CHƯƠNG
IV
NI-TÁT-KỲ
BA-DẬT-ĐỀ[1]
I.
SÚC TRƯỜNG Y[2]
A.
DUYÊN KHỞI
1.
Y DƯ
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.[3] Bấy giờ, đức Thế tôn cho phép các tỳ-kheo
thọ trì ba y không được dư.
Lúc
ấy, nhóm sáu tỳ-kheo chứa y dư. Hoặc có y mặc buổi sáng.
Hoặc có y mặc buổi trưa. Hoặc có y mặc buổi xế. Nhóm
sáu thường kinh doanh trang nghiêm y phục, cất chứa như vậy.
Các tỳ-kheo thấy, bảo nhóm sáu tỳ-kheo rằng:
«Đức
Phật cho phép thọ trì ba y, không được dư. Đây là y của
ai?»
«Y
dư của chúng tôi đấy.» Nhóm sáu trả lời.
Trong
số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống
hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo:
«Đức
Như Lai cho phép thọ trì ba y, tại sao các thầy cất chứa
y dư, hoặc có y mặc buổi sáng, hoặc có y mặc giữa ngày,
hoặc có y mặc buổi xế?»
Các
tỳ-kheo liền đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân
Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch lên
đức Thế tôn một cách đầy đủ.
Đức
Thế tôn vì nhân duyên này tập họp Tăng tỳ-kheo, dùng vô
số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng
phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh
tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao, nhóm sáu Tỳ-kheo,
Như Lai cho phép thọ trì ba y, các ông lại chứa cất y dư?»
Đức
Phật dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
«Nhóm
sáu Tỳ-kheo là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống
hữu lậu, là những kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về
sau, ta vì các tỳ-kheo kiết giới, tập mười cú nghĩa, cho
đến, Chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
«Tỳ-kheo
nào chứa y dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.»
2.
QUÁ MƯỜI NGÀY
Khi
đức Thế tôn vì các tỳ-kheo kiết giới như vậy rồi, Tôn
giả A-nan nhận được một tấm y phấn tảo quý giá[4] từ
nơi một người kia, muốn dâng cúng cho đại Ca-diếp.[5] Vì
ngài Ca-diếp thường sống hạnh đầu đà, mặc loại y này.
Nhưng lúc ấy, ngài không có ở đó. Tôn giả A-nan có ý nghĩ:
«Đức Thế tôn vì các tỳ-kheo kiết giới, ‹Tỳ-kheo nào
chứa y dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.› Nay, ta nhận được y
phấn tảo quý giá, muốn [602a1] dâng cúng cho đại Ca-diếp.
Vì đại Ca-diếp thường sống hạnh đầu đà, mặc loại
y này. Mà ngài không có ở đây. Không biết làm sao đây?»
A-nan
liền đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, đứng
qua một bên, bạch đức Thế tôn:
«Bạch
Thế tôn, Ngài vì các tỳ-kheo kiết giới, ‹tỳ-kheo nào chứa
y dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.› Nay con nhận được một y
phấn tảo quý giá, muốn dâng cúng lên đại Ca-diếp. Vì đại
Ca-diếp thường tu hạnh đầy đà, mặc y phấn tảo.» Phật
hỏi A-nan:
«Khi
nào Ca-diếp về?»
A-nan
bạch Phật:
«Sau
mười ngày sẽ về.»
Đức
Thế tôn vì nhân duyên này, tập hợp Tăng tỳ-kheo, tùy thuận
thuyết pháp cho các tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện nói
về thiểu dục tri túc, hạnh đầu đà, ưa pháp xuất ly, rồi
bảo các tỳ-kheo:
«Từ
nay về sau cho phép chứa y dư, không quá muời ngày.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, y đã xong, ca-thi-na đã xả, cất chứa y dư, trong mười
ngày không tịnh thí được phép chứa. Nếu quá mười ngày,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Y đã
xong: chỉ là ba y.[6]
Y ca-thi-na
đã xả.[7]
Y:[8]
có mười loại : y kiều-xa-da, y kiếp-bối (vải), y khâm-bà
la, y sô-ma (bố), y sấm-ma, y phiến-na, y ma (vải gai), y bí-di-la,
y cưu-di-la, y sấm-la-bán-ni.[9]
Y dư:[10]
cho đến miếng vải chiều dài bằng tám ngón tay, chiều rộng
bằng bốn ngón tay của Như Lai trở lên đều gọi là y dư.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, được chứa. Ngày thứ
hai được y, cho đến ngày thứ mười được y, được chứa.
Qua đến ngày thứ mười một, khi bình minh[11] xuất hiện,
tất cả y đó trở thành ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được
y, ngày thứ ba không được. Ngày thứ tư được (như vậy
lần lần lên đến ngày thứ mười không được, xây dựng
câu văn cũng như trên).[12]
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai, ngày thứ
ba không được. Ngày thứ tư được, cho đến ngày thứ mười
được y. Nếu đến ngày thứ mười một, khi bình minh xuất
hiện, số y nhận được trong tám ngày đó đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được
y, ngày thứ ba và ngày thứ tư không được. Ngày thứ năm
được, (như vậy lần lần xuống, cho đến ngày thứ chín,
ngày thứ mười không được y, xây dựng câu văn cũng như
trên).[13]
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai, ngày thứ
ba, ngày thứ tư không được y. Ngày thứ năm được y, cho
đến ngày thứ mười được y. Nếu đến ngày thứ mười
một, khi bình minh xuất hiện, số y được trong bảy ngày
đó, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được
y, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không được y.
Ngày thứ sáu được y, (như vậy chuyển, xuống cho đến ngày
thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười, không được y,
xây dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ
ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm không được y. Ngày thứ sáu
được y, cho đến ngày thứ mười được y. Nếu đến ngày
thứ mười một, khi bình minh xuất hiện, số y được trong
sáu ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai được
y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu
không được. Ngày thứ bảy được y (như vậy lần xuống
cho đến ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày
thứ mười không được y, xây dựng câu văn cũng như vậy).*
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ
ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu không được
y. Ngày thứ bảy được y, cho đến ngày thứ mười được
y. Nếu đến ngày thứ mười một, khi bình minh xuất hiện,
số y được trong năm ngày đó đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai được
y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu,
ngày thứ bảy không được y. Ngày thứ tám được y (như
vậy lần xuống cho đến ngày thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày
thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được y, xây
dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ
ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy
không được y. Ngày thứ tám được y, cho đến ngày thứ
mười được y, nếu qua ngày thứ mười một, khi bình minh
xuất hiện, số y được trong bốn ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai được
y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu,
ngày thứ bảy, ngày thứ tám không được y. Ngày thứ chín
được y (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ năm, ngày
thứ sáu, ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày
thứ mười không được y, xây dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ
ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy,
ngày thứ tám không được y. Ngày thứ chín, ngày thứ mười
được y; số y được trong ba ngày đó, nếu đến ngày thứ
mười một, khi bình minh xuất hiện, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai được
y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu,
ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín không được
y. Ngày thứ mười được y (như vậy lần xuống cho đến
ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy,
ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được
y, xây dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ
ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy,
ngày thứ tám, ngày thứ chín không được y. Ngày thứ mười
được y. Nếu qua ngày thứ mười một, khi bình minh xuất
hiện, số y được trong hai ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai được
y. Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu,
ngày thứ bảy, ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười
không được y (như vậy lần xuống cho đến ngày thứ ba,
ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy,
ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được
y, xây dựng câu văn cũng như trên).*
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai, ngày thứ
ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu, ngày thứ bảy,
ngày thứ tám, ngày thứ chín, ngày thứ mười không được
y. Nếu qua ngày mười một, khi bình minh xuất hiện, số y
nhận được trong một ngày đó, đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y không tịnh thí.[14] Ngày
thứ hai được y tịnh thí. Ngày thứ ba được y, cho đến
ngày thứ mười được y không tịnh thí. Qua đến ngày thứ
mười một, khi bình minh xuất hiện, số y nhận được trong
chín ngày đó đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
tỳ-kheo nào, ngày thứ nhất được y. Ngày thứ hai được
y không tịnh thí. Ngày thứ ba được y tịnh thí. Ngày thứ
tư được y không tịnh thí (như vậy lần xuống cho đến
ngày thứ mười được y tịnh thí, không tịnh thí, xây dựng
câu văn cũng như trên).* Nếu y bị mất (xây dựng câu văn
cũng như trên). Nếu làm phi y (đặt câu văn cũng như trên).*
Nếu với ý nghĩ là người quen biết lấy (đặt câu văn cũng
như trên).* Nếu quên đi (xây dựng câu văn cũng như trên).*
Tất cả đều phạm ni-tát-kỳ.
Nếu
y phạm xả đọa mà không xả, đem đổi lấy y khác, phạm
một ni-tát-kỳ ba-dật-đề và một đột-kiết-la.
Y xả
đọa nầy nên xả cho Tăng, hoặc một nhóm người, hoặc một
người. Không được xả biệt chúng. Nếu xả không thành
xả, phạm đột-kiết-la. Khi xả cho Tăng, phải đến trong
Tăng, mặc y trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, đến kính
lễ Thượng tọa, quỳ gối, chấp tay, thưa:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe. Tôi, tỳ-kheo tên là..., cố ý chứa
y dư như vậy, quá mười ngày, phạm xả đọa. Nay, tôi xả
cho Tăng sử dụng.»
Xả
y rồi phải sám hối. Người thọ sám phải tác bạch, sau
đó mới thọ sám. Lời tác bạch như sau:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe. Tỳ-kheo này tên là..., cố ý chứa
y dư như vậy, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi thọ
sự sám hối của tỳ-kheo tên là... Đây là lời tác bạch.»
Tác
bạch như vậy xong, sau đó mới thọ sự sám hối. Vị thọ
sám nên nói với phạm nhơn rằng:
«Hãy
tự trách tâm ông!»
Phạm
nhơn trả lời:
«Xin
vâng.»
Nếu
Tăng đông, khó tập hợp, mà tỳ-kheo này có duyên sự muốn
đi xa thì nên hỏi tỳ-kheo ấy rằng: «Y này, ông muốn cho
ai?» Tùy theo lời nói của vị ấy mà cho, và Tăng phải hoàn
y nầy lại liền cho tỳ-kheo ấy bằng pháp bạch nhị yết-ma.
Nghi thức trao như sau:
Trong
Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, theo sự việc
trên tác bạch như sau:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., cố ý chứa y dư
như vậy, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích
hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, đem y nầy trao cho tỳ-kheo
tên là... kia. Tỳ-kheo tên là... kia sẽ hoàn lại cho tỳ-kheo
này. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo nầy tên là... cố ý chứa
y dư như vậy, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng, Tăng đem y
này cho tỳ-kheo tên là... kia. Tỳ-kheo tên là... kia sẽ hoàn
lại cho tỳ-kheo này. Các trưởng lão nào chấp thuận, Tăng
đem y này trao cho [603a1] tỳ-kheo tên là... kia và Tỳ-kheo tên
là... kia sẽ hoàn cho tỳ-kheo này, thì im lặng; vị nào không
đồng ý, xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận cho Tỳ-kheo tên là... kia y nầy rồi. Tăng
chấp thuận nên im lặng. Việc này ghi nhận như vậy.»
Tỳ-kheo
này ở giữa Tăng xả y rồi, mà không được trả lại; Tăng
mắc đột-kiết-la.[15] Khi trả lại, có người nói «đừng
trả», người ấy mắc đột-kiết-la.
Nếu
tác pháp tịnh thí,[16] hoặc gởi cho người khác, hoặc đem
làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la,[17] hoặc cố ý làm cho hư
hoại, hoặc đốt cháy, hoặc làm phi y,[18] hoặc thường xuyên
mặc cho hư, đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: không quá mười ngày. Hoặc chuyển tịnh thí.[19]
Hoặc gởi cho người. Hoặc tưởng bị giặc cướp; hoặc
tưởng bị mất; hoặc tưởng bị cháy; hoặc tưởng bị trôi.
[Trong các trường hợp này] không tịnh thí, không gởi cho
người, không phạm.
Nếu
y bị đoạt, y bị mất, y bị cháy, y bị trôi, lấy mặc,[20]
hoặc người khác đưa cho mặc,[21] hoặc người khác đưa
cho làm,[22] thì người kia không phạm.
Người
nhận gởi gắm y kia hoặc mạng chung, hoặc đi xa, hoặc thôi
tu, hoặc bị giặc bắt dẫn đi, hoặc bị ác thú hại, hoặc
nước trôi chìm. Các trường hợp như vầy mà không tác tịnh
thí, không gởi cho cho người, cũng không phạm.
Người
không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; người
si cuồng, loạn tâm, thống não, bức bách.
II.
NGỦ LÌA Y[23]
A.
DUYÊN KHỞI
1.
LÌA Y
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo đem y gởi nơi tỳ-kheo thân hữu để
du hành trong nhân gian. Tỳ-kheo được gởi y, thường thường
đem y phơi nắng. Các tỳ-kheo thấy, hỏi:
«Đức
Phật cho phép tỳ-kheo chứa ba y, không được dư. Đây là
y của ai?»
Tỳ-kheo
phơi y trải lời:
«Đây
là y của nhóm sáu tỳ-kheo. Họ là bạn thân của tôi, đem
gởi cho tôi, để du hành trong nhân gian. Sợ bị sâu bọ phá
nên tôi đem phơi.»
Trong
số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống
hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo:
«Sao
các thầy đem y gởi cho tỳ-kheo thân hữu; lìa y mà du hành
trong nhân gian?»
Hiềm
trách rồi, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn đảnh lễ
dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này
bạch đầy đủ lên đức Thế tôn.
Đức
Thế tôn vì nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo quở trách
nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng
phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh
tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại đem y gởi cho
tỳ-kheo thân hữu; lìa y mà du hành trong nhân gian?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi, bảo các
tỳ-kheo:
«Nhóm
sáu tỳ-kheo là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống
hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau,
ta vì các tỳ-kheo kiết giới, tập mười cú nghĩa... cho đến,
chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
«Tỳ-kheo
nào, y đã xong, y ca-thi-na đã xả, lìa một trong ba y ngủ đêm
nơi khác, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.»
2.
CƯƠNG GIỚI CỦA Y
Khi
đức Thế tôn vì các Tỳ-kheo kiết giới như vậy, bấy giờ
có một tỳ-kheo bị bệnh càn tiêu,[24] có y phấn tảo tăng-già-lê
nặng quá. Tỳ-kheo này vì có nhơn duyên muốn du hành trong
nhơn gian, không thể mang nó theo được, tự nghĩ rằng: «Đức
Thế tôn đã vì các tỳ-kheo kiết giới, không được lìa
y ngủ đêm. Lìa y ngủ đêm, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nay ta
bị bệnh càn tiêu, mà ta có y phấn tảo tăng-già-lê quá nặng,
lại có nhơn duyên muốn du hành trong nhơn gian, không thể mang
theo được. Nay ta nên như thế nào đây?» Vị ấy nói với
các tỳ-kheo đồng bạn rằng:
«Đức
Thế tôn đã vì các tỳ-kheo kiết giới, không được lìa
y ngủ đêm. Lìa y ngủ đêm, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nay tôi
bị bệnh càn tiêu, mà tôi có y phấn tảo tăng-già-lê quá
nặng, lại có nhơn duyên muốn du hành trong nhơn gian, không
thể mang theo được. Nay tôi nên như thế nào? Các Đại đức
vì tôi đến bạch đức Thế tôn, Thế tôn dạy thế nào,
tôi sẽ phụng hành như vậy.»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức
Thế tôn một cách đầy đủ. Đức Thế tôn liền tập hợp
các Tăng tỳ-kheo, bảo rằng:
Từ
nay về sau, cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo bệnh này pháp bạch
nhị yết-ma, kiết không mất y. Nghi thức trao như vầy:
Tỳ-kheo
kia nên đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi bỏ giầy
dép, đến lễ Thượng tọa, quì gối, chấp tay, bạch xin như
vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tôi, Tỳ-kheo tên là..., mắc bệnh
càn tiêu, phấn tảo tăng-già-lê này nặng, có nhân duyên muốn
du hành trong nhơn gian, không thể mang theo được. Nay tôi đến
xin Tăng pháp không mất y.»
Nên
cầu xin như vậy ba lần. Trong Tăng nên sai một vị có thể
tác yết-ma, theo sự việc trên tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., mắc bệnh càn
tiêu, có phấn tảo tăng-già-lê quá nặng, lại có nhân duyên
muốn du hành trong nhơn gian, nên không thể mang theo được,
đến xin Tăng pháp không mất y. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, trao cho tỳ-kheo này pháp không
mất y. Đây là lời tác bạch.»
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., mắc bệnh càn
tiêu, có phấn tảo tăng-già-lê quá nặng, lại có nhân duyên
muốn du hành trong nhơn gian, mà không thể mang theo được,
nay đến xin Tăng pháp không mất y. Nay, Tăng trao cho tỳ-kheo
tên là... pháp không mất y. Trưởng lão nào chấp thuận Tăng
trao cho tỳ-kheo tên là... pháp không mất y thì im lặng; vị
nào không đồng ý xin nói.»
«Tăng
đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo tên là... pháp không mất y
rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc nầy tôi ghi nhận
như vậy.»
Từ
nay về sau sẽ nói giới như sau:
Tỳ-kheo
nào y đã xong, y ca-thi-na đã xả, lìa một trong ba y ngủ đêm
chỗ khác, trừ tăng yết-ma, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Y đã
xong: đủ ba y.
Y ca-thi-na
đã xả. (như trên)
Ba
y: tăng-già-lê, uất-đa-la-tăng, an-đà-hội.
Y:
có mười loại, như trên đã nói.
Tăng:
cùng một thuyết giới, cùng một yết-ma.
Không
mất y: trong Tăng-già-lam có một giới. Mất y: trong Tăng-già-lam
có nhiều giới.[25]
Không
mất y: cây có một giới. Mất y: cây có nhiều giới.
Không
mất y: sân[26] có một giới. Mất y: sân có nhiều giới.
Không
mất y: xe có một giới. Mất y: xe có nhiều giới.
Không
mất y: thuyền có một giới. Mất y: thuyền có nhiều giới.
Không
mất y: thôn có một giới. Mất y: thôn có nhiều giới.
Không
mất y: nhà có một giới. Mất y: nhà có nhiều giới.
Không
mất y: giảng đường có một giới. Mất y: giảng đường
có nhiều giới.
Không
mất y: kho chứa có một giới. Mất y: kho chứa có nhiều giới.
Không
mất y: lẫm có một giới. Mất y: lẫm có nhiều giới.
Tăng-già-lam:
có bốn loại như trên.[27]
Cây:
cao bằng người, có bóng che đủ để ngồi kiết già.
Sân:
nơi đập và phơi ngũ cốc
Xe:
chỗ đủ cho xe quay đầu lại.
Thuyền:
chỗ đủ cho chiếc thuyền xoay lại.
Thôn:
[604a1] có bốn loại như trên.[28]
Giảng
đường: có nhiều khoảng trống.
Kho:
nơi chứa các vật mua bán, ngựa xe v.v...
Lẫm:
chỗ chứa ngũ cốc.
Giới
Tăng-già-lam: giới Tăng-già-lam này, chẳng phải giới Tăng-già-lam
kia. Giới Tăng-già-lam này, chẳng phải giới của cây kia.
Cho đến giới của kho chứa này chẳng phải giới của kho
chứa kia, cũng như vậy.
Giới
cây này chẳng phải giới cây kia. Cho đến giới kho chứa,
giới của Tăng-già-lam cũng như vậy.
Giới
của sân này chẳng phải giới của sân kia. Cho đến giới
Tăng-già-lam, giới cây, cũng như vậy. Ngoài ra xây dựng câu
văn cũng như trên.
Giới
Tăng-già-lam: ở đường biên của Tăng-già-lam, với sức người
trung bình, dùng đá hoặc gạch quăng đến chỗ nào thì nơi
đó gọi là giới.[29] Cho đến giới của kho chứa cũng như
vậy.
Nếu
tỳ-kheo để y ở trong Tăng-già-lam, lại ngủ ở dưới gốc
cây, khi bình minh chưa xuất hiện, hoặc xả y, hoặc tay cầm
y, hoặc đến chỗ đá quăng tới. Nếu không xả y, hoặc tay
cầm y, hoặc đến chỗ đá quăng tới; khi bình minh xuất hiện,
tùy theo chỗ lìa y ngủ, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Trừ
ba y, lìa các y khác, đột-kiết-la.
Tỳ-kheo
để y trong Tăng-già-lam, đến chỗ sân phơi. Bình minh chưa
xuất hiện, hoặc xả y, hoặc tay phải nắm y, hoặc đến
chỗ đá quăng tới. Nếu không xả y, không đến chỗ đá
quăng tới, mà bình minh xuất hiện, tùy theo chỗ lìa y ngủ,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Cho
đến ngủ nơi kho chứa, mỗi mỗi câu cũng như vậy. Nếu
tỳ-kheo để y dưới gốc cây, đến ngủ chỗ sân phơi lúa
cho đến ngủ nơi kho chứa, Tăng-già-lam thì cũng như vậy.
Không
mất y: Nếu nơi a-lan-nhã không có giới, trong khoảng tám cây.[30]
Một cây là bảy cung. Cung pháp nước Giá-ma-lê[31] trung bình
dài bốn khủy tay.
Nếu
tỳ-kheo nơi a-lan-nhã có thôn, để y trong khoảng tám cây,
ngủ chỗ khác, bình minh chưa xuất hiện. Không xả y, tay không
nắm y, hoặc không đến chỗ đá quăng tới, khi bình minh xuất
hiện, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Trừ ba y, lìa các y khác, đột-kiết-la.
Y xả
đọa này nên xả cho Tăng, hoặc một nhóm người, hoặc một
người; không được xả biệt chúng. Nếu xả biệt chúng,
không thành xả phạm đột-kiết-la.
Khi
xả cho Tăng, đương sự nên đến trong Tăng, trống vai bên
hữu, cởi bỏ giày dép, đến lễ Thượng tọa quỳ gối,
chấp tay, thưa như vậy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là..., đã lìa y
ngủ, phạm xả đọa. Nay, tôi xả cho Tăng.»
Phạm
nhơn xả rồi phải sám hối. Vị thọ sám hối phải tác bạch,
sau đó mới thọ sám. Tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., lìa y ngủ,
phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi nhận sám hối cho vị
tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.»
Bạch
như vậy rồi, sau mới nhận sám hối. Vị nhận sám hối nên
nói với phạm nhân rằng:
«Hãy
tự trách tâm ông!»
Phạm
nhân trả lời:
«Xin
vâng.»
Tăng
nên hoàn y lại cho tỳ-kheo này, liền bạch nhị yết-ma. Thể
thức trao lại y như vầy: trong Tăng nên sai một vị có khả
năng tác pháp yết-ma, theo sự việc trên, tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., lìa y ngủ, phạm
xả đọa; nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo...
Đây là lời tác bạch.»
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., lìa y ngủ,
phạm xả đọa, nay xả cho Tăng. Nay, Tăng đem y nầy hoàn lại
cho tỳ-kheo tên... Các trưởng lão chấp thuận, Tăng đem y
nầy hoàn lại cho tỳ-kheo... kia thì im lặng. Ai không đồng
ý xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận trao y cho tỳ-kheo... kia rồi. Tăng đã chấp
thuận nên im lặng. Việc này ghi nhận như vậy.»
Nếu
ở trong Tăng xả y rồi, mà không hoàn lại, Tăng phạm đột-kiết-la.
Khi hoàn lại, có người nói: đừng hoàn, người ấy phạm
đột-kiết-la.
Nếu
chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho người, hoặc đem làm ba
y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la,[32] hoặc cố làm cho hư, hoặc đốt,
hoặc làm phi y, hoặc mặc luôn cho hư, tất cả đều phạm
đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Đã được Tăng tác yết-ma. Khi bình minh chưa
xuất hiện, tay nắm y, hoặc cả y, hoặc đến chỗ đá quăng
tới, hoặc tưởng bị cưỡng đoạt, hoặc tưởng bị mất,
hoặc tưởng bị cháy, hoặc tưởng bị nước trôi, hoặc
tưởng bị hư hoại. Nếu đường thủy bị đứt đoạn, đường
bộ bị hiểm nạn, hoặc bị giặc cướp, hoặc nạn ác thú,
hoặc nước lên lớn, hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị
trói, hoặc mạng nạn, phạm hạnh nạn, không xả y, tay không
nắm tới y, không đến chỗ đá quăng tới thì không phạm.
Người
không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống não, bức bách.
III.
CHỜ Y MỘT THÁNG[33]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có tỳ-kheo, y tăng-già-lê bị
cũ rách hư hoại, tự nghĩ rằng: «Thế tôn đã vì các tỳ-kheo
kiết giới: ‹Y đã xong, y ca-thi-na đã xả, cho phép chứa
y dư trong mười ngày. Chứa quá hạn định ni-tát-kỳ ba-dật-đề.›
Song, tăng-già-lê này của ta bị cũ hư mục, trong vòng mười
ngày không thể may xong. Bây giờ, ta nên như thế nào?» Vị
ấy liền nói với tỳ-kheo đồng ý rằng:
«Lành
thay! Đại đức vì tôi bạch lên đức Thế tôn. Ngài dạy
thế nào tôi sẽ phụng hành thế ấy.»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhân duyên nầy bạch đầy đủ lên
đức Thế tôn. Đức Thế tôn dùng nhơn duyên này tập hợp
các tỳ-kheo và bảo:
«Từ
nay về sau cho phép các tỳ-kheo được chứa y dư, vì chờ
cho đủ.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo nghe đức Thế tôn cho phép chứa y dư vì chờ
cho đủ. Họ có y phấn tảo và các loại y khác, cùng loại
mà chưa đủ, liền lấy trong đó y phấn tảo giặt và nhuộm,
bốn đầu góc điểm tác tịnh, đem đến gởi các tỳ-kheo
thân hữu rồi du hành trong nhân gian. Vì họ đi lâu quá không
trở lại, tỳ-kheo nhận gởi sợ y ẩm ướt đem phơi. Các
tỳ-kheo thấy, hỏi:
«Thế
tôn đã chế giới, cho phép chứa ba y, không được quá. Y
nầy của ai?»
Tỳ-kheo
nhận gởi trả lời:
«Y
nầy là của nhóm sáu tỳ-kheo. Nhóm sáu tỳ-kheo nói: ‹Đức
Thế tôn chế giới, cho phép được chứa y dư cho đến khi
nào có đủ.› Họ có y phấn tảo và các loại y khác, cùng
loại mà chưa đủ, nên lấy trong đó y phấn tảo, giặt và
nhuộm, bốn đầu góc điểm tác tịnh, đem gởi cho tôi để
du hành trong nhơn gian. Sợ hư mục nên tôi đem hong phơi.»
Lúc
ấy, trong số các tỳ-kheo nghe, có vị thiểu dục tri túc,
sống hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm quý, hiềm trách
nhóm sáu tỳ-kheo:
«Tại
sao nói đức Thế tôn cho phép chứa y dư vì chờ cho đủ,
mà vì cùng loại y chưa đủ, lấy trong đó y phấn tảo giặt
và nhuộm, bốn đầu góc điểm tác tịnh, đem gởi cho tỳ-kheo
thân hữu để du hành trong nhơn gian?»
Các
tỳ-kheo liền đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân
Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy
đủ lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn vì nhơn duyên này tập
hợp các tỳ-kheo quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng
phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh
tùy thuận, làm việc không nên làm. Này, nhóm sáu tỳ-kheo!
Tại sao Thế tôn cho phép tỳ-kheo chứa y dư vì chờ cho đủ,
mà vì cùng loại y [605a1] chưa đủ lại lấy trong đó y phấn
tảo giặt nhuộm, bốn đầu điểm tác tịnh, đem gởi cho
tỳ-kheo thân hữu để du hành trong nhơn gian?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách rồi bảo các
tỳ-kheo:
«Đây
là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu,
là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các
tỳ-kheo kiết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh
pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào y đã đủ, y ca-thi-na đã xả, nếu tỳ-kheo được y vải
phi thời, cần thì nhận; nhận rồi mau chóng may thành y; đủ
thì tốt, không đủ thì được phép chứa một tháng vì chờ
cho đủ; nếu chứa quá hạn, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Y đã
xong: đủ ba y và y ca-thi-na đã xả.
Thời:
không thọ y ca-thi-na thì sau lễ tự tứ một tháng; có thọ
y ca-thi-na thì sau lễ tự tứ năm tháng.
Phi
thời: nếu quá thời hạn của y nầy.
Y:
có mười loại như trên đã nói.
Nếu
trong mười ngày, cùng loại y,[34] đủ thì nên cắt rọc ra,
lược may thành y. Hoặc tác pháp tịnh thí hoặc khiến cho
người. Nếu không cắt rọc, lược may thành y, không tịnh
thí, không gởi cho người, ngày thứ mười một, khi bình minh
xuất hiện, tùy theo số y (vải) nhiều hay ít, phạm ni-tát-kỳ
ba-dật-đề. Nếu y cùng loại không đủ, đến ngày thứ mười
một, y cùng loại mới đủ, trong ngày liền phải cắt rọc,
lược may thành y. Nếu không cắt rọc, lược may thành y, không
tịnh thí, không sai cho người, đến ngày thứ mười hai, khi
bình minh xuất hiện, tùy theo số y nhiều hay ít, đều phạm
ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Như vậy, cho đến ngày thứ hai mươi
chín cũng thế. Nếu cùng loại y không đủ, ngày ba mươi đủ
hay không đủ, cùng loại hay không cùng loại, trong ngày đó
cũng phải cắt rọc, lược may thành y, hoặc tịnh thí, hoặc
sai cho người. Nếu không cắt rọc, lược may thành y, không
tịnh thí, không sai cho người, đến ngày thứ ba mươi mốt,
khi bình minh xuất hiện, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Ni-tát-kỳ
này phải xả cho Tăng hoặc nhiều người, hoặc một người;
không được xả biệt chúng. Nếu xả không thành xả phạm
đột-kiết-la.
Khi
xả cho Tăng, phải đến trong Tăng, trống vai bên hữu, cởi
bỏ giầy dép đến lễ Thượng tọa, đầu gối bên hữu chấm
đất, chấp tay, bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., có y như
vậy, chứa quá số ngày như vậy, phạm xả đọa. Nay tôi
xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Người nhận sám hối phải tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., có y như vậy,
chứa quá số ngày như vậy, phạm xả đọa, nay xả cho Tăng.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận,
tôi nhận sự sám hối của tỳ-kheo tên là... Đây là lời
tác bạch.»
Tác
bạch như vậy rồi, sau đó mới nhận sự sám hối. Khi nhận
sự sám hối nên nói với phạm nhơn rằng:
«Hãy
tự trách tâm ông!»
Phạm
nhơn đáp:
«Xin
vâng.»
Tăng
nên hoàn y lại cho tỳ-kheo này ngay, bằng pháp bạch nhị yết-ma
như sau: Trong Tăng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma,
dựa theo sự việc trên tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., có cái y như
vậy, chứa quá số ngày như vậy, phạm xả đọa; nay xả
cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo có tên... Đây là lời
tác bạch.»
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là..., có cái y như
vậy, chứa quá ngày như vậy, phạm xả đọa; nay xả cho Tăng.
Nay Tăng đem y nầy hoàn lại cho tỳ-kheo có tên… Các trưởng
lão nào đồng ý, Tăng đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo có tên...
thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.»
«Tăng
đã thuận trao y cho tỳ-kheo có tên... rồi. Tăng đồng ý nên
im lặng. Việc này ghi nhận như vậy.»
Nếu
trong Tăng, xả y rồi, không hoàn lại, phạm đột-kiết-la.
Khi hoàn lại, nếu có người bảo «đừng trả», thì người
ấy phạm đột-kiết-la. Nếu không trả lại, chuyển tịnh
thí, hoặc khiến cho người, hoặc đem làm ba y, hoặc làm y
ba-lợi-ca-la, hoặc cố làm cho hư, hoặc đốt, hoặc làm phi
y, hoặc luôn luôn mặc cho hư, đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề; Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni phạm đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Chứa trong vòng mười ngày. Y cùng loại đủ,
cắt rọc, lược may thành y. Cùng loại y không đủ, đến
ngày thứ mười một cùng loại y đủ, đã được cắt rọc,
lược may thành y. Hoặc tịnh thí, sai cho người. Cho đến
ngày hai mười chín cũng như vậy. Ngày thứ ba mươi đủ hay
không đủ, cùng loại hay không đồng loại, nội nhật phải
cắt rọc, lược may thành y, hoặc tịnh thí, sai cho người,
thì không phạm.
Tưởng
bị đoạt, tưởng bị mất, tưởng bị cháy, tưởng bị nước
trôi mà không cắt rọc, lược may thành y, không tịnh thí,
không sai cho người thì không phạm. Nếu y bị đoạt, y bị
mất, y bị cháy, y bị nước trôi, lấy mặc, hoặc người
cho mặc, hoặc làm mền thì không phạm. Nếu tỳ-kheo nhận
gởi y, mạng chung, hoặc đi xa, hoặc thôi tu, bị giặc, hoặc
bị ác thú hại, hoặc bị nước trôi không cắt rọc, không
lược, không may thành y, không sai cho người thì không phạm.
Người
không phạm: người phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si
cuồng, loạn tâm, thống não, bức bách.
IV.
NHẬN Y PHI THÂN LÝ NI[35]
A.
DUYÊN KHỞI
1.
LIÊN HOA SẮC
Một
thời, đức Phật ở trong vườn trúc Ca-lan-đà, tại thành
La-duyệt.
Bấy
giờ, có người thiếu nữ tên là Liên Hoa Sắc,[36] cha mẹ
nàng gả nàng cho người Uất-thiền.[37] Sau đó, nàng mang thai,
muốn trở về nhà cha mẹ. Nàng sanh được một đứa con gái,
dung mạo đoan chánh.
Liên
Hoa Sắc cùng người con gái ở chung một nhà. Trong thời gian
này, chồng của Liên Hoa Sắc tư thông cùng với mẹ của Liên
Hoa Sắc, bị đứa tớ gái của Liên Hoa Sắc bắt gặp, và
thưa lại với Liên Hoa Sắc việc ấy. Liên Hoa Sắc nghe sự
việc như vậy, thầm nghĩ và than rằng: «Sao con gái lại cùng
với mẹ lấy chung một chồng. Thân người con gái để làm
gì?» Liên Hoa Sắc đành bỏ hài nhi đang bồng trong tay, cải
trang ra đi, đến nơi thành Ba-la-nại, đứng ngoài cửa thành.
Thân hình đầy bụi bậm, và gót chân bị rách. Lúc đó, trong
thành có ông trưởng giả, vợ ông vừa mạng chung, cỡi xe
ra khỏi thành Ba-la-nại, để đến công viên ngắm cảnh. Ông
trưởng giả gặp Liên Hoa Sắc đang đứng bên ngoài cửa thành,
dung mạo đoan chánh mà thân hình lại đầy bụi bặm, gót
chân rách nát, nên để ý Liên Hoa Sắc. Ông liền đến trước
người nữ, hỏi:
«Cô
thuộc về ai?»
Liên
Hoa Sắc trả lời:
«Tôi
không thuộc về ai cả.»
Ông
trưởng giả lại hỏi:
«Nếu
chưa thuộc về ai thì có thể vì tôi làm vợ được không?»
Liên
Hoa Sắc trả lời:
«Cũng
được.»
Ông
trưởng giả liền bảo lên xe, chở về nhà làm vợ.
Sau
một thời gian, ông trưởng giả, chồng của Liên Hoa Sắc,
tập trung nhiều của quý từ Ba-la-nại đến nước Uất-thiền
để buôn bán. Nơi đây, lúc bấy giờ gặp ngày đại hội,
đồng nữ trong nước đến vui chơi. Người con gái của Liên
Hoa Sắc, trang sức đẹp đẽ, cũng ở trong số đông những
người nữ đó. Thấy người con gái nầy đoan chánh, nên ông
trưởng giả để ý, liền hỏi người bên cạnh:
«Cô
gái này là ai?»
Đáp
rằng:
«Cô
gái này tên như vậy»
Lại
hỏi:
«Nhà
cô ở đâu?»
Đáp
rằng:
«Nhà
cô ở tại chỗ ấy.»
Lại
hỏi:
«Đường
gì?»
Đáp
rằng:
«Đường
tên như vậy.
Trưởng
giả lại hỏi:
«Cửa
ngõ của nhà xoay về hướng nào?»
Đáp:
«Cửa
ngõ của nhà xoay về hướng ấy.»
Ông
trưởng giả liền đến nhà đó, hỏi người cha rằng:
«Cô
gái này là con của ông phải không?»
Đáp
rằng:
«Con
gái của tôi đó.»
Lại
hỏi:
«Ông
có thể gả cho tôi không?»
Đáp
rằng:
«Vâng,
có thể được.»
Ông
trưởng giả hỏi:
«Ông
cần đòi bao nhiêu của?»
[606a1]
Người cha của cô gái trả lời:
«Trao
cho tôi trăm ngàn lượng vàng.»
Ông
trưởng giả bèn trao đủ số. Cha của cô gái trang điểm
cho con mình.
Từ
nước Uất-thiền họ trở về Ba-la-nại. Liên Hoa Sắc nhìn
thấy liền có cảm tưởng như đang nhìn đứa con gái mình.
Cô gái này thấy Liên Hoa Sắc cũng với ý nghĩ là mẹ mình.
Hai người gần gũi nhau thời gian lâu, Liên Hoa Sắc chải đầu
cho người nữ kia và hỏi rằng:
«Cô
em là người nước nào? Con gái nhà ai?»
Người
nữ kia trả lời:
«Em
là người nước Uất-thiền.»
Liên
Hoa Sắc lại hỏi:
«Nhà
ở chỗ nào? Đường nào? Cửa ngõ xoay về hướng nào? Cha
mẹ là ai?»
Người
nữ kia trả lời:
«Nhà
của em ở chỗ nọ, chỗ kia, vân vân. Cha em tên như vậy như
vậy.»
Liên
Hoa Sắc lại hỏi:
«Mẹ
của em họ gì?»
Nữ
đáp rằng:
«Em
không biết mẹ. Chỉ nghe người ta nói mẹ tên là Liên Hoa
Sắc. Bỏ nhà đi lúc em còn nhỏ.»
Lúc
ấy, Liên Hoa Sắc lòng tự nghĩ rằng: «Đây chính là con của
ta.» Nàng tự oán trách mình, «Ôi! Thân người nữ để làm
gì? Tại sao ngày nay, mẹ và con lại cùng lấy một chồng?»
Liên Hoa Sắc liền bỏ nhà ra đi.
Khi
Liên Hoa Sắc đến vườn Trúc khu Ca-lan-đà nơi thành La-duyệt,
lúc bấy giờ, đức Thế tôn đang nói pháp cho vô số đại
chúng vây quanh. Từ xa thấy đức Thế tôn tướng mạo đoan
chánh, các căn tịch tịnh, đạt được chế ngự tối thượng
như con voi chúa đã thuần, như nước lóng trong, không có bụi
dơ, Liên Hoa Sắc phát tâm hoan hỷ, liền đến chỗ đức Thế
tôn đảnh lễ dưới chân rồi đứng qua một bên.
Bấy
giờ, đức Thế tôn tuần tự nói pháp vi diệu, nói về bố
thí, về trì giới, về sanh thiên và chê trách dục là bất
tịnh; tán thán sự xuất ly. Đức Thế tôn nói về bốn Thánh
đế: Khổ, Tập, Tận, Đạo, phân biệt đầy đủ.
Bấy
giờ, từ chỗ ngồi, Liên Hoa Sắc đạt được pháp nhãn tịnh.
Ví như tấm lụa trắng mới và sạch, không có bụi bẩn,
dễ nhuộm màu sắc. Liên Hoa Sắc đặng pháp thanh tịnh cũng
lại như vậy; thấy pháp, đắc pháp, đắc thành quả chứng,
bèn bước lên phía trước, bạch Phật rằng:
«Nguyện
đức Thế tôn cho con xuất gia, ở trong pháp của Phật, tu
hạnh thanh tịnh.»
Đức
Phật bảo Tôn giả A-nan:
«Ông
dẫn Liên Hoa Sắc này đến chỗ Ma-ha Ba-xà-ba-đề, cho phép
cô xuất gia.»
Tôn
giả A-nan liền vâng lời đức Phật dạy, dẫn Liên Hoa Sắc
đến chỗ Ma-ha Ba-xà-ba-đề nói rằng:
«Đức
Thế tôn có dạy, Bà hãy độ người phụ nữ này xuất gia.»
Liên
Hoa Sắc liền được cho phép xuất gia.
Một
thời gian sau đó, Liên Hoa Sắc nhờ nổ lực tư duy ngày càng
tinh tấn, nên chứng đặng A-la-hán, đạt được đại thần
lực.[38]
Bấy
giờ, có số đông tỳ-kheo-ni trụ nơi chỗ không nhàn,[39]
nhưng Liên Hoa Sắc tỳ-kheo-ni ngồi riêng trong một khu rừng
khác[40] tư duy. Nơi trú xứ của Liên Hoa Sắc, lại có tên
đầu lĩnh của bọn cướp thường ở tại đó. Tỳ-kheo-ni
Liên Hoa Sắc chấp trì oai nghi lễ tiết, khoan thai, nên tên
đầu lĩnh giặc thấy vậy liền sanh thiện tâm.
Thời
gian sau đó, tướng giặc bắt được nhiều thịt heo. Ăn xong
còn dư, gói lại đem treo trên nhánh cây và nói: «Trong rừng
này, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào, có đại thần lực thì
lấy đem đi.» Tuy nói như vậy, nhưng tâm thì vì tỳ-kheo-ni
Liên Hoa Sắc.
Bấy
giờ, tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc nhờ thiên nhĩ nghe, thiên nhãn
thanh tịnh thấy, nên dùng tấm lụa trắng gói thịt heo treo
lên nhánh cây. Sáng ngày nói với thức-xoa-ma-na, sa-di-ni rằng:
«Các
con đến nơi chỗ đó. Trên nhánh cây, có cái gói bằng lụa
trắng, trong đó có thịt heo. Lấy mang về.»
Cô
ấy liền đến lấy về, đưa cho tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc.
Tỳ-kheo Liên Hoa Sắc bảo nấu, rồi đến giờ ăn, tự tay
mình đem lên trên núi Kỳ-xà-quật, dâng lên cúng dường các
tỳ-kheo Thượng tọa.
Bấy
giờ, có một tỳ-kheo mặc chiếc tăng-già-lê cũ rách vá chằm.
Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc thấy vậy, phát tâm từ mẫn, liền
hỏi vị tỳ-kheo rằng:
«Thưa
Đại đức! Sao Ngài mặc chiếc tăng-già-lê cũ rách đến
thế?»
Vị
tỳ-kheo ấy trả lời:
«Đại
tỷ! Đây là pháp phải diệt tận, nên tệ hại như vậy.»
Bấy
giờ, tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc đang khoác chiếc tăng-già-lê
quí giá, nên thưa với vị tỳ-kheo ấy rằng:
«Thưa
Đại đức! Con xin cúng chiếc y nầy cho Đại đức. Đại
đức cho con xin chiếc y hiện Đại đức đang mặc có được
không?» Vị Tỳ-kheo ấy trả lời:
«Được.»
Tỳ-kheo-ni
Liên Hoa Sắc liền cởi y tăng-già-lê trao cho tỳ-kheo
và lấy chiếc y cũ rách của tỳ-kheo mặc vào. Sau đó, Liên
Hoa Sắc mặc chiếc y cũ rách này đến chỗ đức Thế tôn,
đảnh lễ dưới chân rồi đứng qua một bên. Đức Thế tôn
biết mà cố hỏi Liên Hoa Sắc:
«Tại
sao cô mặc chiếc y cũ rách đến thế?»
Tỳ-kheo-ni
Liên Hoa Sắc liền đem nhơn duyên trên bạch lên đức Thế
tôn một cách đầy đủ. Đức Thế tôn bảo:
«Nầy
Liên Hoa Sắc! Cô không nên làm như vậy. Như lai cho phép cô
chứa giữ năm y nguyên vẹn bền chắc.[41] Ngoài ra còn dư,
mới tùy ý tịnh thí hoặc cho người. Tại sao vậy? Vì người
nữ mặc y phục thượng hạng còn chưa tốt, huống chi là
mặc y xấu.»
Đức
Thế tôn vì nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo. Ngài biết
mà cố hỏi tỳ-kheo kia rằng:
«Thật
sự ông có nhận y từ tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc chăng?»
Vị
tỳ-kheo kia thưa:
«Bạch
đức Thế tôn đúng như vậy.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách vị tỳ-kheo kia:
«Việc
làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng
phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh
tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại nhận y từ tỳ-kheo-ni?»
Quở
trách rồi, đức Thế tôn bảo các tỳ-kheo:
«Người
này là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu,
là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, ta vì các
tỳ-kheo biết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến, chánh pháp
tồn tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vậy:
Tỳ-kheo
nào, thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni,[42] ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
2.
NHỮNG NGOẠI LỆ
Khi
đức Thế tôn đã vì các tỳ-kheo kiết giới như vậy rồi,
các tỳ-kheo đều sợ nên cẩn thận không dám nhận lấy y
từ nơi tỳ-kheo-ni thân quyến. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép các tỳ-kheo thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni
thân quyến. Tại sao vậy? Nếu không phải thân quyến thì
không thể trù lượng được là nên lấy hay không nên lấy;
hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc cũ, hoặc mới. Nếu là thân quyến
thì trù lượng được, biết họ có khả năng hay không, nên
nhận không nên nhận, hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc cũ, hoặc
mới.»
Từ
nay về sau nên nói giới như vầy:
«Tỳ-kheo
nào, thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, ni-tát-kỳ
ba-dật-đề.»
Khi
đức Thế tôn vì các tỳ-kheo kiết giới như trên rồi, thì
bấy giờ, trong Kỳ- hoàn, hai bộ Tăng[43] nhận được y cúng
dường, cùng chia.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo nhận nhầm y của tỳ-kheo-ni, tỳ-kheo-ni nhận
nhầm y của tỳ-kheo. Lúc bấy giờ, tỳ-kheo-ni mới đem y đến
trong Tăng-già-lam, thưa với tỳ-kheo rằng:
«Tôi
đem y nầy đến trao cho Đại đức, Đại đức trao y của
Đại đức cho tôi.»
Các
tỳ-kheo bảo:
«Đức
Phật không cho phép chúng tôi thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng
phải thân quyến.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch đầy đủ lên đức
Thế tôn. Đức Thế tôn bảo các tỳ-kheo:
Từ
nay về sau, cho phép trao đổi y. Muốn nói giới phải nói như
vầy:
Tỳ-kheo
nào, thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, trừ
đổi chác, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Chẳng
phải thân quyến:[44] chẳng phải cha mẹ thân quyến cho đến
bảy đời không thân.
Thân
quyến:[45] cha mẹ thân quyến cho đến bảy đời thân quyến.
Y:
có mười loại như đã nói ở trên.
Đổi
chác:[46] dùng y đổi y, dùng y đổi phi y, hoặc dùng phi y đổi
y, hoặc dùng kim đổi lấy ống đồng, hoặc dao, hoặc chỉ...
cho đến một viên thuốc để đổi y.
Nếu
tỳ-kheo nào, thọ nhận y từ nơi tỳ-kheo-ni chẳng phải thân
quyến, trừ đổi chác, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Vật
ni-tát-kỳ này phải xả cho Tăng, hoặc nhiều người, hoặc
một người; không được xả biệt chúng. Nếu xả không thành
xả phạm đột-kiết-la.
Khi
xả cho Tăng, nên đến trong Tăng, [607a1] trống vai bên hữu,
cởi bỏ giày dép, đến lễ Thượng tọa, quỳ gối, chấp
tay, tác bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi, tỳ-kheo tên là..., đã thọ nhận
y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay
xả cho Tăng.»
Xả
rồi phải sám hối. Trước hết người thọ sám nên tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là...., đã thọ
nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa,
nay xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng,
Tăng chấp thuận, tôi thọ sự sám hối của tỳ-kheo nầy
tên là... Đây là lời tác bạch.»
Bạch
rồi mới nhận sám hối. Vị nhận sám hối nên nói với phạm
nhân rằng:
«Hãy
tự trách tâm ông!»
Phạm
nhơn đáp:
«Xin
vâng.»
Tăng
nên trả lại y cho tỳ-kheo nầy liền, bằng bạch nhị yết-ma
để trao. Tăng nên sai một Tỳ-kheo có khả năng tác yết-ma,
theo sự việc trên tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là..., đã thọ nhận
y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến, phạm xả đọa, nay
xả cho Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng; Tăng
chấp thuận trả lại y cho tỳ-kheo này. Đây là lời tác bạch.»
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo nầy tên là..., đã thọ
nhận y từ tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến phạm xả đọa;
nay xả cho Tăng. Tăng nay đem y này hoàn lại cho tỳ-kheo nầy
tên là... Các trưởng lão nào đồng ý, Tăng đem y này trải
lại cho tỳ-kheo có tên này thì im lặng. Ai không đồng ý
xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận trao cho y cho tỳ-kheo kia tên là... rồi. Tăng
đã chấp thuận nên im lặng. Việc này ghi nhận như vậy.»
Trước
Tăng, đã xả y rồi, mà Tăng không trả lại, phạm đột-kiết-la.
Khi trả y, nếu có người bảo «đừng trả», người ấy
phạm đột-kiết-la. Nếu chuyển làm tịnh thí, hoặc sai cho
người, hoặc đem làm ba y, hoặc làm y ba-lợi-ca-la, hoặc cố
làm cho hư, hoặc đốt, hoặc làm phi y, hoặc mặc luôn cho
cho hư, tất cả đều phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó là phạm.
Sự
không phạm: Thọ nhận y từ tỳ-kheo-ni thân quyến, hoặc đổi
chác. Vì Tăng vì Phật đồ mà lấy thì không phạm.
Người
không phạm: đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng, loạn
tâm, thống não, bức bách.
V.
NHỜ PHI THÂN LÝ NI GIẶT Y CŨ[47]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả Ca-lưu-đà-di có nhan sắc
đoan chánh. Tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà cũng lại đoan chánh.
Ca-lưu-đà-di để ý Thâu-lan-nan-đà. Thâu-lan-nan-đà cũng để
ý Ca-lưu-đà-di.
Đến
giờ khất thực, Ca-lưu-đà-di khoác y, bưng bát, đến chỗ
Thâu-lan-nan-đà, ngồi ngay trước mặt, để lộ hình. Tỳ-kheo-ni
cũng lại ngồi để lộ hình. Hai bên nhìn nhau với dục tâm.
Một lúc sau, Ca-lưu-đà-di xuất đồ bất tịnh, làm bẩn an-đà-hội.
Thâu-lan-nan-đà thấy vậy nói rằng:
«Đại
đức đưa cái y đây, tôi giặt cho.»
Ca-lưu-đà-di
liền thay đưa cho. Tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà nhận được
y, đến chỗ vắng dùng ngón tay lấy đồ bất tịnh cho vào
miệng, rồi lại lấy một ít cho vào trong đường tiểu tiện,
sau đó có thai. Các tỳ-kheo-ni thấy vậy hỏi rằng:
«Cô
không biết hổ thẹn, đã làm hạnh bất tịnh.»
Thâu-lan-nan-đà
nói:
«Đại
tỷ! Tôi không phải không có hổ thẹn. Tôi không phạm tịnh
hạnh.»
Các
tỳ-kheo-ni nói:
«Nếu
cô không phạm tịnh hạnh thì tại sao có thai? Các tỳ-kheo-ni
không phạm tịnh hạnh sao họ lại không có thai?»
Bấy
giờ, Thâu-lan-nan-đà mới đem sự việc đã xảy ra trình bày
rõ ràng với các tỳ-kheo-ni.
Trong
số các tỳ-kheo-ni nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống
hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm quý, vì nhơn duyên
này hiềm trách Ca-lưu-đà-di:
«Sao
Tôn giả lại nhờ tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà làm việc như
vậy?»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo-ni bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến
bạch Phật.
Lúc
bấy giờ, đức Phật vì nhơn duyên này tập hợp các Tăng
tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn cố hỏi Ca-lưu-đà-di:
«Có
thật ông đã nhờ tỳ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà làm việc như
vậy chăng?»
Ca-lưu-đà-di
thừa nhận là có.
Đức
Phật dùng vô số phương tiện quở trách Ca-lưu-đà-di:
«Việc
làm của các ngươi là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng
phải pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh
tùy thuận, làm việc không nên làm. Sao lại nhờ tỳ-kheo-ni
Thâu-lan-nan-đà làm việc như vậy?»
Quở
trách xong, Phật bảo các tỳ-kheo:
«Đây
là người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là
kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới gồm mười cú nghĩa, cho đến, chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vậy:
«Tỳ-kheo
nào, khiến tỳ-kheo-ni giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập,
ni-tát-kỳ ba-dật-đề.»
Khi
đức Thế tôn vì các tỳ-kheo chế giới như vậy rồi, sau
đó các tỳ-kheo đều sợ, cẩn thận không dám khiến tỳ-kheo-ni
thân quyến giặt y cũ, hoặc nhuộm, hoặc đập. Đức Phật
dạy:
«Cho
phép các tỳ-kheo khiến tỳ-kheo-ni thân quyến giặt y cũ, hoặc
nhuộm, hoặc đập... »
Từ
nay về sau nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, khiến tỳ-kheo-ni chẳng phải thân quyến giặt y cũ, hoặc
nhuộm, hoặc đập, ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Chẳng
phải thân quyến: như trên đã giải.
Thân
quyến: cũng như vậy.
Y cũ:
là chỉ cần một lần mặc qua.
Y:
nói mười loại như trên.
Nếu
tỳ-kheo khiến tỳ-kheo-ni chẳng phải th