Phần
10
CHỈ
VÌ LÒNG NẶNG XAN THAM
NGU
SI TỰ ÁI ÐỐT AM THẤT THẦY
Truyện
kể rằng khi an trú tại động Pi-pa-li (Pipphali), trưởng lão
Ma Ha Ca Diếp (Mahà Kassapa) có hai chú đệ tử theo hầu. Một
là Ssa di Chí Tịnh, tíùnh tình chơn chất, trung hậu đảm
đang; hai là Sa di Chí Ðộng, nói năng liến thoắng, tánh khí
thất thường. Chí Ðộng hay lánh nặng tìm nhẹ, thường cướp
công Chí Tịnh bằng những lời lẽ ngọt ngào, khéo léo với
Bổn Sư. Như mỗi khi thấy Chí Tịnh đem nước vào phòng tắm
thì Chí Ðộng liền đến gặp Trưởng lão, thưa:
- Bạch
Thầy, mời Thầy đi tắm, có nước rồi ạ!
Thấy
Chí Ðộng lanh tay lẹ mắt, thường ba hoa khoác lác, lập công
lấy điểm với Thầy bằng những hành vi thiếu trung thực.
Chí Tịnh nghĩ cách chơi khăm cho bỏ ghét. Một hôm, chờ Chí
Ðộng ngủ say, Chí Tịnh đun sôi một ấm nước đầy, xong
đổ nước vào nồi và bê ra giấu ở nhà sau, chỉ để lại
một ít trong ấm, rồi ra sông tắm.
Vừa
mới thức dậy, thấy bếp lửa sắp tàn với ấm nước còn
bốc khói bên cạnh, Chí Ðộng đoán là Chí Tịnh đã nấu
nước và bê ra nhà tắm. Thế là cậu hối hả chạy đến
gặp Bổn Sư, chấp tay cúi đầu thưa với vẻ trịnh trọng:
- Bạch
Thầy đi tắm ạ! Nước đã bê vào nhà tắm rồi.
Sau
đó cậu cùng đi với Thầy. Nhưng vào nhà tắm không thấy
nước, Trưởng lão hỏi:
- Ủa,
nước đâu? Ðiệu thiệt là!...
Chí
Ðộng sững sờ ngơ ngác, không biết trả lời bằng cách
nào, bèn hầm hầm đi thẳng xuống nhà bếp để tìm ra manh
mối. Thấy than còn đỏ, ấm còn nóng, nhưng nước đi đâu.
Lạ nhỉ! Trong tích tắc, cậu đoán ra sự thể và gằm mặt
lầm bầm:
- Thằng
ranh này đểu thật! Mi chơi ông hả! Rồi sẽ biết tay tao!
Nhưng biết hắn đi đâu mà tìm để lấy nước cho Thầy tắm,
nghiệt chứ!
Chí
Ðộng đang đứng phân vân trong nhà bếp thì thấy Chí Tịnh
từ ngoài ngõ đi thẳng vào nhà sau, bê nồi nước nóng vào
nhà tắm rồi đến thỉnh Thầy. Trưởng lão bấy giờ mới
vỡ lẽ rằng té ra lâu nay Chí Ðộng lăng xăng cướp công
Chí Tịnh. Sơ tâm nhập đạo, tuổi tác còn non mà đã cơ
tâm thế này thì e rằng khó mà uốn nắn!
Tắm
xong, Trưởng lão cho gọi Chí Ðộng đến, hỏi:
- Lâu
nay điệu thường mời Thầy đi tắm, nhưng Chí Tịnh nấu
nước phải không?
- Chí
Ðộng cúi mặt, không đáp.
- Sao
Thầy hỏi mà điệu không trả lời?
- Bạch
Thầy ... ai nấu cũng vậy thôi, miễn có nước và con mời
Thầy đi tắm là được rồi.
- Thế
thì có lỗi. Ðã là người xuất gia thì phải suy nghĩ và
nói năng chân thật. Ðừng bao giờ đánh cắp công đức và
thành quả của người khác. Hãy đi sám hối Chí Tịnh.
Ðộng
lòng tự ái và xấu hổ với Thầy với bạn, Chí Ðộng thầm
nghĩ: “Chỉ vài giọt nước mà Thầy làm nhục ta trước
mặt mọi người! Không phải xin lỗi sám hối gì với ai cả!
Sống trong hang động, bữa đói bữa no, khổ thấy bà mà làm
như vinh hạnh lắm vậy!
Sáng
hôm sau, Chí Ðộng lánh mặt, chờ Thầy và Chí Tịnh lên đường
hóa duyên, khất thực, cậu vội bê bát đến đứng trước
cửa nhà của một Phật tử thường cúng dường thực phẩm
cho Trưởng lão. Thấy vậy, thí chủ hỏi:
- A
Di Ðà Phật, sao chú đến một mình! Sư ông đâu?
- Dạ!...
Hôm nay Trưởng lão không được khỏe nên bảo tiểu Tăng
đến đây.
- Ðược
rồi, chú chờ một chút nhé!
Thí
chủ đem nhiều thức ăn ra, cho vào đầy bát, chấp tay xá
xá rồi lui vào nhà.
Chí
Ðộng tay trái bê bát, tay phải đưa lên ngực niệm thiện
tai, thiện tai rồi quay lui.
Trên
đuờng về am thất, Chí Ðộng vừa đi vừa ăn hết thực
phẩm cúng dường cho Trưởng lão.
Trưa
hôm đó, thấy Thầy trò được Phật tử cúng dường nhiều
lễ vật, vải vóc, Chí Ðộng càng thêm ấm ức và ngấm ngầm
trây lười ra mặt.
Ngày
hôm sau, vừa thấy Trưởng lão đến trước ngõ, thí chủ
thân quen liền ra chào hỏi:
- A
Di Ðà Phật, mừng quá, Trưởng lão đã khỏe lại rồi!
- Ủa!...
Bần đạo có ốm đau gì đâu mà khỏe lại!
- Vậy
sao!... Hôm qua chú Chí Ðộng bảo Trưởng lão bị ốm, không
đi thiền hành khất thực được. Con đã làm vài món đặc
biệt cúng dường Trưởng lão. Té ra là!...
- Ðược
rồi, được rồi!... Ðể bần đạo hỏi lại xem.
Trưởng
lão nhận lễ vật cúng dường của thí chủ, tụng một thời
kinh ngắn hồi hướng công đức rồi cáo từ, trở về am
thất.
Tối
hôm đó, Trưởng lão cho gọi Chí Ðộng đến, hỏi:
- Thầy
được biết là điệu đi khất thực một mình, có phải vậy
không?
- Chí
Ðộng quỳ gối, chấp tay cúi mặt, không nói.
- Con
đã từ giã gia đình, cách ly cha mẹ, theo Thầy học đạo,
xả ly xan tham, vậy mà con không nghe lời Thầy thì nghe ai!
Ðã là người xuất gia, tu hạnh giải thoát, thì phải thanh
tịnh thân – ngữ – ý. Từ nay về sau con phải thành
thật, không được thọ dụng lễ vật theo danh nghĩa của
người khác, và phải theo Thầy thiền hành khất thực, nghe
chưa?
Chí
Ðộng lạy Thầy ba lạy, xin sám hối, nguyện hứa không dám
tái phạm. Nhưng trong lòng vẫn thấy gai gai, thầm nghĩ: “Hôm
qua, chỉ vì vài giọt nước sôi mà Thầy cho ta là kẻ gian
manh, lường gạt. Hôm nay, chỉ vì dăm ngụm cháo hoa mà Thầy
bảo ta là tên lương lẹo, khinh suất. Hơn nữa, được của
ngon vật quý thì Thầy dành hết cho Chí Tịnh, còn thân phận
mình có ra chi, bị đối xử tệ bạc thế này thì quá đáng.
Ta đã có cách, rồi sẽ biết tay ta!” .
Sáng
hôm sau, Chí Ðộng giả bộ cảm cúm, không đi khất thực
với Thầy, một mình ở nhà lấy búa đập tan nát các vật
dụng sành sứ dùng để nấu nước và đựng thức ăn, xong
sẵn tay phóng hỏa đốt rụi am tranh của Thầy, rồi bỏ trốn.
Và tất nhiên, sau khi mạng vong, loại người như thế chắc
chắn sẽ bị đọa vào địa ngục A tỳ.
Dân
chúng thấy vậy bàn tán:
- Quả
thật là nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà. Từ bi phải đi
với trí tuệ chớ. Sư ông hiền quá, giáo hóa chi thứ
đó!
- Ðúng
là vô minh ngu muội, muôn kiếp trầm luân! .- Một người khác
lên tiếng. Thầy nhỏ nhẹ khuyên dạy mà nó cho là nhục mạ
nhân cách, chà đạp danh dự của nó. Hừ!... Ðồ láu cá.
Ngữ đó bỏ đói cho vêu mỏ!
- Khiếp
thật!... Một cụ ông vụt nói và ứng khẩu ngâm bốn câu
thơ với giọng mỉa mai, buồn buồn:
Sư
sãi sân si đốt phá chùa,
Chỉ
vì đau đáu chuyện hơn thua,
Ôi
đời nguy khốn nhiều gian ác,
Len
lỏi vào ra các cửa chùa.
Mọi
người bật cười nhưng không dấu được nỗi xót xa hiện
qua ánh mắt.
Rồi
một hôm, có một Sa môn từ Vương Xá đến KỳViên thăm Thế
Tôn. Sau khi đảnh lễ Ðức Bổn Sư, vị Sa môn ngồi sang một
bên, Thầy trò hàn huyên tâm sự một lát, Ðức Thế
Tôn hỏi:
- Thế
nào, Tăng chúng và Ma Ha Ca Diếp vẫn khỏe chứ?
- Bạch
Thế Tôn, Tăng chúng sinh hoạt bình thường, Ma Ha Ca Diếp vẫn
khỏe, nhưng... bị một chú điệu phóng hỏa đốt am vì tự
ái về những lời răn dạy của Trưởng lão, rồi trốn mất.
- Ðây
đâu phải là lần đầu tiên cậu ấy lên cơn tự ái về
những lời khuyên dạy của Thầy rồi nổi loạn đốt am,
phá nhà. Trong tiền kiếp cậu ấy cũng đã ra tay hành động
như thế. Ðức Thế Tôn mỉm cười, nói.
- Trời
đất!... Hung bạo vậy sao, bạch Thế Tôn.
Vậy
thì hãy lắng nghe:
*
*
*
Vào
thời xa xưa, khi Bra-ma-đát-ta (Brahmadatta) trị vì tại xứ
Ba La Nại, có một chú chim chóp mào xin-gi-la (Singìla) xây một
cái tổ làm nhà trên rặng Hy Mã Lạp Sơn. Một hôm, trong khi
trời đổ mưa tầm tã thì có một cậu khỉ hối hả nhảy
đến với dáng co ro, run rẩy ra vẻ lạnh lẽo lắm. Vừa nhác
thấy cậu ta, chóp mào liền nheo mắt, lên giọng ngâm:
Này
anh bạn khỉ ta ơi,
Tay
chân đầu mặt giống người thế gian,
Cớ
sao chịu cảnh cơ hàn,
Không
làm nên nổi một gian nhà tồi!
Khỉ
ta tự nhủ: “Ðúng thế! Tay chân ta tương đối giống người
nhưng đâu có trí tuệ như họ mà làm nên nhà cửa, lâu đài”.
Cậu ngước mắt nhìn Xin-gi-la, hạ giọng đáp lời:
Này
anh bạn Xin-gi-la,
Tay
chân đầu mặt của ta giống người,
Chỉ
vì thiếu tuệ thiên tư,
Mà
ra suốt kiếp nương từ rừng xanh!
Chóp
mào thầm nghĩ: “Sống nay đây mai đó, lang thang phiêu bạt,
nhảy nhót liên hồi như ngươi thì làm gì có nhà có cửa
mà an thân lập mệnh. Ðói nghèo rách nát là phải!” . Ðể
cảnh tỉnh ông bạn phóng dật, bất định, chóp mào cất
giọng hơi thẳng thắn:
Khéo
xảo ngôn, phản trắc,
Thiếu
thành tín, buông lung,
Sống
nổi trôi, khinh bạc,
Chuốc
bất hạnh, khốn cùng!
Hãy
nỗ lực hướng thượng,
Từ
bỏ tập quán xưa,
Dựng
túp lều nho nhỏ,
Phòng
bão tố, nắng mưa!
Khỉ
ta thấy bị xúc phạm, ngồi im lặng nén giận và nhận định:
“Chóp mào cho ta là loại du côn mất dạy, du thủ du thực,
lăng xăng trạo cử, lịnh ngữ xảo ngôn; đau nhất là bảo
ta ác tâm phản phúc, mưu hại bạn bè. Sắc sảo và hùng biện
đấy! Ðược rồi, ta sẽ cho mi biết thế nào là công thành
danh toại, phúc thọ diên niên của mi.” Khỉ ta liền nhảy
vọt lên cây, tóm lấy tổ chim xé nát và vất hết rơm rác
bay theo chiều gió. Mục đích là thỏa cơn tự ái và giằn
mặt chóp mào. Nhưng vừa thấy khỉ trợn mắt vung tay thì,
nhanh như chớp, Xin-gi-la đã vọt ra khỏi tổ bay mất.
Dừng
lại trong giây lát, Ðức Thế Tôn tiếp:
- Thấy
chưa? Khỉ kia chính là Sa di Chí Ðộng, còn Xin-gi-la đích thị
là Ca Diếp vậy. Thầy nghĩ sao? Ca Diếp nên sống một mình
hơn là gần gũi với hạng vô mimh, thiếu trí như thế.
Ngài
đọc kệ:
Nếu
như không gặp bạn,
Hơn
mình hay ngang mình,
Thà
quyết sống một mình,
Chớ
thân cận kẻ ngu.
(PC.
61)
SUỐT
ÐỜI VUN VÉN CỦA TIỀN
NHẪN
TÂM ÍCH KỶ OAN KHIÊN CHẤT CHỒNG
Tương
truyền rằng tại Xá Vệ có một quan thủ khố tên là A-nan-đa
(Aønanda). Ông ấy có 800 triệu bảo vật nhưng vô cùng keo
kiệt nên được mệnh danh là Trùm Tích. Cứ hai tuần một
lần, ông họp mặt cả nhà, lên giọng trịnh trọng nhắc
nhở mọi người, đặc biệt là cậu con trai Mu-la-xi-ri (Mùlasiri)
duy nhất của ông, về ba điểm trọng yếu như sau:
1.
Ðừng cho rằng có 800 triệu bảo vật này là nhiều.
2.
Chớ để thất thoát một mảy may tài sản nào của gia đình.
3.
Phải luôn luôn ý thức và nỗ lực vun bồi của cải ngày
thêm phong phú.
Vì
rằng: một xu lọt qua kẽ tay, sẽ có ngày gia nghiệp sụp
đổ. Cho nên: năng nhặt thì chặt bị.
Và
để dễ nhớ, ông cô đọng quan điểm của mình thành một
khúc ngâm gọi là kim ngôn di huấn:
Xưa
nay hương sắc phai màu,
Hãy
xem đàn kiến chung nhau xây nhà,
Ong
kia hút mật phấn hoa,
Người
khôn bồi đắp cửa nhà hiển vinh.
Ít
lâu sau, ông chỉ cho cậu con trai của ông thấy vị trí năm
kho báu, hướng dẫn cặn kẽ cách bảo quản chúng, rồi đột
nhiên ngã bịnh và qua đời, để lại một gia sản đồ sộ,
đáng được tự hào, nhưng không cách nào xóa hết những
vết nhơ tham lam, bủn xỉn.
Bấy
giờ, gần cổng thành có một ngôi làng với khoảng trên dưới
một ngàn gia đình thuộc bộ tộc Can-đa-la (Candàlas) sinh sống,
và A-nan-đa được đầu thai vào dạ một phụ nữ dân quê
ở đó. Quốc vương, được tin A-nan-đa qua đời, liền triệu
Mu-la-xi-ri đến hoàng cung, bổ nhiệm chàng giữ chức thủ
khố, thay phụ thân chàng.
Dân
làng Can-đa-la sinh sống bằng nghề khuân thuê vác mướn, kiếm
được đồng tiền cực khổ vô vàn; vậy mà từ lúc cấn
thai của người phụ nữ kia, mức sinh hoạt của họ sa sút
hẳn đi: kiếm việc rất khó, vật giá gia tăng, đói nghèo
lan khắp. Họ thường bảo nhau:
- Chúng
ta lao động quần quật suốt ngày như trâu bò mà cơm không
đủ ăn, áo không đủ mặc, lại có nguy cơ tệ hại hơn nữa
chứ! Chắc là có tên mặt trơ trán bóng hay đầu trộm đuôi
cướp nào lọt vào cái làng này.
- Ðừng
suy diễn mà tội nghiệp người ta ông ơi! Hay là chúng ta nên
đến làng khác kiếm kế sinh nhai.- Một thanh niên ra vẻ tự
tin, phát biểu.
- Thôi
em ơi, tội nghiệp cho cái thân già này quá! Qua nghĩ: “Cây
khô tưới nước cũng khô, vận nghèo đi tới xứ mô cũng
nghèo”.- Một ông cụ gầy guộc, ở trần, vận chiếc khố
cũ nát góp ý với giọng ảo não, chán đời.
- Ðúng!
“Gánh nghèo lên đổ trên non, co chân mà chạy nó còn chạy
theo!” Một người đứng tuổi vừa nói vừa co chân lên như
minh chứng cho mọi người thấy.
Nhưng
rồi họ cũng nhất trí với nhau chia thành hai nhóm, ra sức
điều tra sự việc, và cuối cùng đi đến kết luận rằng:
- Tên
xấu xa khốn kiếp, gieo rắc khổ đau cho dân làng chắc chắn
chui vào nhà này.
Và
thế là họ trục xuất người phụ nữ mang thai ra khỏi làng,
vĩnh viễn biệt xứ.
Bà
ôm thai nhi lên đường với những giọt nước mắt sụt sùi
theo từng bước chân vô định. Bà phát nguyện gánh chịu
oan khiên, cưu mang ngang trái miễn sao bà được mẹ tròn con
vuông. Bà đã phải chịu cảnh màn trời chiếu đất, đói
lạnh rốc người cho đến thời khai hoa nở nhụy. Và, việc
gì đến phải đến, bà đã sanh được một bé trai.
Khốn
thay, tay chân tai mắt mũi miệng của em bé không nằm đúng
vị trí của chúng. Một quái thai. Một quái vật gớm guốc
chưa từng thấy trên đời! Vậy mà, vì thâm tình cốt
nhục, mẫu tử thiêng liêng, người mẹ vẫn ôm con vào lòng
với từng lời ru bất diệt. Khốn khổ lắm bà mới nuôi
nổi con. Vì rằng nếu bế con theo, bà sẽ bị mọi người
nguyền rủa và khó kiếm được bát cháo chén cơm. Nhưng nếu
để con ở nhà, nó sẽ bị bơ vơ đói khát, tội nghiệp
xiết bao! Có lúc bà ôm con mà lòng đau như dao cắt, ruột
thắt tợ tơ vò, thầm trách ông trời sao mà bất công với
những người cùng khổ đến thế.
Ðến
khi đứa con tạm đủ trí khôn, biết đi xin ăn, bà đặt vào
tay nó một bát sành và nghẹn ngào nói:
- Con
ơi, vì con mà mẹ đã phải nếm trải hằng sa tủi nhục,
vô số khổ đau. Con ơi, vì số kiếp đọa đày, mẹ không
thể lo cho con được nữa. Con hãy tự nuôi thân bằng cách
nương nhờ vào lòng vị tha nhân ái của mọi người nghe con.
Hãy trân trọng và biết ơn từng hạt cơm sợi chỉ của họ
nghe con!
Bà
ôm con khóc nức nở, rồi khoác tay ra hiệu nó lên đường.
Thằng
bé lang thang xin ăn cùng khắp thôn làng, phố thị. Một hôm,
nó đến đúng căn nhà mà nó đã từng làm chủ với tư cách
là quan thủ khố A-nan-đa. Nhớ lại tiền kiếp, nó đi thẳng
vào nhà một cách tự nhiên, qua ba căn phòng mà không ai hay
biết. Ðến khi vào phòng thứ tư, các em bé trai, con của quan
thủ khố Mu-la-xi-ri đang nô đùa, nhìn thấy khuôn mặt quái
dị của nó mà thất kinh hồn vía, la khóc thét lên. Mấy cậu
gia nhân chạy vào, thấy thằng nhỏ mặt mày khủng khiếp,
bèn lớn tiếng quát:
- Ðồ
quỷ, mày phải cút ra khỏi nhà này ngay! Ngó coi, rùng rợn
chưa!
Vừa
nói xong là chúng dần thằng nhỏ một trận đích đáng, rồi
lôi nó sền sệt ra khỏi nhà và vất nó trên một đống rác.
Ngay
lúc đó, trên đoạn đường thiền hành khất thực, Ðức
Thế Tôn, được Trưởng lão A Nan theo hầu, đi ngang qua và
thấy rõ mọi việc. Quay nhìn Trưởng lão, Thế Tôn giải thích
sự kiện đã diễn ra để giải đáp vấn đề. Ðộng lòng
bi mẫn, Trưởng lão đích thân mời Mu-la-xi-ri đến gặp Thế
Tôn, dân làng thấy thế cũng đi theo và tụ tập rất đông.
Gặp
Ðức Thế Tôn, Mu-la-xi-ri cung kính đảnh lễ Ngài mà lòng
cứ xôn xao thắc mắc không biết có chuyện gì hệ trọng.
Thế Tôn nhìn thẳng vào đôi mắt của quan thủ khố, hỏi:
- Ðạo
hữu có biết cậu bé bị đánh bầm mình sưng mặt này là
ai không?
- Dạ...
không biết, bạch Thế Tôn! Thưa... có chuyện gì ạ?
- Ðây
là cha của đạo hữu đấy! Quan thủ khố A-nan-đa đấy!
- Không
thể!... Phi lý!... Xin Thế Tôn hiểu cho rằng con đương
là mệnh quan của triều đình. Mu-la-xi-ri nghiêm sắc mặt nói.
- Ta
hiểu. Nhưng sự vận hành của nghiệp lực thì như hình với
bóng.
Ðoạn
Thế Tôn đảo mắt nhìn cậu bé, nói:
- Này
A-nan-đa, hãy chỉ năm kho bảo vật cho con trai của ngươi xem.
Cậu
bé làm theo lời của Ðấng Ðại Giác. Mu-la-xi-ri điếng cả
người, sụp lạy Ðức Thế Tôn với nước mắt nước mũi
tuôn trào và không dám đứng dậy.
Ðức
Thế Tôn đưa tay đỡ Mu-la-xi-ri và đọc kệ:
Con
ta, tài sản ta,
Kẻ
ngu mãi lo xa,
Chính
ta còn không có,
Tài
sản, con đâu ra.
(PC.
62)
TƯỞNG
RẰNG TRÍ TUỆ VÔ BIÊN
NÀO
NGỜ NGU ÐỘN TRIỀN MIÊN SUỐT ÐỜI
Truyện
kể rằng, tại một ngôi làng nọ, có hai người bạn, Chí
Thiện và Mật Thủ, thân nhau từ thuở nhỏ. Chí Thiện thì
nói năng chơn chất, hồn nhiên trung thực với bạn bè; còn
Mật Thủ thì lanh lợi, xảo ngôn và hay lợi dụng lòng tốt
của người khác. Một hôm, nhân kỷ niệm ngày Ðản sanh của
Ðức Thế Tôn, cả hai cùng theo các Phật tử đến Kỳ Viên
nghe Ngài thuyết pháp. Chí Thiện lắng lòng ghi nhớ và ứng
dụng Phật pháp vào nếp sinh hoạt hằng ngày của mình, như
làm thế nào để hướng dẫn cuộc sống phù hợp với Bát
chánh đạo: chánh kiến (quan điểm chân chánh), chánh
tư duy (suy nghĩ chân chánh), chánh ngữ (nói năng chân chánh),
chánh nghiệp (sinh hoạt chân chánh), chánh mạng (lập mệnh
chân chánh), chánh tinh tấn (nỗ lực chân chánh), chánh niệm
(ghi nhớ chân chánh), chánh định (thiền định chân chánh);
và nhất là biến cho được ngũ căn: tín, tấn, niệm, định,
huệ thành ngũ lực, tức là năm sức mạnh tiềm ẩn làm nền
tảng cho việc phát huy nhân cách và đạo phong của người
con Phật. Ðó là: chánh tín Tam bảo, nỗ lực hướng
thiện, dứt trừ vọng tưởng, an định thân tâm và hoạt
dụng trí tuệ. Mật Thủ thì ngược lại. Ði chùa không phải
để lễ Phật nghe Pháp mà là để thực hiện mưu đồ thầm
kín, đúng ra là để ứng dụng đôi tay quyền biến (mật
thủ) giữa chốn thiền môn. Trong khi mọi người đang định
tâm tụng niệm thì Mật Thủ mắt la mày lét, đảo tới vòng
lui, và lẹ tay gỡ phắt túi vải đựng năm cắc bạc buộc
ngang thắt lưng của một ông cụ định cúng dường xây cốc
cho Tăng chúng nhưng còn đang lom khom lạy Phật. Ðúng là tay
chôm chỉa chuyên nghiệp và táo bạo. Hắn có bao giờ hiểu
được thế nào là lương thiện và bất lương, danh dự và
ô nhục. Hắn chỉ biết cách len lỏi giữa đám đông, ra tay
trộm cắp tiền bạc châu báu của người khác rồi đem về
khoe khoan thành tích láo bịp với vợ. Hắn thường ra mặt
sung sướng trên mồ hôi nước mắt của bà con bất hạnh.
Hắn đang đứng trên bờ vực thẳm mà tự hào về nề nếp
gia phong của mình.
Tan
lễ, trên đường về nhà, Mật Thủ cười nói huyên thuyên,
ra vẻ rất tâm đắc về những lời thuyết giảng của Ðức
Phật. Ðoạn gã quay sang Chí Thiện, hỏi:
- Này,
cậu đã nấu cơm ở nhà chưa?
- Chưa!
Tay làm hàm nhai ấy mà. Ðịnh trên đường về, mua ít gạo
nấu cho tiện.
-
Thấy cậu giờ này mà còn lận đận, thiếu trước hụt sau.
Ðộc thân là hẩm hiu thế đó! Lấy vợ đi. Kiếm cô nào
phốp pháp, lanh lợi, xông xáo một chút. Như vợ tớ đấy!...
vừa về tới ngõ là đã nghe tiếng cười nói rổn rảng từ
trong nhà vọng ra. Mình luồn lách cực khổ cỡ nào cũng thấy
mát ruột khi có được một nội tướng đồng thanh đồng
thủ như thế. Nghe lời tớ đi! Ðừng chần chừ nữa! Hay...
để tớ làm mai cho một tiểu thư... đúng mốt!
-
Xin cảm ơn! Nghe Thế Tôn thuyết pháp riết rồi mình muốn
đi tu quá.
- Ngu!...
Mật Thủ quắc mắt nói như một nhát búa phập vào khúc gỗ
mục. Cậu tưởng đi tu sướng lắm hả! Sống lệ thuộc vào
lòng hảo tâm của bá tánh lương dân mà hãnh diện! Mọi người
như tớ thì thầy trò ông Cồ Ðàm có nước treo y máng bát
chứ ở đó mà dài lưỡi “luân hồi sanh tử, vô ngã giả
danh”. Ðã vô ngã giả danh thì nhận lễ vật cúng dường
làm gì? Chẳng lẽ để ra sức nuôi dưỡng cái thân tướng
vô ngã giả danh ấy! Thấy chưa? Toàn là mâu thuẫn và phi
lý. Này... mà “lý sự vô ngại, sự sự vô ngại” là gì
cậu? Tớ nghe ổng nói hồi sáng mà như vịt nghe sấm, chả
hiểu gì cả.
- Ðầu
óc anh đâu có tập trung vào chuyện lễ nghi giáo điển mà
hiểu. Thế anh có bao giờ nghe nói đến câu tục ngữ “Ngưu
tầm ngưu, mã tầm mã” chưa?
- Có!...
Trâu theo trâu, ngựa theo ngựa. Ðúng quá!
- Ðó
đó!... Na ná như vậy đó. Mèo hoang thì gặp chó hoang, chàng
đi móc túi gặp nàng chỉa chôm.
- Cậu
nói ai móc túi? Ðừng vu khống nhé! Cậu là cái thá gì mà
dám mỉa mai vợ chồng tớ là phường đầu trộm đuôi cướp,
trâu ngựa chó mèo. Hãy giữ miệng giữ mồm đấy! .- Mật
Thủ nói với vẻ mặt choắt lại và đôi môi run run mím mím
như điện giật.
- Ấy
chết!... Không phải thế!... Xin lỗi, xin lỗi!... Ý mình muốn
nói là trên đời cái gì cũng có nhân duyên với nhau cả.
Thân cận với Phật pháp và Thánh tăng cũng thế. Phải có
duyên. Phải có sự tương ưng giữa hai tầng số thì mới
hiểu, mới rung động theo giáo pháp của Như Lai.
- Như
Lai là gì? Mật Thủ liếc xéo và nhíu mũi, hỏi.
- Là
“vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ ...”
- Là
sao?...
- Là
không từ đâu đến và cũng không đi về đâu ...
- Thôi
được rồi!... Toàn là chữ với nghĩa. Cái lưỡi cậu càng
lúc càng dài đấy. Cậu nói cái gì nghe cũng bùi tai. Bỏ chuyện
đó đi! Tiện đường về nhà tớ ăn trưa, được chưa?
- Xin
đa tạ! Chí Thiện nhận lời để xua tan mối hoài nghi của
bạn.
Vừa
tới ngõ, Chí Thiện đã nghe giọng nói the thé rít lên:
- Nữa!...
Trúng mánh thế nào mà rước “chánh tổng gàn” về
đây!
- Mình
ơi có khách. Cho chúng tôi ăn cơm với nhé! Mật Thủ giả
vờ không nghe thấy gì và vừa đi vừa nói giọng bông
đùa cho đượm nét uy phong gia trưởng.
- Ai
thế?... Úi dzời, xin chào bác ạ! Lâu quá mới được bác
tới chơi.- Vợ Mật Thủ nói giọng đưa đẩy.
- Chào
chị. Xin chúc sức khỏe và may mắn cả nhà!
Khoảng
mười lăm phút sau, bà chủ nhà bê lên một mâm cơm đạm
bạc, ra giọng xởi lởi nói:
- Mời
bác dùng bữa với nhà em. Ðột xuất quá, mong bác thông cảm!
- Thế
này thì nhất rồi. Ðúng là một nội tướng tế nhị và
đảm đang. Anh Mật Thủ quả thật có phước!
- Xin
mời! .- Mật Thủ huơ tay đầy vẻ tự mãn.
- Xin
mời! .- Chí Thiện đáp lễ.
Chỉ
trong giây lát, Mật Thủ ngước nhìn Chí Thiện, nói giọng
triết lý:
- Tớ
nghĩ cũng lạ thật! Ðúng là mọi việc đều có thể xảy
ra dưới gầm trời này. Như ông Cồ Ðàm chẳng hạn: đường
đường là một thái tử, rồi sẽ lên ngôi hoàng đế, cai
trị xã tắc muôn dân, quyền cao tột đỉnh, châu báu đầy
kho, mỗi buớc chân đi là ngựa xe nghênh rước, bá tánh cúi
đầu; nhất là vợ đẹp con ngoan như thế mà nỡ phủi tay
ra đi, chấp nhận cuộc sống cô đơn, khổ hạnh, rồi nhiều
người thấy thế noi theo, từ bỏ cha mẹ, đoạn tuyệt gia
đình..., thật là một lũ ngu si hết chỗ nói!
- Không
biết ai ngu hơn ai! Ðức Thế Tôn từ bỏ ngôi vị quốc vương
để đạt đến ngôi vị Pháp vương, đoạn đường phấn
đấu cho tự thân thanh tịnh, trí tuệ siêu phàm, trải dài
vô lượng kiếp, chứ không phải một sớm một chiều như
thò tay...
- Thò
tay làm gì?... Ai thò?... Cậu nói gì tớ không hiểu?...
- Thôi,
thôi!... một giọng nói lanh lảnh từ nhà dưới vọng lên,
mời hai triết gia xơi giùm cho, ngày mai đến Kỳ Viên tha hồ
mà tranh luận với Ðức Phật. Mời khách về nhà mà lý sự
như thế thì còn ai dám lui tới nữa! Ông thiệt là!...
- Bạn
bè chúng tôi phấn khích một chút cho vui ấy mà, bà sao!...
.- Mật Thủ chữa thẹn.
Cả
hai tiếp tục dùng bữa, rồi tạm biệt nhau qua ánh mắt xã
giao chứ thật sự chưa được tâm bình khẩu phục.
Mấy
hôm sau, Chí Thiện đến thăm Kỳ Viên với tâm trạng phân
vân, không được tự nhiên như trước kia, Thế Tôn gọi Chí
Thiện, hỏi:
- Ðạo
hữu có gì vướng kẹt trong lòng thì tâm sự với Thầy, đừng
để lâu ngày thành nội kết. Ðạo hữu biết đấy: giang
sơn dễ đổi, tập khí khó dời!...
Chí
Thiện xúc động đến nghẹn ngào, chấp tay cúi đầu với
hai giọt nước mắt rưng rưng. Thế Tôn nắm tay Chí Thiện
đưa về tịnh thất.
- Nào,
có gì nói cho Thầy nghe!
- Bạch
Thế Tôn, con muốn theo Thầy học đạo, nhưng Mật Thủ bảo
ai sống đời phạm hạnh là ngu dại, là không nếm được
đầy đủ hương vị của cuộc đời, là trốn tránh trách
nhiệm với đồng bào, đồng loại; ổng còn bảo con chạy
ăn từng bữa không xong nên tính chuyện lừa đảo; con hoang
mang quá, bạch Thế tôn!
- Hừ!...
có vậy mà hoang mang!...
Thế
Tôn mỉm cười, đọc kệ:
Người
ngu biết mình ngu,
Nhờ
vậy thành có trí,
Người
ngu cho mình trí,
Thật
đáng gọi chí ngu!
(PC.
63)
Thầy
trò cùng cười. Chí Thiện đảnh lễ Thế Tôn, cáo từ ra
về với cõi lòng thênh thang, nhẹ nhõm.
THÍCH
NGỒI NGẮM GIỮA PHÁP TÒA
HIỀM
VÌ CHỮ NGHĨA NHẠT NHÒA CĂN CƠ
Truyện
kể rằng U-đa-di (Udàyi) là vị sư già ít học, ít có duyên
với sách vở chữ nghĩa, nhưng lại thích ra vẻ bệ vệ kiểu
cách với đồng môn pháp lữ, nhất là với người lạ. Một
hôm, sau thời quán niệm, các bậc Trưởng lão rời khỏi chánh
điện, U-đa-di ở lại và lên ngồi trên pháp tòa theo tư thế
của một Pháp sư đang diễn thuyết. Bấy giờ có một số
du tăng đến hầu thăm Ðức Thế Tôn, thấy U-đa-di ngồi uy
nghi trên pháp tòa, trông ra dáng quảng học đa văn, quán thông
kinh điển, bèn nghĩ: “Ðây hẳn là đại lão Pháp sư, may
quá!” Họ cung kính đảnh lễ U-đa-di và thưa:
- Kính
bạch Pháp sư, hôm nay chúng con có chút duyên lành, được
gặp Pháp sư, xin Pháp sư từ bi chỉ dạy cho chúng con một
số vướng mắc về Phật pháp.
- Nghi
gì cứ hỏi. Biết đâu nói đó. Miễn khách sáo!
- Dạ...
thưa Pháp sư, lâu nay chúng con học tập kinh văn nhưng chưa
hiểu rõ thế nào là “ngũ uẩn giai không và tứ đại phù
trì”.
- Có
thế mà cũng hỏi! Ngũ uẩn giai không là năm uẩn đều không.
Tứ đại phù trì là bốn đại giữ giúp.
- Sao
đơn giản thế, thưa Pháp sư! Theo giáo lý chúng con học thì
ngũ uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức; tức là hình
sắc, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức. Năm yếu
tố này hoàn toàn lệ thuộc vào các điều kiện thời gian
và không gian, chúng không có thật tánh, không hiện hữu độc
lập, nên gọi là không. Còn tứ đại là: đất, nước, gió,
lửa; tức là bốn nguyên tố: rắn, lỏng, khí và nhiệt vận
hành trong mỗi cá thể chúng sanh. Ngũ uẩn và tứ đại hỗ
tương duyên hợp với lục căn lục trần mà hoạt dụng tương
tục theo dạng giả danh, nên gọi là không.
- Thiện
tai! Thiện tai! Cái uyên áo của Pháp sư là ở chỗ đó. Khơi
gợi. Khơi gợi cho ý thức tham vấn bùng vỡ đúng lúc. U-đa-di
gõ gõ ngón tay trỏ xuống thành pháp tòa nói.
- Thưa
Pháp sư, chúng con còn một mối nghi nữa!
- Tự
nhiên!
- Thế
nào là quán “tứ niệm xứ”?
- Chà!...
Thấy các sư thông thái quá mà còn hỏi chi nữa hè!
- Chúng
con muốn lĩnh thọ thâm ý kiến giải của Pháp sư.
- Vậy
là các ngươi muốn đố ta! Muốn chơi ta hả?
- Dạ
không dám! Chúng con thật sự muốn cầu học, xin Pháp sư hoan
hỷ!
- Ừ!...
thế thì được. Nhưng trước hết ta muốn thấy sự hiểu
biết của quý vị. Hãy trình bày ta xem.
- Thưa
Pháp sư, theo chúng con biết thì quán “tứ niệm xứ” là
quán niệm, suy xét về bốn lĩnh vực hay đối tượng cơ bản,
tiên quyết cho cuộc hành trình của người xuất gia, tu hạnh
giải thoát. Ðó là: 1. Quán thân bất tịnh: quán sát sâu sắc
để thấy rõ căn thân là một tổ hợp không trong sạch, nói
cách khác là bẩn thỉu. 2. Quán thọ thị khổ: chiêm nghiệm
tận cùng để thấy mọi cảm thọ vui buồn đều khổ; nói
chung, nhận lãnh sắc thân và nhu cầu sinh hoạt là đương
đầu với vô vàn khổ lụy. 3. Quán tâm vô thường: soi rọi
tinh tế để thấy tâm tư máy động, luồn lách vô thường.
4. Quán pháp vô ngã: rà xét toàn triệt để thấy các
pháp hữu vi vô vi, tức là đối tượng của nhận thức, đều
do duyên sanh, không có tự tánh, hoàn toàn vô ngã. Quán niệm
và ngộ đạt “tứ niệm xứ” sẽ giúp hành giả vững bước
trên lộ trình thẳng đến mục tiêu thánh đạo.
- Hay!...
Cái bí quyết ưu việt của Pháp sư là thế đó. Khơi gợi.
Khơi gợi cho tinh hoa phát tiết, nghi vấn tự tiêu.
- Này,
chúng tôi nói cho sư biết nhé. Chúng tôi đang tạo cơ duyên
cho sư nhìn lại chính sư đấy! Lâu nay nghe nói ở Kỳ Viên
có một sư sống lâu lên lão làng, tu học phất phơ mà hành
xử bệ vệ, nếu không muốn nói là hợm hĩnh; thích làm thầy
thiên hạ mà hiếm khi đụng đến sách đèn, kinh điển. Sư
biết pháp tòa đó dành cho ai không? Thế Tôn và đại chúng
từ bi hỷ xả cho sư nhiều lắm rồi đó!
- Ơ
kìa!... “Thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường,
pháp vô ngã” mà lại!...
- Ðừng
nói với ông ấy nữa. Gàn bướng! Phạm thượng! Thế mà
cũng xênh xang y áo ra vào thiền môn. Thế Tôn hiền quá! Một
sư trẻ trong nhóm nói nhỏ.
Sau
đó họ cùng nhau đến đảnh lễ, vấn an Ðức Thế Tôn và
thưa rằng:
- Kính
bạch Thế Tôn, vừa rồi chúng con thấy một trưởng lão ngồi
chễm chệ trên pháp tòa, té ra sư không những mù mờ
về Phật pháp mà còn ngang bướng về ngôn hạnh!
- Thế
đấy!... Sư Quảng Tạo đó! Sư tạo ra nhiều dáng nhiều vẻ
lắm! Ðại chúng trách hoài mà sư chứng nào tật nấy, giai
do tập khí trì độn mà ra; đúng là thân người khó được,
Phật pháp khó thông, chúng sanh khó độ!... Hy vọng từ từ
rồi thầy ấy sẽ sáng láng và nhuần nhuyễn ra! Thế Tôn
cười chúm chím nói và đọc kệ:
Kẻ
ngu dầu trọn đời,
Thân
cận với người trí,
Cũng
không hiểu pháp vị,
Như
muỗng trong nồi canh.
(PC.
64)
MUÔN
KIẾP XUÔI DÒNG VƯƠNG KHỔ LỤY
NHỨT
THỜI NGỘ ÐẠT SẠCH TRẦN DUYÊN
Một
hôm, Ðức Thế Tôn thấy một nhóm ba mươi người đàn ông
đang hung hăng chạy khắp nơi tìm kiếm một phụ nữ trên
sườn đồi bông vải (kappasìka). Gặp Ngài, một gã đen thùi
thùi, thở hồng hộc, hỏi:
- Bạch
Tôn giả, Ngài có thấy một phụ nữ ôm một bao vải
to tướng chạy qua đây không? Con điếm đó! Chuyên nghề lường
gạt, bắt được là chúng tôi xé xác nó ngay!
- Té
ra quí vị đang chạy tìm một con điếm. Ðã là điếm thì
hẳn là giỏi nghề lường gạt, nhất là lường gạt ngọc
ngà châu báu, tiền của sinh lực của những người khác phái,
tìm chi nữa cho khổ!
- Mệt
quá!... Một là thấy, hai là không thấy! Ðang sốt ruột sốt
gan mà còn nghe đâm chọt, biện giải vòng vo!...
- Ðiếm
khác phái, điếm bên ngoài, thì bòn rút tài sản sự nghiệp
của đối phương; còn điếm cùng phái, điếm bên trong, thì
hủy diệt công trình sáng tạo, trí tuệ siêu việt của chính
đương sự.
- Thưa
Tôn giả, những gì Ngài nói là cho chính Ngài, hay cho tất
cả mọi người.
- Này
ông bạn đáng yêu, việc nào quan trọng hơn, thù thắng hơn
– lao tâm tổn sức chạy tìm người phụ nữ, hay tịch tịnh
tư duy tìm lại chính mình!
- Thế
Tôn!... Ðúng là Ðức Thế Tôn rồi!... Cậu thanh niên miệng
nói, tay chấp vàø hai gối quỳ phịch dưới chân Như Lai với
hai mắt trân trân nhìn Ngài.
Sau
đó cậu đi thông báo cho mọi người đến gặp Ðạo Sư.
Vừa
thấy họ từ xa đi lại, Thế Tôn gọi: “Hãy đến đây,
này các thầy Tỳ kheo!” Và thế là ba mươi Sa môn với ca
sa, bình bát chỉnh tề, đi thành hàng dọc, tiến đến đảnh
lễ Ðức Thế Tôn, và được Ngài thuyết giảng cho họ một
Pháp thoại về bảy yếu tố giác ngộ, tức là “Thất bồ
đề phần, còn gọi là thất giác chi, thất giác ý hay thất
giác phần”.
Với
âm thanh như sóng biển rì rào, Thế Tôn cất giọng:
- Này
các thầy Tỳ kheo, để tiến đến Thánh đạo hay chứng quả
vô thượng chánh đẳng chánh giác, bước đầu hành giả phải
tu tập thân khẩu ý theo bảy điều cơ bản như sau:
1.
Chánh niệm: suy nghĩ và ghi nhớ chánh pháp, loại bỏ tạp
niệm vọng tưởng, một đường thẳng đến mục tiêu tối
thượng.
2.
Trạch pháp: xem xét, khảo sát, tuyển chọn cho mình những
đối tượng tư duy chân thật, lành mạnh; nhất là chọn
đúng pháp môn tu tập, phù hợp với căn cơ và thể trạng
tâm sinh lý của chính mình.
3.
Tinh tấn: xác định hướng đi đích thực rồi thì phải nỗ
lực phấn đấu, phát huy thiện căn, hàng phục tập khí, dõng
mãnh tiến bước trên lộ trình giải thoát.
4.
Hỷ lạc: vui vẻ phấn chấn, hòa hợp lạc quan; nghe dông tố
như gió lộng đồi non, thấy tuyết sương như nắng hồng
sưởi ấm; nhất là xem ốm đau nghịch cảnh như quân bình
thể lý tâm tư, gặp hủy báng khinh khi như xoa bóp thần dược
tiêu trừ kiêu căng ngạo mạn.
5.
Khinh an: nhẹ nhàng thanh thản, tự tại thong dong; ăn rau rừng
như nhai cam thảo, uống nước suối như nuốt đề hồ; nghe
chim ca như nhạc trời vang vọng, ngắm hoa nở như cánh mạn
đà la; phiền não tiêu tan, kiến chấp khô kiệt.
6.
Thiền định: tâm tư tịch tịnh, vắng lặng, đứng yên; vọng
tưởng hết duyên dấy khởi, thân tâm rũ sạch hồng
trần.
7.
Hành xả: buông bỏ, xả ly; dứt bặt kiến chấp, ngã pháp
tiêu vong, tâm cảnh dung thông, tuệ giác hiển lộ.
Thế
Tôn vừa dứt lời thì ba mươi Sa môn liền chứng quả A la
hán, thần thông diệu dụng, pháp lực sâu dày; tất cả chấp
tay đồng niệm danh hiệu: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
ba lần, rồi đảnh lễ Ðức Ðạo Sư và lui ra.
Tối
hôm đó, sau thời tịnh niệm, các sư ngồi lại trong chánh
điện luận bàn về sự kiện đã diễn ra trong ngày. Người
thì bảo các Sa môn kia đã có túc duyên nhiều đời nhiều
kiếp với Ðức Thế Tôn, kẻ thì tự trách mình thiền hành
mòn gót, thiền tọa cứng lưng mà chưa thấy được chút gì
gọi là chân không diệu hữu; chỉ có các vị Trưởng lão
đã chứng thánh quả thì mặc nhiên tịnh tọa, hiểu rõ ngọn
nguồn: ý niệm trước mê lầm, nguyên dạng chúng sanh; ý niệm
sau tỏ ngộ, diện mục Phật tổ.
Nghe
các sư lên tiếng luận bàn, Thế Tôn vào ngồi giữa chánh
điện, mỉm cười, nói:
- Này
các thầy Tỳ kheo, đây không phải là lần đầu tiên ba mươi
Sa môn kia vấp phải lỗi lầm. Họ đã từng hành xử như
thế, và họ cũng đã từng tu hành thanh tịnh, chứng đắc
thanh văn. Kiếp này họ thành tựu quả vị nhanh như thế âu
cũng là phước duyên hội tụ, nhân quả tương phùng. Quý
thầy ngạc nhiên và thắc mắc lắm sao!
- Kính
bạch Thế Tôn, chúng con không dám thắc mắc. Chúng con chỉ
mừng cho họ và tủi cho chính mình. Chúng con nguyện tu tập
tinh tấn hơn nữa,
- Thiện
tai! Thiện tai! Hồng nào hồng chẳng có gai, thành công nào
lại không dài gian lao.
Ngài
đọc kệ:
Người
trí với người trí,
Gần
nhau trong phút giây,
Chánh
pháp nhận ra ngay,
Như
lưỡi nếm canh vậy.
(PC.
65)