TÁN
DUYÊN KHỞI[1]
Cúi
đầu lễ chư Phật,
Tôn
Pháp, Tăng tỳ-kheo.
Nay
diễn pháp Tì-ni
Để
Chánh pháp trường tồn.
Ưu-ba-li
đứng đầu,[2]
Và
các Thân chứng[3] khác,
Nay
nói yếu nghĩa giới
Các
hiền đều cùng nghe.
Nay
muốn nói thâm giới
Cho
người ưa trì giới,
Cho
người hay phúng tụng;
Lợi
ích các trưởng lão.
Nay
nói mười cú nghĩa
Giới
pháp của chư Phật:[4]
Khiến
Tăng hỷ, an lạc,[5]
Và
để nhiếp thủ Tăng,[6]
Người
không tín sẽ tín,
Người
đã tín tăng trưởng,
Dứt
trừ kẻ phá giới,
Đưa
tà đạo vào chánh,[7]
Người
tàm quý an ổn,
Phật
pháp được lâu dài.[8]
Vì
vậy, Đấng Tối Thắng
Diễn
nói Kinh Cấm giới.[9]
Các
núi, Tu-di hơn;
Các
sông, biển là nhất;
Các
Kinh trăm ngàn ức,
Giới
kinh là bậc nhất.
Muốn
cầu điều tối thượng
Đời
này và đời sau,
Phải
trì giới cấm này
Trọn
đời đừng hủy phạm.
Trừ
kết, không chướng ngại,
Trói
buộc do đây mở.
Dùng
giới tự quán sát,
Như
gương soi diện mạo.
Muốn
tạo các pháp lành,
Đầy
đủ ba món nghiệp.
Nên
xét kỹ ý mình
Như
kinh La-vân nói.[10]
Sở
dĩ lập ngôi Vua,
Bởi
do đời tranh tụng.
Nhân
dân suy cử lên,
Pháp
thường đời thượng cổ.[11]
Người
phạm tội biết pháp,
Thuận
theo pháp thành tựu.
Giới
luật cũng như vậy;
Như
Vua chánh pháp trị;
Như
thầy thuốc xét bệnh,
Chữa
trị tuỳ theo chứng.
Trị
được thì cho thuốc;
Không
thể trị thì buông.
Như
sách thuốc đã nói:
Bốn
chứng không thể trị,
Mười
ba có thể cứu.
Ngoài
ra chẳng cần cứu.
Ví
như có thây chết,
Biển
cả không dung chứa,
Bị
gió mạnh trôi dạt
Đưa
nó lên trên bờ.
Các
người làm ác hạnh
Cũng
như thây chết kia
Đại
chúng không dung chứa;
Do
vậy nên trì giới.
Như
giữ cửa kiên cố,
Khỏi
lo mất của cải.
Nếu
tường bị khoét, đổ;
Có
của sẽ phải lo.
Giới
Phật không khuyết, thủng;
Người
phụng trì không lo.
Cấm
giới không kiên cố
Người
hủy phạm lo âu.
Chiếc
bát sành lủng chảy,
Thợ
gốm lòng sầu lo.
Nếu
dụng cụ hoàn bị,
Quyến
thuộc đều hoan hỉ.
Trì
giới có khuyết, thủng;
Người
làm ác thường lo.
Kẻ
không hủy cấm giới
Tâm
thường được hoan hỉ.
Như
đốm lửa tuy bé;
Đừng
khinh nó là nhỏ.
Nếu
gặp cỏ, cây khô
Nó
đốt cháy không sót.
Ác
ta làm tuy nhỏ,
Cẩn
thận chó xem thường.
Như
rách y-la diệp[12],
Thường
sinh làm thân rồng.
Như
sư tử rống gầm,
Người
say không biết sợ.
Thú
nhỏ tiếng tuy bé,
Người
tỉnh nghe vẫn sợ.
Người
ba cấu[13] cũng vậy,
Tất
cả ác không sợ.
Người
trí việc ác nhỏ,
Thường
ôm lòng lo sợ.
Như
khi bào chế thuốc,
Loại
bỏ thứ không tốt;
Người
bệnh uống được lành,
Thân
khỏe được an lạc.
Người
tu giới cũng vậy;
Hay
tránh các ác hành,
Trừ
các hoạn kết sử,
An
ổn vào Niết-bàn.
Nếu
muốn đi đường xa,
Phải
tự bảo vệ chân.
Nếu
chân bị thương tổn
Không
thể đi xa được.
Cầu
cõi trời, Niết-bàn;
Phương
tiện thủ hộ giới.
Không
hủy hoại như vậy,
Ắt
vượt khỏi đường hiểm.
Như
người muốn qua sông,
Dùng
tay và phao nổi;
Nước
sâu không sợ chìm,
Có
thể đến bờ kia.
Đệ
tử Phật cũng vậy,
Tu
hành gốc cấm giới,
Không
bị cuốn dòng tà,
Đắm
chìm biển sanh tử.
Ví
như cung Đế Thích[14]
Các
báu khắc chạm thành,
Thềm
bậc bằng thất bảo,
Chỗ
đi[15] của người, trời.
Điện
chánh pháp[16] cũng vậy;
Bảy
giác ý[17] trang nghiêm,
Cấm
giới làm thềm bậc;
Chỗ
đi của thánh hiền.
Như
khéo học hết thảy
Các
kỹ nghệ thế gian,
Sẽ
được Vua sủng ái;
Do
vậy được sung sướng.
Người
khéo hay tu học
Cấm
giới do Phật nói,
Trọn
không đọa ác thú,
Thường
được nơi an ổn.
Như
binh mình đủ mạnh
Mới
phá được binh người.
Chúng
hiền thánh kiên cố
Sau
đó phá quân ma.
Chúng
Thánh nếu hòa hợp,
Được
Thế tôn khen ngợi.
Do
chúng hòa hợp vậy
Phật
pháp được lậu dài.
Như
sữa mẹ từ ái
Nuôi
dưỡng, giữ gìn con;
Tất
cả nạn nước, lửa,
Bảo
vệ không xâm hại.
Cấm
giới như từ mẫu
Giữ
gìn người hành giả
Trọn
không đọa súc sanh,
Ngạ
quỷ hay địa ngục.
Như
có tướng dũng mãnh
Khéo
tập pháp chiến đấu,
Hàng
phục kẻ địch kia,
Tử
chiến không tiếc thân.
Con
Phật cũng như vậy,
Khéo
học các cấm giới;
Khi
năm ấm tan hoại,
Trọn
không sợ mạng hết.
Sinh
ra từ giới Phật,
Mới
là con chân thật.
Cũng
như Ương-quật-ma,[18]
Được
Như lai ký biệt.
Nếu
có người xả giới,
Đối
Phật pháp là chết.
Trì
giới như hộ mạng,
Giữ
gìn không để mất.
Ví
như được ấn Vua,
Đến
đâu không trở ngại.
Khuyết
thì bị cật vấn;
Mất
hết thì bị trói.
Người
toàn đủ giới-ấn
Đến
đâu không trở ngại.
Hủy
ít thì bất định;
Hủy
nhiều vào ba ác.
Vì
tất cả mọi người
Hàng
phục các ma quỷ,
Nên
Tiên nhân ngũ thông[19]
Sáng
tác các chú thuật.
Vì
người tàm quý kia
Nhiếp
người không tàm quý,
Nên
Như lai chế giới,
Nửa
tháng thuyết một lần.
Đã
thuyết ích lợi giới,
Cúi
đầu lễ chư Phật.
(Đoạn
kệ tụng này không phải được sáng tác khi Ca-diệp cùng
Thánh chúng nghìn vị kết tập Luật. Đây căn cứ theo sở
truyền riêng của mỗi bộ trong năm bộ phân trương về sau.
Tức được thuyết bởi vị đứng đầu của mỗi chúng. Nay
vì muốn phân biệt giải thích Luật tướng, cho nên trước
tiên đọc kệ tán thán, sau đó giải thuyết.)[20]
[1]
(T22n1428, tr.567b26)
[2]
Tứ phần 54, tr.968a4 «Tập pháp tì-ni ngũ bách nhân»: trong
đại hội kết tập tại Vương-xá, Ưu-ba-li được chấp thuận
làm thuyết trình viên về Luật tạng.
[3]
Thân chứng (Skt. kāya-sākṣin, Pali: kāya-sakkhin), Câu-xá 24,
tr.126a17: vị Bất-hoàn (A-na-hàm) khi chứng đắc diệt định,
chuyển danh là thân chứng 得滅定不還轉名為身證.
[4]
Thập cú nghĩa 十句義, xem cht. 31, ch.i sau
[5]
Hán: hỉ vĩnh an 喜永安; cú nghĩa 2&3: khiến Tăng hoan hỷ
và an lạc.
[6]
Cú nghĩa 1.
[7]
Cú nghĩa 6: điều phục những ai chưa được điều phục.
[8]
Trong đây không đề cập hai cú nghĩa 8 & 9: đoạn trừ
hữu lậu hiện tại, đoạn trừ hữu lậu vị lai.
[9]
Cấm giới kinh 禁戒經, hay Giới kinh, chỉ Ba-la-đề-mộc-xoa
波羅提木叉 (Skt. Prātimokṣa-sutra, Pali: Pāṭimokkha-sutta)
[10]
Trung A-hàm 3, «14. kinh La-vân,» (T1, tr.436a-437b). Pali, M. 61.
Ambalaṭṭhikā-Rāhulovāda-sutta (M.i.414-424): Phật hỏi Rāhula,
cái gương để làm gì?
[11]
Trường A-hàm 6, «kinh Tiểu duyên,» (T1, tr.36tt). Pali: D. 24.
Agañña-suttanta (D.iii.tr. 93): Vào thời thái cổ, do tranh chấp
ruộng đất, nhân dân bầu lên một người để giải quyết,
gọi là vị trọng tài được bầu lên bởi đại hội (Mahāsammato-rājā;
Hán dịch: Đại bình đẳng vương 大平王).
[12]
Y-la diệp 伊羅葉; Skt. erapatra, hoặc elāpattra, H: hương diệp
香葉, hoắc hương diệp 藿香葉, một loại tiểu đậu khấu
(Cardamon). Ở đây chỉ tên một con voi chúa, hay rồng, Pali:
erakapatta. Tiền thân là Tỳ-kheo thời Phật Ca-diệp (Pali: Kassapa),
bị té thuyền, vớ nhằm lá eraka. Ông chết đuối với tâm
ưu uất nên tái sinh làm thân rồng. (Pháp cú truyện giải,
Dh.A.iii.230-6). Theo tài liệu Hán, Phúc cái chánh hạnh sở tập
kinh 11 (T32n1671): tiền thân là tỳ-kheo phạm 2 tội, ngắt lá
y-la và khất thực sau giờ ngọ, do đó sinh làm thân rồng
với 7 đầu trên đó mọc cây y-la.
[13]
Tam cấu nhân 三垢人, ba hạng người dơ bẩn: như cái chậu
rửa chân còn lưu một ít nước dơ; cái chậu đã đổ hết
nước dơ, và cái chậu dơ bị lật úp. Xem, Trung A-hàm 3, «La-vân
kinh,» (T1, tr.436a). Pali, M. i. 141-424. Tam cấu, cũng thường
chỉ tham, sân, si.
[14]
Đế Thích đường 帝釋堂. Đây chỉ Chánh pháp điện 正法殿,
cũng gọi là Thiện pháp đường hay Thiện pháp giảng đường
善法講堂, Hội trường của chư thiên Tam-thập tam (Đao-lị
thiên). Pali: Sudhammāsabhā. Đế Thích còn có cung điện riêng
khác nữa, gọi là Tối thắng giảng đường (Pali: Vejayanta-pāsāda)
[15]
Sở hành 所行, cũng thường nói là sở hành cảnh giới 所行境界,
hay hành xứ 行處; Skt. (= pali) gocara, môi trường hay phạm
vi nhận thức và hành động.
[16]
Chánh pháp đường 正法堂, xem cht. 14 trên.
[17]
Giác ý 覺意, hay giác chi 覺支, bồ-đề phần 菩提分; Pali:
bojjhaṅga (Skt.bodhyaṅga).
[18]
Ương-quật-ma-(la) 鴦崛魔(=摩)羅, Pali: Aṅgulimāla (Skt. Aṅgulimālya)
dịch: Chỉ Man 指鬘, tên tướng cướp lừng danh thời Phật.
Sau được Phật hóa độ thành tỳ-kheo và đắc quả A-la-hán.
Xem Tạp A-hàm 36.16 (T2, tr.280c); Hiền ngu kinh 11 (T4, tr. 423b);
Ương-quật-ma kinh (T2, tr.508b); Ương-quật-ma-la kinh (T2, tr.512b);
Avadāśataka (Skt.) No.27; DhpA (Pali).i. tr.146; iii.185; Therag.vv.864-891.
[19]
Hán: thần tiên ngũ thông nhân 神仙五通人.
[20]
Đoạn phụ chú của vị truyền luật. Không thuộc chính văn
của Luật.
Source:
Phật
Giáo Việt Nam