CHƯƠNG
I.
THỌ
GIỚI[1]
I.
THÍCH THỊ THẾ PHỔ
[779a7]
Tôi từng nghe chuyện được kể như vầy:
Từ
xa xưa về trước, có vị Vua đầu tiên xuất hiện trong đời,
tên là Đại Nhơn, được đại chúng suy cử.[2] Nhà Vua có
thái tử tên là Thiện Vương. Thiện Vương có thái tử tên
là Lâu-di. Vua Lâu-di có con tên là Trai.[3] Trai vương có con
tên là Đảnh Sanh.[4] Vua Đảnh Sanh có con tên là Giá-la. Vua
Giá-la có con tên là Bạt-giá-la. Vua Bạt-giá-la có con tên
là Vi. Vua Vi có con tên là Vi-lân-đà-la. Vua Vi-lân-đà-la có
con tên là Bề-hê-lê-tứ. Vua Bề-hê-lê-tứ có con tên là
Xá-ca-đà. Vua Xá-ca-đà có con tên là Lâu-chi. Vua Lâu-chi có
con tên là Tu-lâu-chi. Vua Tu-lâu-chi có con tên là Ba-la-na. Vua
Ba-la-na có con tên là Ma-ha-ba-la-na. Vua Ma-ha- ba-la-na có con tên
là Quý-xá. Vua Quý-xá có con tên là Ma-ha-quý-xá. Vua Ma-ha-quý-xá
có con tên là Thiện Hiện. Vua Thiện Hiện có con tên là Đại
Thiện Hiện. Vua Đại Thiện Hiện có con tên là Vô Ưu.[5]
Vua Vô Ưu có con tên là Quang Minh. Vua Quang Minh có con tên là
Lê-na. Vua Lê-na có con tên là Di-la. Vua Di-la có con tên là Mạt-la.
Vua Mạt-la có con tên là Tinh Tấn Lực. Vua Tinh Tấn Lực có
con tên là Lao-xa. Vua Lao-xa có con tên là Thập Xa. Vua Thập
Xa có con tên là Bách Xa. Vua Bách Xa có con tên là Kiên Cung.
Vua Kiên Cung có con tên là Thập Cung. Vua Thập Cung có con tên
là Bách Cung. Vua Bách Cung có con tên là Năng Sư Tử. Vua Năng
Sư Tử có con tên là Chơn-xà. Từ Vua Chơn-xà theo thứ tự
về sau có mười chủng tộc Chuyển luân thánh vương: 1. Già-nâu-chi.
2. Đa-lâu-tỳ-đế. 3. A-thấp-tỳ. 4. Càn-đà-la. 5. Già-lăng-ca.
6. Chiêm-tỳ. 7. Câu-la-bà. 8. Bát-xà-la. 9. Di-tất-lê. 10. Ý-sư-ma.
Già-nâu-chi
theo thứ tự tương thừa có năm Vua. Đa-lâu-tỳ-đế theo thứ
tự có năm Vua. A-thấp-tỳ có bảy Vua. Càn-đà-la có tám Vua.
Già-lăng-ca có chín Vua. Chiêm-tỳ có mười bốn Vua. Câu-la-bà
có ba mươi mốt Vua. Bát-xà-la có ba mươi hai Vua. Di-tất-lê,
theo thứ tự có 84.000 Vua. Vua Ý-sư-ma, theo thứ tự có 100
Vua. Từ Vua Ý-sư-ma về sau có nhà Vua tên là Đại Thiện Sanh.
Vua Đại Thiện Sanh có con tên là Ý-sư-ma. Vua Ý-sư-ma có con
tên là Ưu-la-đà. Ưu-la-đà có con tên là Cù-la. Cù-la có con
tên là Ni-phù-la. Ni-phù-la có con tên là Sư Tử Giáp.[6] Sư
Tử Giáp có con tên là Duyệt-đầu-đàn. Duyệt-đầu-đàn
có con tên là Bồ-tát. Bồ-tát có con tên là La-hầu-la.
II.
TRUYỆN ĐỨC THÍCH TÔN
1.
Xuất gia và thành đạo
i.
Vương tử họ Thích
Bồ-tát
là con nhà họ Thích, bên cạnh Tuyết sơn, quốc giới phía
bắc; thuộc dòng dõi hào quý, cha mẹ chơn chánh, các tướng
đầy đủ. Khi vừa mới sanh, các thầy tướng bà-la-môn đều
đến xem tướng. Họ luận đoán: «Đại vương, hài nhi đây
có đầy đủ ba mươi hai tướng của đại nhơn. Người có
tướng này sẽ hướng đến hai con đường, chắc chắn không
sai. Một là, nếu không xuất gia, sẽ là Vua Sát-lợi Quán
đảnh[7] Chuyển luân thánh vương, có khả năng chinh phục
tất cả, làm chủ bốn thiên hạ, được gọi là Pháp vương,[8]
vì chúng sanh mà làm vị Tự tại,[9] đầy đủ bảy món báu.
Bảy món báu là: 1. Luân bảo, 2. Tượng bảo, 3. Mã bảo, 4.
Châu bảo, 5. Ngọc nữ bảo, 6. Chủ tàng thần bảo, 7. Điển
binh bảo. Thái tử có đầy đủ một ngàn người con hùng
mãnh, dũng kiện có khả năng đẩy lui tất cả quân địch
trên lãnh thổ, không cần dùng đao trượng, tự xử dụng
sức của mình, bằng chánh pháp cai trị giáo hóa, không hề
có sự sợ hãi khi hành vương sự. Nhà Vua thi hành mọi việc
một cách tự tại, không hề khiếp nhược. Hai là, nếu Thái
tử xuất gia, sống không gia đình, thì sẽ thành bậc Vô thượng
Chánh chơn, Đẳng chánh giác, Minh hạnh túc, Thiện Thệ, Thế
gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn
sư, Phật, Thế Tôn. Ngài, ở giữa các chúng hội của Ma,
của Phạm, của sa-môn, bà-la-môn, chúng hội chư thiên và
loài người, đã tự thân chứng ngộ, tự thân an lạc, rồi
vì chúng sanh nói pháp; pháp ấy, khoảng đầu, khoảng giữa
và khoảng cuối đều thiện xảo, có đủ nghĩa và vị, với
phạm hạnh được hiển hiện.»
Bấy
giờ, Vua nước Ma-kiệt là Bình-sa[10] lo ngại các nước ở
biên giới; sai người thám sát khắp nơi. Nhà Vua nghe quân
thám sát tâu rằng, dưới chân Tuyết sơn, quốc giới phía
bắc, có một người con trai dòng họ Thích, dòng dõi hào quý,
cha mẹ chơn chánh, có đủ ba mươi hai tướng đại nhơn. Các
thầy xem tướng nói như trên.
Bấy
giờ, quân thám sát đến tâu với Vua rằng:
«Đại
vương nên biết, dưới chân Tuyết sơn, quốc giới phía bắc,
có một người con trai dòng họ Thích, dòng dõi hào quý, cha
mẹ chơn chánh, có đủ ba mươi hai tướng đại nhơn, như
trên đã nói. Nay nhà Vua nên tìm cách trừ khử người kia
đi. Nếu không, sợ sau này sẽ gây hại cho Vua. Việc mất
nước, mất đất, sẽ do từ đây phát sinh.»
Vua
nói:
«Làm
thế nào mà trừ khử được! Nếu vị kia không xuất gia,
sẽ là vua Sát-lợi quán đảnh, làm Chuyển luân thánh vương,
có đủ bảy báu, thống lãnh bốn thiên hạ, là bậc Tự tại,
không hề khiếp nhược. Ta sẽ là thần thuộc phục mệnh.
Nếu vị ấy xuất gia học Đạo, chắc thành bậc Vô thượng
Chí chơn, Đẳng chánh giác, nói pháp cho mọi người; pháp
ấy, khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối, đều thiện
xảo. Ta sẽ làm đệ tử của vị ấy.»
Theo
thời gian Bồ-tát khôn lớn, các căn đầy đủ. Từ chỗ nhàn
tịnh, Ngài suy nghĩ: «Nay, Ta xét thấy thế gian này thật là
khổ não. Có sanh, có già, có bệnh, có chết. Chết đây sanh
kia. Do thân này mà biên tế của khổ không được chấm dứt.
Làm thế nào để chấm dứt cái thân khổ này?»
ii.
Xuất gia tầm đạo
Lúc
bấy giờ, Bồ-tát vừa tuổi thanh xuân, đầu tóc đen mướt,
tướng mạo thù đặc, đang thời thịnh tráng, mà tâm không
ham muốn dục lạc. Cha mẹ sầu ưu khóc lóc, không muốn để
Bồ-tát xuất gia học đạo.
Rồi
thì, Bồ-tát cưỡng ý cha mẹ, tự mình cạo bỏ râu tóc,
khoác áo ca-sa, từ bỏ gia đình để sống không gia đình.
Bồ-tát du hành, dần dà đi từ biên giới nước Ma-kiệt đến
thành La-duyệt.[11] Nghỉ đêm tại núi kia.[12] Sáng sớm tinh
sương, Ngài khoác ca-sa, bưng bát, vào thành La-duyệt khất
thực. Tướng mạo cực kỳ đẹp đẽ. Co duỗi, cúi ngước,
bước đi ung dung, nhìn thẳng trước mà đi tới, không liếc
ngó hai bên. Khi ấy, Vua Ma-kiệt ở trên lầu cao, các đại
thần vây quanh trước sau. Vua từ xa nhìn thấy Bồ-tát vào
thành khất thực. Co duỗi, cúi ngước, bước đi ung dung, nhìn
thẳng trước mà đi tới, không liếc ngó hai bên. Thấy vậy,
nhà Vua nói bài kệ khen ngợi cho các đại thần nghe:
Các
ngươi xem người kia,
Cử
chỉ Thánh tuyệt vời.
Tướng
hảo thật trang nghiêm;
Chẳng
phải hàng hạ tiện.
Nhìn
thẳng, không liếc ngó;
Trực
chỉ tiến bước lên.
Vua
liền sai người hỏi:
Tỳ-kheo
muốn đi đâu?
[780a1]Người
sứ được Vua sai
Theo
sau chân tỳ-kheo;
Xem
tỳ-kheo đến đâu,
Nghỉ
đêm ở chỗ nào?
Xin
xong khắp mọi nhà,
Các
căn định, trầm tĩnh.
Bát
cơm nhanh chóng đầy;
Ý
chí thường vui tươi.
Sau
khi khất thực xong,
Thánh
liền ra khỏi thành.
Trên
núi Ban-trà-bà,[13]
Sẽ
tạm nghỉ nơi đây.
Biết
chỗ tỳ-kheo nghỉ;
Một
người ở lại đó,
Một
người trở về tâu.
Để
nhà Vua biết rõ
Tỳ-kheo
hiện nghỉ đêm
Tại
núi Ban-trà-bà.
Nằm
ngồi như sư tử;
Như
cọp tại rừng sâu.
Vua
nghe sứ thần tâu,
Lệnh
trang hoàng cỗ voi.
Cùng
quân hầu tùy tùng,
Đồng
đến lễ Bồ-tát.
Khi
đến hỏi chào xong,
Rồi
ngồi qua một bên.
Sau
khi chào hỏi rồi,
Vua
lại nói như sau:
«Xem
Ngài đang tráng thịnh,
Các
hành rất thanh tịnh;
Lẽ
đáng ngự đại xa
Quần
thần hầu giá nghiêm.
Tướng
mạo rất đoan chánh,
Tất
sanh dòng Sát-lợi?»
«Nay
tôi trả lời ngài;
Xin
nói quê hương mình.
Nay
phía Bắc núi Tuyết,
Có
nước Đại vương trị.
Nay
ở Bắc tuyết sơn
Họ
cha gọi là Nhật[14]
Sinh
xứ là Thích-ca.
Tài
bảo, kỹ thuật đủ,
Cha
mẹ đều chơn chánh.
Bỏ
nhà, tầm học đạo;
Không
ưa chốn ngũ dục.
Xem
dục nhiều khổ não.
Ly
dục thường an ổn.
Tìm
cầu chỗ diệt dục,
Là
tâm ý của tôi.».
Bấy
giờ, nhà Vua nói với Thái tử rằng:
«Nay
ngài hãy ở lại đây. Tôi sẽ chia cho phân nửa nước.»
Bồ-tát
trả lời:
«Tôi
không thể nghe theo lời đó được.»
Nhà
Vua lại nói:
«Ngài
có thể làm Đại vương. Nay tôi cho ngài trọn nước và tất
cả những sở hữu. Tôi dở luôn cả vương miện báu này
tặng ngài. Ngài ở ngôi vương vị để trị vì. Tôi sẽ làm
thần hạ.»
Bồ-tát
trả lời:
«Tôi
bỏ ngôi vị Chuyển luân vương để xuất gia học đạo, đâu
có thể ham ngôi vị Vua nơi biên quốc mà sống ở thế tục.
Này Vua nên biết, cũng như có người đã từng thấy nước
trong đại hải, sau thấy nước trong vũng chân trâu, đâu có
thể sanh tâm nhiễm trước. Việc này cũng như vậy. Tôi há
lại bỏ ngôi Chuyển luân vương để nhận ngôi vị tiểu
vương chư hầu.[15] Việc này không thành vậy!»
Bấy
giờ, nhà Vua thưa rằng:
«Nếu
người thành Vô thượng đạo, thì đến thành La-duyệt này
trước, để tôi được thăm.»
Bồ-tát
trả lời:
«Được.»
Nhà
Vua liền từ chỗ ngồi đứng dậy kính lễ sát chân Bồ-tát,
nhiễu ba vòng, rồi cáo lui.
Bấy
giờ, có người tên là A-lam-ca-lam[16] là bậc thầy trong mọi
người, dạy cho các đệ tử môn thiền định vô sở hữu
xứ.[17] Bồ-tát đến chỗ của A-lam-ca-lam thưa hỏi:
«Ngài
dạy các đệ tử bằng những pháp gì, khiến cho họ chứng
đắc?»
A-lam-ca-lam
trả lời:
«Này
Cù-đàm, tôi nói cho các đệ tử về định vô sở hữu, khiến
cho họ chứng đắc.»
Bấy
giờ, Bồ-tát liền nghĩ: «Đâu phải chỉ có A-lam-ca-lam có
lòng tin, mà nay Ta cũng có lòng tin. Đâu phải chỉ có A-lam-ca-lam
có tinh tấn, mà Ta cũng có tinh tấn. Đâu phải chỉ có A-lam-ca-lam
có trí tuệ, mà nay Ta cũng có trí tuệ. Nay, A-lam-ca-lam bằng
pháp này mà chứng đắc, Ta há không tịnh tọa tư duy, bằng
trí tuệ, mà chứng đắc. Nay, Ta cần siêng năng tinh tấn để
chứng pháp này.» Bồ-tát liền nổ lực tinh tấn, không bao
lâu, chứng đắc pháp này. Khi Bồ-tát chứng đắc rồi, đến
chỗ A-lam-ca-lam nói:
«Ngài
chỉ chứng pháp vô sở hữu định này và nói cho người phải
không?»
A-lam-ca-lam
trả lời:
«Tôi
chỉ có pháp này. Ngoài ra không có pháp nào nữa.»
Bồ-tát
nói:
«Tôi
cũng đã chứng pháp vô sở hữu định này. Nhưng không nói
cho người khác.»
A-lam-ca-lam
hỏi:
«Cù-đàm,
thật sự người đã chứng vô sở hữu định này nhưng không
nói cho người chăng? Tôi cũng chứng vô sở hữu định này
nhưng tôi mà nói cho người khác. Cù-đàm, những gì tôi biết
thì người cũng biết. Những gì người biết thì tôi cũng
biết. Người như tôi. Tôi như người. Này Cù-đàm, người
có thể cùng tôi lo Tăng sự[18] chăng?»
Bấy
giờ, A-lam-ca-lam sanh lòng hoan hỉ, cung kính thừa sự Bồ-tát,
coi ngang hàng với mình.
Rồi
thì, Bồ-tát lại nghĩ: «Loại thiền định vô sở hữu này
không phải là pháp tịch diệt, không ly dục, chẳng phải
là diệt tận, chẳng phải là tịch tĩnh, chẳng thể thành
Đẳng chánh giác, chẳng phải là sa-môn, chẳng phải là nơi
chứng đắc Niết-bàn. Ta không thích pháp này.» Bồ-tát bèn
bỏ A-lam-ca-lam ra đi để cầu pháp cao siêu hơn.
Bấy
giờ, có Uất-đầu-lam Tử[19] là bực thầy đứng đầu ở
trong đại chúng. Vị này sau khi thầy mạng chung, dạy các
đệ tử của thầy về loại thiền định phi tưởng phi phi
tưởng xứ.[20] Bồ-tát đến chỗ Uất-đầu-lam Tử thưa hỏi:
«Thầy
của Ngài dạy đệ tử bằng những pháp gì?»
Uất-đầu-lam
Tử trả lời:
«Thầy
của tôi dạy các đệ tử môn thiền định phi tưởng phi
phi tưởng xứ.»
Bồ-tát
nghĩ rằng: «Đâu phải chỉ Uất-đầu-lam Tử có lòng tin
mà ta cũng có lòng tin. Đâu phải chỉ Uất-đầu-lam Tử có
tinh tấn mà ta cũng có tinh tấn. Đâu phải chỉ Uất-đầu-lam
Tử có trí tuệ mà ta cũng có trí tuệ. Đâu phải chỉ Uất-đầu-lam
Tử chứng pháp này mà vì người nói. Ta há không thể chứng
pháp này. Nay Ta có thể nổ lực tinh tấn để chứng pháp
này.» Bồ-tát liền nổ lực tinh tấn, không bao lâu chứng
được pháp này.
Bấy
giờ, Bồ-tát đến chỗ Uất-đầu-lam Tử hỏi:
«Ngài
chỉ có môn thiền định phi tưởng phi phi tưởng xứ này,
hay còn có pháp nào nữa?»
Uất-đầu-lam
Tử trả lời:
«Cù-đàm,
tôi chỉ có pháp này. Ngoài ra không có pháp nào nữa.»
Bồ-tát
hỏi:
«Nay,
tôi cũng đã chứng định phi tưởng phi phi tưởng xứ này.»
Uất-đầu-lam
Tử nói:
«Người
thật sự có định phi tưởng phi phi tưởng nầy rồí chăng?
Thầy của Uất-đầu-lam Tử tôi cũng đã chứng nghiệm định
phi tưởng phi phi tưởng xứ này. Những gì Thầy của tôi
biết thì nay người cũng biết. Những gì người biết thì
Uất-đầu-lam Tử cũng biết. Người giống như Uất-đầu-lam
Tử, Uất-đầu-lam Tử cũng giống như người. Nầy Cù-đàm,
nay người hãy cùng tôi trông coi Tăng sự này.»
Bấy
giờ, Uất-đầu-lam Tử phát tâm hoan hỷ, thừa sự Bồ-tát,
tôn lên bậc Thầy để thờ kính. Bấy giờ, Bồ-tát lại
nghĩ: «Ta quán sát định phi tưởng phi phi tưởng xứ này
chẳng phải là pháp tịch diệt, không ly dục, chẳng phải
là diệt tận, chẳng phải là tịch tĩnh, chẳng thể thành
Đẳng chánh giác, chẳng phải là sa-môn, chẳng phải là nơi
chứng đắc Niết-bàn. Ta không thích pháp này.»
Bồ-tát
bỏ Uất-đầu-lam Tử ra đi để tìm cầu pháp cao siêu hơn.
Pháp
thù thắng mà Bồ-tát tìm cầu, đó là pháp tịch tĩnh tối
thượng.[21]
iii.
Sáu năm khổ hạnh
Bồ-tát
từ ranh giới Ma-kiệt du hóa về phương nam, đến núi Tượng
đầu,[22] trong thôn Đại tướng, ở Uất-tì-la.[23] Nơi đó,
có một vùng đất sạch sẽ, bằng phẳng, xinh đẹp, khả
ái; cỏ xanh non mềm mại đều xoay về phía hữu; ao tắm trong
mát mẻ, nước sạch sẽ; vườn rừng rậm rạp bao quanh; thôn
xóm dân cư ở xung quanh đông đảo. Thấy vậy, Bồ-tát nghĩ:
«Thiện nam tử nào muốn tìm cầu nơi đoạn trừ kết sử,
đây là chỗ tốt. Nay ta tìm cầu nơi đoạn trừ kết sử,
đây chính là chỗ ta muốn. Nay ta có thể ngồi nơi đây để
đoạn kết sử.» Bấy giờ có năm người đi theo Bồ-tát
tự nghĩ rằng: «Nếu Bồ-tát thành đạo thì sẽ nói pháp
cho chúng ta.»
Bấy
giờ, Uất-bề-la có bốn người con gái: một tên là Bà-la,
hai tên là Uất-bà-la, ba tên là Tôn-đà-la, bốn tên là Kim-bà-già-la
đều [781a1] để ý vào Bồ-tát, tự nghĩ: «Nếu Bồ-tát xuất
gia học đạo chúng ta sẽ làm đệ tử. Nếu Bồ-tát không
xuất gia học đạo, ở tại gia theo thế tục thì chúng ta
sẽ là thê thiếp.»
Ở
đây, Bồ-tát khổ hạnh sáu năm, nhưng vẫn không chứng được
pháp thù thắng của Thánh trí tăng thượng. Rồi Bồ-tát nhớ
lại. Xưa kia, nơi bờ ruộng, chỗ phụ vương hạ điền, ngài
ngồi dưới bóng cây Diêm-phù, với sự ly dục, ly pháp ác
bất thiện, có giác có quán, có hỷ lạc phát sanh do viễn
ly,[24] ngài chứng nghiệm và an trú Sơ thiền.
Bồ-tát
lại nghĩ: «Có con đường nào để từ đó đạt được dứt
sạch nguồn gốc khổ?» Lại nghĩ tiếp, «Con đường này
sẽ dẫn đến chỗ dứt sạch nguồn gốc khổ.» Rồi Bồ-tát
liền nổ lực tinh tấn tu tập trí này; từ con đường này,
sẽ dứt sạch được nguồn gốc khổ.
Bồ-tát
lại nghĩ: «Có hay chăng, nhân bởi pháp bất thiện, ái dục,
mà đạt được pháp an lạc?» Rồi lại nghĩ: «Không thể
do bởi pháp bất thiện, ái dục, mà đạt được pháp an lạc.»
Ngài
lại nghĩ, «Có phải chăng, do tập hành vô dục, xả pháp
bất thiện, mà đạt được pháp an lạc? Nhưng Ta không do
bởi sự tự hành khổ thân này mà đạt được pháp an lạc.
Nay, Ta có nên ăn một ít cơm, bánh bột, để có được sức
khoẻ trở lại chăng?»
Sau
đó Bồ-tát bắt đầu ăn một ít cơm khô[25] để có được
sức khỏe. Khi Bồ-tát ăn một ít thức ăn đó, năm người
đi theo đều thất vọng và từ bỏ Bồ-tát ra đi, nói với
nhau rằng: «Sa-môn Cù-đàm cuồng mê mất đạo. Đâu còn có
đạo chơn thật nữa.»
iv.
Thành Đẳng chánh giác
Bấy
giờ, Bồ-tát đã phục hồi sức lực rồi, liền đến nơi
dòng nước sông Ni-liên-thiền[26] tắm rửa thân thể. Sau đó,
lên bờ, đến dưới bóng cây Bồ-đề. Khi ấy, cách gốc
cây không xa có một người cắt cỏ tên là Cát An,[27] Bồ-tát
đến trước người này nói:
«Tôi
cần cỏ. Ông làm ơn cho tôi một ít.»
Cát
An thưa:
«Được,
tốt lắm!»
Không
chút luyến tiếc, Cát An trao cỏ cho Bồ-tát.
Bồ-tát
đem cỏ đến dưới bóng cây Cát tường,[28] trải cỏ ngồi
thẳng người, chánh ý, buộc niệm trước mặt. Bồ-tát trừ
dục ái, trừ pháp ác bất thiện, có giác có quán, có hỷ
lạc phát sanh do sự viễn ly,[29] chứng và an trú Sơ thiền.
Đó gọi là Bồ-tát đạt được pháp thiện thù thắng đầu
tiên. Tại sao vậy? Vì nhờ buộc ý chuyên niệm, không phóng
dật.
Bấy
giờ, Bồ-tát lại trừ bỏ giác, quán,[30] đạt được nội
tín,[31] có hỷ lạc do định sanh,[32] với không giác quán,
chứng và an trú Nhị thiền. Đó là Bồ-tát đạt được pháp
thiện thù thắng thứ hai. Tại sao vậy? Vì buộc ý, chuyên
niệm, không phóng dật.
Rồi
Bồ-tát trừ bỏ hỷ,[33] an trú xả, chánh niệm chánh tri,
thân cảm giác lạc, mà bậc Thánh nói là xả, niệm, an trụ
lạc,[34] chứng và an trú Tam thiền. Đó là Bồ-tát đạt được
thắng pháp thứ ba. Tại sao vậy? Vì nhờ buộc ý, chuyên niệm,
không phóng dật.
Rồi
Bồ-tát xả khổ lạc, dứt ưu hỷ đã cảm thọ từ trước,
không khổ không lạc, với xả, niệm thanh tịnh,[35] chứng
và an trú Tứ thiền. Đó gọi là Bồ-tát đạt được thắng
pháp thứ tư này. Tại sao vậy? Vì nhờ buộc ý, chuyên niệm,
không phóng dật.
Bấy
giờ, với tâm định tĩnh như vậy,[36] Bồ-tát trừ sạch
các kết sử, thanh tịnh không còn tỳ vết, được sử dụng
một cách nhuần nhuyễn,[37] an trụ kiên cố, chứng trí túc
mạng, nhớ biết một đời, hai đời, ba đời, bốn đời,
năm đời, mười đời, hai chục đời, ba chục đời, bốn
chục đời, năm chục đời, một trăm đời, một ngàn đời,
một trăm ngàn đời, vô số trăm đời, vô số ngàn đời,
vô số trăm ngàn đời; kiếp thành, kiếp bại, vô số kiếp
thành, vô số kiếp bại, vô số kiếp thành bại, «Ta đã
từng sanh nơi kia, có tên như vậy, họ như vậy, sanh như vậy,
thức ăn như vậy, thọ mạng như vậy, giới hạn thọ mạng
như vậy, sống ở đời dài vắn như vậy, cảm thọ khổ
lạc như vậy; từ nơi này chết, tái sinh nơi kia; từ nơi
kia chết, tái sanh nơi này, với tướng mạo như vậy.» Ngài
nhớ biết vô số việc của mạng sống đời trước.
Bấy
giờ, Bồ-tát lúc đầu đêm đạt được minh ban đầu này,
vô minh diệt và minh phát sanh, bóng tối hết ánh sáng xuất
hiện. Đó gọi là sự chứng túc mạng thông. Tại sao vậy?
Vì nhờ tinh tấn, không phóng dật.
Lại
với tâm định tĩnh của tam-muội, thanh tịnh không tỳ vết,
không kết sử, các cấu bẩn đã sạch, được sử dụng nhuần
nhuyễn, an trụ kiên cố, Bồ-tát biết sự sống, sự chết
của chúng sanh. Bằng thiên nhãn thanh tịnh, Ngài xem thấy sự
sống sự chết của chúng sanh,[38] với hình sắc đẹp, hình
sắc xấu, đường lành, đường dữ; hoặc sang hoặc hèn,
tùy thuộc vào hành động của chúng sanh, tất cả đều biết
rõ. Bồ-tát tự quán sát biết chúng sanh này, do thân hành
ác, miệng hành ác, ý hành ác, tà kiến, hủy báng hiền thánh,
tạo nghiệp báo tà kiến; thân hoại mạng chung đọa vào địa
ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Bồ-tát lại quán sát chúng sanh,
do thân hành thiện, miệng hành thiện, ý hành thiện; chánh
kiến, không hủy báng hiền thánh, tạo nghiệp báo chánh kiến;
thân hoại mạng chung sanh trong thiên thượng, nhơn gian. Bằng
thiên nhãn thanh tịnh như vậy, Ngài quán sát thấy sự sống,
chết của chúng sanh tùy theo nghiệp mà chúng đã làm. Đó
gọi là, vào lúc nửa đêm, Bồ-tát đạt được minh thứ
hai này, vô minh hết, minh phát sanh, bóng tối hết, ánh sáng
xuất hiện. Tức là trí thiên nhãn nhìn thấy chúng sanh. Tại
sao vậy? Vì nhờ tinh tấn, không phóng dật.
Lại
với tâm định tĩnh của tam-muội, thanh tịnh không tỳ vết,
không kết sử, các cấu bẩn đã sạch, được sử dụng nhuần
nhuyễn, an trụ kiên cố, Bồ-tát đạt được lậu tận trí
hiện tiền. Với tâm duyên trí lậu tận, Ngài biết như thật
rằng, «Đây là khổ», «Đây là tập», «Đây là khổ diệt»,
«Đây là con đường đưa đến khổ diệt.» Do Bồ-tát biết
như vậy, quán như vậy, tâm giải thoát khỏi dục lậu, tâm
giải thoát khỏi hữu lậu, tâm giải thoát khỏi vô minh lậu.
Đã giải thoát, biết rõ là đã giải thoát, biết rằng, sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc làm đã xong, không
còn tái sanh nữa. Đó là, vào lúc cuối đêm, Bồ-tát đạt
được minh thứ ba này, vô minh diệt, minh phát sanh, bóng tối
hết, ánh sáng phát sanh. Đó là trí lậu tận. Tại sao? Vì
nhờ Như lai, Chí chơn, Đẳng chánh giác, phát khởi trí này,
đạt được vô ngại giải thoát.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn ở chỗ này đoạn tận tất cả các lậu,
trừ tất cả kết sử. Dưới bóng cây Bồ-đề, ngồi kết
già bảy ngày, bất động, hưởng thọ an lạc của giải thoát.
v.
Hai người khách thương
Qua
bảy ngày, Thế Tôn xuất khỏi định tâm. Trong bảy ngày chưa
ăn thứ gì. Bấy giờ, có hai anh em lái buôn, một người tên
là Trảo, một người tên là Ưu-ba-ly,[39] điều khiển năm
trăm chiếc xe chở tài bảo đi ngang qua cách cây Bồ-đề không
xa. Bấy giờ có vị thần cây chí tín đối với đức Phật,
là tri thức quen biết từ lâu đối với hai khách buôn này.
Muốn khiến cho hai người khách buôn được Phật độ, ông
đến chỗ hai người, nói:
«Các
ông biết chăng? Đức Thích-ca Văn[40] Phật, Như Lai, Đẳng
chánh giác, trong bảy ngày đã thành tựu tất cả các pháp.
Trong bảy ngày ấy cũng chưa ăn thứ gì. Các ông có thể đem
mật ong, cơm khô phụng hiến Như lai, để các ông được
lợi ích, an ổn, khoái lạc lâu dài.»
Hai
anh em người lái buôn nghe vị thần cây nói như vậy, hoan
hỷ; liền đem mật ong và cơm khô[41] đến cây Bồ-đề để
phụng hiến. Từ xa trông thấy đức Như Lai tướng mạo khác
thường, các căn tịch định, với sự điều phục tối thượng,
như con voi được điều phục thuần thục không còn hung hăng,
như nước được lóng trong không có bụi nhơ. Thấy vậy,
họ phát tâm hoan hỷ đối với đức Như Lai. Họ đến trước
đức Như Lai, đảnh lễ rồi, đứng qua một bên, hai người
lái buôn bạch đức Thế Tôn:
«Chúng
con xin phụng hiến mật ong và cơm khô. Ngài thương xót thâu
nhận cho.»
Đức
Thế Tôn lại nghĩ như vầy: «Mật ong và cơm khô do hai người
này dâng cúng; lấy thứ gì đựng đây?» Đức Thế Tôn lại
nghĩ tiếp: «Quá khứ, [782a1] chư Phật Như Lai, Chí chơn, Đẳng
chánh giác, dùng vật gì để đựng thức ăn? Chư Phật Thế
Tôn không dùng tay để nhận thức ăn.» Bấy giờ, Tứ Thiên
vương đứng hai bên, biết đức Phật nghĩ như vậy, liền
đến bốn phương, mỗi vị lấy một bình bát bằng đá đem
đến dâng lên đức Thế Tôn và bạch rằng:
«Cúi
xin Ngài lấy bình bát này để nhận mật ong và cơm khô của
người lái buôn.»
Bấy
giờ, đức Thế Tôn với lòng từ mẫn, liền nhận bốn chiếc
bát của Tứ Thiên vương, rồi hiệp lại thành một cái để
nhận mật ong và cơm khô của người lái buôn. Nhận thức
ăn bằng lương khô trộn với mật của người lái buôn rồi,
nhơn cơ hội này đức Phật khai hóa họ bằng lời chú nguyện
rằng:
Ai
sở hành bố thí
Chắc
chắn được lợi ích
Ai
vì lạc bố thí,
Sau
tất được an lạc.
«Này
Thương khách, nay các người hãy quy y Phật, quy y Pháp.»
Hai
người lái buôn liền nhận lời dạy của đức Phật thưa:
«Bạch
đại đức! Nay con xin quy y Phật, quy y Pháp.»
Đó
là, trong những người Ưu-bà-tắc đầu tiên nhận lãnh hai
quy y, chính là hai anh em người lái buôn này.
Bấy
giờ, hai người lái buôn bạch với đức Phật rằng:
«Nay
chúng con muốn về lại quê nhà. Nếu khi về đến nơi rồi,
muốn làm phước thì làm thế nào? Muốn lễ kính cúng dường
thì lễ kính cái gì?»
Đức
Thế Tôn biết ý muốn của họ, Ngài liền đem móng tay và
tóc cho và nói rằng:
«Các
ngươi đem vật này về đó, làm phước, lễ bái, cung kính
cúng dường.»
Bấy
giờ, hai người lái buôn tuy nhận tóc và móng tay, nhưng không
thể chí tâm cúng dường vì nghĩ rằng: «Tóc và móng tay là
những vật mà người đời coi rẻ, vất bỏ. Sao đức Thế
Tôn lại bảo chúng ta cúng dường!»
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn biết trong tâm của người lái buôn nghĩ
như vậy, nên Ngài liền nói với hai người lái buôn:
«Các
ngươi chớ nên có tâm niệm coi thường tóc và móng tay của
Như Lai như thế, cũng đừng nói, tại sao vật người đời
vất bỏ mà Như Lai bảo chúng ta cúng dường. Các người nên
biết, khắp cả thế giới bao gồm cả Ma chúng, Phạm chúng,
sa-môn, bà-la-môn chúng, trời và người, đối với tóc cũng
như móng tay của Như Lai đều cung kính cúng dường, khiến
cho tất cả bao gồm cả Ma chúng, Phạm chúng, sa-môn, bà-la-môn
chúng, đều được công đức không thể kể xiết.»
Người
lái buôn bạch Phật:
«Sự
cúng dường tóc và móng tay này có những chứng nghiệm gì?»
Đức Phật dạy người lái buôn:
vi.
Nhân duyên quá khứ
«Này
khách thương, thuở quá khứ xa xưa, có một nhà Vua tên là
Thắng Oán, thống lãnh cõi Diêm-phù-đề. Lúc bấy giờ, trong
cõi Diêm-phù-đề, lúa gạo đầy đủ, nhơn dân hưng thạnh,
cuộc sống rất là vui sướng. Cõi nước có tám mươi bốn
ngàn thành quách, năm mươi lăm ức thôn xóm, sáu vạn quốc
thổ nhỏ. Cung thành Vua Thắng Oán ở tên là Liên hoa, từ
đông sang tây mười hai do-tuần, từ nam qua bắc bảy do-tuần.
Đất đai phì nhiêu, lúa gạo đầy đủ, nhơn dân hưng thạnh,
cõi nước an lạc, vườn rừng sum sê, thành quách kiên cố,
ao nước mát mẻ, mọi thứ đầy đủ, đường sá hanh thông.
«Khách
thương, các ngươi nên biết, bấy giờ Vua Thắng Oán có người
bà-la-môn làm đại thần tên là Sư[42]-diêm-phù-bà-đề. Người
này, lúc Vua còn bé nhỏ, cùng nhau vui đùa rất thân hậu.
Sau khi làm đại thần, nhà Vua chia cho phân nửa nước. Vị
đại thần nhận được phân nửa nước rồi, liền xây dựng
thành quách cho quốc gia mình từ đông sang tây dài mười hai
do tuần, từ nam đến bắc rộng bảy do tuần, lúa gạo dư
dật, nhơn dân hưng thạnh, quốc độ an lạc, vườn rừng
sum sê, thành quách kiên cố, nước ao mát mẻ, mọi thứ đầy
đủ, đường sá hanh thông. Đô thành tên là Đề-bà-bạt-đề,
đẹp đẽ hơn đô thành Liên hoa.
«Khách
thương nên biết, Vua không có người kế thừa, nên đi đến
các miếu thờ thần, các thần suối, thần sông, thần núi,
thần hà thủy, thần ao hồ, mãn thiện thần, bảo thiện thần,
mặt trời, mặt trăng, Đế Thích, Phạm thiên, hỏa thần,
phong thần, thủy thần, Ma-hê-thủ-la thần, thần vườn, thần
rừng, thần chợ, thần ngả tư, thần thành, quỉ tử mẫu,
miểu thờ Trời, miểu thờ phước thần, đều cầu khẩu,
cho được sanh con trai. Sau đó, đệ nhất phu nhân có thai.
Người phụ nữ có ba thứ trí tuệ như thật không hư dối:
một là biết mình có thai, hai là biết từ đâu có thai, ba
là biết đàn ông có ái dục đối với mình. Bấy giờ phu
nhân đến thưa với nhà Vua rằng: ‹Thưa đại vương, tôi
vừa có thai.› Nhà Vua nói: ‹Tốt lắm, tốt lắm!› Vua liền
ra lệnh cho các quan tả hữu cung cấp cung phụng nhiều thức
ăn, y phục, ngọa cụ, tất cả những nhu cầu cho phu nhơn
đều là những thứ tốt nhất. Mười tháng trôi qua, phu nhơn
hạ sanh một hài nhi nam, xinh đẹp cực kỳ, hy hữu trong đời.
Vừa mới sanh, không ai đỡ mà hài nhi tự mình đứng dậy,
đi bảy bước và nói: ‹Trong thiên thượng thế gian, tôi
là bậc tối tôn tối thắng. Tôi sẽ độ tất cả chúng sanh
khỏi khổ sanh-lão-bệnh-tử.› Tức thì được hiệu là Định
Quang Bồ-tát.
«Khách
thương nên biết, bấy giờ quốc vương liền đòi các thầy
tướng giỏi trong dòng bà-la-môn đến nói: ‹Các người nên
biết, phu nhân của ta vừa sanh ra, sanh một nam hài nhi, tướng
mạo xinh đẹp, hiếm có trên đời. Vừa mới sinh không ai
đỡ mà tự mình đứng dậy đi bảy bước và nói: ‹Trong
thiên thượng thế gian, tôi là bậc tối tôn tối thắng. Tôi
sẽ độ tất cả chúng sanh khỏi khổ sanh-lão-bệnh-tử.›
Các người rành nghề tướng số, xem tướng hài nhi cho ta.›
Các thầy tướng tâu nhà Vua rằng: ‹Xin Đại vương cho bồng
hài nhi ra để chúng tôi xem.› Nhà Vua liền đích thân vào
cung bồng hài nhi ra để cho các thầy tướng xem. Các thầy
tướng xem xong, tâu với Vua: ‹Đại vương sanh hài nhi này,
có đại thần lực, có đại phước công đức, sở nguyện
đều đầy đủ. Nếu Vương tử này ở tại gia sẽ là vua
Sát-lợi quán đảnh, làm vị Chuyển luân vương bảy báu đầy
đủ, thống lãnh bốn thiên hạ, có ngàn người con, dũng kiện,
hùng mãnh, có thể đánh bại các địch thủ, dùng pháp trị
mà không cần đến đao trượng. Nếu xuất gia, thì sẽ thành
Như lai, Chí chơn, Đẳng chánh giác, Minh hạnh túc, bậc Thiện
Thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu,
Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn. Ở giữa các chúng hội của
chư thiên và loài người, giữa các chúng Ma thiên, Phạm thiên,
bà-la-môn, Ngài tự thân tác chứng, tự thành tựu rồi nói
pháp; pháp ấy thượng-trung-hạ đều thiện, có nghĩa có vị,
với phạm hạnh được hiển hiện.›
«Khách
thương nên biết, bấy giờ Vua khen thưởng cho bà-la-môn rồi,
sai bốn bà vú nuôi, bồng ẵm, chăm sóc Bồ-tát Định Quang.
Bà thứ nhất bồng ẵm, bà thứ hai tắm rửa, bà thứ ba cho
bú, bà thứ tư dẫn đi chơi. Bà vú bồng ẵm có phận sự
bồng ẵm, xoa bóp, khiến cho tất cả bộ phận trong cơ thể
đều được ngay thẳng. Bà vú tắm rửa có phận sự tắm
rửa, giặt giũ áo quần. Bà vú cho bú có phận sự tùy thời
cho bú. Bà vú dẫn đi chơi có bổn phận cùng các công tử
tập cỡi voi, cỡi ngựa, cỡi xe, đi kiệu và các thứ tạp
bảo, nhạc khí, các loại máy móc. Với tất cả các thứ
đầy đủ như vậy để phục vụ cho Bồ-tát Định Quang vui
chơi. Mỗi khi đi, có người cầm lọng báu hình con công đi
theo.
«Khách
thương nên biết, Bồ-tát Định Quang khi vừa tám tuổi, mười
tuổi, được dạy các thứ kỹ thuật, kinh sách, toán số,
ấn, họa, ca vũ, trống, đàn, cách cỡi ngựa, cỡi voi, cỡi
xe, bắn cung, giác đấu. Tất cả các kỹ thuật, không một
thứ nào Bồ-tát không tinh luyện.
«Khách
thương nên biết, khi Định Quang tuổi được mười lăm, mười
sáu, Vua liền cho xây cất ba cung điện mùa, cho đông, hạ
và xuân; cấp hai vạn thế nữ để vui chơi. Tạo vườn ao
dọc ngang mười hai do tuần. Tất cả loại cây hoa, cây ăn
trái, cây tỏa hương, tất cả cây kì lạ toàn cõi Diêm-phù-đề
đều đem về trồng nơi vườn đó.
«Khách
thương nên biết, vị trời Thủ-đà-hội[43] hằng ngày đến
hầu hạ, hộ vệ. Vị trời ấy nghĩ: ‹Nay Bồ-tát ở tại
gia đã lâu rồi, ta nên làm cho Bồ-tát sinh yếm [783a1] ly.
Bồ tát sau khi đã yếm ly, sẽ sớm xuất gia, cạo bỏ râu
tóc khoác áo ca-sa, tu đạo vô thượng.› Chờ khi Bồ-tát
vào phía sau vườn, vị trời liền hóa thành bốn người,
một người già, một người bệnh, một người chết và một
người sa-môn xuất gia. Bồ-tát thấy bốn người như vậy
rồi, lòng sanh ưu sầu, nhàm chán sự khổ của cuộc đời:
‹Xem đời như vậy rồi, có gì để tham luyến?›
«Khách
thương nên biết, Bồ-tát nhàm chán rồi, ngay ngày ấy xuất
gia, nội nhật thành đạo vô thượng.
«Khách
thương nên biết, Đức Như Lai Định Quang, Chí nhơn, Chánh
đẳng chánh giác, quan sát khắp tất cả chưa có người nào
thích hợp, để vì họ chuyển Pháp luân vô thượng hóa độ.
Bấy giờ, cách thành Đề-bà-bạt-đề không xa, Định Quang
Như Lai hóa làm một thành lớn, cao rộng, tốt đẹp, treo tràng
phan bảo cái, khắp nơi chạm trổ hình tượng các loài chim
hay các loài thú; ao hồ; vườn cây trái; trong sạch nhiệm
màu hơn hẳn thành Đề-bà-bạt-đề. Như Lai hóa làm dân,
tướng mạo hình sắc cũng hơn nhơn dân của nước kia, khiến
nhơn dân của nước mình cùng nhau tới lui giao tiếp thân hữu.
«Khách
thương nên biết, Đức Định Quang Như Lai quán sát nhơn dân
trong thành Đề-bà-bạt-đề, thấy các căn đã thuần thục,
liền khiến cái thành hóa bỗng nhiên phát hỏa. Nhân dân trong
thành Đề-bà-bạt-đề thấy sự việc như vậy lòng ôm sầu
ưu, sanh tâm yểm ly. Đức Như Lai Định Quang trong bảy ngày
độ sáu mươi sáu na-do tha người, năm mươi lăm ức Thanh
văn.
«Khách
thương nên biết, bấy giờ đức Như Lai Định Quang nổi tiếng
vang lừng, giáp khắp mười phương, mọi người đều nghe
biết. Tất cả đều xưng tụng rằng, ‹Định Quang Như Lai,
là bậc Chí chơn, Đẳng chánh giác, Minh hạnh túc, Thiện Thệ,
Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên
nhơn sư, Phật, Thế Tôn. Ngài, ở giữa tất cả thế giới,
bao gồm Ma, hoặc Ma thiên, Phạm chúng, sa-môn, bà-la-môn, trời
và người, đã tự thân tác chứng, và an trú, rồi thuyết
pháp cho người; pháp ấy, khoảng đầu, chặng giữa và đoạn
sau thảy đều thiện, có nghĩa có vị, với phạm hạnh được
hiển hiện.›
«Khách
thương nên biết, Đức Định Quang Như Lai, bình thường, từ
thân phát ra ánh sáng chiếu trăm do-tuần. Theo thường pháp
của chư Phật Thế Tôn, ánh sáng chiếu vô lượng, khi nhiếp
thu ánh sáng lại thì ánh sáng còn bảy thước.
«Khách
thương nên biết, khi Vua Thắng Oán nghe trong cung của Vua Đề-diêm-bà-đề
sanh một Thái tử, phước đức oai thần, các tướng đầy
đủ, ngay trong ngày xuất gia liền thành bậc Vô thượng Chánh
chơn, Đẳng chánh giác, tiếng đồn vang khắp, mọi người
đều xưng tụng, ‹Đức Như Lai Định Quang là bậc Chí chơn,
Đẳng chánh giác... cho đến phạm hạnh được hiển hiện.›
Vua Thắng Oán liền sai sứ đến nơi Vua Đề-diêm-bà-đề
nói: ‹Ta biết khanh sanh Thái tử phước đức oai thần, đầy
đủ các tướng, ngay trong ngày xuất gia liền thành đạo quả...
cho đến phạm hạnh hiển hiện, danh xưng vang lừng, đồn
khắp mười phương. Nay ta muốn được xem Thái tử. Nếu khanh
không cho Thái tử đến thì ta sẽ tự thân đến đó.› Bấy
giờ, vua Đề-diêm-bà-đề nghe như vậy, ôm lòng sầu ưu,
tập trung quần thần bàn thảo: ‹Các ngươi hãy suy nghĩ,
chúng ta nên trả lời như thế nào? Và làm thế nào để vừa
ý Vua kia?› Quần thần đề nghị: ‹Nên đến hỏi Như Lai
Định Quang. Tùy theo lời Phật dạy thế nào thì chúng ta làm
thế ấy.›
«Bấy
giờ Vua Đề-diêm-bà-đề cùng các quần thần đến chỗ Phật
Định Quang, đảnh lễ sát chân, đem nhơn duyên này bạch đầy
đủ lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn bảo Vua: ‹Vua thôi
chớ sầu ưu. Ta sẽ tự thân đến đó.›
«Khách
thương nên biết, bấy giờ, Vua Đề-diêm-bà-đề tại quốc
nội suốt bảy ngày cúng dường y phục, ẩm thực, giường
nằm, ngọa cụ, thuốc chữa bệnh cho đức Như Lai Định Quang
và Tăng tỳ-kheo, không thiếu một thứ gì.
«Khách
thương nên biết, Đức Như Lai Định Quang sau bảy ngày cùng
các tỳ-kheo du hành trong nhơn gian, đến bên ao của Long vương
Dược Sơn.
«Khách
thương nên biết, cung của Long vương này, dọc ngang năm trăm
do tuần. Định Quang Như Lai và Tăng tỳ-kheo trụ nơi núi kia.
Bấy giờ, Định Quang Như Lai phóng đại quang minh khắp soi
ba ngàn đại thiên cõi nước, sáng chói không phân biệt ngày
đêm. Khi các loại hoa, như hoa ưu-bát, bát-đẩu-ma, cưu-vật-đẩu,
phân-đà-lợi, đều búp lại; và khi các loài chim không hót,
thì biết đó là đêm. Khi các loài hoa như hoa ưu-bát v.v...
nở và các loài chim hót, biết đó là ngày. Như vậy trải
qua mười hai năm, không phân biệt được ban ngày ban đêm.
Bấy giờ, Vua Thắng Oán liền tập hợp các đại thần nói:
‹Ta nhớ xưa kia có ngày có đêm. Sao nay không có ngày, không
có đêm. Khi các loài hoa ưu-bát nở, và các loài chim hót thì
biết là ngày. Nếu hoa búp, chim không kêu, biết là đêm. Vì
ta có làm điều gì lầm lỗi hay trong thế gian này có điều
phi pháp, hoặc là các khanh có điều gì tội lỗi chăng? Các
người cứ thành thật cho ta biết.› Chư thần tâu: ‹Vua
cũng không có điều gì lầm lỗi. Nước cũng không có điều
chi phi pháp. Chúng tôi cũng không có điều chi tội lỗi. Mà
hiện nay Định Quang Như Lai ở trên núi Ha-lê-đà, bên cung
Long vương, phóng đại hào quang, khắp soi ba ngàn đại thiên
cõi nước. Do oai thần đó, khiến ngày đêm không phân biệt
được. Muốn biết ngày đêm phải dựa vào hoa búp, chim không
kêu là đêm; hoa nở, chim kêu là ngày. Vua không có lầm lỗi.
Nước không có phi pháp. Chúng tôi cũng không có tội lỗi
gì. Đây là oai thần của Định Quang Như Lai. Chúng ta không
nên lo sợ.› Vua hỏi chư thần tả hữu:
“-
Cung Long vương, núi Ha-lê-đà, cách đây xa gần?
Chư
thần tâu:
“-
Cách đây không xa, độ chừng ba mươi lí thôi.
«Vua
truyền lệnh cho các quan tả hữu nghiêm chỉnh cỗ xe có gắn
lông chim, nói:
“-
Nay ta muốn đến đó để lễ bái Định Quang Như Lai.
«Các
quan tả hữu tuân lệnh, liền nghiêm chỉnh cỗ xe có gắn
lông chim, rồi đến tâu với nhà Vua:
“-
Xa giá đã chuẩn bị xong. Tâu đại vương biết cho.
«Khách
thương nên biết, Vua liền lên xe. Quần thần thị tùng, cùng
đến cung Long vương trên núi Ha-lê-đà. Đoàn xe đi đến chỗ
xe không đi được, Vua và đoàn tùy tùng xuống đi bộ đến
cung Long vương.
«Khách
thương nên biết, bấy giờ, Vua từ xa trông thấy Định Quang
Như Lai tướng mạo đoan chánh, các căn tịch định. Thấy
vậy Vua phát tâm hoan hỷ, liền đến trước đức Phật Định
Quang, đảnh lễ sát chân Ngài, rồi ngồi qua một bên. Đức
Thế Tôn tuần tự vì nhà Vua nói pháp vi diệu khuyến hóa,
khiến hoan hỷ. Nhà Vua nghe Phật nói diệu pháp khuyến hóa
hoan hỷ rồi, bạch Phật:
“-
Nay đã đúng lúc, cung thỉnh đức Như Lai vào thành Liên Hoa.
«Định
Quang Như Lai im lặng nhận lời Vua cung thỉnh. Vua Thắng Oán
biết đức Phật nhận lời mời bằng cách im lặng rồi, bèn
từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ sát chân Phật và cáo
lui.
«Trở
về lại quốc nội, ra lệnh cho nhân dân:
“-
Các ngươi, đào đất đắp đường thật kiên cố, từ thành
Liên hoa đến Dược sơn, hãy đào đất ngập đầu gối, rồi
lấy chày nện cho chặt cứng. Dùng nước thơm rưới trên
đất. Hai bên đường, trồng các loại cây hoa. Lề đường
làm lan can. Đốt đèn dầu tốt để lên trên. Làm lò hương
bằng bốn món báu, là kim, ngân, lưu ly, pha lê.
«Nhân
dân nhận lệnh của Vua như trên. Rồi Vua liền tập hợp các
đại thần bảo:
“-
Các khanh phải trang hoàng đại thành Liên hoa này. Dọn dẹp
tất cả các rác rưới, đất cát, sỏi đá bẩn nhớp. Dùng
bùn đất tốt mịn trét lên trên mặt đất. Treo tràng phan,
bảo cái. Xông các loại hương đặc biệt. Dùng các loại
nệm dệt bằng lông để trải. Dùng các loại hoa tốt rải
trên mặt đất.
«Quần
thần vâng lệnh Vua mà trang trí. Vua Thắng Oán lại bảo các
đại thần:
«Nhân
dân trong quốc độ, cấm không cho người bán hương hoa. Nếu
có người nào bán thì không được mua. Ai mua bán [784a1] sẽ
bị trừng phạt. Tại sao vậy? Vì Trẫm muốn cúng dường
Định Quang Như lai, Chí chơn, Đẳng chánh giác.
«Bấy
giờ, có vị đại thần bà-la-môn tên là Tự Thí, có nhiều
tài bảo chơn châu, hổ phách, xa cừ, mã não, thủy tinh, kim,
ngân, lưu ly, trân kỳ dị bảo, không thể kể xiết. Bà-la-môn
kia trong mười hai năm tế tự, cầu rằng, ‹Trong nhơn gian,
nếu có người nào có nhiều trí tuệ đệ nhất, ta sẽ đem
cho bình bát bằng vàng đựng đầy thóc lúa bằng bạc; hoặc
bát bằng bạc đựng đầy thóc lúa bằng vàng; và cả cái
âu rửa cũng bằng vàng; bảo cái, guốc dép tốt đẹp lạ
thường; còn hai tấm thảm đẹp, các loại tạp bảo làm song
giường, luôn cả một cô gái trang nghiêm xinh đẹp tên là
Tô-la-bà-đề; tất cả để biếu tặng cho vị ấy.›
«Lúc
ấy, trong chúng hội tế tự, có một đại bà-la-môn đệ
nhất thượng tọa, là đại thần của nhà Vua, có mười hai
tướng xấu xí: chột, gù, gầy, bướu cổ, da vàng đầu vàng,
mắt xanh, răng lưỡi cưa, răng đen, tay chân khèo, thân cong,
lùn, lòi xương đầu gối.
«Khách
thương nên biết, bà-la-môn Tự Thí kia nghĩ rằng: ‹Nay, trên
chỗ ngồi cao nhất này, người ngồi có mười hai cái xấu,
là đại thần của Vua, làm thế nào dùng những vật quý báu
và người nữ của ta trao cho người ấy được? Ta hãy kéo
dài ngày tế tự để thật sự có người bà-la-môn thông
minh trí tuệ, dung mạo đẹp đẽ, ta sẽ dâng cho.›
«Khách
thương nên biết, phía nam Tuyết sơn có một Tiên nhơn, tên
là Trân Bảo, thiểu dục, ưa nhàn tịnh, không có lòng tham,
tu tập thiền định, đặng năm thần thông, dạy năm trăm
phạm chí khiến cho tụng tập. Tiên nhơn năm thần thông có
một người đệ tử, tên là Di Khước, cha mẹ chơn chánh,
bảy đời thanh tịnh, cũng lại dạy cho năm trăm đệ tử.
«Khách
thương nên biết, bấy giờ, đệ tử Di Khước đến chỗ
Trân Bảo Tiên nhơn thưa: ‹Nay học vấn của con đã xong.
Nên học thêm thứ gì?› Trân Bảo Tiên nhơn liền trước
tác kinh thơ, mà tất cả bà-la-môn không có. Trước tác xong,
bảo đệ tử rằng: ‹Người có thể học tập tụng đọc
sách này. Sách này, các bà-la-môn không có. Học tập đọc
tụng xong, đối với các bà-la-môn, ngươi có thể là đệ
nhất tối thắng.›
«Khách
thương nên biết, bấy giờ người đệ tử kia liền học
tập sách ấy một cách thông suốt. Học xong, đến chỗ Trân
Bảo Tiên nhơn thưa: ‹Con học xong sách này rồi. Còn học
thứ gì nữa?› Vị thầy nói:
“-
Nếu, ngươi học xong sách ấy rồi, thì phàm người đệ tử
nên trả ơn thầy. Nay, con nên trả ơn!
«Người
đệ tử thưa:
“-
Con phải trả ơn thầy bằng cách nào?
«Vị
thầy nói:
“-
Cần có năm trăm đồng tiền vàng.
«Di
Khước nghe thầy nói rồi, liền dẫn năm trăm đệ tử đến
phía nam Tuyết sơn, du hành trong nhân gian. Từ nước này đến
nước kia; từ thôn kia đến thôn nọ; lần hồi, đến thành
Liên hoa. Nghe mọi người nói: ‹Bà-la-môn Da-nhã-đạt,[44]
trong mười hai năm tế tự thiên thần, khấn rằng, nếu có
người thông minh đệ nhất, sẽ dùng bình bát bằng vàng đựng
thóc lúa bằng bạc, bát bằng bạc đựng thóc lúa bằng vàng,
bình rửa bằng vàng, bảo cái tốt, nệm rất tốt, các đồ
dùng bằng bảy báu trang nghiêm và Tô-la-bà-đề người nữ
đoan chánh đẹp đẽ để hiến dâng.› Bèn nghĩ, ‹Nay ta
hãy vào trong chúng kia, hoặc giả có thể được năm trăm
đồng tiền vàng.›
«Khách
thương nên biết, Di Khước liền vào trong tế đàn. Ngay khi
vừa mới vào, có đại oai thần, sáng chói. Bấy giờ, bà-la-môn
Da-nhã-đạt nghĩ rằng: ‹Người này vào tế đàn, mà có
đại oai thần, chói sáng. Nay, ta nên dời vị Thượng tọa
kia đi, để lấy chỗ cho Ma-nạp này ngồi. Nếu, Ma-nạp này
ngồi nơi chỗ Thượng tọa rồi, các người sẽ cùng ta cao
giọng xưng hô: Lành thay! rồi trổi nhạc, rải hoa, đốt hương,
cung kính lễ bái.› Bấy giờ, mọi người đều vâng lời,
nói:
“-
Nên như vậy. Chúng tôi sẽ theo lờ dạy mà làm.
«Bấy
giờ, khi Ma-nạp Di Khước vào trong chúng kia rồi, bèn đứng
dưới mà hỏi bên trên:
“-
Các ông tụng những thứ kinh gì? Tụng được bao nhiêu thứ?
Tụng nhiều ít?
«Trả
lời:
“-
Tôi tụng được những kinh như vậy; chừng ấy.
«So
sánh, những kinh Ma-nạp tụng được nhiều gấp trăm vạn
ức lần, không thể so sánh được. Ma-nạp lại hỏi hai, ba
người cho đến trăm ngàn người: ‹Các ông tụng những thứ
kinh gì? Tụng được bao nhiêu thứ? Tụng nhiều ít?› Họ
trả lời: ‹Chúng tôi tụng được những thứ kinh đó; chừng
ấy.› So sánh, những kinh Ma-nạp tụng được nhiều gấp
trăm vạn ức lần, không thể so sánh được. Kế đến hỏi
vị thượng tọa đệ nhất: ‹Ngài biết được những thứ
kinh gì? Tụng được những thứ kinh gì?› Vị ấy trả lời,
‹Tôi tụng đọc như vậy; chừng ấy.› Ma-nạp Di Khước
lại cũng vượt hơn vị này.
«Bấy
giờ, Ma-nạp Di Khước nói:
“-
Những thứ kinh mà tôi tụng được nhiều hơn ngài!
Ma-nạp
nói tiếp,
“-
Ngài nên nhường tòa cho tôi ngồi!
«Vị
Thượng tọa nói:
“-
Nếu ngài không bảo tôi dời chỗ, thì những vật cúng dường
và kim bảo tôi thu được ở đây sẽ chia cho ngài.
«Ma-nạp
Di Khước trả lời:
“-
Dù cho tôi bảy báu đầy cõi Diêm-phù-đề, tôi cũng không
nhận. Chỉ có việc là ông dời đi chỗ khác. Tại sao vậy?
Vì tôi có pháp này, phải ngồi vào chỗ ngồi này.
«Khách
thương nên biết, bấy giờ Ma-nạp Di Khước dời vị Thượng
tọa ấy đi, rồi ngồi lên chỗ đó. Khi Ma-nạp Di Khước
ngồi lên tòa, tức thì đất rung động sáu cách, liền có
tiếng xưng hô lớn: Lành thay! và âm nhạc trổi, hương hoa
cúng dường.
«Khách
thương nên biết, Da-nhã-đạt rất hoan hỷ, vui mừng vô lượng;
dùng bát bằng vàng, đựng thóc lúa bằng bạc; bát bằng bạc
đựng thóc lúa bằng vàng, bảo cái bằng vàng bảy báu trang
nghiêm; âu rửa cũng bằng vàng bạc rất là đẹp đẽ; nệm
bằng lông tốt kỳ lạ để trang trí và dẫn người nữ trang
nghiêm xinh đẹp đến trước Ma-nạp Di Khước thưa:
“-
Cúi xin ngài thọ nhận các bảo vật này và, người nữ trang
nghiêm xinh đẹp này.
«Di
Khước trả lời:
“-
Tôi không cần những thứ đó.
«Da-nhã-đạt
liền hỏi:
“-
Vậy, ngài cần thứ gì?
«Trả
lời:
“-
Tôi cần năm trăm đồng tiền vàng.
«Da-nhã-đạt
liền đem năm trăm đồng tiền vàng đến trao.
«Khách
thương nên biết, bấy giờ, Ma-nạp Di Khước nhận năm trăm
đồng tiền vàng rồi, từ chỗ ngồi đứng dậy cáo lui. Bấy
giờ, người nữ Tô-la-bà-đề cũng đi theo. Ma-nạp Di khước
quay lại nói:
“-
Tại sao cô đi theo tôi?
«Người
nữ trả lời:
“-
Cha mẹ em bảo em đi theo anh để làm vợ.
«Ma-nạp
Di Khước dứt khóat nói:
“-
Tôi tu phạm hạnh đâu cần đến cô. Ai có ái dục thì mới
cần đến cô. Người nữ kia đành phải trở về, vào trong
vườn của cha. Trong vườn có cái ao tắm trong sạch. Trong
ao có bảy cành bông sen. Năm bông cùng với một cành, mùi
thơm ngào ngạt màu sắc đặc biệt. Lại có hai bông cùng
với một cành, hương sắc thù diệu. Thấy vậy người nữ
nghĩ, ‹Ta thấy hoa sen này thật là vi diệu tuyệt hảo. Nay
ta nên hái hoa này để tặng cho Ma-nạp Di Khước, khiến cho
người được vui thích.› Nghĩ xong liền hái hoa, cắm vào
trong bình nước, ra khỏi vườn, đi khắp nơi tìm Ma-nạp Di
Khước.
«Bấy
giờ, Ma-nạp Di Khước trở lại đại quốc Bát-ma,[45] thấy
nhân dân trong nước quét dọn đường sá, trừ bỏ tất cả
các thứ dơ bẩn, tu bổ sửa chữa bằng phẳng, dùng hoa trải
trên đất, rưới nước hương, treo tràng phang bảo cái, trải
đệm dệt bằng lông... Thấy vậy, Di Khước liền hỏi người
trong thành:
“-
Nay, trong thành tu bổ trang trí đẹp đẽ như thế này là để
phục vụ cho ngày tiết hội hay là dùng vào ngày tinh tú tốt?
«Người
trong thành trả lời:
“-
Phật Định Quang sẽ đến thành này, cho nên mới trang trí
đẹp đẽ như thế...
«Ma-nạp
Di Khước tâm niệm: ‹Nay ta nên dùng năm trăm đồng tiền
vàng này để mua tràng hoa tốt đẹp, hương thơm, kỹ nhạc
đặc biệt tràng phan bảo cái quý báu, trước là để cúng
dường Định Quang Như Lai, sau sẽ vì thầy cầu tài.› Di
Khước liền đi khắp nước Bát-ma [785a1] để mua mà không
có. Tại sao vậy? Vì Vua Thắng Oán đã ra lịnh cấm việc
mua bán.
«Bấy
giờ, người nữ Tô-la-bà-đề, từ xa thấy Ma-nạp Di Khước
đến liền hỏi:
“-
Này người Niên thiếu,[46] vì sao bước đi vội vã như thế?
Anh cần gì? Ma-nạp Di Khước trả lời:
“-
Tôi cần hoa tốt. Người nữ hỏi:
“-
Anh dùng hoa làm gì? Đáp rằng:
“-
Tôi muốn cắm rễ vô thượng để làm hạt giống Phật.
«Người
nữ hỏi:
“-
Hoa này đã khô héo rồi, màu sắc đã biến đổi, không thể
trồng lại được, làm sao có thể dùng nó để cắm rễ vô
thượng làm hạt giống Phật?
«Ma-nạp
nói với người nữ:
“-
Ruộng này rất tốt phì nhiêu. Dù cho hoa này đã khô héo,
biến sắc, hạt giống bị hư nát, vẵn có thể sống lại.
«Người
nữ liền nói:
“-
Vậy ông có thể lấy hoa này để cắm rễ vô thượng để
làm hạt giống Phật đi!
«Ma-nạp
hỏi:
“-
Cô bán với giá bao nhiêu, tôi sẽ lấy cho?
«Người
nữ liền nói:
“-
Tiếc gì tài vật của tôi? Cha tôi tên là Da-nhã-đạt, tài
bảo rất nhiều. Ma-nạp muốn mua hoa này chỉ cần cùng tôi
thề ước, là bất cứ sanh ở nơi đâu, luôn luôn làm chồng
tôi. Ma-nạp đáp rằng:
“-
Tôi thật hành đạo Bồ-tát; tất cả không có gì thương
tiếc cả. Nếu có người xin, kể cả xương thịt, tôi cũng
không luyến tiếc. Chỉ trừ cha, mẹ. Nhưng chỉ sợ rằng
cô làm trở ngại cho tôi.
«Người
nữ nói.
“-
Chỗ nào Ông sinh ra, nơi đó tất có đại oai thần, tôi cũng
theo đó mà có oai thần. Muốn đem tôi để bố thí thì tùy
ý ông cứ bố thí.
«Bấy
giờ, Ma-nạp dùng năm trăm đồng tiền vàng mua năm cành hoa,
hai cành còn lại, người nữ trao cho Ma-nạp Di Khước và nói:
“-
Đây là hoa của tôi gởi cho ông, để dâng cúng Định Quang
Như Lai. Tại sao vậy? Tôi nguyện cùng ông sanh bất cứ nơi
nào, thường không xa nhau.
«Khách
thương nên biết, bấy giờ Ma-nạp Di Khước được bảy cành
hoa sen này rồi, hết sức vui mừng, không thể kể xiết, liền
đến cửa đông thành. Vào lúc đó, số người nhiều không
tính hết, tất cả đều cầm hương hoa, tràng phan bảo cái,
trổi nhạc đợi rước Định Quang Như Lai. Ma- nạp Di Khước
muốn đến trước để rải hoa, mà không đến được, liền
trở lại hỏi Vua Thắng Oán rằng:
“-
Vì lý do nào mà Ngài tu sửa thành nội khang trang thế này?
Ngày tiết hội hay ngày tinh tú tốt?
«Nhà
Vua trả lời:
“-
Nay có Định Quang Như Lai đến nơi thành nầy nên mới trang
hoàng đẹp đẽ như vậy.
«Ma-nạp
hỏi Vua:
“-
Làm sao biết được ba mươi hai tướng của Như Lai?
«Nhà
Vua nói:
“-
Các sách sấm ký của bà-la-môn cho biết.
«Ma-nạp
thưa:
“-
Nếu thật như vậy thì tôi có tụng sách này sẽ chứng biết
được việc ấy.
«Nhà
Vua nói:
“-
Nếu ông có khả năng biết điều đó, thì ông đến trước
để xem có ba mươi hai tướng không, sau đó, tôi sẽ đến
diện kiến.
«Khách
thương nên biết, bấy giờ, Ma-nạp nghe Vua nói rồi, vui mừng
không xiết kể, liền đến bên ngoài cửa thành phía đông.
«Bấy
giờ, dân chúng thấy Ma-nạp đến thì vui mừng, đều tự
tránh đường cho Ma-nạp đi. Tại sao vậy? Vì vâng theo lệnh
của Vua.
«Khách
thương nên biết, Ma-nạp từ xa thấy đức Như Lai, trong tâm
hoan hỷ, liền dùng bảy cành hoa rải trên đức Phật Định
Quang Như Lai. Do oai thần của Phật, từ trên hư không hoa kia
biến thành bảo cái bằng hoa, rộng mười hai do tuần, cành
bông ở phía trên, lá ở phía dưới, mùi thơm ngào ngạt,
che khắp nước kia, không chỗ nào không được che, nhìn không
biết chán. Đức Phật đi đến đâu bảo cái bằng hoa che
đến đó. Nhân dân nam nữ trong thành đều cởi áo mới của
mình, dùng để trải dưới đất.
«Bấy
giờ, Ma-nạp mặc hai chiếc áo bằng da nai, liền cởi một
cái trải dưới đất. Nhân dân trong thành lấy chiếc áo ấy
quăng đi. Ma-nạp tự nghĩ: ‹Định Quang Như Lai không thương
tưởng.› Định Quang Như Lai biết ý nghĩ ông kia, liền hóa
đất thành bùn, khiến cho không một người nào trải áo lên
trên được.
«Khách
thương nên biết, Ma-nạp lại nghĩ: Người trong thành ngu si,
không có sự phân biệt, chỗ nên trải lại không trải. Ma-nạp
liền lấy chiếc áo da nai trải vào chỗ bùn. Song không che
hết bùn.
«Khách
thương nên biết, tóc của Ma-nạp năm trăm năm thường búi
lại, chưa từng mở ra. Ma-nạp liền thưa hỏi đức Như Lai,
xem Thế Tôn có thể bước qua trên tóc của mình đi qua được
không? Được đức Thế Tôn thuận ý. Ma-nạp liền xổ đầu
tóc
ra, trải lên trên chỗ bùn, tâm phát nguyện: Nếu Định Quang
Như Lai không thọ ký riêng, thì ta ở chỗ bùn này dù hình
khô mạng chung, quyết không đứng dậy. Định Quang Như Lai
biết được lòng chí thành của Ma-nạp, đời trước có trồng
căn lành, các đức đầy đủ, nên Ngài dùng chân bên tả
bước qua trên tóc và nói:
“-
Ma-nạp, đứng dậy! Đời vị lai, vô số a-tăng-kỳ kiếp,
ngươi sẽ thành Phật, hiệu là Thích-ca Văn Như Lai, Chí nhơn,
Đẳng chánh giác, Minh hạnh túc, Thiện Thệ, Thế gian giải,
Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư , Phật,
Thế Tôn.
«Nghe
lời biệt ký rồi, Ma-nạp liền vụt bay lên không trung, cách
mặt đất bảy cây đa-la mà tóc vẫn còn trải nơi đất cũ.
«Khách
thương nên biết, bấy giờ, Định Quang Như Lai, Chí nhơn,
Đẳng chánh giác, xoay qua bên hữu, như con đại tượng vương,
bảo các tỳ-kheo: ‹Các ông chớ nên bước lên trên tóc của
Ma-nạp. Tại sao vậy? Đây là tóc của Bồ-tát. Tất cả Thanh
văn, Bích chi Phật đều không được bước lên trên.›
«Bấy
giờ, trăm ngàn vạn ức người, đều rải hoa đốt hương
cúng dường tóc kia. Người lái buôn nên biết, bấy giờ,
vị đại thần của Vua Thắng Oán, có mười hai tật xấu
ấy, nghe Định Quang Như Lai thọ ký cho Ma-nạp liền đến
nơi Vua Thắng Oán tâu: ‹Tôi có khả năng trong vòng hai vạn
năm cúng dường Định Quang Như Lai và chúng Tăng y phục, ẩm
thực, giường nằm, ngoạ cụ, thuốc chữa bệnh.› Vua nói
với bà-la-môn rằng: ‹Ý ông rất hay. Ông hãy biết thời.›
Bà-la-môn này, trong vòng hai vạn năm cúng dường Định Quang
Như Lai và chúng Tăng y phục, ẩm thực, giường nằm, ngoạ
cụ, thuốc chữa bệnh rồi phát nguyện: ‹Trong vòng hai vạn
năm tôi cúng dường Định Quang Như Lai và chúng Tăng y phục,
ẩm thực, giường nằm, ngoạ cụ, thuốc chữa bệnh. Song,
đối với Ma-nạp, người đã dời chỗ ngồi của tôi, đoạt
sự cúng dường của tôi, hủy báng danh dự của tôi; duyên
vào phước báo nhân duyên này, người này bất cứ sanh chỗ
nào, tôi luôn luôn hủy nhục kẻ ấy, cho đến khi y thành
đạo, cũng không xả ly.›
«Khách
thương nên biết, Bà-la-môn Da-nhã-đạt thuở ấy, đâu phải
ai khác, mà nay là Chấp Trượng Thích chủng.[47] Người nữ
Tô-ma-bà-đề, nay chính là Thích nữ Cù-di.[48] Đại thần
của Vua Thắng Oán, có mười hai tật xấu, Bà-la-môn ấy,
nay chính là thân của Đề-bà-đạt. Trân Bảo Tiên nhơn, đâu
phải ai khác mà là Bồ-tát Di-lặc. Ma-nạp Di Khước chính
là Ta vậy.
«Khách
thương nên biết, học đạo Bồ-tát, người có thể cúng
dường móng tay và tóc, chắc chắn thành vô thượng đạo.
Bằng con mắt của Phật mà nhìn trong thiên hạ không một
ai không vào Vô dư Niết-bàn giới để Bát-niết-bàn. Huống
chi là người không dục, không sân, không nhuế, không si. Bố
thí cho vị ấy là bậc nhất trong các bố thí, là phước
tối tôn. Bậc nhất trong các người thọ nhận, lại không
báo ứng sao?»
Bấy
giờ, hai anh em người lái buôn liền từ chỗ ngồi đứng
dậy ra đi.
Đức
Thế Tôn ăn cơm khô trộn với mật của người lái buôn rồi,
liền ngồi kết già bảy ngày bất động dưới bóng gốc
cây Bồ-đề, an trú tam-muội giải thoát mà tự thọ dụng
an lạc.
vii.
Hai quy y
[786a1]
Qua bảy ngày, Ngài từ tam-muội xuất. Do ăn cơm khô trộn
với mật nên gió trong thân di động. Sở dĩ gọi là đất
Diêm-phù-đề vì có cây là Diêm-phù.[49] Cách đó không xa
có cây Ha-lê-lặc.[50] Vị Thọ thần của cây ấy có lòng
tin sâu đậm đối với Phật, liền hái trái ha-lê-lặc đến
dâng cúng dường đức Thế Tôn. Vị Thọ thần đảnh lễ
rồi, đứng qua một bên bạch Phật:
«Kính
bạch đức Thế Tôn, do ăn cơm khô trộn với mật nên gió
trong thân Ngài di động. Nay xin Ngài dùng trái cây này để
làm vị thuốc trừ bệnh nội phong.
Đức
Thế Tôn từ mẫn nên thọ nhận liền và bảo:
«Nay
ông nên quy y Phật, quy y Pháp.»
Vị
thần ấy liền quy y Phật, quy y Pháp. Các vị thần quy y Phật,
Pháp trước nhất là thọ thần Ha-lê-lặc.
Đức
Thế Tôn ăn trái ha-lê-lặc rồi, ngồi kết già dưới gốc
cây bảy ngày, tư duy bất động, an trú giải thoát tam-muội
mà tự thọ dụng an lạc. Sau bảy ngày, từ tam-muội dậy,
đến giờ, khoác y, bưng bát, vào thôn Uất-bề-la khất thực.
Ngài
đi lần đến nhà bà-la-môn thôn Uất-bề-la, đứng lặng im
trước sân. Bà-la-môn thấy đức Thế Tôn im lặng đứng trước
sân, phát tâm hoan hỷ, liền đem thức ăn ra cúng đức Thế
Tôn. Đức Thế Tôn từ mẫn thọ nhận thức ăn và nói:
«Nay
ông nên quy y Phật, quy y Pháp.»
Bà-la-môn
liền thưa:
«Nay
con quy y Phật, quy y Pháp.»
Đức
Thế Tôn nhận thức ăn của bà-la-môn nầy, ăn xong, liền
đến dưới gốc cây ly-bà-na,[51] ngồi kết già bảy ngày,
tư duy bất động, an trú giải thoát tam-muội mà tự thọ
dụng an lạc. Sau bảy ngày đức Thế Tôn từ tam-muội đứng
dậy, đến giờ, khoác y bưng bát vào thôn Uất-bề-la khất
thực, theo thứ tự đến nhà bà-la-môn, im lặng đứng trước
sân, vợ của người bà-la-môn kia là con gái của đại tướng
tên Tô-xà-la,[52] thấy đức Như Lai im lặng đứng trước
sân, liền phát tâm hoan hỷ đem thức ăn ra cúng dường đức
Thế Tôn. Đức Thế Tôn từ mẫn đối với thí chủ nên nhận
thức ăn, ăn rồi và bảo:
«Nay,
người nên quy y Phật, quy y Pháp.»
Vợ
bà-la-môn liền thưa:
«Nay
con quy y Phật, quy y Pháp.»
Như
vậy trong chúng Ưu-bà-di quy y Phật, quy y pháp, thì Tô-xà-la
con gái của đại tướng, vợ của Uất-bề-la là Ưu-bà-di
đầu tiên.
Bấy
giờ đức Thế Tôn ăn thức ăn ấy, liền trở lại cây ly-bà-na,
ngồi kết già dưới gốc cây bảy ngày, tư duy bất động,
an trú giải thoát tam-muội mà tự thọ dụng an lạc.
Sau
bảy ngày, đến giờ khất thực, đức Thế Tôn khoác y bưng
bát vào thôn Uất-bề-la khất thực, theo thứ tự đến trong
sân nhà bà-la-môn Uất-bề-la, đứng im lặng. Bấy giờ con
trai, con gái của bà-la-môn Uất-bề-la thấy đức Như Lai rồi,
phát tâm hoan hỷ, liền đem thức ăn ra dâng cúng dường Như
Lai. Đức Như Lai dũ lòng thương đối với họ, nhận thức
ăn, ăn rồi bảo rằng:
«Nay,
các con nên quy y Phật, quy y Pháp.»
Các
nam nữ con của bà-la-môn thưa:
«Nay,
chúng con xin quy y Phật, quy y Pháp.»
viii.
Long vương mục-chân-lân-đà
Đức
Thế Tôn ăn xong, liền đến cây Văn-lân,[53] bên bờ sông
Văn-lân,[54] cung điện của Long vương Văn-lân. Khi đến nơi,
ngồi kết già suốt bảy ngày tư duy bất động, an trú giải
thoát tam-muội mà tự thọ dụng an lạc. Vào lúc ấy, trời
mưa to gió rất lạnh, suốt bảy ngày Long vương tự ra khỏi
cung đến chỗ Phật ngồi, dùng thân hình của mình quấn xung
quanh đức Phật, đầu che trên đỉnh đức Phật, bạch Phật
rằng:
«Ngài
không bị lạnh, không bị nóng, không bị gió, không bị nắng,
không bị muỗi mòng gây bất an chăng?»
Sau
bảy ngày, cơn mưa to gió lớn chấm dứt, bầu trời quang đãng,
Long vương tự tháo mình ra, không quấn xung quanh đức Phật
nữa, và biến hóa làm một thiếu niên bà-la-môn, đến trước
đức Như Lai, chấp tay, quỳ gối, kính lễ sát chân Như Lai.
Sau bảy ngày đức Thế Tôn từ tam-muội dứng dậy, liền
dùng bài kệ này tán thán:
Ly
dục, có hỷ lạc,
Quan
sát pháp, cũng lạc;
Trong
đời, không sân, lạc,
Không
nhiễu hại chúng sanh.
Đời
vô dục, là lạc,
Vượt
khỏi cõi dục giới;
Chế
phục tánh ngã mạn,
Đấy
là đệ nhất lạc.[55]
Lúc
bấy giờ, Long vương Văn-lân đến trước đức Phật thưa:
«Sở
dĩ con dùng thân hình con quấn quanh đức Như Lai, đầu che
trên đỉnh đức Như Lai, vì không muốn đức Như Lai bị quấy
rầy bởi lạnh nóng gió mưa, muỗi mòng, cho nên con mới làm
như vậy.»
Đức
Phật bảo Long vương:
«Nay
ngươi nên quy y Phật, quy y Pháp.»
Long
vương nói:
«Nay
con xin quy y Phật, quy y Pháp.»
Như
vậy trong hàng súc sanh, nhận hai quy y, Long vương là đầu
tiên.
ix.
Phạm thiên khuyến thỉnh
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn sau thời gian an trú dưới gốc cây Văn-lân
Long vương, liền đến dưới gốc cây A-du-ba-la ni-câu-luật,[56]
trải tọa cụ, ngồi kết già và nghĩ rằng:
«Nay
Ta đã đặng pháp này, này rất sâu kín, rất khó hiểu, rất
khó biết, vĩnh viễn tịch tĩnh, an chỉ, vi diệu, tối thượng,
chỉ người trí mới có thể biết, chẳng phải điều mà
kẻ ngu có thể thân cận. Chúng sanh có kiến chấp khác nhau,
tín nhẫn khác nhau, xu hướng khác nhau, mạng khác nhau. Y trên
những kiến chấp dị biệt này mà yêu thích hang ổ.[57] Do
vì chúng sanh yêu thích hang ổ, cho nên đối với pháp duyên
sanh sâu thẳm này, khó có thể hiểu. Lại còn có cái sâu
thẳm khó hiểu hơn nữa, đó là Niết-bàn với sự dập tắt
các dục, diệt tận khát ái. Đây cũng là chỗ khó hiểu.
Nay, Ta muốn nói Pháp mà mọi người không biết, không hiểu,
thì đối với ta có nhọc công vô ích chăng?»
Bấy
giờ, đức Thế Tôn nói hai bài kệ, mà trước đây chưa ai
được nghe, cũng chưa từng nói:
Đạo
Ta chứng, khó hiểu;
Nói
cho kẻ trong hang.
Người
tham, nhuế, ngu si,
Không
thể vào pháp này.
Lội
ngược dòng sanh tử,
Sâu
kín, rất khó hiểu.
Tham
dục không thấy được,
Vì
ngu tối che lấp.[58]*
Thế
Tôn tư duy như vậy rồi, im lặng không nói pháp. Bấy giờ,
Phạm thiên vương,[59] từ xa trên cõi Phạm thiên, biết được
tâm niệm của đức Như Lai, tự nghĩ: «Thế gian hoàn toàn
sụp đổ. Như Lai nay đặng pháp nhiệm mầu này, sao im lặng
không tuyên thuyết, khiến cho thế gian không được nghe pháp?»
Bấy
giờ, Phạm thiên, khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi cánh tay,
từ cõi kia hiện đến trước đức Như Lai, đảnh lễ rồi,
đứng qua một bên, bạch đức Thế Tôn:
«Cúi
xin đức Như Lai nói pháp! Cúi xin đức Thiện Thệ nói pháp!
Chúng sanh trong thế gian cũng có kẻ trí tuệ với lớp bụi
dơ mỏng, thông minh, dễ độ, có khả năng diệt tận pháp
bất thiện, thành tựu thiện pháp.»
Đức
Thế Tôn bảo Phạm thiên vương:
«Đúng
như vậy, đúng như vậy, như lời ông nói. Vừa rồi Ta ở
nơi nhàn tịnh có ý nghĩ: ‹Nay Ta đã đặng pháp này. Pháp
[787a1] này rất sâu kín, rất khó hiểu, rất khó biết, vĩnh
viễn tịch tĩnh, an chỉ, vi diệu, tối thượng, chỉ người
trí mới có thể biết, chẳng phải điều mà kẻ ngu có thể
thân cận. Chúng sanh có kiến chấp khác nhau, tín nhẫn khác
nhau, xu hướng khác nhau, mạng khác nhau. Y trên những kiến
chấp dị biệt này mà yêu thích hang ổ. Do vì chúng sanh yêu
thích hang ổ, cho nên đối với pháp duyên sanh sâu thẳm này,
khó có thể hiểu. Lại còn có cái sâu thẳm khó hiểu hơn
nữa, đó là Niết-bàn với sự dập tắt các dục, diệt tận
khát ái. Đây cũng là chỗ khó hiểu. Nay, Ta muốn nói Pháp
mà mọi người không biết, không hiểu, thì đối với Ta có
nhọc công vô ích chăng?›»
Bấy
giờ, Thế Tôn nói hai bài kệ mà trước đây chưa ai từng
được thấy, từng được nghe, và cũng chưa từng nói:
Đạo
Ta chứng, khó hiểu,
Nói
cho kẻ trong hang.
Người
tham, nhuế, ngu si,
Không
thể vào pháp này.
Lội
ngược dòng sanh tử,
Sâu
kín, rất khó hiểu.
Tham
dục không thấy được,
Vì
ngu tối che lấp.
«Này
Phạm thiên! Vì vậy Ta im lặng, không nói pháp cho người đời.»
Bấy giờ, Phạm thiên lại bạch Phật:
«Thế
gian hoàn toàn sụp đổ. Như Lai nay đặng pháp nhiệm mầu
này, sao im lặng không tuyên thuyết, khiến cho thế gian không
được nghe pháp? Cúi xin đức Thế Tôn nên diễn nói chánh
pháp để lưu bố trong đời. Chúng sanh trong thế gian cũng
có kẻ trí tuệ với lớp bụi dơ mỏng, thông minh, dễ độ,
có khả năng diệt tận pháp bất thiện, thành tựu thiện
pháp.»
Phạm
thiên nói rồi, lại nói kệ:
Ma-kiệt,
nơi cấu uế,[60]
Phật
từ đó sanh ra.
Nguyện
mở cửa cam lồ,
Vì
chúng sanh nói pháp.
Đức
Thế Tôn sau khi nhận lời khuyến thỉnh của Phạm thiên, bằng
con mắt Phật, quan sát chúng sanh trong thế gian: Sanh ra trong
thế gian, lớn lên trong thế gian, có người ít trần cấu,
có người nhiều trần cấu, có lợi căn, có độn căn, có
dễ độ, có khó độ; có kẻ sợ tội đời sau, có thể diệt
tận pháp bất thiện, thành tựu thiện pháp. Cũng như trong
ao ưu-bát, ao bát-đầu, ao câu-mâu-đầu, ao phân-đà-lợi có
hoa ưu-bát, hoa bát-đầu, hoa câu-mâu-đầu, hoa phân-đà-lợi;
có cái mới ra khỏi bùn mà chưa lên khỏi nước; hoặc có
cái đã ra khỏi bùn mà ngang mặt nước; hoặc có cái lên
khỏi nước mà không bị bụi trần nơi nước thấm vào. Đức
Như Lai cũng như vậy, bằng Phật nhãn quán chúng sanh trong
thế gian: ‹Sanh ra trong thế gian, lớn lên trong thế gian, có
người ít trần cấu, có người nhiều trần cấu, có lợi
căn, có độn căn, có dễ độ, có khó độ; có kẻ sợ tội
đời sau, có thể diệt tận pháp bất thiện, thành tựu thiện
pháp.› Bấy giờ, đức Thế Tôn vì Phạm thiên nói kệ:
Phạm
Thiên! Ta bảo ông:
Nay
mở cửa cam lồ,
Cho
người nghe tin nhận.
Vì
nhiễu loạn, không nói,[61]
Phạm
Thiên, pháp vi diệu,
Pháp
Mâu-ni chứng được.
Bấy
giờ, Phạm thiên biết đức Thế Tôn nhận lời khuyến thỉnh
rồi, đảnh lễ sát chân đức Thế Tôn, đi nhiễu bên hữu
ba vòng, cáo lui, ẩn mình, không thấy nữa.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn lại nghĩ: ‹Nay Ta nên thuyết pháp cho
ai trước, mà người ấy có thể vừa nghe liền hiểu được?›
Ngài liền nghĩ, ‹A-lan-ca-lan[62] trần cấu ít, lợi căn, thông
minh có trí. Nay Ta có thể nói pháp cho ông ấy.› Tức thì
trí kiến khởi lên nơi Ngài, ‹A-lan-ca-lan qua đời đã bảy
ngày rồi.› Chư thiên cũng đến cho biết: ‹A-lan-ca-lan qua
đời đã bảy ngày rồi.› Đức Phật nghĩ rằng: ‹Khổ
thay, ông mất điều lợi. Pháp cực kỳ vi diệu này, sao không
được nghe? Nếu được nghe, ông ấy sẽ hiểu nhanh chóng.›
Đức
Thế Tôn lại nghĩ: ‹Nay Ta nên thuyết pháp cho ai trước,
mà người ấy có thể vừa nghe liền hiểu được?› Ngài
liền nghĩ, ‹Uất-đầu-lam Tử, người này có trần cấu
mỏng, lợi căn, thông minh có trí. Nay ta nên nói pháp cho ông
ấy nghe trước.› Tức thì trí kiến khởi lên nơi Ngài, ‹Uất-đầu-lam
Tử đã qua đời ngày hôm qua.› Chư thiên cũng đến thưa:
‹Uất-đầu-lam Tử đã qua đời ngày hôm qua.› Đức Phật
nói: ‹Khổ thay, ông mất điều lợi. Pháp cực kỳ vi diệu
này, sao không được nghe? Nếu được nghe, ông ấy sẽ hiểu
nhanh chóng.›
Đức
Thế Tôn lại nghĩ: ‹Nay Ta nên thuyết pháp cho ai trước,
mà người ấy có thể vừa nghe liền hiểu được?› Ngài
liền nghĩ, ‹Năm tỳ-kheo đã từng phục vụ Ta khổ nhọc,
không ngại sự lạnh nóng, hầu hạ, hộ vệ, cúng dường
Ta. Nay Ta có nên nói pháp cho họ trước hay chăng?› Đức
Thế Tôn lại nghĩ: ‹Năm vị tỳ-kheo này hiện nay ở đâu?›
Ngài liền dùng thiên nhãn thanh tịnh quán sát trong nhơn thiên,
thấy năm vị tỳ-kheo ở tại nước Ba-la-nại, trong vườn
Nai Tiên nhơn.
Thấy
vậy rồi, Ngài liền đến đó. Trên đường đi, Ngài gặp
phạm chí Ưu-đà-da.[63] Từ xa thấy đức Thế Tôn, Phạm chí
đến trước mặt thưa với đức Phật rằng:
«Cù-đàm,
các căn tịch tịnh nhan sắc vui đẹp. Vậy thầy của Ngài
là ai? Ngài theo học với ai? Ngài học pháp gì?»
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn dùng kệ trả lời:
Nhất
thiết trí, trên hết,
Mở
mọi gút ái dục.
Tự
nhiên được ngộ giải,
Nào
có theo ai học.
Ta
cũng không có thầy,
Bè
bạn cũng lại không.
Thế
gian chỉ một Phật,
Trầm
lặng, thường an ổn.
Ta
không bị đời nhiễm,
Ta
vượt trên thế gian.
Chư
thiên và người đời,
Không
ai sánh bằng Ta.
Ta
đến Ba-la-nại,
Chuyển
vô thượng pháp luân.
Thế
gian đều tăm tối,
Ta
đánh trống cam lồ.[64]
Phạm
chí hỏi rằng:
«Vừa
rồi Cù-đàm nói: Ta là người không nhiễm trước, tối thắng.[65]
Tôi muốn được nghe ý nghĩa nầy.»
Đức
Phật dùng kệ trả lời:
Ta
mở tất cả gút,
Ta
hết tất cả lậu;
Ta
thắng các pháp ác,
Ưu-đà,
Ta tối thắng.[66]
Bấy
giờ, Phạm chí im lặng. Đức Thế Tôn liền bỏ đi, nhắm
đến Tiên nhơn Lộc uyển.
2.
Sơ chuyển Pháp luân
i.
Trung đạo