CHƯƠNG
V
BA-DẬT-ĐỀ
I.
CỐ Ý VỌNG NGỮ[1]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, Phật ở Thích-súy-sấu,[2] trong vườn Ni-câu-loại,
nước Ca-duy-la-vệ. Bấy giờ trong dòng họ Thích có người
con trai nhà họ Thích tên là Tượng Lực[3] có tài đàm luận,
thường cùng Phạm chí ngoại đạo luận bàn. Trường hợp
bị thua, liền lật ngược lời nói trước. Giữa Tăng, khi
hỏi đến việc ấy thì Tượng Lực cũng đảo ngược lời
nói trước. Ở giữa chúng, biết nhưng ông vẫn nói dối.
Các Phạm chí thường biếm nhẽ rằng:
«Sa-môn
Thích tử không có tàm quý, thường nói lời vọng ngữ, mà
tự xưng là ta phụng hành chánh pháp. Nhưng nay như vậy có
gì là chánh pháp? Luận bàn không hơn, liền lật ngược lời
nói trước. Khi ở trong chúng Tăng, được hỏi đến thì cũng
lật ngược lời nói trước. Ở trong chúng, biết nhưng vẫn
nói dối.»
Trong
số các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống
hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm quý quở trách Thích
tử Tượng Lực:
«Sao
thầy cùng Phạm chí ngoại đạo luận bàn, trường hợp bị
thua, liền lật ngược lời nói trước. Giữa Tăng, khi hỏi
đến việc ấy thì cũng đảo ngược lời nói trước. Ở
giữa chúng, biết nhưng vẫn nói dối?»
Khi
ấy các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới
chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch
lên đức Thế tôn một cách đầy đủ. ĐứcThế tôn vì nhơn
duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo Tượng
Lực:
«Việc
ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm.
Tỳ-kheo
Tượng Lực, sao cùng Phạm chí ngoại đạo luận bàn, trường
hợp bị thua, liền lật ngược lời nói trước? Giữa Tăng,
khi hỏi đến việc ấy thì cũng đảo ngược lời nói trước.
Ở giữa chúng, biết nhưng vẫn nói dối?»
Lúc
bấy giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
tỳ-kheo Tượng Lực rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Đây
là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, biết mà nói dối, ba-dật-đề.[4]
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Biết
mà nói dối: không thấy nói thấy, không nghe nói nghe, không
xúc giác nói xúc giác, không hay biết nói hay biết,[5] thấy
nói không thấy, nghe nói không nghe, xúc giác nói không xúc
giác, hay biết nói không hay biết.
Thấy:
thấy bởi thức con mắt.
Nghe:
nghe bởi thức của tai.
Xúc:
xúc giác bởi ba thức: mũi, lưỡi và thân.
Hay
biết: hay biết bởi ý thức.
Không
thấy: trừ nhãn thức ra, còn lại năm thức kia.
Không
nghe: trừ nhĩ thức ra, còn lại năm thức kia.
Không
xúc giác: trừ ba thức ra, còn lại mắt, tai và ý.
Không
hay biết: trừ ý thức ra, còn lại năm thức kia.
Nếu
người nào không thấy, không nghe, không xúc giác, không hay
biết mà nói như vầy: «Tôi thấy, nghe, xúc giác, hay biết;»
biết mà nói dối, ba-dật-đề.
Nếu
người nào không thấy, không nghe, không xúc giác, không hay
biết, mà trong đó có tưởng thấy, tưởng nghe, tưởng xúc,
tưởng biết, mà lại nói, «Tôi không thấy, không nghe, không
xúc, không biết;» biết mà nói dối, ba-dật-đề.
Nếu
người nào không thấy, không nghe, không xúc, không biết, mà
trong ý sanh nghi nhưng lại nói như vầy, «Tôi không có nghi,»
rồi nói «Tôi thấy, tôi nghe, tôi xúc, tôi biết;» biết mà
nói dối, ba-dật-đề.
Nếu
người không thấy, không nghe, không xúc, không biết, mà trong
ý có nghi nhưng lại nói «Trong đây tôi không nghi,» rồi nói
«Tôi không thấy, không nghe, không xúc, không biết;» biết
mà nói dối, ba-dật-đề.
Nếu
người không thấy, không nghe, không xúc, không biết, mà trong
ý lại không nghi, rồi nói, «Tôi có nghi ngờ rằng tôi thấy,
tôi xúc, tôi biết;» biết mà nói dối, ba-dật-đề.
Trong
ý không nghi ngờ rằng «Tôi không thấy, tôi không nghe, tôi
không xúc, tôi không biết,» nhưng lại nói «Tôi có nghi ngờ
rằng tôi không thấy, không nghe, không xúc, không biết;» biết
mà nói dối, ba-dật-đề.
Điều
này nên nói rộng: Trước đó khởi ý nghĩ, «Ta sẽ nói dối.»
Khi nói dối, tự biết là nói dối; nói dối rồi, biết là
nói dối: Cố ý nói dối, ba-dật-đề.
Trước
đó khởi ý nghĩ, «Ta sẽ nói dối.» Khi nói dối, tự biết
là nói dối; nói dối rồi, không tự nhớ là đã nói dối:
Cố ý nói dối, phạm ba-dật-đề.
Trước
đó không khởi ý nghĩ, «Ta sẽ nói dối.» Khi nói dối, biết
là nói dối; nói dối rồi, biết là nói dối: Cố ý nói dối,
ba-dật-đề.
Trước
đó không khởi ý nghĩ nói dối. Khi nói dối, biết là nói
dối; nói dối rồi, không nhớ là nói dối: Cố ý nói dối,
ba-dật-đề.
Cái
được thấy có khác, cái được nhìn nhận có khác, cái được
ham muốn có khác, cái được xúc có khác, cái được tưởng
có khác, cái được tâm tưởng có khác,[6] những việc như
vậy đều là nói dối.
Giữa
đại chúng, biết mà vẫn nói dối, ba-dật-đề. Nói rõ ràng
thì phạm ba-dật-đề; nói không rõ ràng, phạm đột-kiết-la.
Khi thuyết giới cho đến ba lần hỏi, nhớ nghĩ mình có tội
mà không nói, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó
gọi là phạm.
Sự
không phạm: không thấy nói không thấy; không nghe nói không
nghe; không xúc nói không xúc, không hay biết nói không hay biết;
thấy nói thấy; nghe nói nghe; xúc nói xúc, hay biết nói hay
biết; ý tưởng có thấy, nói có thấy, thì không phạm.
Người
không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
II.
MẮNG NHIẾC
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo khi giải quyết
việc tranh cãi, mạ nhục tỳ-kheo bằng giống loài.[7] Tỳ-kheo
hổ thẹn, quên trước quên sau nên không nói được.
Trong
các tỳ-kheo nghe đó, có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, quở trách nhóm sáu
tỳ-kheo:
«Sao
nhóm sáu tỳ-kheo giải quyết việc tranh cãi lại mạ nhục
tỳ-kheo bằng giống loài, khiến cho tỳ-kheo hổ thẹn, quên
trước, quên sau không nói được?»
Lúc
bấy giờ các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn đảnh lễ
dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này
bạch lên đức Thế tôn một cách đầy đủ. Đức Thế tôn
vì nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu
tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm điều không nên làm. Nhóm sáu tỳ-kheo, sao giải
quyết việc tranh cãi lại mạ nhục tỳ-kheo bằng giống loài,
khiến họ hổ thẹn quên trước quên sau không nói được?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Thuở
xa xưa, tại nước Đắc-sát-thi-la,[8] có người bà-la-môn
nuôi một con bò,[9] ngày đêm cho ăn, vuốt ve, chải chuốt.
Lúc ấy, cũng tại nước Đắc-sát-thi-la, có ông trưởng giả[10]
đi khắp hang cùng ngõ hẻm lớn tiếng rao rằng:
«Ai
có con bò nào đủ sức mạnh, cùng con bò của tôi đấu sức
kéo 100 xe, tôi sẽ cá 1.000 lượng vàng.[11]
«Con
bò của người bà-la-môn nghe rao như vậy, tự nghĩ: ‹Người
bà-la-môn này ngày đêm hết lòng nuôi nấng ta, vuốt ve, chải
chuốt ta. Nay ta nên đem hết sức mình ra kéo để lấy 1.000
lượng vàng kia, [635a1] ngõ hầu trả ơn người này.›
«Con
bò nghĩ xong liền nói với người bà-la-môn rằng:
«Ông
chủ có biết chăng? Trong nước Đắc-sát-thi-la có ông trưởng
giả rao rằng, ai có bò cùng với bò của ông đấu sức kéo
100 xe, ông chịu mất 1.000 lượng vàng. Ông chủ có thể đến
nhà ông trưởng giả kia nói, ‹Tôi có con bò có thể cùng
với bò của ông đấu sức kéo 100 xe, với số vàng cá là
1.000 lượng.›
«Người
bà-la-môn nghe xong liền đến nhà ông trưởng giả nói, ‹Tôi
có con bò với sức mạnh có thể cùng với con bò của ông
đấu sức kéo 100 xe, số vàng cá là 1.000 lượng.› Ông trưởng
giả trả lời, ‹Nay chính là lúc.› Người bà-la-môn liền
dắt con bò của mình đem đến để cùng đấu sức với con
bò của ông trưởng giả, kéo 100 xe để lấy 1.000 lượng
vàng. Khi ấy có nhiều người đứng xem. Trước đám đông,
người bà-la-môn dùng lời mạ nhục, gọi con bò bằng cách
kêu:
«Một
Sừng,[12] kéo đi!
«Con
bò của người bà-la-môn nghe lời mạ nhục liền xấu hổ
nên không ra sức kéo để cạnh tranh cùng đối thủ của mình.
Do đó, con bò của ông trưởng giả thắng cuộc, con bò của
người bà-la-môn bại trận. Người bà-la-môn phải mất 1.000
lượng vàng.
«Bấy
giờ, người bà-la-môn nói với con bò của ông ta rằng:
«Ngày
đêm ta nuôi nấng, vuốt ve, chải chuốt, với hy vọng ngươi
sẽ vì ta đem hết sức lực để thắng con bò của ông trưởng
giả. Nhưng tại sao sự việc hôm nay ngược lại, khiến ta
phải mất 1.000 lượng vàng?
«Con
bò liền nói với bà-la-môn rằng:
«Trước
đám đông ông nhục mạ tôi, ông bảo tôi là ‹Một Sừng,
kéo đi!› Tôi rất lấy làm xấu hổ đối với mọi người.
Do đó, tôi không thể dùng hết sức để cùng cạnh tranh với
con bò kia được. Nếu ông có thể thay đổi cách gọi, đừng
đem tên gọi hình tướng, mà nhục mạ tôi, thì ông cứ đến
nói với ông trưởng giả rằng, ‹Bò của tôi có thể cùng
bò của ông đấu sức, kéo 100 xe với giá đấu gấp đôi
là 2.000 lượng vàng.›»
«Người
bà-la-môn nghe xong liền nói với con bò của ông rằng:
«Chớ
để ta mất thêm 2.000 lượng vàng nữa.»
«Con
bò trả lời với người ba-la-môn rằng:
«Trước
đám đông ông đừng nhục mạ tôi, gọi tôi là ‹Một Sừng,
kéo đi!› Mà trước đám đông ông nên khen ngợi tôi, bảo
tôi kéo cho giỏi; ông gọi sừng tôi rất xinh đẹp.»
Bấy
giờ, người bà-la-môn đến nhà ông trưởng giả nói rằng:
«Nay
bò của ông có thể cùng bò của tôi đấu sức kéo 100 xe
với số vàng đánh cá là 2.000 lượng, dưới sự chứng kiến
của nhiều người.»
«Ông
trưởng giả nói:
«Thật
đúng lúc.»
«Khi
ấy, người bà-la-môn trước đám đông khen ngợi con bò của
ông rằng, ‹Kéo rất giỏi! Cặp sừng rất đẹp!›
«Con
bò nghe lời khen như vậy liền đem hết sức mình để đấu
với con bò kia, nên con bò của người bà-la-môn thắng cuộc,
con bò của ông trưởng giả thua trận. Người bà-la-môn thu
được 2.000 lượng vàng.»
Lúc
bấy giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo rằng:
«Phàm
người ta khi muốn nói phải nói lời khéo léo, không nên nói
lời xấu ác. Nói lời khéo léo là thiện. Nói lời xấu ác
là tự gây phiền não cho mình. Bởi vậy cho nên, các tỳ-kheo,
súc sanh bị người mạ nhục, còn tự xấu hổ không thể
dùng hết sức mình để kéo xe, huống là đối với người
mà bị kẻ khác hủy nhục làm sao không hổ thẹn! Nhóm sáu
tỳ-kheo này là những người si, khi giải quyết việc tranh
cãi lại mạ nhục các tỳ-kheo bằng giống loài, khiến cho
họ hổ thẹn, quên trước, quên sau không nói được.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Đây
là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo nào, nhục mạ bằng giống loài, ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Nhục
mạ người bằng giống loài:[13] như nói, «Ngươi sanh trong
gia đình dòng họ thấp hèn, hành nghề cũng thấp hèn, kỹ
thuật công xảo cũng thấp hèn.» Hoặc nói, «Ngươi là người
phạm tội; ngươi là người nhiều kiết sử; ngươi là người
mù, ngươi là người trọc mù...»
- Thấp
hèn : là dòng dõi chiên-đà-la, dòng dõi hốt rác, dòng dõi
thợ đan,[14] dòng dõi thợ đóng xe.[15]
- Họ
thấp hèn : chỉ những họ Câu-tấu, Câu-thi, Bà-tô-trú, Ca-diếp,
A-đề-lị-dạ, Bà-la-đọa.[16] Hoặc chẳng phải họ thấp
hèn mà tập làm theo kỹ thuật thấp hèn, tức thành họ thấp
hèn.
- Nghề
nghiệp thấp hèn: tức là mua bán heo, dê, giết bò, thả chim
ưng, chim diêu, thợ săn, chài lưới, làm giặc, bắt giặc,
thủ thành, coi ngục.
- Kỹ
nghệ thấp hèn : như làm nghề thợ rèn, thợ mộc, thợ gốm,
thợ da, thợ hớt tóc, thợ đan nia.[17]
- Phạm
tội: phạm ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa, ba-dật-đề, ba-la-đề-đề-xá-ni,
thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết.
- Kết:
từ sân nhuế cho đến 500 kết sử.
- Mù
lòa:[18] mù lòa, gù, què quặt, câm điếc và các tật bệnh
khác.
Hoặc
tỳ-kheo mắng nhiếc các tỳ-kheo khác rằng, «Thầy sanh
nơi nhà ti tiện; hành nghiệp thấp hèn, kỹ thuật thấp hèn.
Thầy phạm tội, thầy bị kết sử, thầy là kẻ trọc đầu
mù lòa...» Mạ nhục như vậy.
Hoặc
mạ nhục ngay trước mặt, hoặc mượn lời dụ để mạ nhục,
hoặc tự so sánh để mạ nhục.
- Mạ
nhục ngay trước mặt: như nói, «Ngươi sanh trong nhà Chiên-đà-la,
sanh trong nhà hốt rác, sanh trong dòng thợ đan, dòng thợ đóng
xe, họ Câu-tấu, Câu-thi, Bà-tô-trú, Ca-diếp, Đề-lê-dạ,
Bà-la-đọa.» Hoặc là vốn không phải dòng họ thấp hèn
mà tập làm theo kỹ nghệ thấp hèn tức thành họ thấp hèn,
như nói, «Ngươi là người mua bán, người giết bò, heo, dê.
Ngươi là người làm nghề ăn trộm, bắt kẻ trộm. Ngươi
là người giữ thành, giữ ngục, là người thợ rèn, làm
đồ mộc, làm lò gốm, làm thợ giày, thợ hớt tóc. Ngươi
là người phạm ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa, ba-dật-đề, ba-la-đề-đề-xá-ni,
thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết. Ngươi là người từ
kết sử sân nhuế, cho đến là người 500 kiết sử. Ngươi
là người trọc đầu mù lòa, què quặt, điếc câm và là
người có các bệnh hoạn khác…»
- Mượn
dụ để mạ nhục: như nói, «Ngươi tợ như Chiên-đà-la,
tợ như dòng hốt phân, tợ như dòng thợ đan, tợ như dòng
đóng xe. Ngươi tợ như dòng họ Câu-tấu, tợ như dòng họ
Câu-thi, Bà-tô-trú, Ca-diếp, Đề-lê-dạ, Bà-la-đọa. Ngươi
tợ như người mua bán heo, dê; tợ như người giết bò; tợ
như người thả chim ưng, chim diêu; tợ như người lưới cá,
thợ săn; tợ như kẻ trộm, như người bắt kẻ trộm, tợ
như người giữ thành, giữ ngục; tợ như người làm đồ
gốm, tợ như người làm giày dép, tợ như người thợ hớt
tóc; tợ như người phạm ba-la-di, tợ như người phạm tăng-già-bà-thi-sa,
tợ như người phạm ba-dật-đề, tợ như người phạm ba-la-đề-đề-xá-ni,
tợ như người phạm thâu-lan-giá, tợ như người phạm đột-kiết-la,
tợ như người phạm ác thuyết, tợ như người kiết sử,
tợ như người mù lòa, tợ như người không có tóc, tợ như
người què chân, tợ như người câm điếc...»
- Tự
so sánh để mạ nhục: như nói, «Tôi không phải dòng Chiên-đà-la,
tôi không phải dòng hốt phân, tôi không phải dòng thợ đan,
tôi không phải dòng đóng xe. Tôi không phải dòng họ Câu-tấu,
dòng họ Câu-thi, Bà-tô-trú, Ca-diếp, Đề-lê-dạ, Bà-la-đọa;
cũng không phải người mua bán heo dê, giết bò, thả chim ưng,
chim diêu, lưới cá, thợ săn, làm giặc, bắt giặc, giữ thành,
giữ ngục, thợ rèn, thợ mộc, thợ đan, đóng xe, thợ lò
gốm, thợ giày, thợ cạo...
Tôi
không phải là người phạm ba-la-di, phạm tăng-già-bà-thi-sa,
phạm ba-dật-đề, phạm ba-la-đề-đề-xá-ni, phạm thâu-lan-giá,
phạm đột-kiết-la, phạm ác thuyết. Tôi chẳng phải bị
kiết sử, tôi chẳng phải là người trọc đầu, mù lòa,
què quặt, điếc câm…»
Nếu
tỳ-kheo đem giống loài mà mạ nhục, nói như trên, phạm ba-dật-đề.
Nếu đem giống loài để mạ nhục, nói rõ ràng phạm ba-dật-đề,
không rõ ràng phạm đột-kiết-la.
Hoặc
là nói thiện pháp để mạ nhục ngay trước mặt, hoặc mượn
dụ để mạ nhục, hoặc tự so sánh để mạ nhục.
- Dùng
thiện pháp để mạ nhục: như nói, «Ngươi là người a-lan-nhã,
khất thực, mặc y vá, cho đến người ngồi thiền.»
- Dùng
thiện pháp mạ nhục ngay trước mặt: như nói, «Ngươi là
[636a1] người a-lan-nhã, khất thực, mặc y vá, cho đến người
ngồi thiền.»
- Mượn
dụ để mạ nhục: như nói, «Ngươi tợ như người a-lan-nhã,
khất thực, mặc y vá, cho đến người ngồi thiền.»
- Tự
so sánh để mạ nhục: như nói, «Tôi chẳng phải là người
ở a-lan-nhã,… cho đến người ngồi thiền.»
Nếu
tỳ-kheo dùng thiện pháp mạ nhục ngay trước mặt, mượn
dụ để mạ nhục, tự so sánh để mạ nhục; nói mà rõ ràng
phạm đột-kiết-la, không rõ ràng cũng phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó
gọi là phạm.
Sự
không phạm: cùng có lợi cho nên nói, vì pháp cho nên nói,
vì luật cho nên nói, vì giáo thọ cho nên nói, vì thân hậu
cho nên nói, hoặc vì vui chơi mà nói, hoặc vì nói lỡ lời,
hoặc nói một mình, hoặc nói trong mộng, hoặc muốn nói việc
này nhằm nói việc khác; tất cả không phạm.
Người
không phạm: phạm đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
III.
NÓI LY GIÁN
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo truyền rao lời
nói bên này bên kia; truyền lời nói kín đáo của người
này đến nói người kia; truyền lời nói kín đáo của người
kia đến nói người này.
Họ
cứ làm như vậy mãi, đưa đến tình trạng trong chúng chưa
có đấu tranh liền sanh ra sự đấu tranh nầy, và đã có sự
đấu tranh rồi thì không thể chấm dứt được.
Các
tỳ-kheo đều nghĩ: «Do nhơn duyên gì trong chúng Tăng vốn
không có sự đấu tranh mà nay lại có sự đấu tranh này,
và đã có sự đấu tranh rồi thì sao không chấm dứt được?»
Các
tỳ-kheo tìm biết là do nhóm sáu tỳ-kheo này truyền rao lời
nói bên này bên kia, nên đưa đến tình trạng trong chúng Tăng
có sự đấu tranh, việc tranh cãi này vốn trước đây không
có, nay lại có, và khi đã có sự đấu tranh rồi thì không
thể chấm dứt được.
Khi
ấy trong chúng có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu
đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Sao
các thầy truyền rao lời nói bên này bên kia, đưa đến tình
trạng trong Tăng có sự đấu tranh, việc tranh cãi này vốn
trước đây không có nay lại có, và khi đã có sự đấu tranh
rồi thì không chấm dứt được? »
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức
Thế tôn một cách đầy đủ. Đức Thế tôn vì nhơn duyên
này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Sao
các ông truyền rao lời nói bên này bên kia, đưa đến tình
trạng trong chúng Tăng trước không có đấu tranh, nay lại
sanh ra đấu tranh, và khi đã có đấu tranh thì không chấm
dứt được?»
Lúc
bấy giờ đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Các
ông nên lắng nghe! Xưa kia, có hai con ác thú làm bạn với
nhau, một con sư tử tên là Thiện Nha ,[19] con thứ hai là hổ
tên Thiện Bác ,[20] ngày đêm cùng rình bắt các con nai.
«Khi
ấy, có một con dã can thường đi sau hai con thú này, ăn thịt
dư còn lại của chúng để sống. Bấy giờ, con dã can kia
lén lút suy nghĩ: ‹Nay ta không thể cứ đi theo sau mãi thế
này. Bằng phương tiện thế nào ta phải làm để hai con ác
thú này cùng loạn đấu với nhau khiến cho chúng không còn
đi với nhau nữa.› Nghĩ xong, dã can liền đến chỗ con sư
tử Thiện Nha nói như vầy:
«Này
Thiện Nha! Tôi nghe con cọp Thiện Bác nói rằng, ‹Chỗ sanh
của ta hơn hết; dòng họ của ta hơn hết; hình sắc của
ta hơn nó, thế lực của ta hơn nó. Tại sao vậy? Vì hàng
ngày ta được thức ăn bổ, ngon. Sư tử Thiện Nha đi theo
sau ta ăn thức ăn còn dư lại của ta để sống.› Dã can
liền nói kệ:
Hình
sắc và nơi sanh,
Sức
mạnh cũng lại hơn;
Thiện
Nha không sánh kịp.
Thiện
Bác nói như vậy.
Thiện
Nha nghe xong hỏi dã can rằng:
«Do
đâu mà ngươi biết được? »
Dã
can trả lời:
«Hai
ông cùng tập hợp lại một chỗ, gặp nhau thì sẽ tự biết
rõ điều này.
Lúc
bấy giờ, con dã can lén lút nói với Thiện Nha xong, liền
đến cọp Thiện Bác nói rằng:
«Ông
biết chăng! Sư tử Thiện Nha đã nói như vầy, ‹Hiện tại
chủng tánh và chỗ sanh của ta, tất cả đều hơn nó, thế
lực cũng hơn. Tại sao vậy? Vì thường ta ăn thức ăn ngon;
cọp Thiện Bác chỉ ăn thức ăn dư còn lại của ta để sống.»
Dã can liền nói kệ:
Hình
sắc và nơi sanh,
Sức
mạnh cũng lại hơn;
Thiện
Bác không sánh kịp.
Thiện
Nha nói như vậy.
Thiện
Bác nghe xong hỏi:
«Tại
sao ngươi biết được việc ấy?»
Dã
can trả lời:
«Hai
ông cùng tập hợp lại một chỗ, gặp nhau thì sẽ tự biết
rõ điều này.»
Sau
đó, hai con thú cùng tập họp lại một chỗ, cùng nhìn nhau
với cặp mắt sân hận. Sư tử Thiện Nha liền nghĩ, ‹Ta
không thể không hỏi trước khi hạ thủ cọp.›
Bấy
giờ, Sư tử Thiện Nha hướng đến cọp Thiện Bác nói kệ
rằng:
Hình
sắc và nơi sanh
Sức
mạnh cũng lại hơn
Thiện
Nha không bằng ta
Thiện
Bác có nói không?
Thiện
Bác tự nghĩ rằng, ‹Chắc là do dã can gây sự loạn đấu
giữa chúng ta.› Cọp Thiện Bác nói kệ để trả lời cho
Sư tử Thiện Nha rằng:
Thiện
Bác không nói vậy:
Hình
sắc và nơi sanh,
Sức
mạnh cũng lại hơn;
Thiện
Nha không thể sánh.
Nếu
nhận lời vô ích,
Tin
theo lời bỉ thử,
Tự
phá hoại tình thâm,
Bèn
thành kẻ oan gia.
Bằng
lẽ thật để biết;
Phải
diệt trừ sân não.
Đây
là lời thành thật,
Khiến
ta được lợi ích.
Nay
nên khéo hàng phục,
Trừ
diệt ác tri thức.
Cần
giết dã can này,
Chính
nó gây loạn đấu.
Sư
tử Thiện Nha liền giết dã can.[21]
Lúc
bấy giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Hai
con thú này bị con dã can phá, nên khi họp nhau một chỗ, gặp
nhau mà không vui, huống là đối với người, bị người khác
phá rối, làm sao không bực lòng? Nhóm sáu tỳ-kheo, sao gây
loạn đấu bên này bên kia, việc tranh cãi này trước đây
không sanh ra nay lại sanh ra, và khi đã có việc tranh cãi rồi
thì không thể chấm dứt?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo
rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Đây
là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy»:
Tỳ-kheo
nào, nói hai lưỡi,[22] ba-dật đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Hai
lưỡi:[23] gây chuyện cho tỳ-kheo loạn đấu với tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni ,ưu-bà-tắc, ưu-bà-di,
Quốc vương, Đại thần, ngoại đạo, dị học sa-môn, bà-la-môn.
Tỳ-kheo-ni
lại loạn đấu với tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni,
ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, Quốc vương, Đại thần, ngoại đạo,
dị học sa-môn, bà-la-môn, tỳ-kheo.
Thức-xoa-ma-na
lại loạn đấu với thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di, Quốc vương, Đại thần, ngoại đạo, dị học sa-môn,
bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni.
Sa-di
loạn đấu với sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, Quốc
vương, Đại thần, ngoại đạo, dị học sa-môn, bà-la-môn,
tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni.
Ưu-bà-tắc
lại loạn đấu với ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, Quốc vương, Đại
thần, ngoại đạo, [637a1] dị học sa-môn, bà-la-môn, tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc.
Ưu-bà-di
lại loạn đấu với ưu-bà-di, Quốc vương, Đại thần, ngoại
đạo, dị học sa-môn, bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na,
sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc.
Quốc
vương lại loạn đấu với Quốc vương, Đại thần, ngoại
đạo, dị học sa-môn, bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na,
sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di.
Đại
thần lại loạn đấu với Đại thần, ngoại đạo, dị học
sa-môn, bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương.
Tất
cả ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn lại loạn đấu với tất
cả ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na,
sa-di, sa-di-ni ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, Quốc vương, Đại thần.
- Loạn
đấu: như người nào đó nói,[24] «Ông là dòng dõi Chiên-đà-la,
dòng dõi hốt phân, dòng dõi thợ đan, dòng dõi đóng xe, họ
Câu-tấu, Câu-thi, Bà-tô-trú, Ca-diếp, Đề-lê-dạ, Bà-la-đọa,
mua bán heo dê, giết bò, thả chim ưng, lưới chim, thợ săn,
làm giặc, bắt giặc, giữ thành, giữ ngục, thợ rèn, thợ
giày, thợ cao; ông phạm ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa, ba-dật-đề,
ba-la-đề-đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết.»
- Nói
kết sử: từ sân nhuế cho đến 500 kết, trọc đầu, mù lòa,
què quặt, điếc câm. Tỳ-kheo nào phá hoại đều là tỳ-kheo
loạn đấu. Nói rõ ràng phạm ba-dật-đề, nói không rõ ràng
phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni
ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, đó
gọi là phạm.
Sự
không phạm: vì phá ác tri thức, phá ác bạn đảng, phá phương
tiện phá hoại Tăng, phá việc trợ giúp để phá hoại Tăng,
phá hai người ba người tác yết-ma, phá tác yết-ma phi pháp,
yết-ma phi luật; hoặc vì người phá Tăng, phá tháp, phá miếu,
phá Hòa thượng, đồng Hòa thượng, phá A-xà-lê, đồng A-xà-lê,
phá tri thức, phá thân hữu, phá những người nói nhiều mà
vô nghĩa, vô lợi, muốn dùng phương tiện làm việc vô nghĩa;
phá những người như vậy thì không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
IV.
NGỦ CHUNG BUỒNG NGƯỜI NỮ[25]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả A-na-luật từ nước Xá-vệ
đến nước Câu-tát-la, giữa đường, đến nơi thôn không
có trú xứ của tỳ-kheo, hỏi thăm, «Có ai cho tôi chỗ trọ?»
Được nghe nơi kia có nhà của dâm nữ thường cho khách tạm
trú ban đêm tại nhà. Bấy giờ, ngài A-na-luật đến nhà dâm
nữ, hỏi:
«Thưa
đại tỷ, tôi muốn xin trọ lại một đêm, có được không?»
Dâm
nữ nói:
«Được!
Nhà rộng, Tôn giả cứ tùy ý nghỉ.»
Tôn
giả A-na-luật bước vào nhà, trải tọa cụ bằng cỏ, xếp
tréo chân ngồi, nhất tâm tư duy, buộc niệm trước mặt.
Hôm
ấy, cũng có các trưởng giả ở nước Câu-tát-la có việc
cần cũng đến nơi thôn đó tìm nơi nghỉ lại đêm. Cũng
lại được nghe nhà dâm nữ kia thường tiếp khách tạm trú.
Các trưởng giả đến nhà đó, hỏi:
«Chúng
tôi cần nghỉ lại một đêm, cô có thể cho chúng tôi tá
túc được không?»
Dâm
nữ trả lời:
«Trước
đây tôi đã hứa cho một sa-môn ở lại. Các ông hỏi vị
sa-môn ấy, có thể được cùng nghỉ thì các ông cứ nghỉ.»
Các
trưởng giả đến chỗ Tôn giả A-na-luật nói rằng:
«Chúng
tôi đã xin người chủ nhà được ở lại một đêm và đã
được sự chấp thuận. Vậy chúng ta cùng nghỉ, không có
gì trở ngại?»
Tôn
giả A-na-luật trả lời:
«Tôi
đã trải nệm cỏ rồi. Nhà còn rộng, các ông cứ tùy ý
nghỉ, chớ nghi ngại.»
Lúc
ấy, các trưởng giả liền vào nhà. Vì bạn bè các trưởng
giả nhiều nên ngồi quá chật. Bấy giờ, dâm nữ thấy vậy
sanh lòng thương mến, trong lòng nghĩ rằng, «Vị A-na-luật
này là con nhà hào quý, từ lâu quen sung sướng không thể
chịu khổ được. Nay cùng với các trưởng giả chung nhà
quá chật.» Nghĩ vậy, bèn đi đến chỗ A-na-luật, nói rằng,
«Tôn giả từ lâu quen sung sướng không thể chịu khổ được.
Nay cùng với các trưởng giả chung nhà quá chật. Tôn giả
có thể vào trong buồng[26] tôi nghỉ được không?» Tôn giả
trả lời đồng ý.
Bấy
giờ, Tôn giả A-na-luật vào trong buồng, nơi chỗ ngồi đó,
xếp tréo chân ngồi, buộc niệm trước mặt. Lúc ấy trong
nhà dâm nữ, đèn thắp suốt đêm không tắt.
Đầu
đêm, dâm nữ đến chỗ Tôn giả A-na-luật nói rằng:
«Gần
đây có các trưởng giả bà-la-môn có nhiều của cải quý
báu, đến nói với tôi, ‹Cô có thể làm vợ tôi?› Tôi
liền nói với các trưởng giả ấy rằng, ‹Các ông xấu
xí lắm. Tôi không thể làm vợ các ông. Nếu là người xinh
đẹp, tôi sẽ làm vợ họ.› Tôi xem Tôn giả tướng mạo
xinh đẹp. Tôn giả có thể làm chồng tôi được không?»
Lúc
ấy, Tôn giả A-na-luật tuy nghe những lời nói ấy nhưng vẫn
lặng thinh không trả lời và cũng không nhìn ngó. Tại sao
vậy? Vì Tôn giả đã chứng đắc giải thoát vô thượng gồm
cả hai phần[27]. Đến cuối đêm, lúc bình minh sắp xuất
hiện, cô ta lại nói với A-na-luật rằng:
«Các
trưởng giả dòng bà-la-môn có nhiều của cải quý báu nói
với tôi: ‹Cô vì tôi làm vợ.› Tôi dứt khoát không hứa
khả. Nhưng Tôn giả với nhan mạo đoan chánh, có thể vì tôi
làm chồng được không?»
Tôn
giả A-na-luật cũng lại im lặng, không trả lời và cũng không
nhìn ngó cô ta. Tại sao vậy? Vì chính Tôn giả là người
đã chứng đắc giải thoát vô thượng gồm cả hai phần.
Lúc
bấy giờ, dâm nữ liền thoát y đến trước mặt và nắm
Tôn giả. Tôn giả liền dùng sức thần túc vụt mình lên
hư không. Dâm nữ thấy vậy hết sức xấu hổ, vì sự lõa
hình của mình, bèn ngồi xổm xuống; rồi vội vàng lấy áo
khoác lại. Xong xuôi, chắp tay ngửa mặt lên không trung, hướng
về Tôn giả A-na-luật nói:
«Xin
sám hối! Xin sám hối!» Nói như vậy ba lần. Rồi, thỉnh
nguyện Tôn giả trở lại chỗ ngồi.
Tôn
giả hạ mình, ngồi trở lại chỗ ngồi như cũ. Người dâm
nữ này đảnh lễ dưới chân Tôn giả xong, lui ngồi qua một
bên. Tôn giả vì cô mà nói các pháp vi diệu, như ý nghĩa
về bố thí, về trì giới, về ý nghĩa sanh thiên. Tôn giả
chê trách dục là bất tịnh, là thấp hèn, là hữu lậu, là
kết phược.[28] Tôn giả khen ngợi sự an lạc của xuất ly,[29]
ích lợi của giải thoát.
Lúc
ấy, dâm nữ liền từ chỗ ngồi dứt hết trần cấu, được
sự trong sạch của con mắt pháp. Khi dâm nữ thấy pháp, đắc
pháp rồi, thỉnh nguyện, «Nguyện xin Tôn giả chấp thuận
con được làm người ưu-bà-di, quy y Phật, Pháp, Tăng. Từ
nay trở đi, suốt đời không sát sanh cho đến không uống
rượu. Ngày hôm nay, xin Tôn giả nhận lời thỉnh cầu thọ
thực của con.» Tôn giả mặc nhiên chấp thuận. Người dâm
nữ kia biết Tôn giả đã mặc nhiên chấp nhận lời thỉnh
cầu rồi, liền sửa soạn đồ ăn thức uống ngon bổ để
cúng dường. Tôn giả thọ thực xong, cô lấy một chiếc ghế
nhỏ đến ngồi trước Tôn giả A-na-luật. Tôn giả vì cô
mà nói các pháp, dùng nhiều hình thức khuyến dụ, khiến
cho lòng cô sanh hoan hỷ. Thuyết pháp xong, Tôn giả rời chồ
ngồi ra về. Về đến Tăng già-lam, đem nhân duyên này nói
với các tỳ-kheo một cách đầy đủ.
Khi
ấy, trong chúng có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu
đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, cơ hiềm A-na-luật rằng:
«A-na-luật,
sao thầy cùng với phụ nữ ngủ chung buồng?»[30]
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn liền dùng nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo. Ngài biết mà vẫn hỏi A-na-luật:
«Thật
sự ông có một mình cùng với người nữ ngủ chung buồng
hay không?»
A-na-luật
thưa:
«Thật
vậy, bạch đức Thế tôn!»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện [638a1] quở trách A-na-luật
rằng:
«Việc
ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. A-na-luật sao lại cùng với phụ
nữ ngủ chung buồng?»
Lúc
bấy giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách
A-na-luật rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Đây
là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, cùng với phụ nữ ngủ một nhà, ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Phụ
nữ: người nữ có hiểu biết,[31] mạng căn chưa đoạn.
Nhà:[32]
xung quanh có tường vách ngăn che, bên trên có lợp; hoặc trước
trống, không có bức vách; hoặc có vách nhưng bên trên không
che lợp; hoặc tuy có che nhưng không giáp hết; hoặc tuy có
che khắp nhưng có chỗ trống. Đó gọi là nhà.
Hoặc
tỳ-kheo đã ngủ trước, phụ nữ đến sau; hoặc phụ nữ
đến trước, tỳ-kheo đến sau; hoặc hai người cùng đến.
Nếu nghiêng mình mà nằm, hông dính chiếu, phạm ba-dật-đề.
Mỗi lần trở mình là một ba-dật-đề.
Nếu
cùng thiên nữ, a-tu-la nữ, long nữ, dạ-xoa nữ, ngạ quỷ
nữ, chung nhà mà ngủ, đột-kiết-la. Trong loài súc sanh cái,
có khả năng biến hóa hay không có khả năng biến hóa, ngủ
chung buồng, đột-kiết-la. Nếu cùng với người huỳnh môn,
hai căn, ngủ chung buồng, đột-kiết-la. Ban ngày, phụ nữ
đứng, tỳ-kheo nằm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
Ba-dật-đề, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, đó
gọi là phạm.
Sự
không phạm: Nếu tỳ-kheo không biết trong nhà kia có phụ nữ
mà ngủ, hoặc tỳ-kheo đến trước, phụ nữ đến sau, tỳ-kheo
không biết; hoặc nhà có lợp mà chung quanh không có ngăn,
hoặc lợp hết mà ngăn phân nữa, hoặc lợp hết mà ngăn
một ít, hoặc ngăn hết mà không lợp, hoặc ngăn hết mà
lợp một ít, hoặc nửa lợp, nửa ngăn, hoặc một ít lợp
một ít ngăn, hoặc không lợp không ngăn, nơi đất trống
thì không phạm. Ở trong nhà này, hoặc đi, hoặc ngồi cũng
không phạm, hoặc đầu bị choáng váng té xuống đất, hoặc
bị bệnh mà nằm thì không phạm; hoặc bị cường lực bắt,
hoặc bị người trói, hoặc mạng nạn, tịnh hạnh nạn cũng
không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
V.
NGỦ CHUNG BUỒNG VỚI NGƯỜI CHƯA THỌ CỤ TÚC[33]
A.
DUYÊN KHỞI
1.
SỰ KIỆN SÁU TỲ KHEO
Một
thời, đức Thế tôn ở tại thành Khoáng dã.[34] Bấy giờ,
nhóm sáu tỳ-kheo cùng với các trưởng giả ngủ nơi nhà giảng.[35]
Lúc
ấy, trong nhóm sáu, có một vị khi ngủ với tâm tán loạn
không hề hay biết, lăn mình qua, hình thể loã lồ. Lúc ấy
có tỳ-kheo lấy y tủ lại. Sau đó lại lăn mình nữa, lộ
hình như trước. Một tỳ-kheo khác cũng lấy y tủ lại. Vị
ấy giây lát lại lăn mãi, dựng hình lên. Các trưởng giả
thấy liền sanh cơ hiềm, cười lớn, chế giễu.
Bấy
giờ, vị tỳ-kheo ngủ thức dậy, ôm lòng hổ thẹn, sắc
mặt bạc nhợt. Các tỳ-kheo cũng hổ thẹn. Trong số ấy có
vị thiểu dục tri túc, biết tàm quý, sống đầu đà, ưa
học giới, hiềm trách tỳ-kheo này rằng, «Sáu tỳ-kheo này
sao lại cùng với các trưởng giả ngủ chung?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn liền dùng nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Việc
các ông làm là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm điều không nên làm. Này nhóm sáu tỳ-kheo, sao
các ông cùng với các trưởng giả ngủ chung?» Lúc bấy, giờ
đức Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu
tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Sáu
tỳ-kheo này là những người si, là nơi trồng nhiều giống
hữu lậu, là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau,
Ta vì các tỳ-kheo kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến
câu, chánh pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy»:
Tỳ-kheo
nào, cùng ngủ chung với người chưa thọ đại giới, ba-dật-đề.
2.
SỰ KIỆN LA-HẦU-LA
Thế
tôn vì tỳ-kheo kiết giới như vậy.
Một
thời, đức Phật ở nước Câu-thiệm-tỳ.[36] Các tỳ-kheo
nói như vầy, «Đức Phật không cho phép chúng ta cùng ngủ
chung với người chưa thọ đại giới. Vậy bảo La-vân[37]
đi chỗ khác.»
Lúc
ấy, La-vân không có nhà để ngủ, phải đến ngủ nơi nhà
vệ sinh. Khi ấy đức Phật biết, liền đến nơi nhà vệ
sinh, tằng hắng. La-vân cũng tằng hắng lại. Đức Thế tôn
biết mà vẫn cố hỏi:
«Ai
ở trong này?»
La-vân
trả lời:
«Con
là La-vân.»
Lại
hỏi:
«Con
làm gì ở đây?»
Đáp
rằng:
«Các
tỳ-kheo nói, không được cùng với người chưa thọ cụ túc
giới ngủ chung, nên đuổi con ra.»
Đức
Thế tôn liền nói:
«Các
tỳ-kheo này sao lại ngu si, không có từ tâm, đuổi trẻ nít
ra khỏi phòng? Đó là con của Phật, mà không thấu rõ được
ý Ta hay sao? »
Đức
Phật liền đưa ngón tay bảo La-vân nắm và dẫn vào phòng,
cho ngủ đêm đó. Sáng sớm, tập hợp các tỳ-kheo, Ngài bảo
rằng:
«Các
ông không có từ tâm, nên mới đuổi con nít đi. Đây là con
của Phật,[38] mà không thấu rõ được ý Ta hay sao?[39] Từ
nay về sau, cho phép các tỳ-kheo cùng người chưa thọ đại
giới cùng ngủ hai đêm. Nếu đến đêm thứ ba khi dấu hiệu
bình minh chưa xuất hiện nên thức dậy tránh đi. Nếu đến
đêm thứ tư, hoặc tự mình đi, hay bảo người chưa thọ
đại giới đi.[40]»
Từ
nay về sau nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, ngủ chung với người chưa thọ đại giới, quá hai đêm,
đến đêm thứ ba,[41] ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Người
chưa thọ (đại) giới: trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ngoài ra đều
là người chưa thọ đại giới.
Ngủ
chung buồng: Như trước đã nói.[42]
Nếu
tỳ-kheo đến trước, người chưa thọ đại giới đến sau;
người chưa thọ giới đến trước, tỳ-kheo đến sau; hoặc
cả hai đều đến một lượt, nếu hông chấm đất là phạm,
nghiêng mình một chút phạm. Nếu nam cõi trời, nam a-tu-la,
nam càn-thát-bà, nam dạ-xoa, nam ngạ quỷ và trong loài súc
sanh có thể biến hóa hay không thể biến hóa, cùng ngủ quá
hai đêm, ba đêm, phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ba-dật-đề, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó
gọi là phạm.
Sự
không phạm: Nếu tỳ-kheo trước không biết ở tại ấy, mà
người chưa thọ giới đến sau; hoặc người chưa thọ giới
đến trước, mà tỳ-kheo đến sau; hoặc nhà có lợp mà bốn
phía không ngăn che; hoặc lợp hết mà ngăn che một nữa, hoặc
ngăn che hết mà lợp một phần; hoặc ngăn phân nửa lợp
phân nửa; hoặc ngăn một phần, lợp một phần; hoặc chỗ
đất trống không; hoặc ngồi, hoặc đi kinh hành; tất cả
đều không phạm. Hoặc đầu bị choáng váng té xuống đất;
hoặc bệnh nằm, hoặc bị cường lực bắt, hoặc bị trói
nhốt, hoặc mạng nạn, tịnh hạnh nạn, thì không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
VI.
ĐỌC KINH CHUNG[43]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Một thời đức Phật ở thành Khoáng dã. Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo cùng các trưởng giả tập hợp tại
giảng đường tụng kinh Phật, cao tiếng lớn giọng như âm
thanh bà-la-môn đọc sách không khác, làm loạn tâm các vị
tọa thiền.
Trong
số các tỳ-kheo đã nghe có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu đà, ưa học giới, biết tàm quý, cơ hiềm nhóm sáu
tỳ-kheo, «Sao lại cùng các trưởng giả tập hợp nơi giảng
đường tụng kinh như âm thanh bà-la-môn đọc sách?»
Lúc
ấy, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới
chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch
đầy đủ lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn liền dùng nhơn
duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Sao
các ông lại cùng với trưởng giả tập hợp nơi [639a1] giảng
đường tụng kinh, âm thanh như bà-la-môn không khác?»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Đây
là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu,
là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các
tỳ-kheo kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh
pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, tụng đọc chung với người chưa thọ giới, ba-dật-đề.[44]
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Người
chưa thọ đại giới: như giới trước (tức ngoài tỳ-kheo
và tỳ-kheo-ni ra).
Cú
nghĩa, phi cú nghĩa, cú vị, phi cú vị; tự nghĩa, phi tự nghĩa.[45]
- Cú
nghĩa: là cùng người đọc tụng, không trước, không sau,
như tụng:
Chớ
làm các việc ác,
Hãy
làm các điều lành;
Tự
lắng sạch tâm ý,
Chư
Phật dạy như vậy.
- Phi
cú nghĩa: như một người nói ‘Chớ làm các việc ác’ chưa
xong, người thứ hai nói lại câu ‘Chớ làm các việc ác.’
- Cú
vị: hai người cùng tụng, không trước không sau, như tụng,
«Mắt vô thường. Tai vô thường. Cho đến, ý vô thường.»
- Phi
cú vị: như một người chưa nói xong «Mắt vô thường...»,
người thứ hai lập lại lời nói trước, «Mắt vô thường...»
- Tự
nghĩa: hai người cùng tụng, không trước không sau, như tụng,
‹A-la-ba-giá-na.›
- Phi
tự nghĩa: như một người chưa nói xong âm «A…», người
thứ hai lập lại âm «A…» trước đó.
- Cú
pháp: lời Phật nói, Thinh văn nói, Tiên nhơn nói, Chư thiên
nói.
Nếu
tỳ-kheo cùng người chưa thọ đại giới đồng tụng một
lời nói, hai lời nói, ba lời nói, hoặc truyền trao bằng
miệng, hoặc truyền trao bằng chữ viết, tất cả nếu rõ
ràng, phạm ba-dật-đề; nói không rõ ràng, phạm đột-kiết-la.
Cùng
thiên tử, a-tu-la tử, dạ-xoa tử, long tử, càn-thát-bà tử,
súc sanh có thể biến hóa, tụng một lời nói, hai lời nói,
ba lời nói, dù nói rõ ràng hay không rõ ràng đều phạm đột-kiết-la.
Nếu vị thầy không dạy rằng: «Để tôi nói xong ông sẽ
nói,» thì thầy phạm đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la, đó
gọi là phạm.
Sự
không phạm: «Tôi nói xong rồi, ông mới nói.» Một người
tụng rồi, một người chép. Hoặc hai người đồng nghiệp
đồng tụng; hoặc nói giỡn chơi, hoặc nói vội vàng, hoặc
nói một mình, hoặc nói trong mộng, hoặc muốn nói việc này
lại nói việc khác. Tất cả không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
VII.
NÓI THÔ TỘI[46]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật. Bấy giờ, tại
thành La-duyệt có tỳ-kheo đang hành ba-lợi-bà-sa, ma-na-đỏa,
nên ngồi dưới hết. Nhóm sáu tỳ-kheo hỏi các bạch y rằng:
«Các
người có biết tại sao người đó lại ngồi dưới chót
không?»
Các
bạch y thưa:
«Chúng
con không biết.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo nói:
«Người
ấy phạm tội như vậy. Do phạm tội như vậy nên chúng Tăng
phạt khiến ngồi dưới hết.»
Vị
tỳ-kheo có lỗi nghe, lấy làm hổ thẹn, và các tỳ-kheo khác
khi nghe những lời này cũng hổ thẹn. Trong số đó có vị
thiểu dục tri túc, sống hạnh đầu đà, ưa học giới, biết
tàm quý, cơ hiềm nhóm sáu tỳ-kheo: «Sao lại đem việc tỳ-kheo
phạm tội thô ác nói với người bạch y?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch đầy đủ
lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn liền dùng nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm sáu tỳ-kheo:
«Sao
các ông lại đem việc tỳ-kheo phạm tội thô ác nói với
người bạch y?» Lúc bấy giờ, đức Thế tôn dùng vô số
phương tiện quở trách nhóm sáu tỳ-kheo rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Đây
là những người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu,
là kẻ phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các
tỳ-kheo kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh
pháp tồn tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy[47]:
Tỳ-kheo
nào, có tỳ-kheo phạm tội thô ác, đem nói với người chưa
thọ đại giới, ba-dật-đề.
Khi
đức Thế tôn vì các tỳ-kheo kiết giới như vậy rồi, bấy
giờ có tỳ-kheo hoặc không biết thô ác, hay không thô ác,
sau mới biết là thô ác; hoặc có người đã tác pháp sám
hối ba-dật-đề, hoặc có người lo sợ. Đức Phật dạy:
«Không biết thì không phạm.»
Từ
nay về sau nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, biết tỳ-kheo phạm tội thô ác, đem nói với người
chưa thọ đại giới, ba-dật-đề.
Thế
tôn vì các tỳ-kheo kiết giới như vậy.
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất được Tăng sai đến giữa triều
thần của Vua và trong nhân dân kể rõ tội lỗi của Điều-đạt,[48]
rằng những gì Điều-đạt làm, đừng nói đó là Phật, Pháp,
Tăng, nên biết đó là việc làm của Điều-đạt. Tôn giả
Xá-lợi-phất nghe xong liền sanh lòng cẩn thận và lo sợ.[49]
Các tỳ-kheo biết như vậy, nên đến bạch đức Thế tôn.
Đức Thế tôn dạy:
«Chúng
Tăng sai thì không phạm.»
Từ
nay về sau nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo
nào, biết tỳ-kheo khác có tội thô ác, đem nói với người
chưa thọ đại giới, trừ tăng yết-ma, ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Chưa
thọ đại giới: (ngoài tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni ra) như giới trước.
Tội
thô ác: ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa.
Tăng:
đồng nhất yết-ma, đồng nhất thuyết giới.
Nếu
tỳ-kheo biết vị khác có tội thô ác, đến nói với người
chưa thọ đại giới, trừ Tăng yết-ma, ba-dật-đề. Nói rõ
ràng, ba-dật-đề; không rõ ràng, đột-kiết-la.
Ngoài
tội thô ác ra, đem các tội khác nói với người chưa thọ
đại giới, đột-kiết-la.
Tự
mình phạm tội thô ác đem nói với người chưa thọ đại
giới, đột-kiết-la. Trừ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, đem tội thô
ác của người khác nói với người chưa thọ đại giới,
đột-kiết-la.
Tội
thô ác tưởng là tội thô ác, ba-dật-đề. Tội thô ác mà
nghi, đột-kiết-la. Chẳng phải tội thô ác mà tưởng là
tội thô ác, đột-kiết-la. Chẳng phải tội thô ác mà nghi,
đột-kiết-la.
Tỳ-kheo-ni,
ba-dật-đề, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó
gọi là phạm.
Sự
không phạm: nếu không biết, hoặc Tăng sai. Thô ác mà tưởng
chẳng phải thô ác, hoặc bạch y trước đó đã biết tội
thô ác này rồi, thì không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
VIII.
NÓI PHÁP THƯỢNG NHÂN[50]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Phật ở tịnh xá Lầu các, bên bờ ao Di hầu,
tại Tỳ-xá-ly. Bấy giờ tỳ-kheo nơi vườn Bà cầu, đối
với người chưa thọ đại giới mà tự nói mình chứng ngộ
pháp thượng nhơn. Vì nhơn duyên này Phật tập hợp Tăng tỳ-kheo,
biết mà cố hỏi tỳ-kheo nơi vườn Bà cầu:
«Có
thật như vậy không?»
Thưa:
«Kính
bạch đức Thế tôn, có thật như vậy.»
Đức
Phật quở:
«Các
ông là người si. Nếu là thật đi nữa còn không đem nói
với người, huống chi là không thật.»
Đức
Thế tôn dùng vô số phương tiện quở trách các tỳ-kheo nơi
vườn Bà Cầu, rồi bảo các tỳ-kheo:
«Đây
là người si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là kẻ
phạm giới này ban đầu. Từ nay về sau, Ta vì các tỳ-kheo
kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh pháp tồn
tại lâu dài.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo
nào, đối với người chưa thọ đại giới mà tự nói mình
chứng ngộ pháp thượng nhơn, nói rằng, ‹Tôi thấy điều
này, tôi biết điều này.› Nếu đây là sự thật, ba-dật-đề.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo:
nghĩa như trên.
Chưa
thọ đại giới: như giới trước.
Pháp
về con người:[51] giới của con người, ấm của con người,
nhập của con người.[52]
Pháp
thượng nhơn :[53] chỉ cho các pháp xuất yếu.
Tự
mình nói: nói mình đắc thân niệm, thiện tư duy, có giới,
có dục, có không phóng dật, có tinh tấn, có định, có chánh
định, có đạo, có tu hành, có trí tuệ, có kiến, có đắc,
có quả. Nếu vị ấy thật sự có điều này, mà đến người
chưa thọ đại giới nói rõ ràng, phạm ba-dật-đề; nói không
rõ ràng đột-kiết-la.
Nếu
dùng dấu tay, chữ viết, hoặc [640a1] ra hiệu khiến cho người
biết rõ ràng, ba-dật-đề, không rõ ràng, đột-kiết-la.
Nếu
hướng đến các trời, a-tu-la, dạ-xoa, càn-thát-bà, rồng,
ngạ quỉ, súc sanh có thể biến hóa mà nói pháp thượng nhơn,
dù rõ ràng hay không rõ ràng đều phạm đột-kiết-la.
Nếu
thật sự đã đạt được pháp thượng nhơn, lại hướng
đến người đã thọ đại giới, nhưng họ chẳng đồng ý
mà nói thì phạm đột-kiết-la; hoặc tự xưng là «Tôi đã
đạt được căn, lực, giác, đạo, thiền định, giải thoát,
nhập tam muội;» hướng đến người mà nói thì phạm ba-dật-đề.
Tỳ-kheo-ni,
ba-dật-đề, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la. Đó
gọi là phạm.
Sự
không phạm: nếu là Tăng thượng mạn; hoặc tự nói là do
nghiệp báo chứ không nói là do mình tu mà được; hoặc thật
sự đã đạt được pháp thượng nhơn, đến tỳ-kheo đồng
ý mà nói; hoặc nói căn, lực, giác, đạo, giải thoát, nhập
tam muội, mà không nói với người là «Tôi chứng đắc;»
hoặc nói đùa giỡn, nói một mình, nói trong mộng, muốn nói
việc này lại nói việc khác. Tất cả đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới, si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
IX.
THUYẾT PHÁP QUÁ NĂM LỜI[54]
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả Ca-lưu-đà-di, vào lúc thích
hợp, khoác y, bưng bát, đến nhà một trưởng giả. Trước
mặt bà mẹ chồng, ông ghé bên tai nói pháp cho con dâu. Bà
mẹ chồng thấy vậy liền hỏi cô dâu:
«Vừa
rồi tỳ-kheo nói gì vậy?»
Cô
dâu trả lời:
«Tỳ-kheo
nói pháp cho con nghe.»
Bà
mẹ chồng nói với cô dâu rằng:
«Nếu
nói pháp thì phải nói lớn cho chúng ta cùng nghe. Sao lại ghé
bên tai nói cho một mình cô nghe thôi?»
Cô
dâu nói: