CHƯƠNG
II
TĂNG
TÀN
I.
CỐ Ý TIẾT TINH
A.
DUYÊN KHỞI
1.
KẾT GIỚI LẦN THỨ NHẤT
Một
thời, đức Thế tôn du hóa nơi thành Xá-vệ. Bấy giờ, Ca-lưu-đà-di[1]
vì bị ám ảnh dục bừng bừng,[2] nên nhan sắc tiều tụy,
thân thể yếu mòn. Trong thời gian khác, Ca-lưu-đà-di sống
một mình trong một phòng, trang bị võng tốt, giường cây,
nệm lớn, nệm nhỏ, chăn gối, dưới đất lại trải phu
cụ tốt, ngoài cửa để đồ đựng nước nóng rửa chân;
ăn uống đầy đủ sung túc; do vậy ám ảnh dục càng bừng
bừng. Mỗi khi dục tâm khởi lên, ông bèn vọc cho xuất bất
tịnh. Nhờ vậy, các căn tươi vui, nhan sắc sáng sủa. Các
tỳ-kheo thân hữu thấy vậy hỏi:
«Trước
đây nhan sắc của thầy tiều tụy, thân hình gầy ốm, mà
nay thì nhan sắc tươi vui sáng sủa. Ấy là do đi đứng thoải
mái chăng? Không khốn khổ vì ăn uống phải không? Vì sao
được như vậy?»
Ca-lưu-đà-di
trả lời:
«Tôi
đi đứng thoải mái, không khổ vì chuyện ăn uống.»
Các
tỳ-kheo lại hỏi:
«Nhờ
phương tiện gì mà đi đứng thoải mái, không khổ vì chuyện
ăn uống?»
Ca-lưu-đà-di
đáp:
«Này
Đại đức, trước đây tôi vì bị ám ảnh dục bừng bừng,
nên nhan sắc tiều tụy, thân thể yếu mòn. Sau đó, tôi sống
một mình trong một phòng, trang bị võng tốt, giường cây,
nệm lớn, nệm nhỏ, chăn gối, dưới đất lại trải phu
cụ tốt, ngoài cửa để đồ đựng nước nóng rửa chân;
ăn uống đầy đủ sung túc. Mỗi khi dục tâm khởi lên, tôi
bèn vọc cho nó xuất bất tịnh. Nhờ vậy mà tôi đi đứng
thoải mái, các căn tươi vui, nhan sắc sáng sủa.»
Các
tỳ-kheo nói:
«Việc
Thầy làm thì rất khổ, tại sao nói an lạc? Việc làm không
an mà lại nói an sao? Trong chánh pháp này nói về dục cốt
để trừ dục, nói về mạn cốt để trừ mạn; diệt trừ
khát ái, đoạn các kết sử, do diệt tận ái mà Niết-bàn.
Tại sao Thầy bị dục ám ảnh bừng bừng; mỗi khi dục tâm
khởi lên, bèn vọc cho xuất bất tịnh?»
Lúc
bấy giờ, các tỳ-kheo đi đến chỗ đức Thế tôn, đem nhơn
duyên này bạch lên đức Thế tôn một cách đầy đủ. Đức
Thế tôn vì nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo.
Ngài
biết mà vẫn hỏi Ca-lưu-đà-di:
«Có
phải ngươi do ám ảnh dục bừng bừng; rồi mỗi khi dục
tâm khởi lên, bèn vọc cho xuất bất tịnh chăng?»
Ca-lưu-đà-di
thưa:
«Kính
bạch đức Thế tôn, thật vậy.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách:
«Việc
ngươi làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải tịnh
hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, là việc không nên làm.
Tại sao nay ngươi đã xuất gia trong pháp thanh tịnh của Ta
mà làm cái hạnh ô uế, vọc âm cho xuất tinh? Ngươi, kẻ
ngu si này, nay đưa cánh tay ra để nhận thức ăn của tín
thí, rồi lại bằng cánh tay đó mà vọc âm cho xuất tinh!»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách, rồi bảo các
tỳ-kheo:
«Kẻ
ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người
đầu tiên phạm giới này. Từ nay về sau ta vì các tỳ-kheo
kết giới, tập mười cú nghĩa, cho đến, để chánh pháp
tồn tại lâu dài. Người muốn thuyết giới nên thuyết như
vầy:
«Tỳ-kheo
nào, cố ý vọc âm cho xuất tinh, tăng-già bà-thi-sa.»
2.
KẾT GIỚI LẦN THỨ HAI
Sau
khi Thế tôn kết giới như vậy cho các tỳ-kheo, bấy giờ
có một tỳ-kheo khi ngủ ý loạn, bị mộng tinh có ức niệm,
khi tỉnh dậy, suy nghĩ: «Đức Thế tôn vì các tỳ-kheo kiết
giới: ‹Vọc âm xuất tinh, tăng-già-bà-thi-sa.› Ta khi ngủ
loạn ý, bị mộng tinh có ức niệm, há không phạm tăng-già-bà-thi-sa
ư? Nay ta nên như thế nào?» Vị ấy liền đến tỳ-kheo đồng
ý kể lại đầy đủ: «Đức Thế tôn vì các tỳ-kheo kiết
giới: ‹Vọc âm xuất tinh, tăng-già-bà-thi-sa.› Tôi khi ngủ
loạn ý, bị mộng tinh mà còn nhớ, há không phạm tăng-già-bà-
thi-sa ư? Nay tôi nên như thế nào? Đại đức vì tôi đem nhơn
duyên này bạch với đức Phật. Nếu đức Phật dạy bảo
thế nào, tôi sẽ phụng hành thế ấy.»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức
Phật một cách đầy đủ. Đức Thế tôn vì nhơn duyên này
liền tập hợp các tỳ-kheo bảo rằng:
«Khi
ngủ mà ý loạn có năm điều tai hại : 1. Ác mộng. 2. Chư
thiên không hộ vệ. 3. Tâm không nhập pháp.[3] 4. Không tư
duy minh tướng.[4] 5. Trong mộng xuất tinh. Đó là năm điều
tai hại. Khi ngủ với ý lành có năm công đức: 1. Không thấy
ác mộng. 2. Chư thiên vệ hộ. 3. Tâm vào nơi pháp. 4. Cột
ý nơi minh tướng. 5. Không bị xuất tinh trong mộng. Đó là
năm điều công đức. Trong mộng xuất tinh không phạm.»
Từ
nay về sau giới này sẽ được thuyết như vầy:
B.
GIỚI VĂN
Nếu
Tỳ-kheo nào, cố ý vọc âm cho xuất tinh, trừ chiêm bao, tăng-già-bà-thi-sa.
C.
THÍCH NGHĨA
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Vọc:[5]
thật cố tâm làm cho xuất tinh. Tinh có bảy loại:[6]
xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, màu sữa,[7] màu sữa tương.[8]
Tinh màu xanh là tinh của Chuyển luân thánh vương. Tinh màu
vàng là tinh của Thái tử Chuyển luân thánh vương. Tinh màu
đỏ là tinh phạm nhiều đến nữ sắc. Tinh màu trắng là
tinh của người vác nặng. Tinh màu đen là tinh của đệ nhất
Đại thần Chuyển luân thánh vương. Tinh màu sữa là gì? Là
tinh của Tu-đà-hoàn. Tinh màu sữa tương là gì? Là tinh của
Tư-đà-hàm.
Lúc
bấy giờ, có một bà-la-môn ở chỗ nhàn tịnh trì tụng chú
thuật. Kinh của ông nói, «Nếu ai cố ý làm xuất tinh thì
mạng chung sẽ sanh thiên.» Người kia muốn cầu thiên đạo,
thường vọc âm xuất tinh. Khi người bà-la-môn xuất gia hành
đạo, nghe theo lời nói này, vì muốn sanh thiên, nên vọc âm
xuất tinh. Vị kia nghi, nói với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch
lên đức Phật. Phật nói, phạm tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
vì khoái lạc, vì làm thuốc, vì tự thí nghiệm sự xuất
tinh, vì cầu phước, vì tế trời, vì sanh thiên, vì để cho,
vì nối giòng, vì tự phóng túng (lung tánh), vì tự thử sức,
vì nhan sắc đẹp, vì những việc như vậy mà lộng xuất
tinh,[9] tất cả đều phạm tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
bằng ức niệm mà vọc cho xuất tinh, tăng-già-bà-thi-sa.[10]
Nếu bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất tinh màu xanh; tinh
xuất, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu bằng ức niệm mà vọc, muốn
cho xuất tinh màu xanh nhưng tinh xuất màu vàng, đỏ, trắng,
đen, sữa, tương sữa, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu muốn xuất
tinh màu vàng lại ra tinh màu đỏ, trắng, đen, sữa, sữa tương,
màu xanh, tăng-già-bà-thi-sa. Màu đỏ, trắng, đen, sữa, sữa
tương cũng như vậy.
Vì
mục đích khoái lạc, bằng ức niệm mà vọc cho xuất bất
tịnh,[11] tăng-già-bà-thi-sa. Vì mục đích khoái lạc, bằng
ức niệm mà vọc, muốn cho xuất bất tịnh màu xanh, nếu
xuất, tăng-già-bà-thi-sa. Vì mục đích khoái lạc, bằng ức
niệm mà vọc, muốn cho xuất bất tịnh màu xanh lại thất
màu vàng, đỏ, trắng, đen, sữa và sữa tương, tăng-già-bà-thi-sa.
Vì mục đích khoái lạc, bằng ức niệm mà vọc, muốn cho
xuất bất tịnh màu vàng, đỏ, trắng, đen, sữa, sữa tương
và xanh cũng lại như vậy.
Vì
muốn làm thuốc, vì tự mình thử, vì cầu phước, vì tế
tự, vì sanh thiên, [580a1] vì để cho, vì để lấy giống,
vì phóng túng, vì tự thử sức, vì nhan sắc tươi vui, cũng
như vậy.
Hoặc
đối với nội sắc, ngoại sắc, nội ngoại sắc, nước,
gió, không.
- Nội
sắc: là sắc có thọ.[12]
- Ngoại
sắc: là sắc không thọ.[13]
- Nội
ngoại sắc: là sắc có thọ và không thọ.
- Nước:
thuận giòng nước hay ngược dòng nước, dùng nước rưới
lên.
- Gió:
là thuận chiều gió, nghịch chiều gió, hoặc dùng miệng thổi.
- Không:
từ nơi hư không mà dao động thân.[14]
Nếu
ở nơi nội sắc mà vọc cho xuất bất tịnh, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu ở nơi nội sắc, bằng ức niệm mà vọc, muốn cho thất
bất tịnh màu xanh, nếu xuất, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu ở
nơi nội sắc, bằng ức niệm mà vọc, muốn cho xuất bất
tịnh màu xanh, lại xuất màu vàng, đỏ, trắng, đen, sữa,
sữa tương, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu vì khoái lạc nên ở nơi
nội sắc mà vọc cho xuất bất tịnh, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu
vì khoái lạc nên ở nơi nội sắc, bằng ức niệm mà vọc,
muốn cho xuất bất tịnh màu xanh, nếu xuất, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu vì khoái lạc nên ở nơi nội sắc, bằng ức niệm mà
vọc, muốn cho xuất bất tịnh màu xanh, lại xuất màu vàng,
đỏ, trắng, đen, sữa, sữa tương, tăng-già-bà-thi-sa. Nếu
vì khoái lạc cho đến vì nhan sắc hòa duyệt cũng như vậy.
Đối với ngoại sắc cũng như vậy. Đối với nội sắc cũng
như vậy. Đối với nước, gió, hư không cũng như vậy.
Bằng
ức niệm mà vọc cho xuất bất tịnh, tăng-già-bà-thi-sa. Không
xuất, thâu-lan-giá. Nếu tỳ-kheo phương tiện vọc mà xuất
bất tịnh, tăng-già-bà-thi-sa; không xuất, thâu-lan-giá.
Nếu
tỳ-kheo dạy tỳ-kheo phương tiện vọc cho xuất bất tịnh;
nếu xuất, thâu-lan-giá; không xuất đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo-ni
dạy tỳ-kheo phương tiện vọc xuất bất tịnh; nếu xuất,
thâu-lan-giá; không xuất, đột-kiết-la. Chỉ dạy cho người
khác, ngoại trừ cho tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni, vọc mà xuất hay
không xuất đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó
gọi là phạm.
Sự
không phạm: trong mộng bị xuất. Tỉnh dậy, sợ bẩn thân,
bẩn y, giường, chăn, dùng vật xấu tệ, lá cây hay vật gì
đựng đem vất đi, hoặc dùng tay quẹt bỏ. Hoặc do dục tưởng
mà xuất bất tịnh; hoặc thấy sắc đẹp, không xúc chạm
mà xuất bất tịnh; hoặc khi đi, tự chạm hai bắp vế; hoặc
chạm y, hoặc chạm niết-bàn-tăng[15] mà xuất bất tịnh;
hoặc khi đại tiểu tiện xuất bất tịnh; hoặc tắm rửa
bằng nước nóng, nước lạnh xuất bất tịnh; hoặc trong
nhà tắm dùng da cây mịn, bột, thuốc, bùn, đất xoa chà,
xuất bất tịnh; hoặc dùng tay kỳ, xoa nơi thân xuất bất
tịnh; hoặc khi kêu la khóc lớn, hoặc khi dụng lực làm việc.
Tất cả trường hợp không có ý tạo nên mà xuất bất tịnh,
đều không phạm.
Người
không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người
si cuồng, loạn tâm, thống não, bức bách.[16]
II.
XÚC CHẠM NỮ NHÂN
A.
DUYÊN KHỞI
Phật
trú tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Ca-lưu-đà-di nghe Phật chế
giới cấm không được vọc âm cho xuất tinh, bèn cầm cây
gài cửa, đứng ngoài cửa, chờ các phụ nữ, vợ các nhà
cư sĩ, và các thiếu nữ đến,[17] nói rằng:
«Này
cô, cô có thể vào phòng mà xem.»
Khi
họ vào trong phòng, Ca-lưu-đà-di nắm tay, rờ rẫm, hôn hít.
Người nào ưa thích thì vui cười với việc làm đó. Người
không ưa thích thì liền nổi giận mắng chửi, bỏ ra khỏi
phòng, nói với các tỳ-kheo:
«Đại
đức nên biết, điều không lành, phi pháp, không thích hợp,
không phải thời! Tôi thường nghĩ rằng đây là nơi an ổn,
không có các hoạn nạn, không có tai biến, không có sợ hãi.
Nay chính nơi đây tôi lại gặp phải tai biến, sợ hãi. Xưa
nay nói nước có khả năng làm tắt lửa; nay trong nước lại
sanh ra lửa. Ca-lưu-đà-di đưa chúng tôi vào trong phòng rồi
nắm tay, kéo, rờ mó, hôn hít chúng tôi. Phu chủ của chúng
tôi, khi ở trong phòng kéo níu như vậy, chúng tôi còn không
chấp nhận được, huống nay là sa-môn Thích tử mà lại làm
như vậy!»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo nghe, trong số đó có vị thiểu dục tri
túc, sống với hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm quý,
quở trách Ca-lưu-đà-di, rằng:
«Đức
Thế tôn chế giới không được vọc âm xuất tinh. Nay tại
sao thầy cầm cây gài cửa, đứng trước cửa chờ các phụ
nữ, hoặc vợ của nhà cư sĩ, vào phòng xem rồi rờ mó, hôn
hít ?»
Quở
trách như vậy rồi, vị ấy đi đến chỗ đức Thế tôn,
lạy dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên
ấy bạch đầy đủ lên đức Phật. Đức Thế tôn vì nhơn
duyên này tập hợp các tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn hỏi:
«Ca-lưu-đà-di!
Ngươi thật sự có làm như vậy không?»
Ca-lưu-đà-di
thưa:
«Kính
bạch đức Thế tôn, sự thật đúng như vậy.»
Khi
ấy, đức Thế tôn quở trách Ca-lưu-đà-di:
«Việc
làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm việc không nên làm.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các
tỳ-kheo:
«Kẻ
ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người
phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau vì các tỳ-kheo kiết
giới, tập mười cú nghĩa, cho đến, để chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
thuyết giới nên thuyết như vầy:
B.
GIỚI VĂN
Tỳ-kheo
nào, với ý dâm dục, cùng người nữ, thân xúc chạm nhau,
hoặc nắm tay, hoặc nắm tóc, hoặc xúc chạm mỗi một thân
phần, tăng-già-bà-thi-sa.
C.
THÍCH NGHĨA
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Ý
dâm dục: tức là tâm bị nhiễm ô bởi ái.[18]
Người
nữ: như trên đã nói.[19]
Thân:
tức là từ tóc cho đến chân.
Thân
xúc chạm nhau :[20] hoặc xoa nắm, hoặc xoa bóp khắp,[21] hoặc
kéo, hoặc đẩy, hoặc xoa ngược, hoặc xoa xuôi, hoặc nâng
lên, hoặc để xuống, hoặc nắm, hoặc bóp, hoặc ấn mạnh.[22]
Xoa
nắm: xoa chà phía trước hay phía sau trong thân.[23]
Kéo:
kéo ra phía trước.[24]
Đẩy:
đẩy nhau.
Xoa
ngược: từ dưới xoa lên.
Xoa
xuôi: từ trên xoa xuống.
Nâng
lên: ẳm mà nâng lên.
Để
xuống: đang đứng mà ẳm để ngồi xuống.
Nắm:
nắn phía trước, nắn phía sau, nắn vú, nắn đùi.
Sờ:
bóp phía trước, bóp phía sau, bóp vú, hoặc bóp đùi.[25]
Thảy
đều tăng-già-bà-thi-sa.
C.
PHẠM TƯỚNG
Hoặc
nữ tưởng là nữ; nữ nhơn rờ mó thân tỳ-kheo, hai thân
xúc chạm nhau, (tỳ-kheo) với ý dục nhiễm trước, có cảm
giác khoái lạc trong khi xúc chạm, tăng-già-bà-thi-sa.
Người
nữ khởi nữ tưởng. Người nữ ấy dùng tay rờ mó, tỳ-kheo
động thân, dục ý nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc
khi xúc chạm, tăng-già-bà-thi-sa. Cũng vậy, cho đến nắn,
bóp. Nếu nghi là nữ, thâu-lan-giá.
Nếu
là người nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là nữ; thân xúc
chạm áo, đồ anh lạc của người nữ kia, với dục tâm nhiễm
trước, có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá.
Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là nữ; thân
xúc chạm áo, đồ anh lạc của người nữ kia, với dục tâm
nhiễm trước, không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm,
thâu-lan-giá.
Nếu
là người nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là người nữ.
Người nữ ấy dùng y, đồ anh lạc nơi thân xúc chạm trên
thân tỳ-kheo; (tỳ-kheo) với dục tâm nhiễm trước, có cảm
giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá. Nếu là người
nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là người nữ. Người nữ
dùng y, đồ anh lạc, xúc chạm thân tỳ-kheo, (tỳ-kheo) với
dục tâm nhiễm trước, không có cảm giác khoái lạc khi xúc
chạm, thâu-lan-giá. Nếu là người nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng
đó là người nữ, dùng thân xúc chạm y, anh lạc của người
nữ, (tỳ-kheo) với dục tâm nhiễm trước, động thân, nhưng
không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá. Nếu
là người nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là người nữ,
(tỳ-kheo) dùng thân xúc chạm y, đồ anh lạc của người nữ,
với dục tâm nhiễm trước, không động thân nhưng có cảm
giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá. Nếu là người
nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là người nữ; người nữ
này dùng y, đồ anh lạc nơi thân xúc chạm thân tỳ-kheo, (tỳ-kheo)
với dục tâm nhiễm trước, động thân, nhưng không có cảm
giác khoái lạc khi xúc chạm, thâu-lan-giá. Người nữ, (tỳ-kheo)
có ý tưởng đó là người nữ; người nữ này dùng y, đồ
anh lạc nơi thân xúc chạm, (tỳ-kheo) có dục tâm nhiễn trước,
dù không động thân, thâu-lan-giá. Người nữ, (tỳ-kheo) có
ý tưởng đó là người nữ, thân xúc chạm nhau, với dục
tâm nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc xúc chạm, dù không
động thân, thâu-lan-giá. Cũng vậy, nắm, xoa cho đến nắn,
bóp, thảy đều thâu-lan-giá. Nếu là nữ mà nghi, phạm đột-kiết-la.
Nữ,
(tỳ-kheo) có ý tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm
y, đồ anh lạc nơi thân,[26] với dục tâm nhiễm trước, có
cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, phạm đột-kiết-la. Nữ,
(tỳ-kheo) có ý tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm
y, đồ anh lạc nơi thân, với dục tâm nhiễm trước, dù không
có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, phạm đột-kiết-la.
Nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc
chạm y, đồ anh lạc nơi thân, với dục tâm nhiễm trước,
dù không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, phạm đột-kiết-
la. Nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân
xúc chạm, y đồ anh lạc nơi thân, với dục tâm nhiễm trước,
dù không có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, động thân
phạm đột-kiết-la. Nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng đó là nữ,
dùng y nơi thân xúc chạm y, đồ anh lạc nơi thân, với dục
tâm nhiễm trước, có cảm giác khoái lạc khi xúc chạm, dù
không động thân, đột-kiết-la. Nữ, (tỳ-kheo) có ý tưởng
đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm y, đồ anh lạc nơi thân,
với dục tâm nhiễm trước, không có cảm giác khoái lạc
khi xúc chạm, không động thân, đột-kiết-la. Nữ, (tỳ-kheo)
có ý tưởng đó là nữ, dùng y nơi thân xúc chạm y, đồ
anh lạc nơi thân, với dục tâm nhiễm trước, có cảm giác
khoái lạc khi xúc chạm, động thân, đột-kiết-la. Cho đến
nắn, bóp, tất cả đều phạm đột-kiết-la. Là người nữ
mà nghi, phạm đột-kiết-la.
Nếu
tỳ-kheo cùng người nữ hai thân xúc chạm nhau, mỗi một lần
xúc chạm là phạm một tăng-già-bà-thi-sa. Tùy theo sự xúc
chạm nhiều ít, với rồng cái, ngạ quỷ cái, súc sanh cái,
có thể biến hình, hai thân xúc chạm nhau phạm đột-kiết-la.
Nếu cùng người nam hai thân xúc chạm nhau, đột-kiết-la.
Nếu cùng với người lại cái,[27] thân xúc chạm nhau, thâu-lan-giá.
Nếu người nữ khi làm lễ nắm chân, tỳ-kheo có cảm thấy
thích thú do sự xúc chạm, nhưng không động thân, đột-kiết-la.
Nếu tỳ-kheo có dục tâm, xúc chạm y, bát, ni-sư-đàn, ống
đựng kim, cọng cỏ rỗng,[28] cho đến tự mình xúc chạm
thân, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Nữ
nhơn tưởng là nữ nhơn, tăng-già-bà-thi-sa. Nữ nhơn, sanh
nghi, thâu-lan-giá. Nữ nhơn, tưởng chẳng phải nữ nhơn, thâu-lan-giá.
Chẳng phải nữ nhơn tưởng là nữ nhơn, thâu-lan-giá. Chẳng
phải là nữ nhơn, sanh nghi, thâu-lan-giá.
Tỳ-kheo-ni,
ba-la-di. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó là
phạm.
Sự
không phạm: xúc chạm nhau khi nhận đồ vật gì; xúc chạm
nhau, chỉ vì đùa giỡn; xúc chạm nhau, khi cởi mở (trói)
thì không phạm.
Người
không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người
si cuồng loạn tâm, thống não, bức bách.
III.
NÓI LỜI THÔ TỤC[29]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Một thời đức Phật ở nước Xá-vệ.[30] Bấy
giờ Ca-lưu-đà-di nghe đức Thế tôn chế giới: ‹Không được
vọc âm cho xuất tinh›; ‹không được thân xúc chạm người
nữ,› bèn cầm cây gài cửa ra đứng ngoài cửa, chờ các
phụ nữ, vợ các nhà cư sĩ, và các thiếu nữ đến, nói
rằng:
«Mời
các cô vào phòng tôi xem.»
Khi
dẫn họ vào trong phòng rồi, Ca-lưu-đà-di, do dục tâm, nói
với họ những lời thô tục bỉ ối. Những người nữ bằng
lòng thì vui vẻ trước những lời nói đó, còn những người
không bằng lòng thì nổi sân mắng chửi, bỏ ra khỏi phòng,
nói với các tỳ-kheo:
«Đại
đức nên biết, nay tôi thấy phải điều sai quấy, điều
không lành, phi pháp, không thích hợp, không phải thời! Tôi
thường nghĩ rằng đây là nơi an ổn, không có các hoạn nạn,
không có tai biến, không có sợ hãi. Nay lại chính nơi đây
tôi lại gặp phải tai biến, sợ hãi. Xưa nay nói nước có
khả năng làm tắt lửa; nay trong nước lại sanh ra lửa. Tại
sao tôi nói như vậy? Ca-lưu-đà-di mời chúng tôi vào phòng,
với ý dâm dục, nói lời thô bỉ xấu ác đối với chúng
tôi. Khi ở tại nhà, phu chủ tôi nói lời thô bỉ xấu ác
như vậy, tôi còn không thể chấp nhận, huống chi nay là người
xuất gia, mà lại nói những lời tồi tệ như thế.»
Các
tỳ-kheo nghe; trong số đó có vị thiểu dục, sống hạnh đầu-đà,
ưa học giới, biết tàm quý, quở trách Ca-lưu-đà-di... (nói
đầy đủ như trước); rồi đến chỗ đức Thế tôn, đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên
này bạch lên đức Thế tôn một cách đầy đủ. Đức Thế
tôn vì nhơn duyên này tập hợp các tỳ-kheo. Ngồi trong đại
chúng, đức Thế tôn biết mà cố hỏi Ca-lưu-đà-di:
«Có
thật ngươi đã làm sự việc như vậy chăng?»
Ca-lưu-đà-di
thưa:
«Kính
bạch đức Thế tôn, đúng như vậy.»
Đức
Thế tôn quở trách:
«Việc
làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm việc không nên làm.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các
tỳ-kheo:
«Kẻ
ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người
phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau vì các tỳ-kheo kiết
giới, tập mười cú nghĩa, cho đến, để chánh pháp trường
tồn.»
Muốn
thuyết giới nên thuyết như vầy:
B.
GIỚI VĂN
Tỳ-kheo
nào, với ý dâm dục, nói lời dâm dục thô ác với người
nữ; tùy theo lời nói dâm dục thô ác,[31] tăng-già-bà-thi-sa.
C.
THÍCH NGHĨA
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Ý
dâm dục,[32] như trên.
Người
nữ: cũng như trên.
Thô
ác: là chẳng phải phạm hạnh.
Lời
nói dâm dục: là nói đến hai đường tốt xấu.[33]
D.
PHẠM TƯỚNG
Hoặc
tự mình yêu cầu, hoặc sai người yêu cầu, hoặc hỏi, hoặc
trả lời, hoặc giải bày, hoặc nói năng, hoặc dạy, hoặc
mắng.[34]
Tự
mình yêu cầu: như nói, cùng tôi nơi hai đường làm việc
như vậy, như vậy, hoặc dùng bao nhiêu lời nói khác khác.
Sai
người yêu cầu: như nói, ‹Cầu mong Trời, Phạm, thủy thần,
Ma-hê-thủ-la thiên... hộ trợ tôi cùng cô làm việc như vậy,
như vậy.› Hoặc nói những lời tương tự khác.
Hỏi:
như hỏi, ‹Đường đại tiểu tiện của cô ra sao? Cô với
chồng cùng làm việc thế nào? Cô cùng người ngoài tư thông
thế nào?› Hoặc nói những lời tương tự khác.
Đáp:
‹Đường đại tiểu của cô như vậy. Cô cùng chồng, người
ngoài tư thông như vậy.› Hoặc nói những lời tương tự
khác.
Giải
bày: nói năng cũng như vậy.
Chỉ
dạy: như nói, ‹Tôi chỉ cho cô chăm sóc hai đường như vậy,
cô có thể khiến cho chồng, người ngoài kính ái.› Hoặc
nói những lời tương tự khác.
Mắng:
như nói, ‹Cô hư hoại, mục nát, teo tóp, đọa lạc. Cô cùng
với con lừa làm chuyện như vậy.› Hoặc bằng những lời
khác chửi mắng người.
Nếu
tỳ-kheo cùng với người nữ một phen nói lời thô ác thì
phạm một tăng-già-bà-thi-sa. Tùy theo lời nói thô ác nhiều
hay ít, nói rõ ràng, thì mỗi mỗi đều phạm một tăng-già-bà-thi-sa.
Nói không rõ ràng thì phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay,[35]
thư, sai sứ giả, làm hiệu, khiến cho người nữ kia hiểu,
phạm tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu, phạm thâu-lan-giá. Trừ
đường đại tiểu tiện ra, nói đẹp hay nói xấu về những
chỗ khác, phạm thâu-lan-giá. Đối với Thiên nữ, A-tu-la nữ,
Dạ-xoa nữ, Long nữ, súc sanh cái có thể biến hình huỳnh
môn, có hai hình, mà nói lời thô ác khiến cho đối tượng
hiểu, phạm thâu-lan-giá; không hiểu, phạm đột-kiết-la.
Nếu dùng dấu tay, thư, sai sứ giả, làm hiệu, khiến cho các
hạng nữ kia hiểu, phạm thâu-lan-giá; không hiểu, phạm đột-kiết-la.
Hướng đến súc sanh không thể biến hình nói lời thô ác
phạm đột-kiết-la. Nếu hướng về đàn ông nói lời thô
ác, phạm đột-kiết-la. Nếu tỳ-kheo với ý dục nói lời
thô ác, tưởng là nói lời thô ác, phạm tăng-già-bà-thi-sa.
Nói lời thô ác, sanh nghi phạm thâu-lan-giá. Chẳng phải lời
thô ác, tưởng là lời thô ác, phạm thâu-lan-giá. Chẳng phải
lời thô ác, mà nghi, phạm thâu-lan-giá.
Nữ
loài người, có ý tưởng đó là nữ loài người, tăng-già-bà-thi-sa.
Nữ loài người, nghi thâu-lan-giá. [582a1] Nữ loài người,
tưởng nữ loài phi nhơn, thâu-lan-giá. Nữ loài phi nhơn, tưởng
là nữ loài người, thâu-lan-giá.
Thức-xoa-ma-na,
sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: nếu vì người nữ mà giảng pháp bất tịnh quán,[36]
như nói, «Này cô, nên biết, thân này có chín mụt ghẻ, chín
lổ, chín nơi rỉ chảy, chín dòng nước chảy. Chín lỗ là:
hai mắt, hai tai, hai mũi, miệng, đại, tiểu tiện đạo.»
Khi nói điều bất tịnh này, người nữ kia cho là lời thô
ác. Hoặc khi nói Tỳ-ni, theo thứ tự nói đến việc này,
người kia gọi là nói lời thô ác. Hoặc cầu học kinh, hoặc
hai người đồng thọ; hoặc người kia hỏi, hoặc đồng tụng,
hoặc vui giỡn nói chơi, hoặc nói một mình, hoặc nói gấp
gáp, hoặc nói trong mộng, hoặc muốn nói việc này, nhầm
nói việc kia. Tất cả đều không phạm.
Người
không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người
si cuồng, loạn tâm, thống não, bức bách.
IV.
YÊU SÁCH CÚNG DƯỜNG
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Một thời đức Phật ở nước Xá-vệ. Bấy giờ,
Ca-lưu-đà-di nghe đức Thế tôn chế giới: «không được
vọc âm xuất tinh», «không được xúc chạm người nữ»,
«không được nói với người nữ những lời thô ác», bèn
cầm cây gài cửa đứng ngoài cửa, chờ các phụ nữ, vợ
các nhà cư sĩ, và các thiếu nữ đến, nói rằng:
«Các
cô có thể vào phòng tôi xem.»
Khi
dẫn họ vào phòng rồi, Ca-lưu-đà-di tự tán thân mình, nói:
«Các
cô biết không, trong số người có học, tôi là người hạng
nhất. Tôi là người phạm hạnh, trì giới, tu thiện pháp.
Các cô có thể đem sự dâm dục cúng dường tôi.»
Khi
ấy, những người nữ bằng lòng thì vui vẻ trước những
lời nói đó, còn những người không bằng lòng thì nổi sân
mắng chửi, bỏ ra khỏi phòng, nói với các tỳ-kheo:
«Đại
đức nên biết, nay tôi thấy phải điều sai quấy, điều
không lành, phi pháp, không thích hợp, không phải thời! Tôi
thường nghĩ rằng đây là nơi an ổn, không có các hoạn nạn,
không có tai biến, không có sợ hãi. Nay lại chính nơi đây
tôi lại gặp phải tai biến, sợ hãi. Xưa nay nói nước có
khả năng làm tắt lửa; nay trong nước lại sanh ra lửa. Khi
ở tại nhà, chồng tôi nói lời như vậy, tôi còn không thể
chấp nhận, huống chi nay là người xuất gia, mà lại nói
những lời như thế.»
Các
tỳ-kheo nghe; trong số đó có vị thiểu dục, sống hạnh đầu-đà,
ưa học giới, biết tàm quý, quở trách Ca-lưu-đà-di, «Thầy
há không nghe Thế tôn chế giới, ‹không được vọc âm xuất
tinh›, ‹không được xúc chạm người nữ›, ‹không được
nói với người nữ những lời thô ác› (nói đầy đủ như
trước)...» Họ bèn đến chỗ Thế tôn, đảnh lễ dưới
chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch
lên đức Thế tôn một cách đầy đủ. Đức Thế tôn vì
nhơn duyên này tập hợp các tỳ-kheo. Ngồi trong đại chúng,
đức Thế tôn biết mà cố hỏi Ca-lưu-đà-di:
«Có
thật ngươi đã làm sự việc như vậy chăng?»
Ca-lưu-đà-di
thưa:
«Kính
bạch đức Thế tôn, sự việc đúng như vậy.»
Đức
Thế tôn quở trách:
«Việc
làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm việc không nên làm.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các
Tỳ-kheo:
«Kẻ
ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người
phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau vì các tỳ-kheo kiết
giới, tập mười cú nghĩa, cho đến, để chánh pháp tồn
tại lâu dài.››
Muốn
thuyết giới nên thuyết như vầy:
B.
GIỚI VĂN
Tỳ-kheo
nào, với ý dâm dục, đối trước người nữ tự khen thân
mình, nói: ‹Này cô, tôi tu phạm hạnh, trì giới tinh tấn,
tu tập pháp lành; cô nên đem sự dâm dục cúng dường tôi.
Đó là sự cúng dường bậc nhất›; tăng-già-bà-thi-sa.
C.
THÍCH TỪ
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Ý
dâm dục: như trên đã nói.
Người
nữ: như trên đã nói.
Khen
thân mình: khen thân đoan chánh, nhan sắc đẹp; «Tôi là Sát-đế-lợi,
trưởng giả, cư sĩ, bà-la-môn.»
Phạm
hạnh: siêng tu lìa uế trược.
Trì
giới: không khuyết, không thủng, không nhiễm ô.
Pháp
lành: ưa ở nơi nhàn tịnh, đến giờ khất thực, mặc y phấn
tảo; tác pháp dư thực,[37] cũng không ăn; ăn một lần ngồi
,[38] ăn một nắm; ngồi nơi bãi tha ma, nơi đất trống, dưới
gốc cây, luôn luôn ngồi, chỉ ngồi; trì ba y; bối nặc,[39]
đa văn, hay thuyết pháp; trì tỳ-ni, tọa thiền.
C.
PHẠM TƯỚNG
Sau
khi tự khen ngợi mình như vậy rồi, nói rằng, «Hãy đến
đây cúng dường tôi», trong đó không nói đến việc dâm
dục, phạm thâu-lan-giá; có nói việc dâm dục phạm tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu trước người nữ, một lần tự khen thân mình là một
tội tăng-già-bà-thi-sa. Tùy theo sự tự khen thân mình nhiều
hay ít, và nói một cách rõ ràng, mỗi mỗi đều phạm tăng-già-bà-thi-sa.
Nói không rõ, phạm thâu-lan-giá. Nếu dùng dấu tay, thư tín,
sai sứ, làm hiệu khiến cho người kia hiểu, tăng-già-bà-thi-sa.
Họ không hiểu, thâu-lan-giá.
Trừ
hai đường, đòi hỏi cung phụng nơi khác, thâu-lan-giá.
Đối
với thiên nữ, a-tu-la nữ, long nữ, dạ-xoa cái, ngạ quỷ
cái, súc sanh cái có thể biến hình, mà tự khen thân mình,
nếu các hạng nữ kia hiểu, phạm thâu-lan-giá; chúng không
hiểu, đột-kiết-la. Nếu dùng dấu tay thư tín, sứ giả,
ra dấu hiệu để tự khen thân mình mà người kia hiểu, phạm
thâu-lan-giá. Khen nói mà họ không hiểu, phạm đột-kiết-la.
Đối
với súc sanh không thể biến hình mà tự khen thân mình, phạm
đột-kiết-la.
Nữ
loài người, tưởng là nữ loài người, tăng-già-bà-thi-sa.
Nữ loài người, nghi, phạm thâu-lan-giá. Nữ loài người,
có ý tưởng là nữ loài phi nhơn, phạm thâu-lan-giá. Nữ loài
phi nhơn, nghi, phạm thâu-lan-giá.
Tỳ-kheo-ni
phạm thâu-lan-giá. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó là phạm.
Sự
không phạm: nếu tỳ-kheo nói với người nữ: «Đây là chỗ
diệu tôn tối thắng. Tỳ-kheo này tinh tấn trì giới, tu thiện
pháp, các cô nên dùng thân nghiệp từ, khẩu nghiệp từ, ý
nghiệp từ cúng dường bằng sự từ hoà của thân nghiệp,
bằng sự từ hoà của khẩu nghiệp, bằng sự từ hoà của
ý nghiệp.» Ý của các người nữ kia cho rằng tỳ-kheo vì
ta nên tự khen thân mình; hoặc khi nói tỳ-ni, ngôn thuyết
có vẻ tương tự, mà người kia nói là tự khen ngợi thân
mình; hoặc từ việc thọ kinh, tụng kinh; hoặc hai người
cùng thọ tụng kinh; hoặc hỏi đáp; hoặc đồng tụng; hoặc
nói giỡn; hoặc nói liến thoắng, nói trong mộng; hoặc muốn
nói việc nầy nhầm việc khác, đều không phạm.
Người
không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người
si cuồng loạn tâm, thống khổ bức bách
V.
MAI MỐI
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt-kỳ.[40]
Bấy giờ, trong thành La-duyệt có một tỳ-kheo tên là Ca-la,[41]
trước đây là Đại thần của Vua, biết rành về pháp thế
tục. Vị ấy chuyên làm việc mai mối như vầy: đến người
nam nói chuyện người nữ; đến người nữ nói chuyện người
nam. Thời bấy giờ, các cư sĩ trong thành La-duyệt muốn có
việc giá thú, tất cả đều đến nhờ Ca-la. Ca-la trả lời:
«Để tôi đến nhà đó quan sát trước đã.» Quan sát xong,
Ca-la đến các nhà cư sĩ nói: «Nhà ngươi muốn cùng với
gia đình đó làm sui gia thì cứ thực hiện theo ý muốn.»
Khi ấy, các cư sĩ theo lời hướng dẫn mà làm việc hôn thú.
Các nam nữ làm việc cưới hỏi rồi, được vừa ý thì vui
vẻ cúng dường khen ngợi, nói rằng: «Nên làm cho Ca-la thường
được hoan lạc như chúng ta ngày nay. Vì sao? Vì nhờ Ca-la
mà ta được hoan lạc như thế này. Mong Ca-la và các tỳ-kheo
khác cũng được cúng dường.» Nếu, đôi nam nữ kia, sau khi
cưới hỏi xong không được sự thích ý, họ bèn nói: «Hãy
làm cho Ca-la luôn luôn chịu khổ não như chúng ta ngày nay.
Tại sao? Vì chính Ca-la khiến cho tôi làm việc cưới hỏi
nên nay tôi mới chịu khổ não thế này. Mong cho Ca-la và các
tỳ-kheo cũng chịu sự khổ não; không được ai cúng dường.»
Khi ấy, các cư sĩ không tin Phật, Pháp, Tăng trong thành La-duyệt,
đồn đãi nhau: «Các người [583a1] nếu muốn được làm sui
gia với nhà giàu to, nhiều của cải lắm vật báu, thì nên
đến nhờ sa-môn Thích tử điều đó; tuỳ thời cúng dường
thân cận cung kính thì có thể được như ý. Tại sao vậy?
Sa-môn Thích tử này giỏi việc mai mối; biết người nam nầy
có thể lấy người nữ kia; người nữ kia có thể cùng người
nam nầy.» Rồi các Tỳ-kheo nghe lời đồn đãi ấy; trong số
đó có vị thiểu dục tri túc, sống với hạnh đầu đà,
ưa học giới, biết tàm quý quở trách Ca-la tỳ-kheo: «Sao
lại đi làm mai mối người nam cho người nữ; người nữ
cho người nam?» Sau khi quở trách rồi, họ đến chỗ đức
Thế tôn; đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên,
đem nhơn duyên nầy bạch lên đức Phật một cách đầy đủ.
Đức Thế tôn vì nhơn duyên nầy tập hợp các Tăng tỳ-kheo.
Ngài biết mà cố hỏi Ca-la:
«Có
thật ngươi đã làm sự việc như vậy chăng?»
Ca-lưu-đà-di
thưa:
«Kính
bạch đức Thế tôn, sự việc đúng như vậy.»
Đức
Thế tôn quở trách:
«Việc
làm của ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm việc không nên làm.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các
Tỳ-kheo:
«Kẻ
ngu si này, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là người
phạm giới này đầu tiên. Từ nay về sau vì các tỳ-kheo kiết
giới, tập mười cú nghĩa, cho đến, để chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
thuyết giới nên thuyết như vầy:
B.
GIỚI VĂN
Tỳ-kheo
nào, tới lui bên này, bên kia làm mai mối; đem ý người nam
nói với người nữ; đem ý người nữ nói với người nam;
hoặc để thành vợ chồng, hoặc vì việc tư thông, cho đến
chỉ trong chốc lát, tăng-già-bà-thi-sa.[42]
C.
THÍCH TỪ
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Tới
lui:[43] khiến cho hai bên được hoà hợp.
Người
nữ có hai mươi hạng:[44] mẹ giám hộ, cha giám hộ, mẹ cha
giám hộ, anh giám hộ, chị giám hộ, anh chị giám hộ, tự
mình giám hộ, pháp giám hộ, họ hàng giám hộ, tông thân
giám hộ, tự nguyện làm tỳ nữ,[45] làm tỳ nữ để kiếm
áo, tỳ nữ để nhận tiền của, tỳ nữ do hợp tác, tỳ
nữ vì bị nước cuốn, làm tỳ nữ vì không nộp thuế, tỳ
nữ bị thải,[46] tỳ nữ cho khách, tỳ nữ do người khác
giám hộ, tỳ nữ được từ biên phương.
- Mẹ
giám hộ: được giám hộ bởi mẹ.
- Cha
giám hộ: được giám hộ bởi cha.
- Cha
mẹ giám hộ, anh giám hộ, chị giám hộ, anh chị giám hộ
cũng như vậy.
- Tự
mình giám hộ: thân được tự tại.
- Pháp
giám hộ: tu hành phạm hạnh.[47]
- Họ
hàng giám hộ: không được quan hệ với dòng họ thấp hơn.
- Tông
thân giám hộ: được canh chừng bởi tông thân.
- Tự
nguyện làm tỳ nữ:[48] vui lòng làm tỳ nữ cho người khác.
- Làm
nô tỳ để kiếm áo: được trả giá bằng y phục.[49]
- Nô
tỳ để nhận tiền của: được trả giá thậm chí chỉ một
đồng.
- Nô
tỳ do hợp tác:[50] cùng sinh hoạt nghề nghiệp chung nhưng
chưa làm lễ để thành vợ chồng.
- Nô
tỳ vì bị nước cuốn: được vớt lên khi bị nước cuốn.[51]
- Nô
tỳ vì không nộp thuế: không lấy tiền thuế.
- Nô
tỳ bị thải: được mua lại, hay sinh từ trong nhà chủ.[52]
- Nô
tỳ khách: được tiền thuê để làm tôi tớ trong nhà.
- Nô
tỳ do người khác giám hộ: nhận tràng hoa của người để
làm vật giao ước.
- Nô
tỳ được từ biên phương: do sự cướp đoạt mà được.[53]
Đó
là hai mươi hạng.
Nam
tử cũng có hai mươi loại như vậy.
D.
PHẠM TƯỚNG
Người
nam do mẹ giám hộ, và nữ do mẹ giám hộ, nhờ tỳ-kheo làm
sứ giả nói với người kia, «Nàng hãy làm vợ tôi», hoặc
nói, «Nàng hãy tư thông với tôi, chốc lát hay trong một niệm.»
Nếu tỳ-kheo tự nhận lời bên này, đến nói bên kia; rồi
nhận ý kiến bên kia, trở lại trả lời bên này, phạm tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận lời, tự đến bên kia nói, sai sứ mang tin
trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận lời, sai sứ đến nói, tự mang tin trở
lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận lời, cùng sai sứ đến nói, sai sứ mang
tin trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận lời, tự làm thư mang đến bên kia, tự
mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận lời, tự làm thư mang đến bên kia, sai sứ
mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận lời, sai sứ mang thư đến bên kia, tự mang
thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận lời, sai sứ mang thư đến bên kia, sai sứ
mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Bằng
dấu tay, bằng ra hiệu, cũng với bốn trường hợp như vậy.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận thư, mang đến bên kia, tự mang thư trở
lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận thư, mang đến bên kia; rồi sai sứ mang thư
trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận thư, sai sứ mang đến bên kia; rồi tự mang
thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận thư, sai sứ mang thư đến bên kia; rồi sai
sứ mang thư trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận thư, tự mang dấu tay, đến bên kia; rồi
tự mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận thư, tự mang dấu tay đến bên kia; rồi
sai sứ mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận thư, sai sứ mang dấu tay đến bên kia; rồi
tự mang dấu tay trở lại tả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận thư, sai sứ mang dấu tay đến bên kia; rồi
sai sứ mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Bốn
trường hợp ra hiệu cũng như vậy. Bốn trường hợp nhận
lời cũng như vậy. Mười sáu trường hợp của dấu tay cũng
như vậy. Mười sáu trường hợp của ra hiệu cũng như vậy.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận lời, tự mang thư đến bên kia, tự mang
dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận lời, tự mang thư đến bên kia, sai sứ mang
dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận lời, sai sứ mang thư đến bên kia, sai sứ
mang dấu tay trở lại trả lời, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận lời, tự mang thư đến bên kia, tự mang
dấu hiệu trở lại trả lời, cũng có bốn trường hợp như
vậy.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận lời, tự mang dấu tay đến bên kia; rồi
tự mang trở lại trả lời, cũng có bốn trường hợp như
vậy.
Nếu
tỳ-kheo tự nhận lời, đến bên kia, trở lại trả lời,
tăng-già-bà-thi-sa; tự nhận lời, đến bên kia, không trở
lại trả lời, phạm thâu-lan-giá.
Nếu
cùng nói mà không nhận, bèn đến bên kia nói, trở lại trả
lời, thâu-lan-giá.
Nếu
nhận lời, không đến bên kia nói, không trở lại trả lời,
đột-kiết-la.
Nếu
nghe nói, không đến bên kia nói, không trở lại trả lời,
đột-kiết-la.
Nếu
không nhận lời, đến nói, không trả lại trả lời, đột-kiết-la.
Nếu
nói đã lấy người khác, hoặc nói đã đi chỗ khác, hoặc
nói đã chết, hoặc nói bị giặc bắt đi, hoặc nói không
có, tất cả thâu-lan-giá.
Nếu
có bệnh hủi, bệnh ung thư, bệnh bạch lại, càn tiếu, điên
cuồng, bệnh trĩ, nơi đường (đại tiểu tiện) có nhọt
mủ chảy mãi, trở lại trả lời như vậy, lời nói này tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
tỳ-kheo một lần làm môi giới cho người nữ, phạm một
tăng-già-bà-thi-sa. Tùy theo làm mai mối nhiều hay ít, nói rõ
ràng, mỗi mỗi phạm tăng-già-bà-thi-sa; nói không rõ ràng
phạm thâu-lan-giá.
Nếu
bằng thư, bằng dấu tay, hoặc ra hiệu, tới lui nói, tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu
ra hiệu mà người kia hiểu, tăng-già-bà-thi-sa; không hiểu,
thâu-lan-giá. Trừ hai đường, nói đến chi tiết nào trong
thân phần để mai mối, phạm thâu-lan-giá.
Đối
với thiên nữ, a-tu-la nữ, long nữ, dạ-xoa nữ, ngã quỷ nữ,
súc sanh cái có thể biến hình, huỳnh môn, hai căn, mà làm
mai mối, nói rõ ràng, thâu-lan-giá; không rõ ràng, đột-kiết-la.
Bằng thư, bằng dấu tay, bằng ra hiệu khiến cho người kia
hiểu, thâu-lan-giá; không hiểu, đột-kiết-la. [584a1] Đối
với súc sanh không thể biến hình, làm mai mối, đột-kiết-la.
Làm mai mối nam, đột-kiết-la.
Nếu
tỳ-kheo tới lui làm mai mối với ý tưởng làm mai mối, tăng-già-bà-thi-sa.
Làm mai mối, nhưng nghi, thâu-lan-giá. Làm mai mối với ý tưởng
không phải mai mối, thâu-lan-giá. Không làm mai mối mà nghi
làm mai, thâu-lan-giá. Người nữ mà nghi, thâu-lan-giá. Nữ
loài người mà tưởng nữ loài phi nhơn, thâu-lan-giá. Nữ
loài phi nhơn, mà tưởng là nữ loài người, thâu-lan-giá.
Nữ loài phi nhơn, nghi, thâu-lan-giá.
Nếu
tỳ-kheo mang thư của người đi nhưng không xem, đột-kiết-la.
Nếu vì bạch y làm sứ giả các việc khác, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni, tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni,
đột-kiết-la. Đây là các trường hợp phạm.
Sự
không phạm: nếu nam nữ trước đã thông nhau mà sau ly biệt
làm cho hòa hợp lại. Hoặc vì cha mẹ bệnh hoạn, hay bị
giam hãm trong ngục, xem thư rồi mang đi. Hoặc vì ưu-bà-tắc
tín tâm tinh tấn mà bị bệnh, hoặc bị giam hãm trong ngục,
xem thư rồi mang đi. Hoặc vì Phật, Pháp, Tăng, tháp, hoặc
vì tỳ-kheo bệnh, xem thư rồi mang đi. Những trường hợp
như trên không phạm.
Người
không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người
si cuồng loạn tâm, thống não, bức bách.
VI.
LẬP THẤT NHỎ[54]
A.
DUYÊN KHỞI
Đức
Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành La-duyệt-kỳ.[55]
Lúc bấy giờ, đức Thế tôn cho phép các tỳ-kheo làm phòng
xá riêng. Các tỳ-kheo người nước Khoáng dã,[56] nghe đức
Thế tôn cho phép các tỳ-kheo làm phòng xá riêng, họ liền
làm phòng xá lớn. Vì họ làm phòng xá lớn nên đòi hỏi
nhiều công sức. Các tỳ-kheo ấy đi cầu xin khắp nơi, nói:
«Cho tôi công thợ khéo; cung cấp cho tôi xe cộ và người
đánh xe; cung cấp cho tôi cây, gỗ, tre, tranh, giây cột, v.v...
»
Vì
các tỳ-kheo khất cầu quá phiền hà, nên các cư sĩ mỗi khi
từ xa, thấy tỳ-kheo đều quay xe tránh xa; hoặc lánh vào trong
các đường hẻm, hoặc vào trong chợ búa, hoặc tự vào trong
nhà, hay cúi đầu đi thẳng, không cho tỳ-kheo thấy mặt. Tại
sao vậy? Vì sợ tỳ-kheo có sự khất cầu đòi hỏi.
Lại
có một tỳ-kheo Khoáng dã muốn xây cất phòng xá; bèn tự
mình chặt lấy cây để làm. Vị thần nương ở nơi cây đó
có nhiều con cháu, khởi ý nghĩ: «Con cháu của ta đông, cây
này là nơi che chở, nương tựa của ta, mà tỳ-kheo này chặt
phá. Ta phải đánh tỳ-kheo này.» Rồi thần cây nghĩ trở
lại: «Nay ta nếu trước không xét kỹ mà đánh tỳ-kheo, sợ
e trái đạo lý. Ta nên đến chỗ đức Thế tôn, đem vấn
đề này thưa rõ với Ngài. Nếu đức Thế tôn giáo sắc thế
nào, ta sẽ phụng hành thế ấy.» Nghĩ rồi, liền đến chỗ
đức Thế tôn, lạy dưới chân Phật, đứng qua một bên và
đem vấn đề thưa rõ đức Thế tôn. Đức Thế tôn khen ngợi:
«Lành
thay, ngươi đã không đánh vị tỳ-kheo trì giới. Nếu đánh
thì mắc tội vô lượng. Nay ngươi nên đến dòng sông Hằng,
nơi đó có một cây đại thọ tên là Ta-la. Vị thần nương
ở cây đó vừa mạng chung. Ngươi có thể cư ngụ ở nơi
đó.» Vị thần kia nghe xong, đảnh lễ dưới chân đức Thế
tôn, nhiễu ba vòng, rồi biến mất.
Khi
ấy, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp[57] từ nước Ma-kiệt, hướng dẫn
chúng đại tỳ-kheo năm trăm người, cùng đến nơi thành Khoáng
dã, nghỉ lại một đêm, sáng ngày đắp y, bưng bát vào thành
khất thực, bước đi đoan nghiêm, mắt nhìn đứng đắn, cử
chỉ dáng điệu cùng chúng có khác.
Khi
ấy, trong thành, các cư sĩ xa thấy tỳ-kheo bèn lánh vào đường
hẻm, hay vào trong chợ búa, hoặc tự vào lại trong nhà, hoặc
cúi đầu đi thẳng không cho tỳ-kheo thấy mặt. Tôn giả Ca-diếp
thấy sự việc như vậy, bèn hỏi một người:
«Các
cư sĩ nơi đây tại sao thấy tỳ-kheo tránh mặt, không cho
tỳ-kheo thấy?»
Người
ấy nói với Tôn giả Ca-diếp rằng:
«Đức
Thế tôn cho phép các tỳ-kheo làm phòng xá riêng. Các tỳ-kheo
khất cầu phương tiện nhiều nên gây phiền hà. Do vậy, mọi
người đều tránh mặt.»
Tôn
giả Ca-diếp nghe như vậy rồi bùi ngùi không vui.
Lúc
ấy, đức Thế tôn từ thành La-duyệt dẫn 1.250 vị Tỳ-kheo
đến nơi thành Khoáng dã. Đến nơi, quý vị đều trải toà
an toạ. Tôn giả Ca-diếp đến chỗ đức Thế tôn, lạy dưới
chân Phật, đứng qua một bên, bày trống vai hữu, chấp tay,
quỳ gối bạch Phật:
«Vừa
vào thành khất thực, con thấy các cư sĩ, từ xa trông thấy
các tỳ-kheo, họ đều tránh mặt... (nói đầy đủ như trên).»
Tôn
giả thưa xong, lạy dưới chân Phật, nhiễu ba vòng, rồi ra
khỏi thành Khoáng dã. Tại sao vậy? Vì sợ các tỳ-kheo nơi
thành Khoáng dã sanh tâm thù hận. Đức Thế tôn vì nhơn duyên
nầy tập hợp Tăng tỳ-kheo, bảo rằng:
«Ta
nhớ ngày trước, trong núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt-kỳ
này, có một vị thần đến nơi ta, cúi đầu lạy dưới chân,
rồi đứng qua một bên, thưa với ta: ‹Đức Thế tôn cho
phép tỳ-kheo nơi Khoáng dã làm phòng xá riêng. Các ngươi khất
cầu nhiều... (nói đầy đủ như trước).› Nay ta hỏi: Có
thật các người làm phòng xá riêng, khất cầu nhiều như
vậy chăng?»
Các
tỳ-kheo trả lời:
«Sự
thật như vậy.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo:
«Tại
sao các ngươi lấy cớ ta cho phép làm phòng xá riêng mà lại
làm phòng xá lớn, để rồi đòi hỏi nhiều sự khất cầu
phi pháp đối với vật khó kiếm?»
Đức
Thế tôn quở trách các tỳ-kheo kia rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Xưa
kia bên dòng sông Hằng nầy có một Phạm chí bện tóc ,[58]
thường ở bên dòng sông, nhan sắc tiều tụy, hình thể gầy
còm. Bấy giờ ta đến đó, chào hỏi xong, hỏi: ‹Tại sao
hình thể của ông gầy còm, nhan sắc tiều tụy như thế?›
Người kia trả lời Ta rằng: ‹Trong nước sông này có một
Long vương tên là Ma-ni-kiền-đại.[59] Mỗi lần ra khỏi cung,
nó đến chỗ tôi. Thân nó quấn quanh mình tôi. Đầu nó che
trên tôi. Khi ấy, tôi nghĩ: Tánh của loài rồng rất bạo,
sợ nó hại mạng tôi. Vì sự lo sợ này mà thân thể gầy
còm, nhan sắc tiều tụy thế nầy.›
«Khi
ấy Ta hỏi vị Phạm chí kia rằng: ‹Ngươi có muốn khiến
con rồng đó thường ở trong nước, không đến chỗ người
hay không?›
«Phạm
chí kia nói: ‹Thật sự tôi muốn con rồng đó đừng đến
chỗ tôi.›
«Ta
liền hỏi Phạm chí: ‹Con rồng kia có chuỗi anh lạc[60] hay
không?›
«Phạm
chí đáp: ‹Dưới cổ nó có chuỗi ngọc châu anh lạc rất
tốt.›
«Đức
Phật nói với Phạm chí rằng: ‹Nếu con rồng kia, khi ra khỏi
nước, đến chỗ ngươi, ngươi nên đứng dậy tiếp đón
và nói: Long vương, hãy chờ! Hãy mang chuỗi anh lạc dưới
cổ cho tôi. Nói xong rồi thì đọc kệ:
Nay
ta cần chuỗi ngọc,
Anh
lạc dưới cổ ngươi.
Hãy
tỏ lòng tin ưa,
Cho
ta viên ngọc đó.›
«Phạm
chí ghi nhớ lời của Ta. Sau đó, khi Long vương từ trong nước
ra, đến chỗ Phạm chí. Từ xa, Phạm chí trông thấy, liền
đứng dậy nghinh đón và nói: ‹Hãy chờ chút, nầy Long vương!
Xin vui lòng đưa cho tôi chuỗi ngọc dưới cổ.›
«Phạm
chí nói xong thuyết kệ:
Nay
ta cần chuỗi ngọc,
Anh
lạc dưới cổ ngươi.
Hãy
tỏ lòng tin ưa,
Cho
ta viên ngọc đó.
«Long
vương bèn trả lời Phạm chí bằng bài kệ:
Của
báu tôi có được,
Do
từ viên ngọc này;
Ông
lại muốn cầu xin,
Thôi
không gặp nhau nữa.
Đoan
chánh, đẹp, tinh sạch,
Xin
ngọc khiến tôi sợ;
Thôi
không gặp nhau nữa,
Cho
ông ngọc làm gì?
«Long
vương tức thời trở lại cung, không xuất hiện đến nữa.»
[585a1]
Lúc bấy giờ, đức Thế tôn liền nói kệ:
Xin
nhiều người không ưa,
Xin
quá thành thù ghét;
Phạm
chí xin ngọc rồng,
Rồng
không trở lại nữa!
«Tỳ-kheo,
các ngươi nên biết, cho đến súc sanh còn không ưa người
xin, huống là đối với loài người, xin nhiều không nhàm
chán mà không làm cho chán ghét? Tỳ-kheo Khoáng dã là người
ngu si, riêng làm phòng xá lớn, có quá nhiều yêu sách... (nói
đầy đủ như trước).»
Đức
Thế tôn lại bảo các tỳ-kheo:
«Xưa
kia, một thuở nọ, ta ở nơi vườn Cấp-cô-độc, trong rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Khi ấy, có một tỳ-kheo[61] đến
chỗ ta, cúi đầu lạy dưới chân, rồi ngồi qua một bên,
ta hỏi thăm uỷ lạo rằng, ‹Các người sống có được
an ổn không? Không khổ vì sự khất thực chăng?›
«Tỳ-kheo
ấy trả lời: ‹Chúng con sống được an ổn, không phải
gặp sự khó khăn vì khất thực. Nhưng con ở trong rừng, có
một điều lo ngại chính là, vào nửa đêm bọn chim kêu la
bi thảm, làm rối loạn định tâm của con. Con khốn đốn
vì việc này.›
«Đức
Phật hỏi các tỳ-kheo: ‹Các ông có muốn bầy chim này không
đến nơi rừng nầy nghỉ đêm nữa hay không?›
«Tỳ-kheo
thưa với đức Phật: ‹Thật sự chúng con không muốn bầy
chim ấy trở lại nghỉ đêm nơi rừng nầy nữa.›
«Đức
Phật bảo các tỳ-kheo: ‹Các ông rình, khi nào bầy chim trở
lại nghỉ đêm, nói với chúng nó rằng, Cho ta xin hai cái cánh,
ta có việc cần dùng nó.›
«Lúc
ấy,[62] các tỳ-kheo kia sau khi ghi nhớ lời dạy của Ta, bèn
rình khi bầy chim kia trở lại nghỉ đêm nơi rừng; vào lúc
nửa đêm, đến chỗ bầy chim kia, nói, ‹Nay ta cần dùng hai
cái cánh của ngươi, ngươi đem cho ta đi!›
«Khi
ấy, bầy chim, nghĩ thầm, ‹Tỳ-kheo này xin ta như vậy.›
Nghĩ xong, liền bay ra khỏi rừng, từ đó không trở lại nữa.»
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
«Các
ông nên biết, cho đến loài cầm thú còn không thích bị người
xin, huống là đối với người cầu xin đòi hỏi nhiều, mà
không sinh chán ghét sao?
«Tỳ-kheo
Khoáng dã là người ngu si, làm phòng xá lớn riêng, có qua
nhiều yêu sách... (nói đầy đủ như trước).»
Rồi
đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Xưa
kia có con trai nhà tộc tánh, tên là Lại-tra-bà-la,[63] xuất
gia hành đạo cho đến đối với nhà của cha mẹ mà cũng
hoàn toàn không đến xin. Khi ấy, ông cha nói với Lại-tra-bà-la:
«Con
biết chăng, ta tự nghiệm xét, ít có người không đến nhà
cha xin. Con là con của cha, tại sao không đến nhà cha để
xin?
«Khi
ấy, Lại-tra-bà-la nói kệ cho cha nghe:
Cầu
nhiều, người không ưa.
Cầu
không được, sinh oán.
Cho
nên con không xin,
Sợ
sanh thêm bớt vậy.
«Tỳ-kheo
nên biết, Lại-tra-bà-la, đối với nhà của cha mình còn không
đến xin, huống là các tỳ-kheo, đối với nhà cư sĩ, lại
đến khất cầu đòi hỏi nhiều, khiến cho họ không ưa.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo khất
cầu phi thời, khất cầu không biết chán, khất cầu bất
chánh. Đức Thế tôn dùng vô số phương tiện khen ngợi sự
khất cầu đúng thời, khất cầu một cách vừa phải, khất
cầu chơn chánh; rồi bảo các tỳ-kheo:
«Tỳ-kheo
Khoáng dã là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu
lậu, là kẻ phạm giới nầy ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì
các tỳ-kheo kết giới, tập mười cú nghĩa, cho đến, để
chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
B.
GIỚI VĂN
Tỳ-kheo
nào, tự khất cầu để cất thất, không có thí chủ, tự
làm cho mình, cần phải làm đúng lượng. Trong đây đúng lượng
là dài mười hai gang tay Phật, bên trong rộng bảy gang tay
phật. Phải mời các tỳ-kheo đến chỉ định nơi chốn. Các
tỳ-kheo ấy cần chỉ định nơi chốn, là nơi không có nguy
hiểm, nơi không bị bít lối. Nếu tỳ-kheo, nơi có nguy hiểm,
nơi bị bít lối, tự khất cầu để cất thất, không có
thí chủ, tự làm cho mình, không mời các tỳ-kheo đến để
chỉ định nơi chốn, hoặc làm quá lượng định, tăng-già-bà-thi-sa.
C.
THÍCH TỪ
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Tự
khất cầu: vị kia khất cầu yêu sách chỗ này chỗ kia.
Thất
[64]: tức là phòng.
Không
có chủ:[65] không có một người, hai người, hay nhiều người
đứng ra cất.
Tự
làm cho mình:[66] tự mình tìm cầu, tự mình làm lấy.
Đúng
lượng: dài mười hai gang tay Phật, bên trong rộng bảy gang
tay Phật.[67]
Chỗ
nguy hiểm:[68] là chỗ có hổ lang, sư tử, các thú dữ, cho
đến loài kiến. Nếu tỳ-kheo không bị các loài trùng kiến
hay các loài thú gây não hại, thì nên dọn khu đất cho bằng
phẳng; hoặc có gốc cây, đá, gai gốc, thì hãy sai người
đào bỏ. Hoặc có hang, hầm, mương, rãnh, ao, ngòi, thì hãy
cho người lấp đi. Hoặc sợ nước ngập, hãy làm đê để
chắn. Hoặc chỗ đất có người nói là của họ, thì nên
cùng xử đoán, chớ để người khác tranh cãi. Đó gọi là
chỗ nguy hiểm.
Chỗ
bị bít lối:[69] nghĩa là nơi không đủ cho chiếc xe chở
cỏ[70] quay đầu để tới lui, như vậy gọi là chỗ bị bít
lối.
Tỳ-kheo
này xem coi, nơi không có nguy hiểm, không bị bít lối rồi,
đến trong Tăng cởi bỏ giày dép, trống vai bên hữu, quỳ
gối bên hữu chấm đất, chắp tay tác bạch:[71]
Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là..., tự khất cầu
để cất thất, không có thí chủ, tự làm cho mình. Nay tôi
đến trong Tăng cầu xin biết cho đó là chỗ không nguy hiểm,
không bị bít lối.
Bạch
như vậy ba lần.
Lúc
bấy giờ, chúng Tăng nên quan sát tỳ-kheo nầy có thể tin
cậy được không? Nếu có thể