Phần
12
CHỈ
VÌ LÁ CỎ BỜ MƯƠNG
MÀ
GIEO KHỔ LỤY ÐOẠN TRƯỜNG CHO NHAU
Truyện
kể rằng thuở xưa có những thiện nam tín nữ giàu lòng nhân
ái, tích thiện tu tâm, chung nhau công sức dựng một thảo
am trên bờ sông gần thành Ba La Nại cho một vị Phật Ðộc-giác
an trú tu hành. Như thường lệ, sáng nào Ðức Phật cũng vào
thành hóa duyên, khất thực; còn dân chúng thì rất mực thuần
thành, thường mang hương hoa lễ vật đến thảo am cúng dường
Ngài. Một hôm, có một nông phu đang cày ruộng nhìn thấy
dân chúng nô nức đi thành từng đoàn qua cánh đồng đến
thảo am. Sợ bờ mương bị sạt lở, hoa màu bị hư hoại,
ông lên tiếng cảnh báo:
- Các
người hân hoan trong lòng mà không thấy kẻ khác âm thầm
đau khổ. Ruộng nương đang vào vụ mùa, lúa nếp sắp lên
nay mai; quý vị sáng chiều đi rầm rập như trẩy hội thế
này thì đường sá đê điều nào chịu nổi. Xin bà con cô
bác đi ngõ khác giùm cho!
- Ðến
chùa lễ Phật cầu kinh là đi trẩy hội chứ gì nữa! Hôm
nào đi với chúng cháu một chuyến thì bác sẽ thấy thế
nào là trời xanh mây trắng nắng vàng, lung linh cánh bướm
nhịp nhàng đài hoa.- Một thiếu nữ lanh trí ví von.
- Ở
đây không có thời giờ thơ thẩn đấy nhé! .- Bác nông phu
hơi nặng giọng.
- Ðường
sá ta cứ đi, ruộng ai người ấy cày, đúng chưa? .- Một
thanh niên ra vẻ lý luận.
Và
thế là ngày ngày trên bờ ruộng vẫn có người đi thành
hàng dài đến thảo am. Bực tức vì thấy lời cảnh báo của
mình không có hiệu lực, lão nông phu một hôm nảy sanh
ác kế trong tâm và lầm bầm ra miệng:
- Rồi
bọn bay sẽ biết, vỏ quít dày có móng tay nhọn! Giai do cái
thảo am và lão sư cụ đó! Ngày nào còn thảo am, ngày ấy
ruộng nương còn bị sạt lở. Ðốt quách nó đi là xong chuyện!
Yêu
kế đã quyết, chờ dịp ra tay. Một hôm, thừa cơ Ðức Phật
độc giác vào thành khất thực, lão nông phu xông đến thảo
am, đập nát tất cả những bát lọ sành sứ dùng để đựng
đồ ăn thức uống, và vung tay phóng hỏa đốt rụi thảo
am không chút ân hận.
Khi
khất thực về, thấy thảo am bỗng nhiên biến thành một
đống tro tàn lạnh lẽo, Ðức Phật mỉm cười, vẫy tay từ
giã trú xứ thân thương, tiếp tục lên đường tuyên dương
đạo nghiệp.
Chiều
hôm đó, như thường lệ, các Phật tử đem hoa quả dầu mè
đến thảo am lễ Phật cúng dường, thấy cảnh vật tiêu
điều, tro than rơi vãi, họ đưa mắt nhìn nhau, ngạc nhiên
hỏi:
- Tại
sao thế này? Tôn sư của chúng ta đâu? Kẻ nào manh tâm phá
hủy chùa chiền, hãm hại sư trưởng, kẻ ấy sẽ bị điêu
linh thống khổ, vĩnh kiếp đọa đày.
- Ta
đó! Lão nông phu đứng trong đám đông, dõng dạc lên tiếng.
Các ngươi xem thường lời cảnh báo của ta, khinh ta quê mùa
dốt nát, không có cách đối trị với các ngươi hả, các
ngươi dám làm gì ta nào?
Chẳng
nói chẳng rằng, đám đông xông tới vây kín lão nông phu;
kẻ đấm người đá, dần lão một trận chí tử, và tất
nhiên là lão gục chết trên vũng máu oan khiên.
Lão
bị đọa vào địa ngục A tỳ, chịu nhiều thống khổ lâu
dài; nay lại đầu thai làm quỷ mãn xà trên đỉnh kền kền,
thật là khổ đau khốn kiếp!
Sau
khi kể xong truyện tiền thân của một lão nông phu gây ác
nghiệp, Thế Tôn nói:
- Này
các thầy Tỳ kheo, ác nghiệp giống như sữa vậy. Ác nghiệp
chưa đơm hoa kết trái, hay chưa đổi sắc chín muồi, cũng
giống như sữa chưa rót vào bình lọ, hay chưa kết tủa đông
dần. Một khi ác nghiệp đến, khổ đau liền hoành hành.
Ngài
đọc kệ:
Ác
nghiệp chưa kết trái,
Như
sữa chưa đông ngay,
Nung
đốt kẻ ngu này,
Tựa
lửa phủ tro vậy.
(PC.
71)
NGÓN
NGHỀ RÈN LUYỆN TINH THÔNG
VẬN
HÀNH CHỆCH HƯỚNG TAN THÂN NÁT ÐỜI
Thuở
xưa, tại thành Ba La Nại, có một thanh niên khuyết tật, bị
teo một chân, đi đứng không vững, nhưng có tài ném đá và
tạo hình bằng lá cây nên được mọi người mến tài, đặt
cho biệt hiệu là Thiện Xảo. Cậu thường ngồi tại cổng
thành, dưới một gốc cây đa cổ thụ, ném đá biểu diễn
và cắt tỉa hình dạng súc vật. Trẻ em trong thành thường
vây quanh cậu, nhờ cậu làm cho chúng những con thú rừng như
voi, cọp, sư tử, gấu, khỉ v.v... với nhiều tư thế uyển
chuyển, kỳ dị, bằng những chiếc lá đầy tạp sắc và
lắm kích cỡ dễ thương. Ðể đáp lại tài năng và lòng
hào hiệp của cậu, các em thay phiên mang thực phẩm và bánh
kẹo đến cho cậu.
Một
hôm, trên đường ngoạn cảnh đến lạc viên, quốc vương
đi ngang qua nơi hành nghề của cậu. Các em thấy ngựa xe rầm
rập từ xa đi tới, chúng vội đỡ cậu thanh niên bất hạnh
nhưng tài hoa vào sau gốc cây đa, đẩy cậu vào giữa những
chùm rễ tua tủa, kín mít, rồi vọt chạy tứ phương. Bấy
giờ mặt trời đã lên cao, khí hậu oai bức, nhất là thấy
cây đa khổng lồ, cành lá sum suê, quốc vương cho dừng xe
hóng mát dưới tàng cây. Bỗng thấy ánh nắng cứ nhấp nhô
trước mặt, quốc vương nhìn lên và thấy nhiều hình dạng
thú rừng được cắt tỉa tài tình bằng lá cây đa và được
máng trên các cành lõa xõa bên dưới. Nhà vua thích thú ngắm
nhìn những con thú lá cây đang tung tăng nhảy múa trong gió,
và hỏi:
- Những
tác phẩm này của ai?
- Tâu
quốc vương, một thái giám thưa, nghe nói đây là thú tiêu
khiển của một thanh niên bị bại liệt một chân, nhưng có
tài ném đá và tạc hình bằng lá cây nên được quần chúng
phong cho mỹ hiệu là Thiện Xảo.
- Hãy
tìm cậu ấy cho ta. Chân bị bại liệt nhưng tay thì tuyệt
vời; âu cũng là lẽ công bình của trời đất! .- Quốc vương
đưa tay vê vê mấy sợi ria mép, trầm giọng nói.
Sáng
hôm sau, cậu thanh niên bại liệt được đưa đến hoàng triều,
diện kiến quốc vương. Thấy cậu đứng co ro một chân, còn
chân kia thì cụt ngủn và khẳng khiu như một que củi, quốc
vương động lòng, cho miễn lễ, và hỏi:
- Ngươi
tuy bất túc nhưng có biệt tài, đó là luật bù trừ trong
vũ trụ. Ta có một đạo sĩ chuyên việc lễ nghi hoàng triều,
nhưng hắn có tật lắm lời. Mỗi khi vào đề là hắn nói
liên tu bất tận, không cho ai mở miệng mở mồm. Bực mình
quá! Ta muốn mỗi khi hắn há miệng là ngươi ném vào đó
một cục phân dê. Liệu làm được không?â
- Tâu
bệ hạ, tiện nhi làm được.
- Bằng
cách nào?
- Tâu
bệ hạ, cho phép con gợi ý.
- Tự
nhiên!
- Bệ
hạ ngồi sau tấm màn, đối diện với đạo sĩ khi tiếp chuyện.
Con sẽ dùng mũi dao nhọn khoét một lỗ tròn nho nhỏ trên
tấm màn, thế là xong.
Trưa
hôm đó, quốc vương thực hiện kế hoạch, và cứ mỗi khi
đạo sĩ há miệng là một cục phân dê bay vô mồm. Ðến
khi bao phân đã hết mà đạo sĩ vẫn còn hưng phấn thao thao.
Thiện Xảo kéo vẹt tấm màn, ngầm báo việc đã xong. Quốc
vương nghiêm giọng, nói:
- Ðạo
sĩ, mỗi khi khải tấu điều gì, khanh nói ào ào như mưa gió;
quên mất binh gia quân pháp, lễ giáo vương triều. Sợ bị
cướp lời hả? Khanh nói hăng say đến nỗi nuốt hết một
bao phân dê mà còn muốn nuốt thêm một bao nữa!
Giật
mình như bị sét đánh, vị đạo sĩ Bà la môn cúi đầu im
lặng, và từ đó về sau không dám hé môi trước mặt quốc
vương.
Ðể
tưởng thưởng tài năng điêu luyện, mấy hôm sau quốc vương
cho triệu cậu thanh niên khuyết tật đến hoàng cung, khen rằng:
- Nhờ
khanh mà ta có được tâm hồn yên tĩnh, đầu óc thảnh thơi.
Ðoạn
quốc vương ra khẩu lệnh ban cho cậu thanh niên bất túc kia
tám mâm vàng bạc châu báu và bốn ngôi làng trù phú ở bốn
hướng đông tây nam bắc của kinh thành. Một cận thần nghe
tin đột xuất như thế bèn tức cảnh sinh tình:
Cho
hay tiểu xảo riêng tư,
Mà
ra bửu bối giúp người lừng danh.
Xả
thân xây đắp kinh thành,
Chập
chờn phước họa rắp ranh công hầu!
*
*
*
Bấy
giờ có một người đàn ông đứng tuổi, khỏe mạnh, chân
tay đầy đủ nhưng lam lũ quanh năm, nhất là đôi vai u lên,
cứng ngắc nên được mệnh danh là Mã Kiên. Thấy cậu què
nhờ chút tài vặt mà được nên danh nên phận, bổng lộc
triều đình, thoát ly nghèo khổ. Ðúng là tàn nhưng chưa phế.
Hy vọng vận may sẽ mỉm cười với số phận hẩm hiu của
mình, ông đến gặp Thiện Xảo, tha thiết xin học nghề:
- Thưa
thầy, tôi chừng này tuổi mà chưa có nghề ngỗng gì cả;
gánh thuê vác mướn quanh năm, chai vai mòn gót mà vẫn khố
rách áo ôm. Thầy ơi!... Cái nghèo bóp chết đời tôi, mấy
ai ngó bọn da mồi tóc sương! Xin thầy thương tình truyền
cho tôi đôi chút tài nghệ của thầy.
- Mô
Phật!... Cháu có nghề nghiệp gì đâu mà truyền. Chú mỉa
mai cháu hả!
- Không
dám!... Tôi nói thật mà. Cái tài ném đá và cắt tỉa lá
cây của thầy đã nổi tiếng khắp kinh thành, quốc vương
còn phải khâm phục. Xin thầy!...
- Chú
đừng nói vậy tổn thọ cho cháu tội nghiệp. Cháu hay ba hoa
khoác lác với đám con nít cho vui ấy mà!
Ðể
bày tỏ thiện chí học nghề, Mã Kiên sụp lạy Thiện Xảo
ba lạy, tình nguyện chiều tối nào cũng xoa bóp tay chân và
xách nước cho Thiện Xảo tắm.
Sau
một thời gian, thấy Mã Kiên thật tình hiếu học, Thiện
Xảo cảm kích, bung tay truyền hết tài nghệ của mình.
Một
hôm, để hiểu ý nguyện của Mã Kiên, con người vai u cổ
nám ấy lại có một tâm hồn chân thành, trung tín, không nệ
tuổi tác, cần mẫn học hành, Thiện Xảo hỏi:
- Chú
Mã Kiên, nay thì chú đã có được tất cả những gì mà chú
mong muốn. Bây giờ chú định làm gì nào?
- Trước
hết, xin cảm ơn thầy đã tận tình dạy dỗ. Mã Kiên sẽ
biểu diễn nghệ thuật trước công chúng.
- Bằng
cách nào?
- Bằng
cách ném viên sỏi trúng ngay huyệt đạo tử vong của một
con bò hay một người đi đường.
- Trời
đất!... Chú muốn chết cả lũ hả? Chú muốn bị phạt một
trăm quan tiền? Nhất là động đến cha mẹ, vợ chồng, con
cái của người ta. Tù rục xương đấy chú nhé!
- Thế
à!... Vậy tôi sẽ liệu cách, miễn sao thoát ly nghèo đói,
nổi tiếng với đời.
- Nổi
tiếng và khét tiếng khác nhau xa lắm đó nghe chú!
- Xin
cảm ơn!... Xin cảm ơn!...
Mã
Kiên sau đó bọc một túi đá cuội, hăng hái ra đường tìm
kiếm mục tiêu.
Ðầu
tiên ông gặp một con bò cái đang lững thững đi trên lề
đường. Ông vừa đưa tay vô túi bốc viên sỏi thì một ý
nghĩ vụt đến: “Không được! Thế nào nó cũng có bạn
trai”. Rồi ông gặp một cậu bé tay bế con gà tre. Máu nghề
nghiệp lại rần rần rọ rạy, nhưng ông kịp phản tỉnh:
“Ấy chết, nó có cha có mẹ!” . Sau cùng, vừa thấy Xu-nét-ta
(Sunetta), Ðức Phật độc giác, đang từ một thảo am bốn
bề gió lộng vào thành khất thực, ông chợt nghĩ: “Người
này hẳn là... không mẹ không cha, không ông không bà, không
cháu không con. Tội tình gì mà sợ. Chơi một phát xem sao!”.
Thế là ông cầm viên sỏi nhắm lỗ tai phải của Xu-nét-ta
búng mạnh một cái, Ngài rùng mình, và thấy lỗ tai trái có
vài giọt máu rịn ra.Viên sỏi đã phóng đi như một mũi tên
xuyên thủng hai mặt trống. Ðau quá, Xu-nét-ta ngưng khất thực,
nhứt niệm thiền hành quay về thảo am, và nhập niết bàn
tức khắc.
Ngày
hôm sau, không thấy Xu-nét-ta vào thành, dân chúng thắc mắc:
“Hẳn là đã có việc chẳng lành với ngài khất sĩ rồi!”
. Họ kéo nhau đến thảo am và thấy Xu-nét-ta đã viên tịch.
Ai ai cũng ngậm ngùi thương tiếc, che mặt khóc thầm. Riêng
Mã Kiên, người đã trà trộn theo đám đông đến đó, thì
hãnh diện khoe rằng:
- Ðích
thị rồi!... Một phát là trúng ngay. Tài nghệ của ta như
thế thì an tâm, nhứt định sẽ nổi tiếng, thật xứng
đáng với công phu rèn luyện.
- Ông
nói gì cơ? .- Một bô lão hỏi Mã Kiên.
- Hôm
qua thấy sư này ngang qua cổng thành, tôi búng viên sỏi thử
tài một chút, không ngờ kết quả mỹ mãn. Tài nghệ
của tôi đúng là đã đến hồi điêu luyện.
- Bà
con ơi! .- Một thanh niên quát lên. Chính tên này đã ám sát
Xu-nét-ta. Hãy bắt nó lại! Gô nó lại!
Thế
là Mã Kiên bị một trận đòn thâm da tím mặt và chết trong
tủi nhục. Hắn bị đọa vào địa ngục A tỳ, chịu nhiều
thống
khổ. Ðến khi thoát kiếp thì lại làm ma búa tạ trên đỉnh
kền kền.
Dừng
lại trong giây lát, Thế Tôn mỉm cười, nhìn đại chúng,
hỏi:
- Các
thầy có đoán ra Ðức Phật độc giác Xu-nét-ta kia là ai không?
Một tiền kiếp của ta đó!
- A
Di Ðà Phật.- Ðại chúng chấp tay xá.
Ðoạn
Ngài tiếp:
- Này
các thầy Tỳ kheo, nếu người tâm lượng hẹp hòi, đầu
óc nông cạn, mà trong tay có chút quyền lực hay tiểu xảo
thì dễ sanh sự, bất lợi; trước nhất là tự chuốc lấy
thảm hại cho chính mình.
Ngài
đọc kệ:
Kiến
thức và danh vọng,
Trở
lại hại kẻ ngu,
Tiêu
diệt ngay vận tốt,
Bửa
nốt cả đầu ngu.
(PC.
72)
GIẢO
NGÔN TẬT ÐỐ CHƯA PHAI
BAO
NĂM KHỔ HẠNH CŨNG HOÀI CÔNG PHU
Thuở
nọ có một gia chủ, tục danh Tâm Ý (Citta), cư ngụ tại thành
Ma-chi-ka-xan-đa (Macchikàsanda), thấy Trưởng lão Ðại Danh (Mahànàma)
đang thiền hành khất thực với phong thái uy nghi từ tốn,
khoáng đạt thanh cao; ông bèn sanh tâm hoan hỷ, cung kính đảnh
lễ, xin ôm y bát, rồi thỉnh Trưởng lão về nhà cúng dường
nhiều thực phẩm và lễ vật sang trọng.
Sau
thời ngọ trai, ông được Trưởng lão ban cho một thời pháp
thoại với tựa đề “Lục độ ba la mật”, tức là sáu
đại hạnh siêu việt, kiên cố của Bồ tát hóa thân, gồm
có: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định,
vàtrí tuệ. Ba la mật, theo Hán ngữ, là “đáo bỉ ngạn”,
nghĩa là qua bờ bên kia: bờ tự do giải thoát; còn bờ bên
này (thử ngạn): bờ sanh tử khổ đau. Bố thí ba la mật là
thể hiện hạnh nguyện vượt tầm đối đãi, ngôn ngữ thiền
môn gọi là “tam luân không tịch”, tức là chủ bố thí,
khách tiếp nhận, và vật dụng trao tặng đều ở trạng thái
tịch tịnh tuyệt đối, không còn khái niệm ta và người,
năng và sở, chủ thể và đối tượng; tất cả đều vận
hành theo một trật tự dung thông và bình đẳng. Nhờ tín
tâm sâu sắc, thiện nghiệp lâu đời, Tâm Ý đã nương theo
pháp thoại và chứng quả Tu đà hoàn. Ðể thể hiện duyên
lành hy hữu, Tâm Ý phát nguyện hiến cúng khu lạc viên Am-ba-ta-ka
(Ambàtaka) làm nơi trú xứ cho Tăng đoàn bằng cách, theo tập
tục, rót nước vào lòng bàn tay phải của Trưởng lão
để minh chứng rằng khu vườn từ nay thuộc quyền sở hữu
của Giáo hội, và trịnh trọng tuyên bố: “ Ðạo Phật đã
được thiết lập vững mạnh” . Sau đó, một đại thí chủ
cũng phát tâm xây dựng một tu viện khang trang, rộng rãi ngay
giữa lạc viên, và thế là những cánh cửa thiền môn từ
từ mở ra, những nếp y vàng dần dần tụ lại, họp thành
một cộng đồng thanh tịnh trang nghiêm dưới sự hướng dẫn
của Trưởng lão Tịnh Pháp (Sudhamma).
Một
thời gian sau, hai Cao đệ quản chúng của Thế Tôn, nghe thanh
danh và đức hạnh của Phật tử Tâm Ý, quyết định đến
Ma-chi-ka-xan-đa để diện kiến dung nhan và tỏ lòng kính trọng
thí chủ. Tâm Ý được tin, đích thân ra xa nửa dặm nghinh
đón, đưa họ về chùa, thiết lễ trai tăng cúng dường, rồi
được dịp nghe pháp, và chứng quả Tư đà hàm. Sau đó, Tâm
Ý cung thỉnh hai Trưởng lão với một ngàn đồ chúng đến
nhà thọ trai vào ngày hôm sau. Ðoạn ông quay sang thưa với
Sư trưởng Tịnh Pháp:
- Nhân
thể kính mời Trưởng lão ngày mai đến nhà con thọ trai với
các Sa môn.
Bực
tức vì thấy mình được mời sau cùng, Sư trưởng Tịnh Pháp
im lặng, ra vẻ không quan tâm đến lời mời.
Tâm
Ý cung kính mời hai ba lần mà sư Tịnh Pháp vẫn phớt lờ,
lạnh nhạt.
Hôm
sau, Tâm Ý chuẩn bị lễ trai tăng rất trang trọng. Và ngay
từ lúc sáng sớm, Tịnh Pháp đã tự nhủ:
- Ta
sẽ đến xem coi Tâm Ý thiết lễ thế nào, cúng kiếng những
gì cho các Sa môn đó.
Thế
là mới tờ mờ sáng, Tịnh Pháp đã y bát chỉnh tề, trực
chỉ đến nhà Tâm Ý.
Thấy
sư vào mà chả ngó ngàng gì đến ai, Tâm Ý chấp tay vái chào,
thưa:
- Xin
mời Trưởng lão ngồi.
- Không
dám!... Sư đáp với thái độ lạnh lùng như băng giá. Ta đâu
được cái hân hạnh đó. Tiện đường hóa duyên, ghé xem
tí thôi!
Nhưng
thấy nhiều phẩm vật đặc sắc đã được bày biện để
cúng dường nhị vị Cao tăng, Tịnh Pháp thấy ngứa mắt,
buột miệng nói:
- Thí
chủ, phẩm vật cao sang, hương vị tuyệt vời, nhưng còn thiếu
một món!
- Món
chi? Xin Trưởng lão từ bi chỉ giáo.
- Món
bánh mè. Thiếu bánh mè thì ra be bét!
Tâm
Ý im lặng, nhưng trong lòng thấy Tịnh Pháp và bóng dáng của
loài quạ diều chẳng khác là bao!
Vừa
sượng, vừa tức, Tịnh Pháp vụt buông lời vô duyên, ngớ
ngẩn:
- Phải
rồi!... Ðây là nhà của thí chủ, đang cầu tài cầu lộc,
chứ đâu phải chùa chiền gì của mình mà dám luận bàn,
góp ý. Ta đi thôi!
Nghĩ
tình thân cận bao năm, Tâm Ý tha thiết mời Sư trưởng Tịnh
Pháp ở lại thọ trai với Tăng đoàn, nhưng sư một mực từ
chối. Tập khí đố kỵ tự nhiên thúc giục nhà sư hối hả
ra đi .
Ra
khỏi nhà Tâm Ý, Tịnh Pháp xăm xăm đến Kỳ Viên, đảnh
lễ Thế Tôn và thuật lại mọi diễn biến đã xảy ra. Thế
Tôn nói:
- Tịnh
Pháp, thầy xuất gia tu học đã lâu mà tâm trí còn vướng
kẹt vậy sao! Thầy hiểu hai từ “nội kết” và “kiết
sử” thế nào, giảng tôi nghe xem.
Thấy
Tịnh Pháp cúi mặt bẽn lẽn, Thế Tôn tiếp:
- Nội
kết, nói nôm na, là “táo bón”, những thứ cặn bã cô kết
trong lòng. Mà đã “táo bón” thì ruột gan ray rứt lắm,
phải vậy không? Còn kiết sử? Kiết là trói buộc. Sử là
dẫn dắt. Thầy đã bị nội kết dày vò, kiết sử lôi kéo
như thế là vì thiếu chánh niệm và tỉnh giác. Thôi, hãy
chiêm nghiệm! Hãy phản tỉnh! Tốt hơn là thầy nên trở lại
gặp và xin lỗi thí chủ Tâm Ý.
Theo
lời Thế Tôn, Sư trưởng Tịnh Pháp trở lại gặp thí chủ,
tỏ vẻ ân hân, nói:
- Tâm
Ý ơi!... Những gì diễn ra quả thật là ngoài ý muốn của
chúng ta. Xin Tâm Ý hỷ xả để cho tình đạo bạn được
ngày thêm bền vững nhé!
Tâm
Ý im lặng, lạnh lùng xách thùng đi lấy nước tưới hoa.
Thấy
thiện chí của mình bị xúc phạm, Tịnh Pháp buồn bực, về
thuật lại sự thể với Thế Tôn, và được Thế Tôn khuyên
nên trở lại xin lỗi Tâm Ý một lần nữa. Ngài thấy rõ
mục tiêu của Tâm Ý là muốn chiết phục tính kiêu căng ngạo
mạn của vị Sa môn này.
Nhưng
trước khi Trưởng lão Tịnh Pháp cáo từ với một tân Sa
môn được Thế Tôn cho phép tháp tùng, Ngài có đôi lời huấn
thị:
- Này
Tịnh Pháp, khi các thầy từ giã gia đình, theo ta tu tập, là
các thầy đã tự nguyện suốt đời vô sản, khất thực hóa
duyên; nhờ lòng hảo tâm của bá tánh thập phương mà duy
trì thọ mạng, phát huy đạo nghiệp; vậy thì các thầy còn
lý do gì để mà khởi tâm kiêu hãnh. Muốn thoát khỏi ngôi
nhà thế tục, ngôi nhà phiền não, ngôi nhà nổi trôi trong
ba cõi: dục giới, sắc giới và vô sắc giới, thì trước
tiên phải bẻ gãy ngọn cờ kiêu mạn. Kiêu căng ngạo mạn
là thành lũy chông gai, bít lấp lộ trình dẫn đến thánh
đạo. Kiêu căng chớm khởi, ác nghiệp bùng lên. Người xuất
gia học đạo, tu hạnh thanh bần thì phải luôn luôn hàng phục
tập khí kiêu căng, chủ quan định kiến. Ðừng bao giờ có
ý nghĩ đây là chùa ta, trú xứ của ta, môn đệ của ta, thiện
nam tín nữ của ta. Ta là trong sạch cao cả, ta là trưởng
lão cao niên. Vì sao? - Vì một khi khởi lên khái niệm như
thế thì trần lao phiền não ùn ùn kéo tới, nhận chìm thiện
duyên công đức, che khuất thánh trí thần quang. Thầy đã
nhận ra yếu chỉ của Như Lai và thiện niệm của Tâm Ý rồi
chứ, Tịnh Pháp?
- A
Di Ðà Phật.- Tịnh Pháp đứng lên đảnh lễ Thế Tôn với
hai khóe mắt đỏ rần.
Im
lặng trong giây lát, đoạn Thế Tôn mỉm cười, gật đầu
và đọc kệ:
Kẻ
ngu ham danh hão,
Khoái
ngồi trước Sa môn,
Ưa
quyền trong tu viện,
Thích
mọi người suy tôn.
Hãy
để Tăng và tục,
Cho
rằng: “Việc ta làm,
Mặc
dù lớn hay nhỏ,
Ðều
phải theo ý ta”.
Kẻ
ngu ôm khát vọng,
Dục
mạn lớn dần ra.
(PC.
73, 74)
CHÍ
TÂM PHÁT NGUYỆN, CẢM ỨNG MƯỜI PHƯƠNG
TỊCH
TỊNH TRANG NGHIÊM, THÀNH TỰU THÁNH ÐẠO
Truyện
kể rằng tại Vương Xá có một tín đồ Bà la môn, húy Ðại
Trác (Mahàsena), cha của Trưởng lão Xá Lợi Phất. Một hôm,
trên đường khất thực, Trưởng lão chợt nghĩ đến cảnh
cơ hàn của cha mình mà bùi ngùi thương cảm, hai tay ôm bát
theo nhịp bước thiền hành, thẳng đến trước nhà lúc nào
không hay. Thoáng nhìn thấy con, Ðại Trác bối rối, thầm
nghĩ: “Thương quá!... Lấy gì bố thí cúng dường. Con ơi,
chỉ có trời mới hiểu được cảnh khốn khó của cha”.
Ông đảo mắt nhìn căn nhà trống trơn, rồi lách mình ra vườn
sau giấu mặt.
Mấy
hôm sau, nhân khóa lễ cầu kinh Bà la môn, ông nhận được
một tô cháo trắng với một khúc vải thô, thế là ông liền
nghĩ đến nếp sinh hoạt phạm hạnh thanh bần của người
con. Và kỳ diệu thay, chính lúc đó Trưởng lão đang nhập
định nhưng cũng bắt gặp ngay thiện niệm của phụ thân.
Sau khi xả thiền, Xá Lợi Phất khoác y, ôm bát, trực chỉ
đến trước cửa nhà của thí chủ. Vừa thấy Trưởng lão,
Ðại Trác lòng vui phơi phới, vội chạy ra đưa Trưởng lão
vào nhà ngồi nghỉ, đoạn ông đích thân bê tô cháo đến
trước Trưởng lão, nói rằng:
- Mong
Trưởng lão nhận nơi đây lòng quý trọng và thương yêu vô
hạn.
- Thiện
tai!... Thiện tai!...
Xá
Lợi Phất chỉ nhận nửa phần cháo, rồi sè tay che bát ra
hiệu nhường phần còn lại cho phụ thân.
- Xin
Trưởng lão độ hết, và cầu nguyện cho ta kiếp sau đuợc
an lành hạnh phúc.
Ðại
Trác sớt hết cháo vào bình bát. Trưởng lão im lặng, chú
nguyện và thọ thực ngay tại chỗ.
Sau
đó thí chủ hai tay nâng khúc vải lên, phát nguyện:
- Trưởng
lão, ước gì mai kia ta cũng ngộ đạt chân lý như Trưởng
lão.
- Hẳn
là như vậy, này thí chủ Bà la môn.
Trưởng
lão đứng lên, ngỏ lời hồi hướng công đức và trở về
Kỳ Viên.
Ðại
Trác tiễn Trưởng lão ra sân mà đầu óc cứ lâng lâng như
đi trên mây gió. Ðúng là:
Thấy
con đạo nghiệp vuông tròn,
Ðời
cha dù có héo hon cũng đành.
Ít
lâu sau, Ðại Trác qua đời, thác sanh vào gia đình của một
cặp vợ chồng Phật tử thuần thành, hết lòng cung kính và
hỗ trợ Trưởng lão Xá Lợi Phất đang an trú tại Xá Vệ.
Từ lúc cấn thai, người vợ đã phát tâm rằng, đến thời
khai hoa nở nhụy, nàng sẽ cung thỉnh Trưởng lão và năm trăm
Sa môn đến nhà thọ lễ trai tăng và đặt tên cho cháu. Biết
rõ thiện nguyện của vợ, người chồng rất mực hân hoan,
chăm sóc từng miếng ăn giấc ngủ cho mẹ con thai nhi để
được ngày ngày an vui, tăng trưởng.
Và
rồi, sau chín tháng cưu mang, ôm ấp hoài vọng, nàng đã hạ
sanh được một bé trai bụ bẫm vào một sớm mai trời thanh
gió mát.
Ðể
ước nguyện được thành tựu viên mãn, sau tuần sanh nở,
hai vợ chồng thiết lễ trai tăng nhằm ngày trăng tròn. Và,
cũng nhân dịp này, Trưởng lão được thí chủ cung thỉnh
đặt tên cho em bé. Nhưng kỳ lạ thay, Trưởng lão vừa khởi
tâm chú nguyện thì hài nhi liền đưa hai tay lên khỏi tấm
chăn bông, ọ ẹ vài tiếng rồi cất lời trịnh trọng:
- Ðây
là đạo sư trước kia của ta. Nhờ Ngài mà ta có được cảnh
huy hoàng rực rỡ hôm nay. Xin đảnh lễ và cúng dường Ngài.
Năm
trăm Sa môn và mọi người nhìn nhau ngơ ngác, nhất là cha
mẹ của em bé. Một hiện tượng hy hữu, chưa từng thấy
trong đời.
- Bạch
Trưởng lão, người mẹ đứng lom khom, run run hai tay nói, xin
Trưởng lão thương vợ chồng con đặt cho cháu cái tên. Trời
ơi!... Sao con của con mới được một tuần tuổi mà đã biết
nói, lại nói Trưởng lão vốn là Thầy của nó. Lạy Phật,
con sợ quá!... Hay là... xin Trưởng lão đặt tên cháu theo
húy danh của Trưởng lão, cho cháu được ... ăn mày chút công
đức ...
- Bình
tĩnh.- Trưởng lão mỉm cười nói. Cái gì trên đời cũng
có nhân duyên với nhau cả. Ðược rồi, cháu tên là Ti-xa
(Tissa), gọi đầy đủ là U-pa-ti-xa (Upatissa).
Và
U-pa-ti-xa chính là tục danh của Trưởng lão Xá Lợi Phất.
Cậu
bé mỗi ngày một khôn lớn và trông tú lệ hẳn ra. Khi lên
bảy tuổi, một hôm, nhân cả nhà viếng chùa, lễ Phật,
rồi sang thăm Trưởng lão Xá Lợi Phất. Trong lúc sư đệ
đang hàn huyên tâm sự thì cậu bé nói với mẹ:
- Mẹ
ơi, con muốn ở chùa. Con muốn theo Sư ông.
- Không
được!.- Người mẹ nói nhỏ vào tai con. Con còn nhỏ. Ở
chùa ai chăm sóc cho con, nhất là cái tội... con biết tội
gì hôn? Tội làm ướt giường ướt chiếu ban đêm đó!
- Nhưng
con ở chùa thì tự nhiên nó hết.
- Hay
nhỉ!...
Người
mẹ ngạc nhiên trước câu trả lời dứt khoát của con, bèn
liếc nhìn chồng, và thưa với ngài Xá Lợi Phất:
- Bạch
Trưởng lão, bỗng dưng cháu nói muốn theo Trưởng lão. Cháu
muốn xuất gia.
- Thật
sao!... Ở chùa khổ lắm con ơi! .- Trưởng lão kéo Ti-xa đến
trước mặt nói: Giữa cảnh thiền môn, khi con muốn êm đềm
hạnh phúc thì chỉ thấy buốt giá cơ hàn, còn khi con muốn
buốt giá cơ hàn thì chỉ thấy êm đềm hạnh phúc. Ngược
xuôi đảo lộn, tình cảnh dị thường. Vì sao? Vì người
đời thì thuận dòng xuôi bến, còn tu sĩ thì bạt thủy nghịch
lưu. Nếp sống tu hành thường đơn côi thách thức như
bóng dáng lẻ loi của những tay leo núi, trơ vơ sừng sững
trên vách đá gồ ghề: phải gian nan vất vả, bền chí kiên
cường mới đến đích, còn lệch chân sẩy tay là toi ngay
thân mạng. Con thì ... thuộc dạng cành vàng lá ngọc, làm
sao đương đầu với bão tố phong ba, cô thân chích bóng! .-
Trưởng lão nói với em bé như tâm sự với một người trí
thức trưởng thành.
- Dạ!...
con sẽ chu toàn bổn phận theo lời chỉ giáo của Sư ông.
- Thiện
tai!... Thiện tai!... Vậy thì kể từ giờ phút này con là thành
viên của thiền môn.
Cậu
bé liền được quy y thọ giới, mang pháp danh Thiện Nguyện,
và được Thế Tôn trao cho một chủ đề thiền quán
về ngũ uẩn, gồm hình sắc, cảm thọ, tri giác, tâm hành
và nhận thức; đặc biệt là chiêm nghiệm về sự bất tịnh
của sắc thân.
Sau
đó cha mẹ của Thiện Nguyện đảnh lễ Tam bảo rồi ra về,
còn chú Sa di bé nhỏ kia hãnh diện khoác lên mình tấm pháp
y màu nghệ, trông đường bệ và dễ thương như một
chú sư tử con đang ung dung tự tại giữa cánh rừng thân thương
quen thuộc.
Trong
khi Thiện Nguyện tu tập tại Kỳ Viên, anh em huynh đệ cùng
trang lứa thường lui tới nô đùa và trò chuyện với chú.
Thấy nếp sinh hoạt thiền môn có phần trở ngại, Thiện
Nguyện đến đảnh lễ Ðức Thế Tôn, trình bày quyết tâm
viễn ly tịch tịnh, và được Thế Tôn hoan hỷ, nhắc lại
yếu chỉ thiền quán về ngũ uẩn cho hành giả hạ thủ công
phu. Thiện Nguyện sang đảnh lễ Trưởng lão y chỉ sư, tác
bạch thiện chí, rồi một mình thẳng đến rừng Khổ hạnh.
Một
sớm mai nọ, Thiện Nguyện vào làng khất thực. Thấy tướng
mạo đoan trang, dung nghi đỉnh đạc của một chú tiểu khác
lạ, dân chúng cảm mến, đua nhau cúng dường rất nhiều lễ
vật cho chú. Ðể đáp lại công đức của bá tánh thập phương,
Thiện Nguyện ngỏ lời hồi hướng:
Nguyện
cầu thí chủ an khương,
Thoát
ly khổ lụy, tuyệt đường tử sinh.
Và
chỉ sau ba tháng an cư, Thiện Nguyện chứng quả A la hán, với
thần thông quảng đại, pháp lực siêu quần.
Bấy
giờ, cũng sau ba tháng an cư, Trưởng lão Xá Lợi Phất đến
vấn an Ðức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngỏ ý muốn viếng
thăm Thiện Nguyện. Thế Tôn hoan hỷ. Trưởng lão sang chào
pháp lữ Mục Kiền Liên, Ma-ha Ca Diếp, và thế là ba Trưởng
lão cùng với năm trăm Sa môn lên đường, hướng thẳng đến
Khổ hạnh lâm.
Ðược
Phật tử báo tin Tăng đoàn sắp đến, Thiện Nguyện rất
đổi vui mừng, ra tận bìa rừng nghinh tiếp tôn Sư.
Thấy
những nếp y vàng lấp lánh dưới ánh trời chiều, dân chúng
hân hoan rủ nhau kéo đến rất đông, mục đích là chiêm ngưỡng
Tăng đoàn và được nghe pháp thoại.
Lúc
đó màn đêm dần dần buông xuống, cảnh vật vắng vẻ hoang
sơ, Trưởng lão Xá Lợi Phất khuyên Phật tử và dân chúng
ra về, nhưng họ khăng khăng muốn nghe pháp thoại. Không nỡ
phụ lòng thâm tín Tam bảo của Phật tử, Trưởng lão cho
đốt đèn đuốc lên, và bảo Thiện Nguyện thuyết pháp.
Nhưng hầu hết Phật tử đều lên tiếng:
- Kính
bạch Trưởng lão, tiểu Tăng của chúng con không biết thuyết
pháp, chỉ biết chú nguyện hai câu đơn giản như sau:
Nguyện
cầu thí chủ an khương,
Thoát
ly khổ lụy, tuyệt đường tử sinh.
- Nhưng
làm thế nào để được an khương, để được thoát ly khổ
lụy, để được tuyệt đường tử sinh. Ngài Xá Lợi Phất
nói. Phải có lý thuyết và thực hành chứ! Nào, Thiện Nguyện,
hãy thuyết giảng và lý giải tường tận cho thính chúng!
Theo
lời Trưởng lão, Thiện Nguyện lên ngồi trên một pháp tòa
bằng cỏ, được đan kết giản dị giữa một khoảng đất
trống, rồi cất lời trầm hùng thanh thoát với chủ đề
thiền quán về ngũ uẩn mà chú đã ân cần tiếp nhận từ
Ðức Thế Tôn:
-
Này thiện nam tín nữ, này chư Phật tử có duyên với Tăng
lữ thiền môn, hẳn quý vị đều biết rằng trong chúng ta
ai ai cũng có thân bịnh và tâm bịnh. Thân bịnh phần lớn
là do ảnh hưởng của thời tiết và cung cách sinh hoạt thái
quá của mỗi người; còn tâm bịnh thì bắt nguồn từ sự
bất an của các trạng thái tâm lý. Thân bịnh thuộc về sắc;
tâm bịnh thuộc về thọ, tưởng, hành và thức. Chúng ta thường
bị khốn khổ về tâm bịnh nhiều hơn là về thân bịnh.
Vì sao? Vì lúc nào ta cũng mang nặng ý niệm về ta vaø của
ta. Nhưng ta và của ta là những khái niệm giả danh, không
thật, không có tự tánh, không nắm bắt dược, không thiết
lập được. Những nhận thức sai lầm này nếu phát sanh trong
tâm ta thì chúng sẽ kết thành những triền sử. Và triền
sử là những sợi dây vi tế, bền chắc, trói buộc và dẫn
dắt ta đi theo những lộ trình đầy dẫy chông gai, hiểm nguy
và đọa lạc. Nói chung, nhận thức sai lầm càng sâu, đau
thương khổ lụy càng dày.
Nhưng
qua sáu đối tượng (sắc, thọ, tưởng, hành, thức và thế
giới) mà ai không thấy cái ta và cái của ta thì người ấy
sẽ không bị vướng mắc vào những ràng buộc của cuộc
đời. Vì không vướng mắc cho nên không hoảng sợ, và không
hoảng sợ thì được thong dong tự tại, tịch tĩnh niết bàn.
Vị ấy biết chính xác rằng mình đã lấp được cống rãnh,
vượt qua mương hào, phá vỡ thành lũy, mở tung xiềng xích
và hội nhập thánh trí. Vị ấy không còn luân hồi sanh tử.
Vị ấy đã ngộ đạt chân lý thực tại.
Thính
chúng hân hoan vỗ tay vang cả cánh rừng, tán thán: “Sa di
Thiện Nguyện tính tình điềm đạm, ít nói, nay bỗng dưng
lợi khẩu hùng hồn. Thế mới biết sức mạnh của tập thể
Tăng thân!”
Trưởng
lão Xá Lợi Phất cùng đại chúng rất đổi vui mừng về
trí tuệ bừng sáng và đạo nghiệp viên thành của sư Thiện
Nguyện.
Sáng
hôm sau, dân làng thiết lễ trai phạn, cúng dường Tăng đoàn,
rồi lưu luyến tiễn họ lên đường trở về Kỳ Viên thăm
Ðức Thế Tôn.
Sau
ba tháng an cư xa cách, thầy trò nay lại đoàn tụ trong bầu
không khí thắm tình thiền môn, đạo vị.
Rồi
một buổi mai, Thế Tôn hướng dẫn Tăng đoàn và Thiện Nguyện
thiền hành lên trên một đỉnh núi cao, bốn bề bát ngát
với đại dương bao la. Thế Tôn hỏi:
- Thiện
Nguyện, đứng trên đỉnh núi cao này, con nhìn thấy những
gì nào?
- Bạch
Thế Tôn, con chỉ thấy biển cả mênh mông và trời cao lồng
lộng.
- Khi
nhìn biển cả, đầu óc con có nảy sanh ý niệm gì không?
- Có
ạ!... bạch Thế Tôn. Tự dưng con cảm thấy nước mắt của
con, trải qua vô số kiếp sanh tử luân hồi, đã trào ra còn
nhiều hơn nước của bốn biển đại dương.
- Ðúng
thế!... Ðúng thế!... Thiện Nguyện. Theo dòng duyên nghiệp
quay cuồng trong tam đồ lục đạo, nước mắt của con đã
tuôn chảy nhiều hơn là nước của đại hải trùng dương.
Và
để dễ nhớ, Thế Tôn tóm lược nội dung theo thể loại
niêm vận:
Giọt
lệ nhân gian giăng bốn phương
Nối
theo năm tháng kết miên trường
Nhiều
hơn nước biển vờn lai láng
Vọng
niệm lên mầm nghiệp vấn vương.
Thế
Tôn lại hỏi:
- Thiện
Nguyện, hiện nay con trú ngụ nơi nào?
- Trong
một hang đá tại rặng núi này, bạch Thế Tôn.
- Con
có thấy gì không?
- Dạ!...
con đã thấy thân mạng con trải qua vô lượng vô biên kiếp
sống chết, vùi dập trên dải đất này.
- Thiện
tai!... Thiện tai!... Thiện Nguyện, đúng là như thế. Theo chúng
ta biết thì không một chúng sanh nào sau khi mạng vong mà không
bị đặt nằm trên trái đất này. Nghe có vẻ phũ phàng thê
thảm nhưng sự thật là như vậy.
Ngài
cũng tóm tắt nội dung thực tại theo thể kệ thất ngôn:
Mười
bốn ngàn dân táng nơi đây
Thân
tan cốt rụi lấp vơi đầy
Tử
sanh luân lạc dòng vô tận
Thánh
giả điều tâm thoát lưới vây.
Thế
Tôn hỏi tiếp:
- Thiện
Nguyện, khi nghe tiếng cọp beo và những loài dã thú khác gầm
rú trong cánh rừng này con có sợ không?
- Không
những không sợ mà còn yêu quý cánh rừng vô hạn, bạch Thế
Tôn.
Sau
đó Thiện Nguyện ứng khẩu đọc sáu mươi bài kệ ca ngợi
cánh rừng. Thế Tôn và đại chúng nức lòng hoan hỷ về tâm
trí rực rỡ của chú sa di tuổi vị thành niên.
Ðoạn
Thế Tôn nói:
- Thiện
Nguyện!
- A
Di Ðà Phật, Thế Tôn gọi con.
- Thầy
sắp đi đây. Con muốn theo Thầy hay trở về hang động?
- Dạ!...
Thế Tôn cho con theo thì con đi, Thế Tôn bảo con về thì con
về.
Trưởng
lão Xá Lợi Phất đọc được ý niệm của Thiện Nguyện,
bèn nói:
- Thiện
Nguyện, nếu con muốn về thì hãy về đi!
Thiện
Nguyện đảnh lễ Thế Tôn và Tăng đoàn rồi ra về, còn Thế
Tôn và Tăng thân thì trở lại Kỳ Viên.
Tối
hôm đó, đại chúng họp nhau trong chánh điện, luận bàn về
khẩu khí xảo diệu của chú điệu khác thường:
- Các
thầy nghĩ xem, Thiện Nguyện quả thật vĩ đại và hiếm có
trên đời! Một Trưởng lão cao niên nói. Có ai bảy tuổi
xuất gia làm điệu, bảy ngày tu tập tại chùa, rồi một
mình một bóng thẳng đến rừng Khổ hạnh, tu tập chỉ trong
một thời gian ngắn đã thành tựu đạo nghiệp: thuyết giảng
lưu loát, kinh điển am tường, phong thái đường đường,
trí tuệ rực rỡ; nhất là đi đến đâu cũng được quần
chúng và Phật tử cung kính, cúng dường sung túc. Hy hữu quá!...
Hy hữu quá! Và xét cho cùng thì chắc là do túc duyên
thiện nghiệp của gia đình Thiện Nguyện đã nhiều đời
nhiều kiếp thâm tín chư Phật, hộ trì Tam bảo.
Nghe
các sư nhận xét trong chánh điện, Thế Tôn bước vào, ngồi
đúng vị trí của mình, tươi cười hỏi: “Có vấn đề
gì mà các thầy luận bàn vui thế!” Rồi không đợi trả
lời, Thế Tôn nói tiếp:
- Này
các thầy Tỳ kheo, nghiệm lại mà xem, trước mặt chúng ta
có hai con đường. Một đường dẫn đến thế gian: mưu cầu
tư lợi; một đường dẫn đến Niết bàn: tịch tịnh an vui.
Bốn cánh cửa sanh – lão – bịnh – tử lúc nào cũng mở
toang cho những ai thân ở trong rừng mà tâm ngoài phố thị.
Bao lâu còn mưu cầu lợi dưỡng, lượn theo lòng người, là
bấy lâu còn thay hình đổi dạng, chìm nổi lênh đênh. Còn
những ai đi trên lộ trình dẫn đến thánh đạo: viễn ly
danh lợi, vô ngại ung dung, vững chãi đoan trang, cất bước
siêu việt, thì nhứt định sẽ tự tại giải thoát, chứng
quả vô sanh.
Ngài
đọc kệ:
Ðường
này đến thế gian,
Ðường
kia đến niết bàn,
Tỳ
kheo đệ tử Phật,
Phải
ý thức rõ ràng,
Ðừng
đắm say thế lợi,
Hãy
tu hạnh ly tham.
(PC.
75)