Phần
11
KHỞI
TÂM KIÊU MẠN KHINH THƯỜNG
VIÊN
THÀNH ÐẠO QUẢ CÒN VƯƠNG VẾT HẰN
Thuở
nọ có một thanh niên mắc bịnh phong cùi, tên Xúp-pa-bút-đa
(Suppabuddha), ngồi cách xa ngoài Tăng đoàn nghe Thế Tôn thuyết
pháp và chứng đắc Thánh quả. Lòng lâng lâng khinh khoái,
cậu muốn bày tỏ phước duyên thành đạt của mình cho Thế
Tôn biết, nhưng thấy thân hình tiều tụy, lở loét chân tay,
cậu không dám tự nhiên chen chân qua giữa Tăng đoàn, bèn
kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi đại chúng đảnh lễ Thế
Tôn, xá chào tạm biệt, cậu mới giả vờ theo họ đi được
một đoạn, rồi quay trở lại, định vào tu viện Kỳ Viên
trình diện Ðức Ðạo Sư.
Bấy
giờ thiên chủ Ðế Thích (Sakka) thầm nghĩ: “Xúp-pa-bút-đa
mắc bịnh phong cùi mà thành tựu thánh quả, lại còn muốn
minh chứng trí tuệ siêu việt của mình với Ðức Thế Tôn.
Ta phải thử xem!” .
Ðế
Thích hiện nguyên hình giữa không trung, ngay trước mặt Xúp-pa-bút-đa,
nói:
- Này,
Xúp-pa-bút-đa, ngươi đang mắc bịnh hiểm nghèo, bơ vơ lạc
lõng, khốn khổ bần hàn. Ta sẽ ban cho ngươi vô số ngọc
ngà châu báu, nếu như ngươi quả quyết khẳng định: “
Phật đó không phải Phật, Pháp đó không phải Pháp, Tăng
đó không phải Tăng. Ta không cần Phật, không cần Pháp, không
cần Tăng”.
Cậu
cùi nhìn thẳng vào mặt Ðế Thích, sắc giọng nói:
- Ngươi
là ai?
- Ta
là Ðế Thích, là vua của các cảnh giới chư thiên.
- Ngớ
ngẩn! Nói vậy mà không biết xấu hổ! Ngươi không xứng
đáng nói chuyện với ta. Ngươi bảo ta nghèo khổ, túng thiếu,
đau buồn; ngược lại thì đúng hơn, ta đã đạt được niềm
an lạc và bảy kho bảo vật. Ðó là: chánh tín Tam bảo, huân
tập đức hạnh, hành xử khiêm cung, sợ vương tội lỗi,
ngộ đạt thánh trí, viễn ly tịch tịnh và thành tựu trí
tuệ. Ai có bảy kho báu này, chư Phật không coi người ấy
là nghèo khổ, và cuộc đời của họ tất nhiên là có ích
cho mình, cho người, cho hiện tại và cho mai sau.
Thấy
rõ sự thật, Ðế Thích hân hoan đến gặp Thế Tôn, trình
bày cung cách vấn đáp của bậc ngộ đạo, và được Thế
Tôn xác định một lần nữa:
- Ðế
Thích, cho dù ngươi có tốn trăm ngàn lượng vàng nén bạc
đi nữa thì cũng không thể nào thuyết phục được Xúp-pa-bút-đa
nói: “Phật đó không phải Phật, Pháp đó không phải Pháp,
Tăng đó không phải Tăng”.
Sau
đó Xúp-pa-bút-đa đến tu viện, đảnh lễ Ðức Thế Tôn,
trình Phật ấn chứng sở đắc, rồi nhẹ nhàng quay gót ra
về. Vừa đi được một đoạn thì bị một con bò cái tơ
từ trong một lùm cây hùng hục xông ra, đâm hai sừng vào
mạn sườn của cậu, hấc tung người lên, cậu rớt xuống
đất và chết ngay tức khắc.
Thấy
cảnh thương tâm, Tăng chúng hoảng hốt chạy đến gặp Phật,
trình bày sự thể vừa mới xảy ra; nêu thắc mắc vì sao
một người mắc bịnh nan y, hình hài ô uế lại sớm thành
đạo quả, rồi bị ngộ nạn chết oan, khổ đau chồng chất,
và được Thế Tôn giải thích:
- Này
các thầy Tỳ kheo, các thầy thắc mắc là phải. Mọi việc
diễn ra trên đời chưa hẳn do ngẫu nhiên hay tình cờ, mà
thường bị chi phối bởi những mắc xích nhân quả, móc dính
vào nhau. Trường hợp bất hạnh vừa qua cũng thế. Các thầy
muốn biết lai lịch chuyện này sao?
- Vâng
ạ, bạch Thế Tôn!
- Vậy
thì hãy lắng nghe và chiêm nghiệm!
*
*
*
Vào
một đêm trăng thanh gió mát, trong một tiền kiếp xa xưa,
có bốn thanh niên con nhà giàu có đưa một cô gái làng chơi
hạng sang đến một hoa viên hành lạc. Khi đêm về khuya,
bốn bề vắng lặng, cô gái cũng đã thật sự ngầy ngật
với lạc thú men nồng, một tên rít giọng nói:
- Phải
bế khẩu phi tang đi thôi, thượng sách đấy! Ðêm hôm khuya
khoắt thế này mấy ai hay biết mà lo sợ!
- Không
được, tàn nhẫn quá! Dẫu sao chúng mình cũng đã tỏ tình
và dan díu với nàng. Tên thứ hai ngỏ lời ngăn cản.
- Cậu
lạc hậu quá! tên thứ ba lên tiếng. Ăn bánh khỏi trả tiền
mà cậu còn thắc mắc cái nỗi gì!
- Ðúng!...
Không những được ăn ngon màø còn được tiền nữa chứ!
Một trăm quan tiền mua vui chứ đâu phải năm cắc ba xu. Ðó
là chưa kể ngọc ngà châu báu nó đeo đầy tay đầy cổ kia
kìa! Ra tay nhanh gọn là hợp lý. Tên thứ tư gằn giọng quả
quyết.
Thế
là bốn tên bất lương, gian ác kia ra tay giết chết cô gái
mà chúng đã từng trao lời đường mật, ôm ấp nồng nàn.
Sau đó chúng lấy lại tiền bạc và cướp hết vòng vàng
của nạn nhân rồi bỏ đi. Trong cơn mê sảng, cô gái vẫn
thấy loáng thoáng trong đầu những ý niệm trả thù: “Ðược
rồi!... Nhớ đấy!... Bọn bay dày xéo thân thể tao, lường
gạt tiền bạc tao, cướp đoạt tài sản tao ... Tao nguyện
làm quỷ dạ xoa bám theo hồn ma bóng quế tụi bay cho đến
ngày tụi bay tan xương nát thịt. Vì lời báo thù tuyệt hậu
đó mà quỷ dạ xoa đã đầu thai dưới dạng con bò cái, và
lần lượt húc chết bốn thanh niên đã một thời gây án
mạng, trong đó có Xúp-pa-bút-đa, biệt danh là hai cùi, mà
các thầy đã từng nghe kể theo truyền thuyết.
- Mô
Phật, ghê quá!... Nhưng vì sao cậu ấy bị cùi mà chóng thành
đạo nghiệp, và rồi cậu ấy sẽ thác sanh về đâu? bạch
Thế Tôn. Một chú Sa di hỏi.
- Không
phải nhanh chóng, đúng ra là lâu lắm, phải trải qua vô số
kiếp tu hành thanh tịnh mới thành tựu đạo nghiệp; động
cơ
chính là cậu ấy đã khởi phát thiện tâm, ngăn chận các
bạn giết người cướp của như trong truyện vừa kể, và
dĩ nhiên là cậu ấy được thác sanh ở tầng trời thứ Ba
mươi ba. Còn việc bị cùi là vì trong một tiền kiếp, cậu
ấy thấy thân hình gầy gò đen đúa của Ðức Phật độc
giác Ta-ga-ra-xi-ki (Tagarasikhi) mà sanh tâm gớm ghiếc, khạc
nhổ nước bọt sau lưng Ngài. Vì tâm khinh bạc ngạo mạn
nên cậu bị đọa địa ngục lâu dài, và cũng chính vì hành
động thô ác như thế mà mãn kiếp đọa đày, đầu thai làm
người, tu hành tinh tấn, chứng đắc thánh trí, nhưng phải
mang trọng nghiệp cùi hủi, bị mọi người nhờm tởm, xa
lánh.
Dừng
lại trong giây lát, Thế Tôn tiếp:
- Này
các thầy Tỳ kheo, trên thế gian này, ai cũng có một thế
giới nghiệp lực riêng biệt. Và nghiệp, như các thầy đều
biết, là sự vận hành, tạo tác của thân khẩu ý. Chủ yếu
là ý. Có tác ý là đã tạo nghiệp. Cho nên, giàu sang hay khốn
cùng, hạnh phúc hay khổ đau, cao quý hay thấp hèn, tất cả
đều do tâm tư thiện ác mà dệt thành.
Ngài
đọc kệ:
Kẻ
ngu si thiếu trí,
Tự
ngã hóa ra thù,
Ác
nghiệp tạo lần hồi,
Phải
chịu quả cay đắng.
(PC.
66)
NƯƠNG
LỜI PHẬT TỔ THÁNH TĂNG
GIẢI
TRỪ OAN KẾT, AN LÀNH THÂN TÂM
Tương
truyền rằng thuở nọ có một nông phu đang cày xới trên
cánh đồng cách thành Xá Vệ không xa thì có mấy tên trộm
cướp lẻn vào thành bằng cách bơi qua dòng sông, mở đường
hầm chui vào nhà một phú ông, cướp hết vàng bạc châu báu,
rồi trốn thoát qua ngõ độc đạo đó. Một tên mưu lược
hơn đồng bọn, lanh tay gói trọn một ngàn quan tiền và những
bảo vật khác trong chéo áo lót của mình, rồi khẩn trương
cùng nhau trực chỉ đến cánh đồng thanh vắng để phân chia
tài sản cướp được. Khi xử lý xong, mỗi tên ôm một gói,
hãnh diện ra mặt như ca khúc khải hoàn. Bất giác, một tên
đánh rơi gói bạc vàng của mình xuống một bờ mương
mà không hề hay biết, cứ tiếp tục tiến bước với đầu
óc lâng lâng trong phi vụ tiếp theo.
Sáng
sớm hôm đó, Thế Tôn vận dụng Phật nhãn quán chiếu thế
gian, thấy ngay bác nông phu kia hiển hiện trong mạng lưới
tri kiến của Ngài, và tai nạn nguy khốn sắp xảy ra. Ngài
thầm nghĩ:
- Người
nông phu này sẽ ra đồng cày bừa vào lúc sáng sớm. Chủ
nhân tài sản bị đánh cắp chắc chắn sẽ truy tìm bọn đạo
tặc, và khi nhìn thấy cái túi này, họ sẽ đánh đập và
tóm cổ ông ngay tức khắc. Ngoài ta ra, ông không còn ai là
nhân chứng. Vả lại ông đã quyết tâm nương theo Thánh Ðạo,
ta có bổn phận phải đến với ông ấy.
Ngay
từ tờ mờ sáng bác nông phu đã ra ruộng. Thế Tôn và Trưởng
lão A Nan cũng đến thẳng cánh đồng đó. Vừa thấy Thế
Tôn, lão phu ngừng tay, đến đảnh lễ Ngài, và rồi trở
lại tiếp tục công việc. Thế Tôn đáp lễ, rồi đi thẳng
đến chỗ có chiếc túi rơi, đưa mắt nói với thị giả
A Nan:
- Nhìn
kìa, A Nan, một con rắn độc!
- Con
thấy rồi, bạch Thế Tôn, đúng là một con rắn độc cực
kỳ nguy hại!
Nghe
nói rắn độc, bác nông phu liền nghĩ: “Trải bao mùa qua
lại trên cánh đồng này, ta có bao giờ thấy rắn độc rắn
hiền gì đâu; vậy mà nay thầy trò Thế Tôn nói có rắn độc,
đúng thế sao?” .
Sau
khi thả lời nhận xét, Thế Tôn ra hiệu cho A Nan tiếp tục
khởi hành.
Sợ
bị rắn độc cắn, bác nông phu thầm nghĩ: “Ta phải giết
nó đi thôi”. Thế là ông cầm một cây cọc nhọn, xăm xăm
đi thẳng đến nơi, nhưng chỉ thấy một cái túi vải căng
phồng nằm bên bờ cỏ. Ông lại suy nghĩ: “Thế Tôn hẳn
đã ám chỉ cái túi này là con rắn độc”. Không biết làm
thế nào cho hợp lý, ông bèn vùi túi vải sâu trong bờ cỏ,
lấy đất lấp lại, rồi tiếp tục công việc đồng áng.
Khi
trời sáng hẳn, đám trai tráng của gia đình phú ông kia đã
khám phá ra tông tích của bọn đạo tặc. Họ lần theo dấu
vết, đến đúng nơi phân chia bảo vật, và thấy ngay những
dấu chân của bác nông phu. Họ men men theo vết tích đó mà
đến đúng mục tiêu. Họ bới đất và nhặt được túi vải
đựng vàng bạc. Thế là họ vung tay trợn mắt xỉa xói lão
phu, đánh đập ông, cáo buộc ông là phường đạo tặc khéo
thay hình đổi dạng, và giải ông lên vương phủ.
Khi
nghe trình tấu xong mọi việc, quốc vương khép lão phu vào
tội tử hình vì đã manh tâm cướp đoạt tài sản của nhân
dân. Sai nha liền trói gô tay ông ra sau lưng, và trên đường
đưa ra pháp trường, họ chốc chốc lại quất roi vào người
ông. Bị sai nha thẳng tay đánh đập nhưng ông vẫn thản nhiên
và liên tục lập lại hai câu nhận định của thầy trò Thế
Tôn:
- Nhìn
kìa, A Nan, một con rắn độc!
- Con
thấy rồi, bạch Thế Tôn, đúng là một con rắn độc cực
kỳ nguy hại!
Ông
cứ nói tới nói lui hoài những câu này khiến đám sai nha
sanh nghi, hỏi:
- Ngươi
đang lập lại lời lẽ của Ðức Thế Tôn và A Nan phải không?
Ðiều đó có nghĩa gì?
- Ta
sẽ trình bày đầy đủ chi tiết, nếu ta được phép gặp
quốc vương.- Bác nông phu yêu cầu.
Thế
là họ đưa ông đến diện kiến quốc vương, và được quốc
vương hỏi:
- Tại
sao ngươi phải lập lại những lời như thế?
- Tâu
quốc vương, thảo dân suốt đời cày sâu cuốc bẫm, làm
ăn lương thiện, chưa hề không cho mà lấy của ai một cọng
rơm ngọn cỏ, mong quốc vương lượng xét.
Sau
đó ông kể lại trọn vẹn câu chuyện từ lúc ra ruộng đên
khi gặp Ðức Thế Tôn và A Nan.
Quốc
vương nghe xong, nói:
- Thế
là đã có nhân chứng vật chứng, mà nhân chứng ở đây là
Ðức Thế Tôn, bậc Ðạo Sư hiếm có trên đời. Thôi, hãy
mở trói cho lão phu. Ta sẽ đích thân điều tra và giải quyết
vụ việc rắc rối này.
Tối
hôm đó, quốc vương đưa lão phu đến đảnh lễ Ðức Thế
Tôn, hàn huyên tâm sự đôi điều và hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn và A Nan đã đi ngang qua một cánh đồng
và thấy một nông phu đang cày ruộng?
- Ðúng
thế, thưa quốc vương!
- Thế
Tôn có thấy gì nữa không?
- Một
túi vải đựng vàng bạc châu báu.
- Khi
thấy túi vải, Thế Tôn có nói gì không?
- Nhìn
kìa, A Nan, một con rắn độc! Ta nói thế, và A Nan đáp: Con
thấy rồi, bạch Thế Tôn, đúng là một con rắn độc cực
kỳ nguy hại!
- Bạch
Thế Tôn, nếu lão phu này không nói Thế Tôn là nhân chứng
thì mạng sống của lão hẳn khó bề cứu thoát. Nhờ lập
đi lập lại lời nói của Thế Tôn và A Nan mà sinh mệnh của
lão còn tồn tại trên trái đất này. Hãy đảnh lễ Thế
Tôn, hỡi lão phu có duyên với Phật.
Bác
nông phu quỳ mọp dưới chân Thế Tôn khóc sướt mướt, rồi
ông quay sang khấu đầu lạy tạ quốc vương với những lời
chúc phúc nghẹn ngào: “Quốc vương anh minh vạn tuế, quốc
vương anh minh vạn tuế!”
Sau
đó Ðức Thế Tôn nói:
- Quốc
vương, chính ta nói ra những lời đó! Người khôn ngoan trí
tuệ chớ bao giờ làm việc gì phải ân hận về sau.
Ngài
tươi cười đọc kệ:
Người
tạo nghiệp bất thiện,
Làm
xong sanh ăn năn,
Mắt
đẫm lệ than rằng,
Phải
chịu quả cay đắng.
(PC.
67)
TUNG
HOA DÂNG LỄ THẾ TÔN
QUỐC
VƯƠNG TRỌNG THƯỞNG, LƯU TỒN THANH DANH
Truyện
kể rằng Tấn Lài (Sumana), người làm vườn, sáng sớm nào
cũng dâng cho quốc vương Tần Bà Sa La (Bimbisàra) tám phần
hoa lài thượng hạng, và dĩ nhiên, chú được trả công mỗi
phần hoa là tám quan tiền xứng đáng. Một hôm, Tấn Lài vừa
mang hoa vào thành thì gặp ngay Ðức Thế Tôn đang thả từng
bước khất thực, thiền hành với hào quang sáu màu từ thân
Ngài tỏa ra rực rỡ, theo sau là Tăng đoàn, tạo thành một
hàng dài trông uy nghi và thánh thiện làm sao!
Thoáng
nhìn thấy ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của
Ðức Thế Tôn, Tấn Lài muốn tôn vinh Ngài bằng một hình
tượng cụ thể, nhưng nhìn quanh, chả có gì, ngoài tám phần
hoa dâng hiến quốc vương. Cuối cùng chú quyết định cúng
dường hết giỏ hoa cho Phật dù phải bị tống lao, trục
xuất hay thiệt mạng.
Tấn
Lài hân hoan đến trước Thế Tôn, quỳ gối, dâng hoa lên
ngang trán, đảnh lễ ba lần, đoạn đứng lên vốc hai nắm
hoa tung lên trên không, và lạ thay, chúng kết thành một tràng
hoa như chiếc lọng che trên đầu Ngài. Sau đó chú tiếp tục
tung sáu nắm hoa còn lại lên không trung, và chúng cũng kết
thành ba tấm rèm che lơ lửng bên phải, bên trái và sau lưng
Ngài.
Dâng
hoa xong, Tấn Lài cung kính đứng sang một bên, Thế Tôn và
Tăng đoàn từ từ tiến vào thành. Những đóa hoa kết trên
không cũng sừng sững đong đưa theo nhịp bước của của
đấng đại giác Thế Tôn.
Thấy
cảnh tượng huyền diệu đang diễn ra giữa kinh thành, không
ai bảo ai, hàng vạn người đổ xô ra phố, tay cầm cành
hoa hay miếng vải, vừa đi vừa phất phất trước Tăng
đoàn theo nhịp điệu tôn vinh xưng tán Như Lai.
Ðể
tuyên dương thiện tâm và công đức của người làm vườn,
Thế Tôn cùng Tăng đoàn đi sâu vào thành khoảng ba dặm và
dừng lại tại một công viên xinh đẹp, nơi trống kèn đàn
địch đang được trổi lên nghinh đón Ðạo Sư. Suốt buổi
sáng hôm đó Tấn Lài như đi trong bồng lai tiên cảnh, ngây
ngất lâng lâng. Và cuối cùng, chú sung sướng đảnh lễ tạm
biệt Thế Tôn và Tăng đoàn, thong dong ra về với chiếc giỏ
xách trống rỗng.
Vừa
về tới nhà, Tấn Lài bị vợ lườm mắt, hỏi:
- Tiền
đâu? Ðược quốc vương hậu đãi hay mon men theo con nào mà
về trễ thế?!
- Mở
miệng ra là nặng mùi tiền bạc với ghen tuông! Ðúng là:
nhứt thời vợ dại trong nhà, nhì thời nhà dột, thứ ba nợ
đòi! Thay vì dâng hoa cho quốc vương, tôi đã cúng dường
cả giỏ hoa đó cho Ðức Thế Tôn rồi.- Tấn Lài hồn nhiên
đáp.
- Ơ
kìa!... ông muốn chết hả? Ông muốn tuyệt diệt cả nhà
hả? Ai có quyền lực và đáng sợ hơn – quốc vương hay
Ðức Phật? Ông Phật từ bi hỷ xả, chả có gươm đao dáo
mác. Còn quốc vương!... Trời ơi ông điên rồi!... Mẹ con
tôi biết làm thế nào thoát nạn bây giờ!
- Bụng
làm dạ chịu. Dù bị quốc vương tra tấn, lưu đày hay xử
trảm, tôi vẫn thấy trong lòng an lạc và hạnh phúc vô biên.
Ðược chiêm ngưỡng dung nhan của Ðức Từ Phụ và được
tắm mình trong ánh hào quang của Ngài thì thật là hy hữu
trên đời. Cả hoàng thành rần rần đón tiếp Thế Tôn và
tán dương pháp lực kỳ diệu của Ngài, chỉ một mình bà
ngồi ở nhà chờ tiền và lắm mồm bậy bạ!
- Rồi
ông sẽ bị cụt tay cụt chân cho mà coi, ở đó mà Phật tổ
với Thánh tăng!
Sợ
bị liên lụy, mụ vợ bế con te te đến hoàng triều, xin gặp
quốc vương để tố cáo vụ việc.
Vừa
bước vào vương phủ, bà dập đầu xuống đất lia lịa,
mếu máo khóc và tâu rằng:
- Muôn
tâu thánh thượng, chồng con hôm nay bỗng dưng điên loạn,
đem hoa cúng dường cho Ðức Thế Tôn. Ngu quá!... Con đã bỏ
nó rồi. Mẹ con con vô tội, xin thánh thượng khai ân tha mạng!
Là
một Phật tử thuần thành, anh minh và độ lượng, quốc vương
thầm nghĩ: “Vì sợ vương pháp mà đoạn tình đoạn nghĩa
với chồng con và gia tộc. Chao ôi, triều cương quốc chế
ta ban hành cứng nhắc và độc ác lắm sao! Nhân tình thế
thái thay đổi mau chóng vậy sao! Không!... xét cho cùng là do
ấu trĩ, do ba tên giặc quái ác tham sân si luôn bày mưu
lập kế và nhuộm đen tâm trí con người” .
Suy
nghĩ trong giây lát, quốc vương giả bộ giận dữ, phán:
- Ðược
rồi! Ta sẽ trừng trị đích đáng những kẻ xem thường uy
danh quốc thể, dám đem hoa của ta dâng cho Ðức Thế Tôn.
Nhà ngươi có thể ra về.
Biết
tâm hồn quốc vương lúc nào cũng khoan hồng và dung dị, Thế
Tôn hướng dẫn Tăng đoàn đến thẳng hoàng triều. Quốc
vương đích thân ra tận ngọ môn nghinh đón Tăng đoàn vào
hoàng cung, nhưng Thế Tôn ngỏ ý muốn dừng lại tại đó.
Quốc vương thắc mắc:
- Sao
hôm nay Thế Tôn không vào cung điện?
- Nếu
ta vào thì quần chúng làm sao thấy được công đức nhiệm
mầu của Tấn Lài, người làm vườn sáng nào cũng dâng hoa
cho quốc vương.
Sau
đó quốc vương cho người đem thực phẩm và lễ vật sang
trọng ra cúng dường Tăng đoàn, và được Thế tôn hồi hướng
công đức:
Thiện
tai giải thoát hạnh,
Tịch
tịnh tâm thường tu,
Tận
trung hưng xã tắc,
Bách
tánh nhuận công phu.
Quốc
vương đảnh lễ Thế Tôn, tiễn Ngài và Tăng đoàn một đoạn
đường, xong quay về truyền áp giải Tấn Lài đến hoàng
cung luận tội:
- Nhà
ngươi nói gì khi dâng hoa cho Ðức Thế Tôn?
- Xin
quy y và cúng dường Thế Tôn giỏ hoa này cho dù con bị vương
pháp tống lao, biệt xứ hay tử hình. Thảo dân nói thế, tâu
hoàng thượng!
- Ngươi
biết khi quân phạm thượng bị tội gì không?
- Chém
đầu hoặc lưu đày, tâu hoàng thượng!
- Biết
thế nhưng ngươi vẫn cố tình vi phạm?
- Dạ...
thảo dân biết nói sao cho sạch lòng trong mắt! Xin hoàng thượng
định tội.
- Nói
vậy chứ khanh là một thần dân trung tín, đáng khen! Thôi,
về đi!
Tấn
Lài lạy tạ ân vua, đưa tay lau nước mắt và bước lui ra
ngoài vương cung.
Sau
đó quốc vương ra khẩu dụ ban cho Tấn Lài tám thớt voi quý,
tám con tuấn mã, tám nam nô lệ, tám nữ nô lệ, tám bộ bảo
châu, tám ngàn quan tiền, tám vị cung nữ và tám thôn trù
phú. Mỗi nón quà đều gấp tám lần.
Thấy
người làm vườn dâng cho Thế Tôn chỉ một giỏ hoa mà được
phước lộc to lớn, nhất là cả hoàng thành hân hoan nô nức
suốt ngày, Trưởng lão A Nan sanh tâm thắc mắc hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, công đức Tấn Lài sẽ như thế nào?
- Vĩ
đại lắm, A Nan! Vì đạo hữu đó đã cúng dường giỏ hoa
cho ta, đã quy y ta, đã dâng hiến cả tánh mạng cho ta; người
ấy sẽ không bị trôi lăn trong tam đồ lục đạo suốt trăm
ngàn kiếp, sẽ được sanh vào thế giới chư thiên, rồi sẽ
hiện thân nhân tướng, hội nhập ta bà, và sẽ tu hành thành
Phật độc giác hiệu là Xu-ma-na (Sumana).
Thế
Tôn sau đó trở về tu viện Trúc Lâm, vào trong tịnh thất,
nhưng những đóa hoa kỳ diệu kia vẫn còn tươi màu, thoảng
hương ngan ngát và máng trên những cành trúc lung linh hai bên
lối đi.
Tối
đến, sau thời tịnh niệm, nghe giọng bàn tán nhỏ to hưng
phấn trong chánh điện, Thế Tôn bước vào, ngồi giữa Tăng
chúng, nói:
- Chà...
các thầy có gì vui hỷ!
- Bạch
Thế Tôn, chúng con đang tán thán công đức của người làm
vườn. Quả thật không gì kiên cố và nhiệm mầu bằng tín
tâm và nguyện lực của hàng Phật tử chánh tín Tam bảo,
Thượng tọa quảng chúng đáp.
- Ðúng
vậy, này các thầy Tỳ kheo. Hãy tu tập, và hướng dẫn Phật
tử tu tập thế nào để khi một ý nghĩ, một lời nói hay
một hành động dấy lên không những không dằn vặt, ân hận
mà còn mang lại hạnh phúc, an lạc cho tâm hồn.
Ngài
mỉm cười đọc kệ:
Người
tạo được thiện nghiệp,
Làm
xong không ăn năn,
Hoan
hỷ, lòng phơi phới,
Hái
quả phúc thường hằng.
(PC.
68)
RẮP
TÂM CHIẾM HỮU TƯ TÌNH
XẢO
NGÔN MƯU MẸO ÐIÊU LINH TÀN ÐỜI
Truyện
kể rằng trải qua trăm ngàn kiếp luân hồi sanh tử, khi hiện
thân ở nhân gian, lúc thác sanh nơi thiên giới; khi là thiện
nam, lúc là tín nữ; cuối cùng Thanh Liên (Uppalavannà) đầu
thai vào nhà một thương gia giàu có tại thành Xá Vệ dưới
dạng một ái nữ kiều diễm, nổi bật nhất là nước da
xanh tươi mơn mởn tợ đài sen nên nàng được đặt tên là
Thanh Liên. Ðến tuổi lập gia đình, tất cả các công tôn
vương tử, nghệ sĩ thương nhân từ khắp nơi tranh nhau đến
nhà nàng xin cầu hôn. Thấy con gái mình mỗi ngày một rực
rỡ như đóa sen xanh dưới ánh nắng hồng, rồi ong bướm
tới lui, rập rờn qua lại, nhất là khái niệm: “Trai chưa
vợ như ngựa không cương, gái dễ thương như bom mìn nổ
chậm” cứ lảng vảng trong đầu, nơm nớp ái ngại, khiến
cha nàng thầm nghĩ:
- Ðúng
là mỗi nhánh mỗi hoa, mỗi nhà một cảnh. Có đứa con gái
thông minh tú lệ thế này mà nhỡ xảy ra bề gì thì không
những tội nghiệp cho con mà còn tổn thương danh giá đến
gia tộc. Tuy không thể đáp ứng hết nguyện vọng của con
nhưng ta đã có cách.
Ông
gọi Thanh Liên đến, ôn tồn nói:
- Con
ơi, con biết đấy!... Cha mẹ chỉ có một mình con duy nhất.
Gia nghiệp đồ sộ, uy thế vững vàng. Lâu nay biết bao thanh
niên thuộc dòng trâm anh thế phiệt, vương tuớng công hầu
đến cầu hôn con, nhưng con vẫn một mực từ chối. Cha mẹ
không đoán ra ước vọng của con, không thỏa mãn được chí
nguyện của con. Cha mẹ buồn lắm! Nếu con thấy trần gian
tạm bợ, thế sự vô thường; con chán cảnh tay xách nách
mang, chân quàng duyên nợ thì con nên xuất gia đầu Phật,
gia nhập Ni chúng, tinh tấn tu hành cho đạt thành chánh giác.
Ðược thế là con đã dương thanh danh, hiển phụ mẫu, báo
hiếu cửu huyền thất tổ, đền đáp trọn vẹn bốn ân.
Ý con thế nào?
Như
hạn hán gặp mưa rào, khổ nghèo được châu báu, nàng sung
sướng đáp:
- Thưa
cha, con muốn tu hành phạm hạnh, tránh nghiệp hồng trần.
Con muốn xuất gia.
- Hay
quá!... Vậy là ý nguyện của con hợp với hoài vọng của
cha rồi.
Sáng
hôm sau, hai cha con đến yết kiến Thế Tôn, và Thanh Liên được
vào Ni viện.
Nếp
sống tu hành khiêm cung, dung dị và rất phù hợp với những
người cùng chung chí hướng. Ít lâu sau, cô được phân công
chăm sóc một thiền thất đặc biệt, dành riêng cho việc
tịnh tâm quán niệm. Một hôm, sau khi quét dọn và thắp
đèn xong, cô nhìn ngọn đèn dầu bập bùng nhảy múa một
lát rồi đứng yên sừng sững như một mũi kiếm tỏa ánh
hào quang. Cô ngồi lặng người, nhìn trân trân ngọn đèn
không chớp mắt. Cô tập trung tư duy quán tưởng về những
nguyên tố tạo ra ánh lửa và từ từ đi vào chánh định
lúc nào không hay. Ðến khi xả thiền, cô chứng quả A la hán
với thần thông diệu dụng, pháp lực cao cường.
Ít
hôm sau, cô vào làng thiền hành khất thực, rồi vô rừng
ẩn cư dưới một tàng cây bên vách đá. Thấy cô quyết tâm
hành đạo, tịch tịnh công phu, các Phật tử chung nhau xây
cho cô một thảo am tương đối ổn định. Thế là cô ngày
ngày vào thành Xá Vệ khất thực, xong lui về trú xứ nỗ
lực tinh cần, phát huy đạo nghiệp. Bấy giờ có A-nan-đa
(Ànanda), một thanh niên Bà la môn, anh họ của cô, đã âm
thầm phát điên vì cô, từ khi cô chưa xuất gia, nhưng chưa
có cơ may tiếp cận. Nay được tin cô sinh hoạt một mình
trong rừng, cậu quyết ra tay thực hiện mưu kế để thỏa
mãn dục vọng. Cậu manh tâm rình rập, chờ đến một sớm
mai nọ, như thường lệ, cô bê bát thiền hành khất thực,
cậu bí mật lẻn vào thảo am, chui nằm dưới gầm giường,
chờ giây phút nồng nàn mà cam chịu kiến vàng đốt chích
thân thể.
Khất
thực xong, cô về am thất, đóng cửa, thay đồ, và vừa ngồi
xuống giường thì A-nan-đa từ dưới gầm giường chui vọt
ra, chụp hai vai nàng lật ngửa và đè nàng xuống. Mặc cho
nàng vùng vẫy, quát mắng: “ Ðồ khốn nạn!... Ðồ khốn
nạn!... Buông ta ra!... Buông ta ra!... Bà con ơi cứu tôi với!...
Bà con ơi cứu tôi với!...” . Rất tiếc, lời cầu cứu của
cô quá lẻ loi, đơn độc, mất hút giữa núi rừng. A-nan-đa
tha hồ tung hoành bạo lực, vung vít ngôn từ, rồi vội vã
ra đi, mặc cho cô ngất xỉu trên tấm ván gỗ.
Vừa
lo sợ, vừa ân hận, A-nan-đa cắm đầu cắm cổ đi một mạch.
Bất giác cậu sa chân xuống một hố sâu. Cậu cũng cất giọng
thất thanh cầu cứu: “ Bà con ơi cứu tôi với!... Bà con
ơi cứu tôi với!...” nhưng giọng điệu của cậu cũng lẻ
loi, đơn độc và mất hút giữa núi rừng. A-nan-đa chết thê
thảm dưới lòng hố lạnh, và chắc chắn đọa vào địa
ngục A tỳ.
Ðến
lúc tỉnh dậy, Thanh Liên, vì đau buồn ấm ức, đem chuyện
riêng kể cho một thân hữu nghe. Cô này mau miệng mách
chuyện với các thầy, và các thầy liền trình vụ việc lên
Thế Tôn. Ðược tin, Thế Tôn họp chúng, dạy rằng:
- Này
các thầy Tỳ kheo, kẻ ngu si thiếu trí, thô lậu hồ đồ,
dù xuất gia hay tại gia, Tăng Ni hay Phật tử, vương tử hay
thường dân; nói chung, những ai ham mê khoái lạc, sắc dục
trần gian đều buông lung phóng túng, nhếch nhác bê tha; không
biết rượu nồng là thuốc độc, mỹ vị là bùa mê; cứ
ngửa cổ khề khà, dang tay bấu víu. Họ đang phóng tâm tạo
tội, hủy diệt giống nòi mà cứ tưởng như thể đang
nhắm nháp đề hồ, ngậm nghe đường mật. Tiếc thay!
Ngài đọc kệ:
Ác
nghiệp chưa chín muồi,
Kẻ
ngu tưởng đường mật,
Ác
nghiệp khi chín thật,
Kẻ
ngu gánh khổ đau.
(PC.
69)
Nhưng
rồi một đêm nọ, sau thời tịnh niệm, một số sư trẻ
còn thắc mắc, ngồi nán lại trong chánh điện, tiếp tục
luận bàn và đánh giá sự thể. Sư Quảng Diễn ra vẻ thông
thái, nhanh nhẩu phát biểu:
- Quý
huynh đệ thấy đấy, ngay cả những bậc đạo cao đức trọng,
suốt đời ẩn cư trong hang động núi rừng, đã vượt ra
ngoài vòng vây hãm của lạc thú đam mê; vậy mà mỗi khi gặp
nữ sắc là tâm can dồn dập, huyết mạch căng phồng. Còn
họ ... chưa phải thánh nhân! Họ đâu phải là cây khô gỗ
mục, gò mối đá ong. Họ là những con người bằng xương
bằng thịt, cũng ăn uống ngủ nghỉ và hỷ nộ ái ố như
mọi người. Họ có quyền yêu thương hưởng thụ và say đắm
với nhau. Tự nhiên và dễ hiểu quá! Thấy ngôn từ của Quảng
Diễn thao thao, sắc bén, các sư khác ngồi im re, không biết
nói gì thêm.
Ngay
lúc đó, Thế Tôn bước vào, mỉm cười hỏi:
- Các
thầy còn luận bàn chuyện gì mà chưa về phòng nghỉ?
Các
sư nhìn nhau, im lặng.
Ðể
xua tan nghi hoặc, Thế Tôn tiếp:
- Này
các thầy Tỳ kheo, những ai đã vượt ra ngoài vòng vây hãm
của lạc thú đam mê, ái ân trần thế thì không còn vướng
kẹt trong sắc dục nhân tình. Giống như giọt nước rơi trên
lá sen, nó sẽ lăn mất chứ không thể đọng lại trên đó.
Cũng thế, hạt cải không thể nằm gọn trên đầu mũi kim;
nó sẽ vuột mất. Cho nên, tình yêu đôi lứa, ái dục nhân
quần có tăng lên gấp đôi, gấp ba lần cũng không khuấy
động được tâm trí của người đã đoạn trừ lậu
hoặc, dứt bặt ái nhiễm. Các thầy thấy sao? Hết phân vân
rồi chứ?!
- A
Di Ðà Phật! Các sư đồng chấp tay và cúi đầu niệm.
Ngài
đọc một kệ trong phẩm Bà la môn:
Như
nước trên lá sen,
Ðầu
kim hạt cải mèn,
Dục
lạc không vướng mắc,
Ta
gọi Bà la môn.
Sau
đó Thế Tôn cho mời quốc vương Pa-xen-na-đi, Kô-xa-la (Pasenadi
Kosala) đến tu viện Kỳ Viên, nói:
- Quốc
vương, như ngài đã thấy, càng lúc càng có nhiều nam nữ
thanh niên từ giã gia đình, xuất gia học đạo, tu hạnh giải
thoát, ẩn cư trong rừng. Nhưng phụ nữ tu tập trong rừng
thì bất tiện quá. Những gã lông bông mất nết, ngôn hạnh
hoang sơ cứ lảng vảng rình rập, chờ cơ hội là đột nhập
vào am thất mà tung hoành, gây rối. Các cô khó bề an tâm
lập nguyện. Nếu có một tu viện dành cho Ni chúng tu học
trong thành thì hay quá.
- Sao
Thế Tôn không cho con biết sớm!
Quốc
vương hoan hỷ nhận lời và hứa sẽ ban hành một đạo luật
nghiêm phạt những ai xâm phạm thiền môn và đạo hạnh Ni
phái.
Từ
đó, nhiều Ni viện mọc lên trong thành, và Ni chúng không được
phép ẩn cư tu tập trong rừng nữa.
ÐANG
TÂM NGUYỀN RỦA THÁNH TĂNG
CHUNG
THÂN HIỂN HIỆN VẾT HẰN TRẦM LUÂN
Từ
lúc biết đi, Sơn Cẩu (Jambuka) không nằm trên giường, không
ăn thực phẩm bình thường mà chỉ ăn toàn phân giải của
chính mình. Cha mẹ đau lòng, không nỡ vất con, đành bốp
bụng nuôi dưỡng và thầm an ủi với nhau: “Nó còn nhỏ,
đã biết gì mà trách mắng!” Nhưng khi lớn lên, nó không
chịu mặc quần áo, đi đứng trần truồng, nằm lăn dưới
đất, chải tóc bằng mảng gai bốm, và cũng chỉ ăn
cứt của nó. Cha mẹ thấy hiện tượng quái đản, xấu hổ
với bà con láng giềng, bèn nghĩ: “Thằng nhỏ này khác thường,
không thích ứng với nếp sống gia đình; cho nó xuất gia,
theo nhóm ẩn sĩ khổ hạnh A-ji-va-ka (Àjivakas), sống lõa lồ
trong rừng núi thì phù hợp hơn.
Họ
đem con đến gặp vị thượng thủ A-ji-va-ka, thưa rằng:
- Thưa
đạo sĩ, cháu này thích sống khổ hạnh, muốn theo hầu hạ
đạo sĩ cho trí tuệ ngày thêm minh mẫn. Xin đạo sĩ
từ bi hóa độ cho cháu!
- Ðược
thôi!... nhưng không chịu nổi nếp sống tu hành khổ hạnh
thì trả cháu về với gia đình đấy nhé!
- Vâng
ạ!... Xin đội ơn đạo sĩ.
Trút
được gánh nặng, ông bà mừng thầm, vái chào tạm biệt
đạo sĩ, lui gót ra về với đầu óc lâng lâng như bay
theo mây gió.
Ngày
hôm sau, A-ji-va-ka gọi Sơn Cẩu đến, nói:
- Sáng
nay chúng ta vào làng hóa duyên, hãy theo thầy cho quen với nếp
sinh hoạt đạo giáo.
- Thầy
đi đi. Con muốn ở yên một chỗ! .- Sơn Cẩu trả lời với
hai mắt nhắm nghiền.
Họ
thúc giục hai ba lần mà Sơn Cẩu vẫn khăng khăng từ chối.
Khi
nhóm ẩn sĩ đi rồi, Sơn Cẩu đến cạy nắp hố xí, chui
xuống hầm, hai tay vốc phân, vắt từng cục và cho vào mồm
ăn ngon lành. Trưa đến, A-ji-va-ka đưa thức ăn xin được
của dân chúng trong làng, nhưng Sơn Cẩu vẫn một mực từ
chối, nói:
- Con
không cần những thức ăn này. Con có thức ăn riêng của con.
- Thức
ăn riêng của con tìm đâu ra?
- Ngay
tại đây!
Mấy
ngày sau, Sơn Cẩu cũng nhất quyết không đi khất thực. Sanh
nghi, A-ji-va-ka cho người mai phục để xem Sơn Cẩu tìm kiếm
thức ăn bằng cách nào. Thế là họ bắt quả tang cậu ta
chui xuống hố xí ăn cứt. A-ji-va-ka nghe tin, điếng người,
nói với đồ chúng:
- Khiếp
nhỉ!... Hắn là người hay súc vật? Nhỡ ra đồ đệ của
Sa môn Gô-ta-ma biết được chuyện này, rồi họ rêu rao rùm
beng lên rằng: “ Nhóm ẩn sĩ khổ hạnh A-ji-va-ka đang luyện
tập pháp môn ăn cứt”, thì chúng ta còn mặt mũi nào đối
diện với mọi người và phát huy đạo nghiệp! Nghiệt quá!...
Họ
quyết định trục xuất Sơn Cẩu ra khỏi đoàn thể ngay tức
khắc.
Bơ
vơ lạc lõng, không biết về đâu, Sơn Cẩu đành tạm ẩn
trong một hang núi, và ngày đêm đến hố xí công cộng ăn
cứt.
Một
hôm, có mấy người trên đường đến cầu tiêu, thấy Sơn
Cẩu đứng thẳng người, chân trái gác trên đùi chân phải,
tay vịn tảng đá, miệng hả toang hoác, mắt trợn ngược
nhìn thẳng hướng gió như đang luyện tập bùa phép.
Thoáng
thấy Sơn Cẩu, ngỡ rằng đạo sư đang phù chú phong vũ, họ
rón rén tiến đến gần, thi lễ và hỏi:
- Thưa
đạo sĩ, sao ngài trợn mắt, hả miệng thế?
- Ta
là người ăn gió, ngoài ra không dùng một loại thực phẩm
nào khác.
- Ngài
đứng co chân như vậy để làm gì?
- Tu
luyện khổ hạnh. Nếu ta đi hai chân, trái đất sẽ rung chuyển
và vỡ ra từng mảnh. Ta đứng một chân vì thương các ngươi
đấy! Ta nguyện suốt đời đứng như thế này, không ngồi
và chẳng bao giờ nằm.
Thế
là họ tin lời Sơn Cẩu. Và chẳng mấy chốc, nguồn tin ẩn
sĩ thánh thiện dị thường loan truyền khắp kinh thành Ma Kiệt
Ðà (Magadha). Dân chúng đua nhau dâng hiến thực phẩm đủ
thứ, nhưng Sơn Cẩu dửng dưng đáp:
- Ta
chỉ ăn gió thôi. Ta không thọ dụng thực phẩm. Vì nếu ta
dùng thực phẩm như các ngươi thì còn gì là ẩn sĩ khổ
hạnh, hy hữu trên đời.
Nghe
thế, dân chúng lại càng kính trọng hơn. Họ tha thiết khẩn
cầu:
- Kính
bạch đạo sĩ, xin thương tình chiếu cố chúng con. Nếu như
đạo sĩ nhận từ tay chúng con chút quà nhỏ mọn này thì
chúng con chắc chắn sẽ được giàu sang phú quý, phúc thọ
khang an.
Trước
sức ép van nài, và để đề cao tâm nguyện từ bi, Sơn Cẩu
ngắt một lá cỏ cô-xa, quẹt một chút mật ong và mạch nha
họ dâng cúng, đặt trên đầu lưỡi của mình, và nghiêm
giọng nói:
- Ðủ
rồi!... Các ngươi hãy ra về với trọn lời nguyện ước.
Sơn
Cẩu đi lại lõa lồ, ăn uống phân giải, chải tóc bằng
mảng gai bốm, và nằm lăn trên đất đá suốt năm mươi lăm
năm như vậy.
Như
thường lệ, sáng nào Thế Tôn cũng vận dụng Phật nhãn quán
sát thế gian, xem ai có duyên với Phật pháp trước khi Ngài
ôm bình thiền hành, khất thực. Một hôm, ẩn sĩ lõa thể
Sơn Cẩu lọt vào mạng lưới tri kiến của Ngài. Và ngay tức
khắc, Ngài nhận ra tiềm năng giác ngộ siêu việt của Sơn
Cẩu đã đến lúc chín muồi. Ngài thầm nghĩ: “Ta chỉ đọc
một câu kệ mà Sơn Cẩu và tám muơi bốn ngàn chúng sanh ngộ
đạt chánh pháp, giũ sạch vô minh” .
Ngày
hôm sau, Thế Tôn khất thực một vòng thành Vương Xá,
xong trở về tịnh thất, nói với Trưởng lão A Nan:
- A
Nan, Thầy định đến gặp ẩn sĩ lõa thể Sơn Cẩu.
- Thế
Tôn đi một mình?
- Ờ,
một mình tiện hơn.
Và
Ngài lên đường vào lúc chạng vạng tối.
Ðến
nơi Sơn Cẩu ẩn cư, Thế Tôn báo hiệu bằng cách đằng hắng
giọng, gọi:
- Sơn
Cẩu!... Sơn Cẩu!...
- Thằng
quỷ nào biết mình mà gọi vậy hè! .- Sơn Cẩu lầm bầm,
đáp:
- Ai
đó?
- Ta
đây! Một Sa môn đây!
- Ðại
sư muốn gì?
- Xin
vui lòng cho ta trú một đêm.
- Không
còn chỗ!
- Chỉ
một đêm thôi, Sơn Cẩu. Làm phước mà!...
- Chớ
nói nhiều. Ðây không phải nhà trọ. Sa môn có chỗ Sa môn,
ngựa trâu có chỗ sinh tồn ngựa trâu. Thế gian lắm chuyện
ưu sầu, lưu manh xỏ lá biết đâu mà lường!
- Ta
van xin Sơn Cẩu!...
- Ơ,
hay nhỉ!... Thế... Sa môn mà bình bát và túi lọc nước đâu?
- Ði
nơi nào cần ta mới mang chúng theo.
- Vậy
thì đến nơi nào cần mà ở!...
Bấy
giờ cách nơi ẩn cư của Sơn Cẩu không xa có một hang núi,
Thế Tôn đến nghỉ đêm tại đó.
Canh
một, Tứ Ðại Vương đến hầu Thế Tôn, tỏa hào quang rực
rỡ bốn hướng. Canh hai, Ðế Thích thay phiên. Canh ba, đến
lượt Ðại Phạm Thiên, và cả dãy núi sáng mát như ánh trăng
rằm. Thấy hiện tượng kỳ lạ, Sơn Cẩu kinh ngạc, cả đêm
không sao chợp mắt.
Sáng
sớm hôm sau, Sơn Cẩu đến gặp Thế Tôn, vái chào thân thiện,
rồi trịnh trọng đứng sang một bên, hỏi:
- Ðại
sư, đêm qua ai đến với đại sư mà cả dãy núi sáng rực
lên thế?
- Tứ
Ðại Vương, Ðế Thích và Ðại Phạm Thiên.
- Họ
đến để làm gì?
- Hầu
hạ ta!
- Ðại
sư cao quý hơn Phạm Thiên, Ðế Thích?
- Dĩ
nhiên!... Ta là nhơn thiên chi Ðạo Sư.
- Ðại
sư không đùa đấy chứ!
- Mỗi
lời nói của Như Lai, muôn ngàn năm vẫn không sai lời nguyền.
- Ngài
cao siêu và huyền diệu quá! Ta đã năm mươi lăm năm nhọc
nhằn khổ luyện trên cõi đời này, nhất là những năm tháng
gần đây, ta đứng một chân, sống nhờ không khí, vậy mà
được mấy ai đoái hoài thương tưởng!
- Sơn
Cẩu, ngươi có tài ứng khẩu đấy!... Ngươi đã lừa được
nhiều người khờ khạo. Giờ đây ngươi định lừa ta nữa
sao? Chẳng phải suốt năm mươi lăm năm qua ngươi sống nhờ
phân người, đi đứng lõa lồ, nằm trên đất đá, và chải
tóc bằng mảng gai bốm? Ngươi đã dài hơi lừa bịp mọi
người rằng: “Ta ăn không khí; chỉ đứng một chân; không
bao giờ ngồi; chẳng bao giờ nằm”. Ngươi đang tìm cách
maø mắt ta nữa đấy chắc! Ngươi biết nguyên do vì sao ngươi
bị đọa đày hèn mạt, khốn nạn như vậy không?
- Không
biết, xin Ðại sư chỉ cho!
- Vì
gian tâm tà kiến, vọng ngôn ác khẩu của ngươi trong tiền
kiếp!
- Trời
ơi!... Con đã làm gì, bạch Ðại sư!
- Vậy
thì hãy lắng nghe:
*
*
*
Từ
thuở xa xưa, trong thời Ðức Ca Diếp (Kassapa) chứng quả Vô
thượng chánh đẳng chánh giác, có một cư sĩ thuần thành,
chánh tín Tam bảo, thiết lập một thảo am và dâng hiến tứ
sự cúng dường cho một Trưởng lão tu tập. Bấy giờ có
một Thánh tăng, đã chứng quả A la hán, thiền hành khất
thực trước nhà cư sĩ. Thấy phong thái uy nghi, dung nhan hiền
hòa của vị du Tăng, gia chủ sanh tâm cung kính, mời sư vào
nhà cúng dường thực phẩm sang trọng, và một khổ vải để
may y hậu. Sau đó ông gọi thợ hớt tóc đến cắt tóc cho
sư, và tự tay kê giường cho sư nằm nghỉ trong một phòng
biệt lập ngoài vườn.
Kịp
lúc Trưởng lão đến nhà cư sĩ khất thực như thường lệ,
thấy cảnh du Tăng được đãi ngộ đặc biệt, sư nổi máu
ganh tị; và trên đường về thảo am, sư cứ ấm ách trong
lòng:
- Mới
từ đâu đến mà được trọng vọng thế sao! Ta có còn là
Trưởng lão nữa không! Bấy lâu nay ta chưa được cái ưu
ái đó!
Ðêm
đến, vì ngọn lửa tham lam, sân hận, si mê cứ nung nấu tâm
can, không sao chợp mắt, sư thường trụ bèn chống gậy đến
gặp du Tăng, chỉ tay vào mặt, và gằn giọng nhục mạ:
- Ông
khách, đừng giả vờ nghiêm trang đạo mạo để được tứ
sự cúng dường nhé! Ngươi nên ăn cứt còn hơn ăn cơm của
thí chủ! Tóc tai như ngươi mà cắt tỉa, chỉ cào bừa bằng
loại gai bốm thôi! Hạng người như ngươi mà cũng y hậu
chỉnh tề, tứ thời trần truồng trùng trục thì phải phép
hơn! Còn nữa, thân xác đó mà nằm trên giường chiếu
thì phí quá, trên đất cát sỏi đá thì phù hợp hơn!
Với
lòng từ bi lân mẫn, Trưởng lão du tăng chỉ biết im lặng
và thầm niệm:
- Nguyện
cầu hồng ân Tam bảo phù hộ độ trì cho pháp hữu của con
khỏi bị quả báo vì tội lộng ngôn ác khẩu, ganh ghét tị
hiềm. Con xin hỷ xả tất cả.
Nửa
đêm hôm đó, Trưởng lão du tăng lặng lẽ rời khỏi nhà
thí chủ với lòng thông cảm bao la.
Vì
ác tâm tà kiến, ngôn hạnh thô lậu, Trưởng lão thường
trụ tuy đã trải qua hai mươi ngàn năm thiền định tu tập
nhưng vẫn chưa đủ công năng hiệu lực, hết kiếp vẫn bị
đọa vào địa ngục A tỳ, chịu nhiều thống khổ. Nay được
đầu thai làm người thì phải cưu mang bốn nghiệp: ngày ngày
ăn cứt, đi đứng trần truồng, tóc chải gai bốm, nằm trên
sỏi đá. Hủy báng Thánh tăng, trọng tội thế đấy, Sơn
Cẩu!
Như
sét đánh ngang tai, Sơn cẩu khuỵu người, ôm chân Phật khóc
sướt mướt, van xin:
- Thế
Tôn ơi, cứu con với!... Cứu con với Thế Tôn ơi!... hu...
hu...
Ðộng
lòng bi mẫn, Thế Tôn dang hai tay nói:
- Hãy
đến đây, Tỳ kheo!... Hãy sống đời phạm hạnh!
Nhờ
uy lực nhiệm mầu của Ðức Thế Tôn, nhất là nhờ hai mươi
ngàn năm tu tập thiền định, Sơn Cẩu đột nhiên hiện tướng
Sa môn với phong thái trang nghiêm, y bát đầy đủ.
Hôm
đó dân chúng đua nhau đến kinh thành Ma Kiệt Ðà cúng dường
lễ vật cho Sơn Cẩu. Thoáng thấy Thế Tôn, họ liền nghĩ:
- Ai
vĩ đại hơn? Ẩn sĩ cao minh Sơn Cẩu của chúng ta, hay Sa môn
Gô-ta-ma?
Rồi
họ đi đến kết luận:
- Gô-ta-ma
đích thân đến tìm Sơn Cẩu, vậy thì ẩn sĩ dứt khoát phải
được tôn vinh hơn Sa môn.
Ðọc
được tâm ý của dân chúng, Thế Tôn nói:
- Sơn
Cẩu, hãy giải nghi cho những ai còn thắc mắc.
Sơn
Cẩu vọt lên quỳ giữa không trung, chấp tay hướng về chính
diện Thế Tôn, nói:
- Ngưỡng
bạch Thế Tôn, Thế Tôn là Ðạo Sư, là đấng cha lành của
chúng sanh, vinh hạnh cho con được làm đệ tử Ngài.
Sơn
Cẩu đáp xuống đất và lễ Phật ba lạy.
Dân
chúng thấy vậy, hân hoan tán thán:
- Kỳ
diệu thay thần lực của Thế Tôn. Chúng con xin kính lễ Ngài.
Và
Thế Tôn đáp lời:
- Này
thiện nam tín nữ, lâu nay Sơn Cẩu sống nhờ lá cỏ cô-xa
mà quý vị đã mang đến. Nay ta hoàn tất đạo nghiệp cho
ẩn sĩ. Có điều nếu như Sơn Cẩu kiêng khem thực phẩm
qua cảm nghĩ ăn năn hối lỗi, thì những khổ luyện như thế
không bằng một phần mười sáu chánh niệm công đức trang
nghiêm.
Ngài
đọc kệ:
Kẻ
ngu sống hằng tháng,
Nhờ
ngọn cỏ cô-xa,
Chưa
bằng phần mười sáu,
Người
hiểu chánh pháp mà!
(PC.
70)