốc nuôi huệ mạng,
Chư
thiên cũng tán dương.
Dừng
lại trong giây lát, Thế Tôn tiếp:
- Này
các thầy Tỳ kheo, chính vì hương vị đức hạnh mà thiên
chủ Ðế Thích thân cận và cúng dường Trưởng lão Ðại
Ca Diếp đó vậy.
Ngài
đọc kệ:
Hương
chiên đàn, già la,
Chưa
phải là thơm phức,
Hương
người có giới đức,
Xông
ngát cả chư thiên.
(PC.
56)
VÀO
CẢNH GIỚI NIẾT BÀN
SIÊU
THOÁT TƯỚNG NHÂN GIAN
Một
thời Trưởng lão Gô-đi-ka (Godhika), sau khi lãnh thọ yếu chỉ
thiền quán từ Ðức Thế Tôn, an tâm lập mệnh, quyết chí
tu hành tại vùng núi đá đen trên đỉnh I-xi-ghi-li (Isigili).
Sư hạ thủ công phu, chuyên tập thiền định, và sau một
thời gian, sư đạt đến cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng
xứ. Vì quá nỗ lực với pháp môn quán niệm nên sức khỏe
Trưởng lão suy giảm: tứ chi mỏi mệt, khí lực hôn trầm;
Trưởng lão sáu lần gia công nội quán nhưng vẫn không thành.
Ðến lần thứ bảy, Trưởng lão vào được chánh định,
thâm nhập cảnh giới Phi phi tưởng. Tuy nhiên, trong lúc
xả thiền, Trưởng lão chợt nghĩ:
- Rồi
đây ta chắc gì có được giây phút tam muội thiền duyệt
như thế này, hay phải bị chi phối bởi các pháp hữu vi giả
hợp, phải bị quay cuồng theo cơn lốc khắc nghiệt của thời
gian. Ta đâu làm chủ được thân mạng tứ đại này. Nó đến
và đi theo chu trình sanh trụ dị diệt. Thà đi sớm theo ý
nguyện của mình thì hơn. Ðợi đến lúc mắt lờ tai điếc,
chân tay quờ quạng, đi đứng xiêu vẹo thì chỉ gặp khốn
nạn!
Thế
là, chỉ trong tích tắc, ý nghĩ đoản mạng vụt đến với
ngài:
- Ðã
đến lúc ta phải nhờ sự trợ giúp của con dao cạo.
Gô-đi-ka
mở hộp, lấy chiếc dao cạo tóc đã ngả màu han rỉ, đem
mài thật bén, đoạn lên nằm ngửa trên sạp gỗ, định
ra tay kết liễu đời mình bằng lưỡi dao trên cổ.
Bấy
giờ
Ma vương, tên ác quỷ, thấy ý định quyết liệt của Trưởng
lão, bèn khởi niệm:
- Sa
môn này đã nghĩ đến công dụng của chiếc dao cạo, và những
ai nắm sẵn nó trong tay như thế thì tình yêu, cuộc sống
và mọi giá trị trên đời đều trở thành vô nghĩa. Họ
đã vượt ra ngoài phạm vi đối đãi. Họ không còn đảo
điên trong cảnh xưng dương tán thán hay hủy báng khinh thường.
Những người như thế hẳn đã chứng quả A la hán, đã đạt
đến trí tuệ siêu việt. Nhưng nếu ta ra sức khuyên can Trưởng
lão từ bỏ ý định giải thoát thân mạng như vậy thì chắc
gì người đã nghe. Phải cầu Ðức Thế Tôn. Chỉ có Ngài
mới hàng phục được ý nguyện của môn đệ Ngài.
Ma
vương liền cải dạng thành một thường dân xa lạ, đến
vái chào Ðức Thế Tôn và cất lời trịnh trọng:
- Hỡi
tráng sĩ vĩ đại, đấng trí tuệ và thần lực siêu phàm,
bậc giải thoát sân hận và sợ hãi, con xin hân hạnh quỳ
dưới chân Ngài.
- Hỡi
Ðạo sư tôn quý, đệ tử Ngài đã siêu thoát sanh tử, nhưng
vẫn suy tư và mong cầu cái chết. Hãy khuyên họ từ bỏ ý
định quyên sinh, nguyện đức từ bi xót thương cứu độ.
- Hỡi
đấng đại giác Thế Tôn, cớ sao môn đệ Ngài tu tập chánh
pháp, nhứt tâm thiền định, nhưng cuối đời vẫn chưa thành
tựu sở nguyện, vẫn chưa được gọi là viên mãn công phu?
Lúc
đó Trưởng lão vừa kéo con dao, Thế Tôn nhận ra Ma vương
ngay, Ngài đọc kệ:
Người
vững tâm tu tập,
Xem
nhẹ tướng nhân gian,
Trưởng
lão đoạn tham ái,
Ðạt
cảnh giới Niết bàn.
Bấy
giờ Thế Tôn cùng nhiều môn đồ theo Ngài đến nơi Trưởng
lão đã ra tay sử dụng con dao. Tên ác quỷ thấy vậy liền
biến thành một cột khói khổng lồ, dày đặc, ra sức tìm
Trưởng lão khắp mọi nơi nhưng không gặp. Hắn loay hoay thắc
mắc:
- Thần
thức của Trưởng lão trụ vào đâu nhỉ?
Ðức
Thế Tôn chỉ cho các Sa môn thấy cột khói dày đặc, nói:
- Này
các thầy Tỳ kheo, Ma vương đang nỗ lực tìm kiếm thần thức
của Thánh tăng Gô-đi-ka. Hắn đang lầm bầm, bực tức đấy.
Nhưng,
như các thầy suy nghiệm, thần thức của Gô-đi-ka không vướng
mắc vào một nơi nào cả. Bởi vì, này các thầy Tỳ kheo,
Thánh tăng Gô-đi-ka đã vào Niết bàn.
Không
tìm ra tông tích thần thức của Trưởng lão, Ma vương cải
dạng thành một hoàng tử, tay cầm chiếc đàn nguyệt làm
bằng loại gỗ hoàng lim, đến gặp Thế Tôn, hỏi:
- Ta
đã tìm khắp mọi nơi: trên trời dưới đất, bốn phương
tám hướng, nhưng không thấy Gô-đi-ka. Sư đã thác sanh vào
cõi nào, thưa Tôn giả?
Thế
Tôn mỉm cười, đọc kệ:
Ai
nỗ lực thiền định,
Quyết
tâm tu vững vàng,
Ngày
đêm vui chánh niệm,
Ðoạn
thân tướng nhân gian.
Trưởng
lão vào Niết bàn,
Nhờ
dứt nghiệp tham ái,
Hàng
phục sạch chướng ngại,
Hết
vướng lụy trần gian.
Vô
cùng thất vọng, tên ác quỷ bỗng buông vội cây đàn, rồi
biến mất với tâm trạng ngổn ngang, nặng trĩu.
Sau
đó Thế Tôn nói:
- Này
ác quỷ, làm sao ngươi tìm ra nơi thần thức của Trưởng
lão Gô-đi-ka an trú?! Trăm ngàn mưu chước, biến hóa như ngươi
cũng không tìm được.
Ngài
đọc kệ:
Những
ai sống đức hạnh,
Cẩn
trọng và trang nghiêm,
Giải
thoát bằng thánh trí,
Ác
ma không thể tìm.
(PC.
57)
THÂN
BẰNG QUYẾN THUỘC ÐẬM ÐÀ
CHỈ
VÌ CUỒNG TÍN MÀ RA OÁN THÙ
Một
thời tại Xá Vệ có hai người bạn thân tình với quý danh
là Thiện Hộ (Sirigutta) và Minh Hóa (Garahadinna). Thiện Hộ
là Phật tử tại gia của Ðức Thế Tôn, còn Minh Hóa là môn
đồ của phái ẩn sĩ lõa thể Ni Kiền Tử (Niganthas). Họ
thường khuyên Minh Hóa mỗi khi gặp Thiện Hộ thì nên gợi
ý thắc mắc:
- Tại
sao bạn hay viếng thăm Sa môn Gô-ta-ma thế? Bạn hy vọng gì
nơi ông ấy? Sao bạn không thân cận và giúp đỡ các Ðạo
sư lý tưởng của ta? Họ không xứng đáng cung kính, cúng
dường sao?
Theo
lời kích động của đám ẩn sĩ lõa thể, Minh Hóa gặp Thiện
Hộ nơi nào cũng đều thốt ra hơi hướng khuyến dụ như
thế.
Một
hôm, thấy không thể im lặng và nhẫn nhục lâu hơn nữa,
Thiện Hộ nói thẳng với Minh Hóa:
- Ông
bạn, lúc nào gặp tôi ông cũng lải nhải ngần ấy chuyện.
Thật không biết ngượng! Những gã đứng đi dồng dỗng,
bẩn thỉu lèo nhèo thế mà ông gọi là tôn sư! Tu hành kiểu
gì mà thấy trơ tráo quá! Bọn họ hiểu biết được gì nào?
- Ồ,
ông bạn, không nên nói thế! Các tôn sư ta trông có vẻ dị
hợm về hình thức nhưng thánh thiện về nội tâm. Họ quán
thông cả quá khứ, hiện tại, vị lai. Họ thấu triệt tư
tưởng, ngôn ngữ và hành động của mọi người. Họ thấy
rõ mọi việc có thể và không thể xảy ra. Nói chung, không
điều gì trên đời mà họ không biết.
- Nếu
đúng như vậy mà không cho mình biết thì bạn quả thật có
lỗi ghê gớm đấy nhé! Thật ra mình cũng đã nghe nói đến
thần thông quảng đại, kiến thức siêu phàm của các tôn
sư bạn. Này, vì tình thân hữu, nhờ bạn vui lòng thỉnh họ
đến đây một chuyến cho thỏa lòng ngưỡng mộ.
Minh
Hóa ấm lòng, đến gặp nhóm ẩn sĩ lõa thể, cung kính vái
chào và thưa:
- Bạch
quý thầy, Thiện Hộ nhờ con cung thỉnh quý thầy trưa mai
đến nhà ông ấy thọ trai.
- Thiện
Hộ đích thân nhờ đạo hữu đấy chứ?
- Vâng
ạ, chính ông ấy.
Ðám
ẩn sĩ thấy đời lâng lâng nhẹ nhõm và hãnh diện nói với
nhau:
- Vậy
là việc đã thành. Thiện Hộ quy phục thì uy tín và lợi
lộc chắc chắn sẽ đến với chúng ta mỗi ngày một thêm
phong phú.
Thiện
Hộ chuẩn bị trai lễ tại nhà, trong một khu vườn rất rộng.
Ông cho người đào một hố dài, đổ đầy phân tro và nước
thải xuống đó; hai bên đầu hố có trồng cọc và căng dây
buộc chặt; rồi hai hàng ghế với hai chân trước trụ trên
mặt đất, hai chân sau gác trên dây thừng được đặt dọc
theo hai bên miệng hố để khi bọn ẩn sĩ vừa ngồi chạm
ghế là chúng bị bật ngửa xuống hố liền. Sau đó ông cho
phủ mặt hố bằng một tấm phên mỏng với lớp cây cỏ
được ngụy trang trông như mặt vườn thật. Cuối cùng ông
cho đặt hai hàng lọ sành sứ bóng loáng, nhưng trống rỗng,
và mỗi miệng lọ đều có phủ một lớp vải vàng với ít
cơm, cháo, đường, mật dính trên đó.
Từ
tờ mờ sáng, Minh Hóa hối hả đến nhà Thiện Hộ. Vừa tới
cổng, gã đã lớn tiếng hỏi:
- Sao!...
Trai lễ cúng dường chư tôn đức đã chuẩn bị chu đáo rồi
chứ?
- Vâng
ạ, thưa ông bạn chân tình!
- Ủa!...
Lễ vật và thực phẩm để đâu?
- Trong
các lọ sành sứ kia kìa.
- Ồ!...
Vậy là nghiêm chỉnh, trịnh trọng. Ðúng là một Thiện Hộ
thuần thành, nhân cách!
Sau
đó Minh Hóa khẩn trương đi mời 500 ẩn sĩ lõa thể.
Vừa
thấy họ đến, Thiện Hộ vội vã chạy ra cổng vái chào,
cung kính nghinh đón, và thầm nghĩ:
- Nghe
Minh Hóa nói các ngươi biết rõ quá khứ, hiện tại, vị lai.
Nếu đúng như thật thì các ngươi không nên vào căn nhà này,
vì chả có gì gọi là phẩm vật, trai lễ. Còn nếu như các
ngươi khoái lộng ngôn xảo ngữ, thì cứ vào. Các ngươi sẽ
bị lao đầu xuống hố xí và sẽ bị đánh đòn thê thảm.
Ông
mật lệnh cho một gia nhân khi thấy bọn lõa thể sắp ngồi
xuống ghế thì lẻn ra phía sau tháo lẹ sợi dây thừng buộc
vào đầu cọc.
Sau
đó Thiện Hộ hướng dẫn đám lõa thể vào trai phòng,
và khi họ sắp ngồi thì có người lớn tiếng thưa:
- Xin
từ từ, thưa chư vị tôn sư, để buổi lễ được thêm phần
trang nghiêm, trọng thể, xin mời chư vị đứng ngay trước
chỗ của mình, chờ thí chủ tác bạch rồi cùng ngồi một
lượt.
- Thiện
tai! Thiện tai! Nguyện cầu gia chủ phát tài, phát lộc và
đạo tâm kiên cố. Một giọng nói nho nhỏ từ đám lõa thể
phát ra.
Tất
cả đều đứng theo thứ tự, đợi lời tác bạch.
Một
giọng nói trầm ấm và thanh lịch vang lên:
- Cung
thỉnh chư vị an tọa.
Bọn
ẩn sĩ vừa ngồi chạm ghế thì sợi dây thừng bung ra, tất
cả đều bật ngửa xuống hố xí. Thiện Hộ cho đóng cửa
lại, lôi từng tên lên đánh đòn với lời cảnh cáo:
- Từ
nay về sau chừa cái tật huyênh hoang, bịp bợm cho rằng biết
hết mọi chuyện trên đời! Thần thông quảng đại để đâu
mà phải lọt xuống hố xí... hả?
Thiện
Hộ cho mở cửa và đuổi chúng đi, nhưng trước cửa có đổ
nước vôi trơn trượt, bọn chúng lại một phen té ngửa,
té nghiêng, người ngợm be bét, trông phát tởm.
Mọi
người cười ngặt nghẽo, nói:
- Ðấy!...
Biết rõ quá khứ, hiện tại, vị lai mà còn nhào tới, lộn
lui, lồm cồm gớm ghiếc thế.
Bọn
lõa thể vừa gắng gượng bước đi, vừa mếu máo gào thét:
- Mày
hại bọn tao rồi!... Mày hại bọn tao rồi!...
Chúng
hùng hục xông thẳng đến nhà Minh Hóa.
Thấy
tình trạng nhục nhã, thê thảm của đám lõa thể, Minh Hóa
cũng hai tay đấm ngực, gào lên:
- Mày
hại tao rồi!... Mày hại tao rồi!... Họ đã chấp tay quỳ
lạy mà mày còn cho người đánh đòn họ đến bầm da tím
thịt. Mày đã bẫy các bậc tôn sư minh triết, ân ích phước
điền của tao xuống hố xí như thế mà chưa hả dạ sao!...
Mày ác lắm Thiện Hộ ơi!... Tao sẽ kiện cho mày mang gông
mục cổ. Mày hãy mở to mắt ra mà xem!
Minh
Hóa đâm đơn kiện. Thiện Hộ bị áp giải đến hoàng triều
và bị quốc vương phạt một ngàn nén bạc vì tội làm nhục
và đả thương nhân mạng.
Thiện
Hộ kháng cáo:
- Muôn
tâu bệ hạ, xin bệ hạ điều tra sự thể rồi hạ lệnh
trừng phạt cũng chưa muộn. Thảo dân lãnh án chỉ khi nào
tâm phục, khẩu phục. Mong bệ hạ minh xét!
Sau
đó Thiện Hộ kể hết mọi chuyện xảy ra. Quốc vương nổi
nóng truyền lệnh phạt tiền và đánh đòn Minh Hóa chung với
bọn lõa thể về cái tội phao tin đồn nhảm, phàm phu ngu
dốt mà tự xưng thánh hiền!
Bị
phạt, bị đòn, Minh Hóa cố dằn lòng nuốt nhục, và đoạn
tuyệt dao du với Thiện Hộ một thời gian. Nhưng rồi,
một hôm, hắn bỗng thấy từ thâm tâm lóe ra một tia chớp
phục thù, rửa hận. Hắn ra vẻ tự tin, hy vọng, vừa đi
vừa huýt gió thẳng đến nhà Thiện Hộ.
Vừa
gặp Thiện Hộ, hắn đưa tay ra bắt và nhỏ nhẹ nói:
- Bạn
bè chúng mình vì một chút sơ suất ngoài ý muốn mà đâm
ra lạnh nhạt, xa cách. Thôi, việc đã qua, cho qua. Coi như chúng
mình gặp năm hạn tháng xung vậy. Tình bạn muôn năm nhé!
Cả hai đều cười và siết tay nhau thật chặt.
Rồi
một hôm, Thiện Hộ tâm sự với Minh Hóa:
- Minh
Hóa này, quy ngưỡng đám lõa thể được tích sự gì? Kỳ
vọng gì ở họ? Sao bạn không thân cận, cúng dường Ðức
Thế Tôn và các Sa môn cao quý của ta?
Như
gãi đúng chỗ ngứa, Minh Hóa vồn vã hỏi:
- Ðức
Thế Tôn của bạn hiểu biết thế nào mà khuyên ta thân cận?
- Ồ,
ông bạn, chớ nên nghi ngờ! Không một thứ gì ngoài tầm
hiểu biết của Ðạo sư ta. Ngài thấy suốt quá khứ, hiện
tại, vị lai. Ngài hiểu rõ từng ý nghĩ của vạn loại hữu
tình.
- Ồ,
nếu đúng như vậy thì... sao lâu nay bạn không cho ta biết!
Này, nể chỗ thân tình, nhờ bạn thỉnh Ðức Thế Tôn và
500 Sa môn ngày mai đến đây thọ trai.
Thiện
Hộ nhanh chóng đến Kỳ Viên cung thỉnh Thế Tôn và 500 Sa
môn theo sở nguyện của Minh Hóa, nhưng anh cũng không quên
tường trình mọi việc đã xảy ra cho Thế Tôn lượng định.
Ngài im lặng, mỉm cười, thấy rõ mọi chuyện sắp diễn
biến, và thầm nghĩ:
- Những
ai cố tình phá hoại chùa chiền, hủy báng Tăng chúng, tức
cũng đã có duyên với Phật pháp.
Ngài
hoan hỷ nhận lời.
Thiện
Hộ đến gặp Minh Hóa báo tin vui rằng Thế Tôn đã chấp
thuận.
Ðể
rửa sạch vết hằn sỉ nhục, Minh Hóa cho đào một cái hố
lớn, đổ đầy gỗ keo, rồi nổi lửa đốt thành một hầm
than khổng lồ, hừng hực, nhờ sự trợ giúp của hai cây
quạt to tướng thổi vù vù suốt ngày đêm. Trên miệng hố
có thả vài ba thanh cây mỏng, một tấm phên trét đầy
phân bò nhầy nhụa với một ít cỏ rơm lún phún, ngụy trang
khéo đến nỗi khó nhận ra đó đích thị là một hỏa than
địa ngục. Mục đích là khi Tăng đoàn đi qua, các thanh cây
sẽ gãy, và thầy trò Thế Tôn sẽ bị lao đầu xuống hố
lửa.
Ðược
tin tín đồ ngoại đạo thiết lễ trai Tăng cúng dường sư
đệ Ðức Thế Tôn, quần chúng rủ nhau đến xem rất đông.
Kẻ thì bảo để ngắm thân tướng trang nghiêm của Tăng đoàn;
người thì muốn chờ xem Thế Tôn thuyết pháp và biểu lộ
thần lực.
Sáng
hôm đó, Thế Tôn và 500 Sa môn y bát chỉnh tề, thiền hành
từng bước thẳng đến nơi trai lễ. Vừa thoáng thấy dáng
Ðức Thế Tôn, Minh Hóa vội vã chạy ra ngõ cung kính đón
chào và thầm nghĩ: “Nghe Thiện Hộ nói ngươi thấy suốt
quá khứ, hiện tại, vị lai, và hiểu rõ mọi ý nghĩ của
vạn loại hữu tình. Nếu đúng như vậy thì các ngươi chớ
nên vào căn nhà này, vì chả có gì gọi là phẩm vật, trai
lễ, mà chỉ có lọt xuống hỏa khanh và bêu danh ô nhục”
.
- Nghĩ
thế, Minh Hóa thấy lòng dạ rọ rạy, bèn xin bê bình bát
Ðức Thế Tôn và cung thỉnh Tăng đoàn đi hàng ngang vào trai
đường. Mục đích là để thầy trỏ Thế Tôn cùng lọt xuống
hố lửa một lượt cho bỏ lòng căm tức.
Nhưng,
với Phật nhãn quán chiếu, Thế Tôn ra hiệu tất cả đứng
lại, một mình Ngài đi thẳng đến hố lửa, đưa một chân
đặt lên miệng hầm, và những đóa hoa sen to bằng bánh xe
từ từ nhô lên khỏi mặt nước trong xanh, tỏa hương ngào
ngạt. Thế Tôn lên ngồi trên một bông sen, Tăng chúng ngồi
chung quanh trên những cánh sen bên dưới, tạo thành một tòa
sen uy nghi, sừng sững giữa hồ. Thế là hầm lửa biến thành
hồ sen, oan gia biến thành thiện hữu.
Minh
Hóa đến quỳ lạy trước tòa sen, sụt sùi khóc, xin Thế
Tôn và Tăng chúng hỷ xả cho cái tội vô minh, ngu muội: có
mắt như mù, có tai như điếc, không nghe thấy được uy lực
nhiệm mầu của đấng đại giác Thế Tôn.
- Ðược
rồi! .- Thế Tôn nói. Ði bê hết các lọ sành sứ tới đây.
Minh
Hóa vâng lời và trố mắt kinh ngạc, thấy lọ nào cũng đầy
ắp thực phẩm: cơm, cháo, bơ, sữa, mạch nha, bánh ngọt và
những thức ăn tinh khiết khác.
Với
tín tâm tuyệt đối, Minh Hóa đảnh lễ Ðức Thế Tôn, xin
quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, và hiến dâng toàn bộ tài
sản cho giáo hội.
Thế
Tôn ngỏ lời hồi hướng công đức:
Chưa
ngộ đạt pháp nhãn,
Khó
thấy công đức sanh,
Oán
thù nội kết dứt,
Phước
- trí tự nhiên thành.
Dừng
lại trong giây lát, Ngài đọc kệ:
Giữa
đống rác bẩn thỉu,
Vất
bỏ bên đường hoang,
Hoa
sen thơm ngào ngạt,
Ðẹp
lòng khách qua đàng.
Cũng
vậy giữa nhân gian,
Ngập
tràn rác trần thế,
Ðệ
tử bậc chánh giác,
Soi
sáng khắp quần mê.
(PC.
58, 59)
Thế
Tôn vừa dứt lời thì Thiện Hộ và Minh Hóa liền chứng quả
Tu đà hoàn. Mọi nguời có mặt đều xin quy y và hân hoan được
Thế Tôn trao truyền giáo pháp.
PHÓNG
TÂM THEO DỤC LẠC
NHÀU
NÁT CẢ KIẾP NGƯỜI
Truyện
kể rằng nhân ngày lễ hội, quốc vương Kô-xa-la (Kosala),
Ba Tư Nặc ngồi uy nghi trên lưng con bạch tượng Pun-đa-ri-ka
(Pundarìka) được trang hoàng lộng lẫy với nghi thức vương
triều cực kỳ hoa lệ diễu hành qua khắp kinh thành để quyên
góp phẩm vật, thực tập giới hạnh và tích lũy công đức.
Trên
sân thượng của một cao ốc nọ, có một thiếu phụ mở
cửa sổ, đứng ngắm quốc vương trong giây lát rồi từ từ
khép lại tấm màn, khiến quốc vương cứ tưởng ánh trăng
rằm đã bị áng mây vô tình che khuất. Quả thật quốc vương
say đắm thiếu phụ đến nỗi suýt nữa lộn nhào xuống lưng
voi. Vội vã kết thúc chuyến phổ nguyện phước điền, quốc
vương quay về hoàng cung, gọi một cận thần đến hỏi:
- Này,
khanh có thấy tòa cao ốc mà ta đứng ngắm một lát đó không?
- Thưa
có, tâu hoàng thượng.
- Khanh
có thấy một thiếu phụ nào ở đó không?
- Thưa
có, tâu hoàng thượng.
- Thế
thì hãy đi xem coi người ấy đã có gia đình hay chưa.
Sau
khi tìm hiểu sự thật, vị cận thần về gặp quốc vương
và tâu rằng:
- Tâu
hoàng thượng, cô ấy đã có chồng.
- Thật
sao! Vậy thì hãy triệu gấp chồng hắn đến đây.
Vị
cận thần đến gặp phu quân thiếu phụ, truyền lệnh quốc
vương, và đưa cậu ta về hoàng triều.
Ðầu
óc hoang mang lo lắng. Biết có vợ đẹp là tai họa khó lường,
nhất là trong thời đại hôn quân bạo chúa. Nhưng mấy ai
trên đời mà không ham mê vợ đẹp! Cậu đành nhắm mắt
đưa chân, chấp hành vương pháp, theo quan thẳng đến hoàng
cung, khấu đầu thi lễ quốc vương, rồi đứng sang một bên
đợi lệnh.
Quốc
vương lạnh lùng phán:
- Từ
nay về sau ngươi là gia nhân của trẫm.
- Hoàng
thượng vạn tuế. Xin đội ơn hoàng thượng. Nhưng thảo dân
đã quen với nếp sinh hoạt thường nhựt, sớm tối bên cạnh
vợ con trong cảnh thái bình thịnh trị như thế này là vạn
hạnh lắm rồi, xin hoàng thượng tha cho!
- Ta
sẽ cấp phát bổng lộc cho ngươi đúng phép.
- Muôn
tâu hoàng thượng, thảo dân không dám, xin hoàng thượng tha
cho!
- Im
đi, từ giờ phút này ngươi là gia nhân của trẫm.
Quốc
vương trao cho gã một cái mộc, một thanh gươm, và đó là
thâm ý của nhà vua: “Ta sẽ đổ tội cho hắn, giết hắn,
và rồi chiếm đoạt vợ hắn” .
Run
sợ trước cái chết ập đến bất cứ lúc nào, anh chồng
khốn nạn kia phát nguyện hết lòng hết dạ hầu hạ quốc
vương.
Ngọn
lửa dục lạc trong lòng quốc vương cứ mỗi lúc một dâng
lên ngùn ngụt mà vai trò trách nhiệm của tên gia nô chưa
hề thất thố. Cuối cùng, để có được giai nhân, thỏa
mãn dục vọng, nhà vua hạ thủ theo kế sách ném đá dấu
tay bằng cách gọi tên gia nô đến, truyền lệnh:
- Này,
cách đây một dặm có một dòng sông quý hiếm, gọi là huyết
mạch của trời đất ban cho; hãy đến đó hái một ít bông
súng xanh trắng và cạy một ít đất sét đỏ vàng đem về
cho trẫm xông tắm tối nay. Về trễ là mất mạng đấy!
Rùng
rợn trước cái chết chờn vờn, cậu về nhà hỏi vợ:
- Em
ơi, cơm nấu chưa?
-
Ðang sôi trên bếp đó.
Khỏi
đợi cơm chín, cậu múc đại vài vá cho vào cái thố với
chút cà ri, xong đậy nắp, bỏ vào một túi lát, túm lại,
rồi hối hả lên đường thi hành vương lệnh.
Ðến
nơi, vừa bày cơm ra trên bờ sông thì thấy ngay một bà lão
cũng có vẻ đói khát như mình, cậu mời khách cùng dùng
bữa. Khi ăn xong, cậu vét một nắm cơm quăng xuống sông cho
cá và lớn tiếng khấn rằng:
- Nguyện
sơn thần hà bá, địa mẫu thủy long chứng giám cho lòng con.
Quốc vương cố tình vu oan giáng họa nên bắt con đày đọa
thế này. Trời ơi! Biết bông súng, đất sét đâu mà tìm!
Xin chư vị thiện thần giúp con với, hu... hu...!
Nhờ
chút tình thơm thảo: thương tưởng kẻ lỡ đường, san sẻ
với cá tôm, long vương động lòng, cải dạng thành một cụ
ông, đến gặp cậu, nói:
- Này,
thấy cậu có lòng vị tha, thật thà chơn chất, lực tận
thế cô; thôi, để ta giúp cho một tay.
Ông
cụ trao cho cậu một bó bông súng xanh trắng và một gói đất
sét đỏ vàng rồi đi mất.
Ở
hoàng cung, quốc vương thầm nghĩ: “Trên đời có nhiều phương
tiện sinh hoạt lắm. Nếu như hắn thực hiện đúng lời ta
phán thì sẽ hỏng bét mục tiêu” .
Thế
là nhà vua cho đóng cửa lại và cất giữ chìa khóa.
Cậu
gia nô mang hoa và đất sét về hoàng cung, thấy cửa bị khóa
chặt, kêu gọi mãi mới có người lên tiếng, và được biết
đó là nghiêm lệnh của quốc vương: không ai được phép
ra vào lúc này. Niềm vui vụt tắt, cái chết chờn vờn, cậu
thả gói đất sét xuống thềm, máng bó hoa lên cánh cửa,
và kêu lớn lên:
- Hỡi
bà con cô bác, hỡi huynh đệ nghe đây, hãy làm chứng cho thảo
dân này. Nô bộc đã thực hiện đúng mệnh lệnh của
quốc vương. Vậy thì quốc vương không còn lý do khép tội
tru diệt nô bộc này nữa. Xin bà con dân chúng minh oan cho kẻ
hèn này. Xin cảm ơn! Xin cảm ơn!
Cậu
kêu lên ba lần như thế, rồi bơ vơ ngơ ngác chẳng biết
về đâu, đành phải lững thững đi thẳng đến tu viện.
Vâng, chỉ có các thầy, những người đã xả ly xan tham, lập
hạnh giải thoát, mới giàu lòng lân mẫn cho cậu tá túc qua
đêm.
Ðêm
đó nhà vua không sao ngủ được. Toàn thân như bị thiêu đốt
bởi ngọn lửa dục vọng chiếm đoạt vợ người. Ác tâm
vụt đến, oan nghiệt bùng lên, quốc vương quyết định sáng
hôm sau hạ sát tên gia nô, mật đưa thiếu phụ về nơi cung
điện.
Vì
dục tình rạo rực, quốc vương không sao chợp mắt. Toàn
thân nóng ran như lên cơn sốt. Miệng khô, đầu choáng, tai
nghe vo vo như có muôn ngàn âm thanh đục khoét. Hoảng quá,
nhà vua cho triệu đạo sĩ hoàng triều sáng hôm sau đến ngay
để giải trình hiện tượng.
Vừa
đặt tay lên trán quốc vương, đạo sĩ hỏi:
- Tâu
hoàng thượng, hoàng thượng đã nghe những gì nào?
- Ôi,
loạn xạ: ù ù... vo vo... xèo xèo..., nhức óc lắm! Hãy xem
thử điềm gì?
Tối
tăm mù mịt, chả biết nguyên do, nhưng nếu không có đôi
lời bí hiểm theo kiểu chiêm tinh giải mộng thì còn
gì là thanh danh uy tín của bậc cố vấn đương triều về
mặt siêu hình. Gã đạo sĩ Bà la môn tỏ vẻ đăm chiêu giây
lát, rồi trịnh trọng nói:
- Muôn
tâu hoàng thượng, xin hoàng thượng bình tĩnh, nguy kịch rồi!
E rằng thọ mạng của hoàng thượng ...
- Sao?...
Cứ nói thẳng, đừng ngần ngại!
- Dạ...
vận số của hoàng thượng!...
- Không
có cách nào thiên giải được sao?
- Dạ...
khó quá!... À, còn một cách. Ðược rồi!... Tâu hoàng thượng.
- Cách
gì? Ánh mắt quốc vương bỗng lóe sáng lên.
- Tâu
hoàng thượng, chỉ còn cách tìm cho đủ các loài sinh vật
như voi, ngựa, bò, dê, heo, cừu, gà, vịt; mỗi thứ 100 con,
đặc biệt là 100 gái đồng trinh và100 trai tú lệ để dâng
hiến thần linh. Chỉ còn cách đó là thọ mạng diên niên,
phúc lộc nồng hậu cho hoàng thượng.
Suy
nghĩ trong giây lát, quốc vương cả quyết nói:
- Ðược
rồi! Ta phải cứu lấy mạng vị của ta với bất cứ giá
nào.
Thế
là từng toán gia đinh vâng lệnh đi tìm nhân mạng và súc
vật mang về đầy vườn, tiếng gầm rú than khóc vang lên
cả một góc trời.
Chợt
nghe thấy cảnh ồn ào náo loạn, người vật ngổn ngang, hoàng
hậu Ma-li-ka (Mallikà) đến gặp quốc vương, hỏi ra sự thể
mới thấy rõ đầu óc cuồng tín của bọn ẩn sĩ Bà
la môn. Hoàng hậu trách khéo quốc vương:
- Hoàng
thượng, quả thật thần thiếp không sao hiểu nổi! Ðường
đường là một đấng minh quân, thống lãnh muôn dân,
cai trị xã tắc, trí tuệ thần lực như vầng thái dương,
vậy mà nỡ tin theo lời luận bàn nhảm nhí của bọn ẩn
sĩ ngu muội đó sao?! Không thể bảo tồn thọ mạng của mình
bằng cách hủy diệt sinh mệnh của kẻ khác. Hoàng thượng
anh minh, hãy đến đảnh lễ Ðức Thế Tôn, bậc Ðạo Sư
của nhân thế, xin Ngài lời khuyên và làm theo lời Ngài.
Như
khát được nước, như đói được cơm, quốc vương hớn
hở theo hoàng hậu đến tu viện, đảnh lễ Thế Tôn, rồi
cung kính đứng sang một bên.
Thế
Tôn đáp lễ, hỏi:
- Quốc
vương và hoàng hậu đến đột xuất thế này chắc có chuyện
cần.
Thấy
hoàng thượng đứng trân trân, hoàng hậu đỡ lời:
- Bạch
Thế Tôn, chắc hoàng thượng còn bị ám ảnh bởi cái chết
mà ẩn sĩ Bà la môn đã gán cho hoàng thượng.
Sau
đó hoàng hậu kể hết mọi chuyện xảy ra ở hoàng cung, nhất
là việc hiến tế sinh mạng cho thần linh để cầu trường
thọ, và việc tai vua bị khuấy động bởi những âm thanh
quái dị.
Nghe
qua, Thế Tôn im lặng trong giây lát, đoạn Ngài mỉm cười,
nói:
- Ðại
vương, không thể hủy diệt một sinh mạng hay nhiều sinh mạng
để có được một sinh mạng. Mọi hiện tượng trên đời
đều có mối quan hệ nhân quả và hữu cơ với nhau. Những
âm thanh loạn động trong tai đại vương chính là thanh sắc
đau thương của kẻ đã gây nhiều lầm lỗi. Ðại vương
không chết. Hãy bảo trọng long thể!
- Bạch
Thế Tôn, họ đã làm gì mà sanh ra những âm thanh quằn quại
như thế?
- Vậy
thì hãy lắng nghe, đại vương và hoàng hậu.
*
*
*
Từ
thuở xa xưa, cách đây hai vạn năm, có Ðức Thế Tôn Ca Diếp
(Kassapa) ra đời. Ngài thường cùng với hai vạn Sa môn đã
đoạn trừ kiết sử vân du giáo hóa chúng sanh tại thành Ba
La Nại. Dân chúng ở đây hiền hòa và rất tín tâm Tam bảo.
Họ thường liên kết với nhau thành từng nhóm năm ba người,
đem y phục lễ vật cúng dường thánh chúng. Bấy giờ có
bốn thương gia trong thành giàu sang phú quý đến nỗi không
biết phải chi tiêu tiền bạc thế nào cho bỏ thuở hàn vi.
Một hôm, nhân lúc thù tạc cao hứng, một người gợi ý:
- Này,
các bạn, chúng ta có chút duyên lành, làm ăn tương đối phát
đạt; nôm na là... nhìn lên cũng chẳng hơn ai, đến khi nhìn
xuống chẳng ai bằng mình. Ðể tình thâm giao càng thêm bền
chặt, ruộng phước bốn mùa kết trái đơm bông, xin
đề nghị rằng chúng ta nên cùng nhau dành mỗi tháng một
ít tiền hay phẩm vật cúng dường Thế Tôn và đại chúng,
những người đã đoạn trừ tham dục, tình nguyện suốt đời
kham khổ tu hành. Quý huynh thấy thế nào?
- Anh
sao, mệt quá! .- Một người lên tiếng. Khéo lo con bò trắng
răng. Mũi ai nấy thở. Có làm thì mới có ăn, không dưng ai
dễ mang phần đến cho. Ðó là lẽ công bình trong trời đất.
Lao động vất vả thì được nếm mùi tự do. Nào, dzô!...
- Ðúng
rồi! .- Người thứ ba phát biểu. Dại gì làm tôi mọi cho
ai. Một cắc một xu không phải là tiền, không phải là mồ
hôi nước mắt, không phải là thành quả của tính toán tư
duy! Còn khuya mới bố thí cúng dường. Gạo thơm nếp dẻo
chỉ dành cho những ai nỗ lực với đời.
- Chí
lí! người thứ tư tiếp. Các cậu thấy đấy, của cải không
phải tự dưng mà có. Chúng ta đã phải đổ mồ hôi sôi nước
mắt mới được ngày hôm nay. Hưởng thụ là hợp lý. Còn
việc người ta, dại gì bận tâm cho khổ.
Từ
đó về sau, họ đua nhau lên mặt, vung vít tiền bạc qua các
thanh lâu tửu điếm. Họ đã vung tay phá vỡ biết bao gia đạo
ấm êm. Chỉ vì đam mê sắc dục mà họ đã vong ân bội nghĩa
với gia đình, tổ tiên và xã hội; để rồi cuối cùng, thân
tàn lực kiệt, dật dờ phiêu bạt như khúc gỗ mục
lăn lóc ra khơi. Họ đã bị đọa vào địa ngục A tỳ sau
khi chết, và chịu nhiều ngục hình thống khổ triền miên.
Xúc
động trước lời pháp thoại của Ðức Thế Tôn, quốc vương
thầm nghĩ:
- Tà
tâm tà hạnh quả thật là trọng tội. Chỉ vì một chút ham
mê dục lạc, cướp đoạt vợ người mà đầu óc ta đâm
ra đen tối, bức bách trong lòng đến nỗi cả đêm không sao
chợp mắt. Từ nay về sau ta phải tu tỉnh thế nào để xứng
đáng là một Phật tử trung kiên, một quốc vương trí tuệ,
uy dũng và nhân đức.
Ðoạn
quốc vương chấp tay xá Ðức Thế Tôn và thưa rằng:
- Bạch
Thế Tôn, từ lúc cha sanh mẹ đẻ đến nay con mới biết thế
nào là đêm dài. Bấy giờ, cậu gia nhân suýt bị thiệt mạng
đang đứng bên cạnh quốc vương, nghe lời tâm sự của người
mà thấy lòng mình se lại, bèn sụp lạy Ðức Thế Tôn, mếu
máo thưa:
- Bạch
Thế Tôn, hôm nay quốc vương hiểu rõ thế nào là đêm dài.
Hôm qua bản thân con cũng chiêm nghiệm được thế nào là
đoạn đường thiên lý.
Kết
hợp hai ý, Thế Tôn mỉm cười, nói:
Quốc
vương thấy đêm dài,
Anh
này thấy đường xa,
Tâm
trí thường dao động,
Biết
bao giờ tỉnh ra.
Và
Ngài đọc kệ:
Mất
ngủ thấy đêm dài,
Mệt
nhoài thấy đường xa,
Kẻ
ngu luân hồi mãi,
Chánh
pháp biết đâu là!
(PC.
60)
Quốc
vương liếc nhìn hoàng hậu ra hiệu đảnh lễ Ðức Thế Tôn,
rồi cả hai cáo từ Ngài, trở về hoàng cung trả tự do cho
người và vật đã bị bắt giữ. Súc vật thì tung hứng chạy
nhảy, còn đám nam nữ thanh niên thì trương cổ hò reo, đấm
tay lên trời hô lớn: “Hoàng hậu Ma-li-ka muôn năm! Hoàng
hậu Ma-li-ka muôn năm! Nhờ ân đức của người mà chúng con
được tha mạng!”
Tối
hôm đó, sau giờ tịnh niệm, đại chúng ngồi lại trong chánh
điện, phiếm luận sự việc đã diễn ra trong ngày. Họ bảo
Ma-li-ka là một Phật tử thâm tín Tam bảo, nhờ đức hạnh
và trí tuệ của hoàng hậu mà bao nhiêu mạng sống khỏi bị
chết oan. Ðức Thế Tôn, nghe các thầy nhỏ to góp ý trong
chánh điện, từ thiền thất vào ngồi ngay giữa pháp tòa,
tươi cười hỏi:
- Các
thầy chưa về phòng nghỉ sao? Có gì mà trịnh trọng thế?
- Bạch
Thế Tôn, Thượng tọa quản chúng thưa, chính nhờ đức đại
từ bi năng hỷ xả của hoàng hậu Ma-li-ka mà bao nhiêu sinh
mạng kia còn hít thở được khí trời. Hy hữu thay!
- Này
các thầy Tỳ kheo, Phật tử chân chính thì lúc nào cũng trải
rộng tình thương và tôn trọng sự sống. Ma-li-ka khéo léo
vận dụng đức hạnh và trí tuệ nên đã cứu được vô
số sinh mạng trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Từ bi
và trí tuệ là nền tảng vững mạnh của đạo nghiệp ta
đó.
- A
Di Ðà Phật. Ðại chúng chấp tay xá Thế Tôn, rồi cùng theo
Ngài về phòng riêng ngủ nghỉ.