CHƯƠNG
V
BA-LA-ĐỀ
ĐỀ-XÁ-NI[1]
ĐIỀU
1
A.
DUYÊN KHỞI
Một
thời, đức Bà-già-bà ở trong vườn Cấp-cô-độc, rừng
cây Kỳ-đà tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni
xin váng sữa[2] để ăn. Các cư sĩ thấy, cơ hiềm, nói: «Tỳ-kheo
nầy không biết hổ thẹn, cầu xin không nhàm chán. Bên ngoài
tự xưng là tôi biết chánh pháp. Nhưng Như vậy có gì là
chánh pháp? Xin ván sữa để ăn, như bọn tặc nữ dâm nữ
không khác!»
Các
tỳ-kheo-ni nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống hạnh
đầu-đà, ưa học giới, biết hổ thẹn, quở trách nhóm sáu
tỳ-kheo-ni: «Sao các cô lại xin váng sữa để ăn ?»
Quở
trách rồi, tỳ-kheo-ni thiểu dục liền bạch với các tỳ-kheo.
Các tỳ-kheo đến bạch lên đức Thế tôn. Đức Thế tôn
dùng nhơn duyên nầy tập hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách nhóm
sáu tỳ-kheo-ni:
«Các
cô làm điều sai trái, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Tại sao tỳ-kheo-ni lại xin váng sữa
để ăn?»
Dùng
vô số phương tiện quở trách rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Các
tỳ-kheo-ni nầy là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những
người đầu tiên phạm giới nầy. Từ nay về sau, Ta vì các
tỳ-kheo-ni kiết giới, gồm mười cú nghĩa, cho đến câu chánh
pháp cửu trụ.»
Muốn
nói giới nên nói như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào, xin váng sữa để ăn, phạm pháp đáng chê trách phải
sám hối. Nên đến các tỳ-kheo-ni khác nói: ‹Thưa đại tỉ,
tôi phạm pháp đáng chê trách, làm điều không nên làm. Nay
đến đại tỉ xin sám hối.[3]› Đây gọi là pháp hối quá.
Thế
tôn vì các tỳ-kheo-ni kiết giới như vậy rồi, có vị nghi,
không dám vì người bệnh xin, chính mình bệnh cũng không dám
xin, người khác vì mình xin cũng không dám dùng. Đức Phật
dạy:
«Từ
nay về sau cho phép, mình bệnh được xin, vì người bệnh
được xin, người khác vì mình xin được dùng.»
Từ
nay nên nói giới như vầy:
Tỳ-kheo-ni
nào, không bệnh mà xin váng sữa để ăn, phạm pháp đáng
chê trách phải sám hối. Nên đến các tỳ-kheo-ni khác nói:
‹Thưa đại tỉ, tôi phạm pháp đáng chê trách, làm điều
không nên làm. Nay tôi đến đại tỉ sám hối.› Gọi là
pháp hối quá.
B.
GIỚI TƯỚNG
Tỳ-kheo-ni:
nghĩa như trên.
Tỳ-kheo-ni
nào, không bệnh mà xin váng sữa để ăn, một miếng nuốt
là một ba-la-đề đề-xá-ni.
Tỳ-kheo,
đột-kiết-la. Thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Đó gọi là phạm.
Sự
không phạm: Vì mình có bệnh, vì người bệnh mà xin, hoặc
người khác vì mình xin, hay mình vì người khác xin, hoặc
không xin mà được. Thảy đều không phạm.
Người
không phạm: phạm lần đầu tiên khi chưa chế giới; si cuồng,
loạn tâm, thống não, bức bách.
ĐIỀU
2 - ĐIỀU 8
2.
Xin dầu, 3. Xin mật, 4. Xin đường mía, 5. Xin sữa, 6. Xin sữa
đặc, 7. Xin cá, 8. Xin thịt; cũng như xin váng sữa không khác.[4]
Bốn
giới trên của tỳ-kheo, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, đột-kiết-la.
Bốn giới dưới, tỳ-kheo ba-dật-đề. Thức-xoa-ma-na, sa-di,
sa-di-ni, đột-kiết-la.
Chúng
học giới, cùng đại Tăng không khác. Nên không chép ra.[5]
[1]
Bản Hán không ghi chương. Chỉ ghi chú nhỏ ở cuối thiên
ba-dật đề: «Đã nói xong 178 pháp ba-dật-đề.» Bản Việt
đặt thành chương riêng biệt để thống nhất hình thức
với luật tỳ kheo. Thiên này có 8 điều, tất cả đều biệt
giới. Ngũ phần 14 (T22n1421, tr.100a16), phần ii, thiên thứ 5,
«Ni luật hối quá pháp,» 8 pháp ba-la-đề đề-xá-ni. Tăng
kỳ 40 (T22n1425, tr.544a08): tám pháp đề-xá-ni. Thập tụng 47
(T23n1435, tr.345a23). Căn bản ni 20 (T23n1443, tr.1016a27): «Đệ
tứ bộ ba-la-đề đề-xá-ni pháp.» Pali, Vin.iv. 346, Bhikkhunīvibhaṅga,
«5. Pāṭidesanīyakaṃ.»
[2]
Hán: tô 酥. Pali: sappi, thục tô, tô nhũ, hay đề hồ. Giải
thích: các loại tô làm từ sữa bò, sữa sơn dương, hay sữa
trâu.
[3]
Pali: gārayhaṃ dhammaṃ āpajjiṃ asappāyaṃ pāṭidesanīyaṃ,
phạm pháp đáng bị chê trách, không thích đáng, cần phải
phát lồ.
[4]
Xin 8 thứ, Tứ phần, Ngũ phần, Tăng kỳ: tô, du, mật, thạch
mật, nhũ, lạc, ngư, nhục 酥油蜜黑石蜜乳酪魚肉. Thập
tụng: nhũ, lạc sanh tô, thục tô, du, ngư, nhục bô 乳酪生酥
熟酥油魚肉脯. Pali: sappi, dadhi, tela,
madhu, phāṇita, maccha, maṃsa, khīra.
[5]
Hết quyển 30.