CHƯƠNG
II.
THUYẾT
GIỚI[1]
I.
PHÁP THỨC THUYẾT GIỚI
1.
Bố-tát
[816c6]
Phật ở tại thành La-duyệt. Bấy giờ trong thành, các Phạm
chí ngoại đạo mỗi [nửa] tháng ba lần tập hội vào các
ngày mồng 8, 14, 15.[2] Mọi người tụ tập đông đảo, lui
tới giao hữu với nhau, cung cấp thức ăn thức uống, cúng
dường suốt ngày, rất là thân thiết.
Bấy
giờ Vua Bình-sa ở trên lầu cao, từ xa nhìn thấy quần chúng
đến tụ hội chỗ Phạm chí, bèn hỏi các quan tả hữu:
«Hôm
nay những người này họ muốn đi đâu mà đông thế?»
Các
quan tâu với Vua:
«Đại
Vương nên biết, trong thành này, các Phạm chí mỗi [nữa]
tháng ba lần tập hội vào các ngày mồng 8, 14, 15. Mọi người
tụ tập đông đảo, lui tới giao hữu với nhau, cung cấp thức
ăn thức uống, cúng dường suốt ngày, rất là thân thiết.
Vì vậy, mọi người đang đi đến chỗ các Phạm chí đang
tập hội.»
Vua
Bình-sa nghe xong, liền xuống lầu, đi đến chỗ đức Thế
Tôn; đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên, bạch Phật:
«Hiện
nay trong thành La-duyệt, các Phạm chí mỗi [nữa] tháng ba lần
tập hội vào các ngày mồng 8, 14, 15. Mọi người tụ tập
đông đảo, lui tới giao hữu với nhau, cung cấp thức ăn thức
uống, cúng dường suốt ngày, rất là thân thiết. Lành thay!
đức Thế Tôn dạy cho các tỳ-kheo mỗi [nữa] tháng ba lần
tập hội vào các ngày 8, 14 và 15, để mọi người các nơi
tới lui, cùng giao hữu, cung cấp đồ ăn thức uống. Tôi và
quần thần cũng sẽ đến tập hội.»
Đức
Thế Tôn im lặng nhận lời. Vua Bình-sa biết đức Thế Tôn
nhận lời bằng cách im lặng rồi, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, đảnh lễ sát chân Phật, nhiễu ba vòng cáo lui.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo
và bảo:
«Hiện
nay trong thành La-duyệt, các Phạm chí mỗi tháng [nữa] tập
hợp ba ngày mồng 8, 14 và 15, mọi người ở khắp nơi tới
lui đông đảo, giao hữu với nhau, cung cấp đồ ăn thức uống.
Các ông cũng nên mỗi tháng [nữa] tập hội ba ngày mồng 8,
14 và 15, để mọi người ở các nơi tới lui cùng nhau giao
hữu, cung cấp đồ ăn thức uống. Vua Bình-sa và quần thần
cũng sẽ đến tập hội.»
Các
tỳ-kheo thưa:
«Chúng
con sẽ phụng hành như vậy.»
Các
tỳ-kheo phụng hành lời dạy của đức Thế Tôn rồi, mỗi
[nữa] tháng tập hội ba lần, vào các ngày mồng 8, 14 [817a1]
và 15. Mọi người các nơi tới lui, cùng nhau giao hữu, cung
cấp đồ ăn thức uống. Vua Bình-sa cũng dẫn các quần thần
đến tập hội. Các tỳ-kheo đến tập hội đều ngồi im
lặng. Các trưởng giả thưa với các tỳ-kheo:
«Chúng
con muốn nghe nói pháp.»
Các
tỳ-kheo không dám nói. Đem nhơn duyên này bạch Phật. Phật
dạy:
«Cho
phép các ông nói pháp.»
Đã
được phép nói pháp rồi, các tỳ-kheo lại không biết nói
pháp gì. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép nói khế kinh.»
Các
tỳ-kheo muốn phân biệt thuyết nghĩa.[3] Trong khi thuyết nghĩa,
không nói đủ văn cú. Các vị đều sanh nghi. Đức Phật dạy:
«Cho
phép thuyết nghĩa, khỏi phải nói đủ văn cú[4].»
2.
Thuyết pháp
Có
hai tỳ-kheo cùng một tòa cao[5] nói pháp.
Đức
Phật dạy:
«Không
được như vậy.»
Có
hai tỳ-kheo có chung một tòa cao để thuyết pháp, nên tranh
cãi nhau.
Đức
Phật dạy:
«Không
được như vậy.»
Các
vị ấy cùng trải toà cao gần nhau để thuyết nghĩa, moi móc
sở trường, sở đoản của nhau. Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy.»
Các
vị kia nhơn việc thuyết nghĩa mà bức bách nhau. Đức Phật
dạy:
«Không
được như vậy.»
Bấy
giờ, hai tỳ-kheo đồng thanh ngâm nga.[6] Phật dạy:
«Không
được như vậy.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo muốn thuyết pháp với giọng ca vịnh. Đức
Phật nói:
«Cho
phép.»
Có
một tỳ-kheo, ở cách đức Thế Tôn không xa, nói pháp bằng
âm thanh ca vịnh quá du dương.[7] Đức Phật nghe, liền bảo
tỳ-kheo này rằng:
«Ngươi
không được nói pháp với âm thanh như vậy. Ngươi nên nói
pháp giống Như Lai, đừng như người phàm thế. Muốn nói
pháp nên bình đẳng như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên mà
nói pháp, đừng nói như người phàm tục.
«Này
các tỳ-kheo! Nếu nói pháp với giọng ca vịnh quá du dương,
có năm điều lỗi: Nếu tỳ-kheo nói pháp với giọng ca vịnh
thái quá thì tự mình sẽ sanh tham đắm yêu thích âm thanh.
Nếu tỳ-kheo nói pháp với giọng ca vịnh thái quá thì người
nghe sẽ sanh tham đắm yêu thích âm thanh kia. Nếu tỳ-kheo nói
pháp với giọng ca vịnh thái quá sẽ khiến cho người nghe
ham muốn học tập theo. Nếu tỳ-kheo nói pháp với giọng ca
vịnh thái quá, thì các trưởng giả nghe sẽ cơ hiềm rằng:
‹Chúng ta học tập ca vịnh, tỳ-kheo nói pháp cũng như vậy.›
Họ bèn sanh tâm khinh thường, không cung kính. Nếu tỳ-kheo
thuyết pháp với giọng ca vịnh thái quá, thì các vị tư duy
nơi tịch tịnh sẽ duyên nơi âm thanh, loạn thiền định.
Đó gọi là năm điều lỗi lầm do nói pháp với giọng ca
vịnh thái quá.»
Bấy
giờ có các tỳ-kheo muốn tập hội lại một chỗ vào ban
đêm để nói pháp. Phật nói: «Cho phép.»
Các
tỳ-kheo không biết tập hội vào ngày nào. Đức Phật nói:
«Cho
phép ngày rằm, mười bốn, mười ba, mồng mười, mồng chín,
mồng tám, mồng năm, mồng ba và mồng hai; hoặc mỗi mỗi
ngày nói cũng được. Nếu người thuyết pháp ít, thì theo
thứ tự thỉnh để nói.»
Có
vị không chịu nói. Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy. Dù chỉ nói một bài kệ, cũng phải nói.»
Một
bài kệ là:
Các
điều ác chớ làm,
Điều
thiện phải phụng hành.
Giữ
tâm ý thanh tịnh,
Là
lời Chư Phật dạy.
Nếu
không chịu nói sẽ như pháp trị.
Các
tỳ-kheo ban đêm tập hợp muốn nói pháp, chỗ ngồi thấp,[8]
sanh nghi. Đức Phật dạy:
«Nếu
ban đêm tập hợp nói pháp, chỗ ngồi cao hay thấp không ngại
gì.»
Các
tỳ-kheo ban đêm tập hợp, muốn ngồi thiền, Phật dạy: «Được
phép ngồi.»
Các
tỳ-kheo ngủ gật. Phật dạy:
«Tỳ-kheo
ngồi gần phải đánh thức họ. Hoặc bằng tay; nếu tay với
không đến thì cầm cây gài cửa, hay cán cây phất trần để
đánh thức. Nếu như họ đồng ý thì có thể lấy guốc dép
quăng đến họ. Nếu họ vẫn cứ ngủ, nên cầm cây thiền
trượng để cảnh giác.»
Có
vị bị cảnh giác bằng thiền trượng; khi tỉnh, bèn phản
đối. Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy. Nếu không thuận, mà còn phản đối, thì
như pháp trị.»
Có
vị vẫn cứ ngủ, đức Phật nói:
«Cho
phép dùng nước rảy.»
Ai
bị rảy nước, mà phản đối không chịu, thì cũng nên như
pháp trị. Nếu vẫn cố ngủ trở lại. Đức Phật bảo:
«Nên
dụi con mắt, hoặc dùng nước rửa mặt.»
Có
vị vẫn cứ ngủ. Đức Phật nói:
«Nên
tự véo tai hay mũi; hoặc chà sát nơi trán.»
Nếu
lại cứ ngủ thì nên vén kéo uất-đa-la tăng rồi lấy tay
xoa chà mình; hoặc nên đứng dậy đi ra ngoài cửa xem ngắm
bốn phương, ngửa mặt nhìn tinh tú; hoặc đến chỗ kinh hành,
thủ nhiếp các căn, khiến tâm không tán loạn.
3.
Ba-la-đề-mộc-xoa
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn ở chỗ nhàn tịnh, tư duy rằng:
«Ta vì các tỳ-kheo kết giới, thuyết ba-la-đề-mộc-xoa. Trong
đó có tỳ-kheo có tín tâm, mới thọ giới, chưa được nghe,
không biết làm sao để học giới. Nay Ta nên cho phép các tỳ-kheo
tập trung lại một chỗ để thuyết giới ba-la-đề-mộc-xoa.»
Đức Thế Tôn từ chỗ tịch tịnh ra, dùng nhơn duyên tập
hợp các tỳ-kheo và bảo rằng:
«Vừa
rồi Như Lai từ chỗ yên tịnh tư duy, suy nghĩ rằng: ‹Ta
vì các tỳ-kheo kết giới, thuyết ba-la-đề-mộc-xoa. Trong
đó có tỳ-kheo có tín tâm, mới thọ giới, chưa được nghe,
không biết làm sao để học giới.› Ta lại suy nghĩ tiếp:
‹Nay Ta nên cho phép các tỳ-kheo tập trung lại một chỗ để
thuyết giới ba-la-đề-mộc-xoa.› Vì vậy, các tỳ-kheo nên
cùng nhau tập hợp lại một chỗ, thuyết giới ba-la-đề-mộc-xoa.
Thuyết
giới như vầy:
«Các
đại đức! Nay tôi muốn thuyết giới ba-la-đề-mộc-xoa. Các
thầy lắng nghe, khéo tâm niệm kỹ. Nếu tự mình biết có
phạm, nên tự mình sám hối.[9] Không phạm thì im lặng. Do
sự im lặng, tôi biết các Đại đức thanh tịnh. Cũng như
được người khác hỏi, như sự thực mà trả lời. Cũng
vậy, tỳ-kheo nào ở trong chúng cho đến ba lần hỏi, nhớ
nghĩ có tội mà không sám hối, mắc tội cố ý vọng ngữ.
Đức Phật dạy, cố ý vọng ngữ là pháp chướng đạo. Nếu
tỳ-kheo kia nhớ nghĩ có tội, muốn cầu thanh tịnh, nên sám
hối. Sám hối sẽ được an lạc.»
Ba-la-đề-mộc-xoa:
là giới vậy. Đó là sự tự mình nhiếp trì oai nghi, trú
xứ, hành vi; là gốc rễ, là mặt, là đầu, tập hợp các
pháp lành, thành tựu tam-muội.[10]
Tôi
sẽ nói: nghĩa là, sẽ kết, sẽ phát khởi, diễn giải, tỏ
bày, phân biệt lập đi lập lại.
Thưa
các đại đức, nay tôi sẽ thuyết giới, cùng tập hợp lại
một chỗ:[11] nghĩa là, đồng yết-ma tập hợp lại một chỗ.
Cần dữ dục, thì người nhận đem dục đến. Người hiện
diện đáng quở trách thì không quở trách.[12] Cho nên nói
nên tập hợp lại một chỗ.
Lắng
nghe, khéo tâm niệm kỹ: gom ý chuyên tâm nghe pháp, cho nên
gọi là lắng nghe khéo tâm niệm.
Có
phạm: có trái phạm mà chưa sám hối.
Không
phạm: không trái phạm, hay phạm mà đã sám hối.
Cũng
như được người khác hỏi, như sự thực mà trả lời: nghĩa
là, giống như từng tỳ-kheo cùng hỏi và trả lời nhau.
Đức
Phật nói, cố ý vọng ngữ là pháp chướng đạo:[13] tức
là chướng ngại sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền,
không, vô tướng, vô nguyện; chướng ngại quả Tu-đà-hoàn,
cho đến quả A-la-hán.
Sám
hối thì an lạc: được những gì là an lạc? Là đạt được
sơ thiền, cho đến tứ thiền, không, vô tướng, vô nguyện;
là đắc quả Tu-đà-hoàn, cho đến quả A-la-hán. Cho nên sám
hối thì được an lạc.
Bấy
giờ, các tỳ-kheo muốn thuyết giới với giọng ca vịnh. Đức
Phật bảo:
«Cho
phép thuyết giới bằng giọng ca vịnh.»
Các
tỳ-kheo ngày nào cũng thuyết giới, nên mỏi mệt. Phật dạy:
«Không
được thuyết giới hằng ngày. Từ nay về sau, cho phép thuyết
giới vào ngày Bố-tát.»
4.
Lịch pháp
Có
trưởng giả hỏi Tỳ-kheo:
«Hôm
nay là ngày mấy?»
Tỳ-kheo
không biết nên hổ thẹn. Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này bạch
Phật, Phật dạy:
[818a1]«Từ
nay về sau nên đếm số ngày.»
Đếm
ngày mà phần nhiều quên. Phật dạy:
«Nên
ghi số đếm.»[14]
Các
tỳ-kheo dùng vật báu để ghi số đếm. Phật dạy:
«Không
được như vậy. Cho phép dùng xương, ngà, sừng, hoặc đồng,
thiết, chì, kẽm, bạch lạp, đá, bùn viên lại để ghi.»
Các
tỳ-kheo lo ngại số đếm được ghi bị lạc mất. Phật dạy:
«Cho
phép làm cái lỗ, dùng dây xâu lại, treo chỗ đại thực,
tiểu thực của Tăng, hoặc chỗ ban đêm tập hợp để thuyết
giới; hoặc móc trên cây trụ, trên móc long nha.»
Một
hôm có các trưởng giả đến hỏi Tỳ-kheo:
«Nay
là hắc nguyệt hay là bạch nguyệt?»[15]
Các
tỳ-kheo không biết, nên ôm lòng hổ thẹn, đem việc này đến
bạch đức Phật. Phật dạy:
«Cho
phép làm ba mươi con số đếm. Mười lăm con số thuộc hắc
nguyệt, mười lăm con số thuộc bạch nguyệt.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo dùng số đếm lẫn lộn. Con số ghi hắc
nguyệt rơi qua bên số ghi bạch nguyệt. Con số ghi bạch nguyệt
rơi qua số ghi hắc nguyệt. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, con số ghi hắc nguyệt nhuộm màu đen. Con số ghi
bạch nguyệt nhuộm màu trắng.»
Nếu
lo ngại con số chạm nhau bị vỡ, Đức Phật dạy:
«Cho
phép khoảng chính giữa dùng vật cách ly.»
Các
tỳ-kheo muốn thuyết giới vào ngày thứ mười bốn hoặc
ngày thứ mười lăm.[16] Đức Phật dạy:
«Nếu
Vua đổi ngày, thì theo ngày mà Vua định.[17]»
Các
tỳ-kheo không biết hôm nay thuyết giới hay sáng mai thuyết
giới. Đến bạch Phật. Phật dạy:
«Ngày
bố-tát, vị Thượng tọa nên xướng rằng: ‹Hôm nay chúng
tăng thuyết giới.›»
Các
tỳ-kheo không biết nói vào lúc nào. Đức Phật dạy:
Cho
phép đo bóng để định giờ. Rồi báo hiệu bằng gõ thẻ
tre, hay đập xuống đất, hoặc đốt khói, hoặc thổi tù
và, hoặc đánh trống, hoặc đánh kiền chùy, hay rao bảo nhau:
«Thưa các Đại đức, giờ bố-tát thuyết giới đã đến.»
Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nghe đức Thế Tôn cho phép thuyết giới,
bèn ở trong vườn hay phòng riêng, cùng Hòa thượng A-xà-lê,
đồng Hòa thượng đồng A-xà-lê, tri thức thân hậu tương
thuận, thuyết giới riêng bộ.[18]
Các
tỳ-kheo nghe biết. Trong số có vị thiểu dục tri túc, sống
hạnh đầu đà, ưa học giới, biết tàm quí, hiềm trách nhóm
sáu tỳ-kheo: «Nghe đức Thế Tôn cho phép thuyết giới, sao
lại tự tiện ở trong vườn hoặc phòng riêng, cùng Hòa thượng
A-xà-lê, đồng Hòa thượng, đồng A-xà-lê, tri thức thân
hậu thuyết giới riêng bộ?»
Bấy
giờ, Tôn giả Đại Ca-tân-nậu[19] ở tại trú xứ Tiên nhơn,
bên núi Hắc thạch,[20] chỗ yên tịnh tư duy với ý niệm:
«Nay ta có đến hay không đến dự thuyết giới, Ta vẫn thường
thanh tịnh bậc nhất.»
Đức
Thế Tôn, biết trong tâm trưởng lão Đại Ca-tân-nậu nghĩ
như thế. Trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi cánh tay, thoạt
nhiên biến mất khỏi núi Kỳ-xà-quật, Thế Tôn hiện đến
trú xứ Tiên nhơn, bên núi Hắc thạch, trước mặt Đại Ca-tân-nậu,
trải tòa ngồi. Đại Ca-tân-nậu kính lễ sát chân đức Thế
Tôn, rồi ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn biết vẫn cố
hỏi:
«Vừa
rồi nơi chỗ nhàn tịnh, ông tư duy với ý nghĩ: ‹Nay ta có
đến hay không đến dự thuyết giới, Ta vẫn thường thanh
tịnh bậc nhất.› Có phải như vậy không?»
Trưởng
lão thưa: Vâng!
Đức
Phật dạy:
«Như
vậy, đúng như vậy Ca-tân-nậu! Như lời ông nói, Ông có
đến hay không đến dự thuyết giới, ông vẫn thường thanh
tịnh bậc nhất. Song, này Ca-tân-nậu! Pháp thuyết giới cần
phải được cung kính, tôn trọng, thừa sự. Nếu ông không
cung kính bố-tát, không tôn trọng thừa sự, thì ai cung kính,
tôn trọng, thừa sự? Cho nên ông phải đến dự thuyết giới,
không được không đi. Nhưng nên đi bộ, không nên dùng thần
túc mà đi. Ta cũng sẽ đến.»
Ca-tân-nậu
mặc nhiên vâng lời Phật dạy.
Đức
Thế Tôn dùng nhơn duyên này dạy bảo Ca-tân-nậu rồi, trong
khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi tay ra, liền biến khỏi trú
xứ Tiên nhơn, bên núi Hắc thạch, trở lại núi Kỳ-xà-quật,
an tọa nơi chỗ ngồi.
II.
KẾT GIỚI
1.
Giới trường
Bấy
giờ, có các tỳ-kheo đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân,
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch Phật. Đức
Phật thuật lại đầy đủ sự việc trên và bảo các tỳ-kheo:
«Ta
cho phép các tỳ-kheo tại một trú xứ hòa hợp thuyết giới.
‹Tại sao các ông cùng Hòa thượng, A-xà-lê, đồng Hòa thượng,
đồng A-xà-lê, tri thức thân hậu thuyết giới riêng bộ?
Nếu cùng một trú xứ mà không hòa hợp thuyết giới, mắc
tội đột-kết-la.› Từ nay về sau cho phép tập hợp lại
một chỗ để thuyết giới.»
Các
tỳ-kheo biết đức Thế Tôn cho phép thuyết giới một chỗ,
nên cùng đợi nhau. Hoặc cùng đợi nhau tại núi Hắc thạch,
Tiên nhân trú xứ. Hoặc đợi nhau tại hang Thất diệp trong
núi Tỳ-ha-lặc. Hoặc cùng đợi nơi gò mả. Hoặc cùng đợi
nhau bên suối nước; đợi nhau tại khu Ca-lan-đà trong Trúc
viên; đợi nhau tại núi Kỳ-xà-quật; hoặc cùng đợi nơi
có nhà lớn, nhà ăn, nhà kinh hành, dưới bóng cây, nơi bãi
cỏ. Khiến mỏi mệt. Các tỳ-kheo bạch Phật. Phật dạy:
«Từ
nay về sau, tùy theo người ở nhiều hay ít tại một trú xứ,
cùng tập trung lại một chỗ để thuyết giới.»
Các
tỳ-kheo không biết nên thuyết giới chỗ nào. Đức Phật
dạy:
Cho
phép làm thuyết giới đường, bằng pháp bạch nhị yết-ma
để làm. Tác bạch như vầy: nên xưng tên của địa điểm,
như đại đường, trên nhà gác, nhà kinh hành, bên mé sông,
dưới bóng cây, bên hòn đá, hoặc chỗ bãi cỏ.v.v... Trong
chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự
việc trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, làm thuyết giới đường tại địa
điểm... Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nay Tăng dùng địa điểm tại...
làm thuyết giới đường. Trưởng lão nào chấp thuận, Tăng
dùng địa điểm tại... làm thuyết giới đường thì im lặng.
Vị nào không đồng ý xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận dùng địa điểm... làm thuyết giới đường
rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận
như vậy.»
Bấy
giờ, trước đó đã lập thuyết giới đường trong núi Kỳ-xà-quật.
Sau đó lại muốn lập thuyết giới đường tại Ca-lan-đà
Trúc viên. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
Từ
nay về sau, cho phép giải thuyết giới đường trước, bằng
bạch nhị yết-ma để giải. Sau đó kết lại thuyết giới
đường. Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp
yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận giải thuyết giới đường tại địa
điểm... Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nay giải thuyết giới đường tại
địa điểm... Trưởng lão nào chấp thuận Tăng giải thuyết
giới đường tại địa điểm... thì im lặng. Vị nào không
đồng ý xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận giải thuyết giới đường tại địa điểm...
rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận
như vậy.»
Bấy
giờ, có trú xứ làm hai thuyết giới đường. Hai vị doanh
sự cùng cạnh tranh nhau. Hai người đều nói chúng Tăng nên
đến nơi thuyết giới đường của tôi trước. Các tỳ-kheo
đem việc này đến bạch Phật. Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép hai vị thay nhau, bắt đầu từ vị Thượng
tọa.»[21]
Có
trú xứ, đến ngày bố-tát, chúng tập hợp để thuyết giới
đông mà nhà thuyết lại nhỏ, không đủ để chứa. Các tỳ-kheo
nghĩ rằng: «Đức Thế Tôn đã chế giới, nếu không kết
thuyết giới đường, không được thuyết giới. Nay nên làm
thế nào?» Các tỳ-kheo đem nhơn duyên này đến bạch lên
đức Phật. Phật dạy:
«Tăng
được tự tại. Kết hay không kết, đều được thuyết giới.»[22]
Có
vị tỳ-kheo thượng tọa đến nơi thuyết giới đường trước;
lau quét, trải tọa cụ, múc bình tịnh thủy, bình rửa chân,
đốt đèn, sắp thẻ xá-la, nên quá mỏi mệt.
Các
tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Phật dạy:
«Từ
nay về sau tỳ-kheo nhỏ tuổi nên làm các việc ấy.»
Đến
ngày bố-tát [819a1] tỳ-kheo nhỏ tuổi nên đến thuyết giới
đường lau quét, trải tọa cụ, múc bình tịnh thủy, bình
rửa chân, đốt đèn, sắp thẻ xá-la. Nếu tỳ-kheo nhỏ tuổi
không biết thì thượng tọa nên dạy. Nếu thượng tọa không
dạy thì phạm đột-kết-la. Nếu tỳ-kheo nhỏ tuổi không
nghe theo lời thượng tọa dạy cũng phạm đột-kết-la.
Có
khi thượng tọa thuyết giới rồi, phải ở lại sau, tự mình
dọn dẹp sàng tòa, bình tịnh thủy, bình rửa chân, tắt đèn
lửa, xá-la, v.v... để mọi thứ lại chỗ cũ, nên quá mệt
mỏi. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Phật dạy:
«Từ
nay về sau, thuyết giới rồi, tỳ-kheo nhỏ tuổi phải dọn
dẹp bình tịnh thủy, bình rửa chân, đèn lửa, xá-la, để
lại chỗ cũ. Nếu tỳ-kheo nhỏ tuổi không biết thì thượng
tọa nên dạy. Thượng tọa không dạy phạm đột-kết-la.»
Bấy
giờ, đến ngày thuyết giới, nhóm sáu tỳ-kheo làm các việc
như chào hỏi và nói chuyện với bạch y, tác yết-ma thuyết
giới, thuyết pháp. [23] Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch
đức Thế Tôn, Thế Tôn dạy:
«Đây
là việc làm của vị thượng tọa.»
Có
một trú xứ, Si Hòa-tiên là hàng Thượng tọa, nhưng không
có khả năng làm các việc trong ngày thuyết giới như chào
hỏi và nói chuyện với bạch y, tác yết-ma thuyết giới,
thuyết pháp. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch đức Phật.
Đức Phật dạy:
Cho
phép thỉnh vị có khả năng để tác pháp thay thượng tọa.
Nếu thượng tọa không thỉnh người có khả năng, thì phạm
đột-kết-la. Nếu vị có khả năng mà không nhận lời thỉnh
của thượng tọa cũng phạm đột-kết-la.
Bấy
giờ, các bạch y hỏi tỳ-kheo, khi thuyết giới có bao nhiêu
vị. Các tỳ-kheo không biết số lượng nên hổ thẹn. Đến
bạch đức Phật. Phật dạy:
«Cho
phép đếm số tỳ-kheo.»
Tuy
đếm rồi vẫn quên. Đức Phật dạy:
«Nên
đếm xá-la.»[24]
Có
vị dùng vật báu làm xá-la. Phật dạy:
Không
được dùng vật báu làm xá-la mà nên dùng xương, ngà, sừng,
đồng, thiết, bạch lạp, chì, kẽm, tre, trúc, cây để làm.
Sợ lạc mất. Phật dạy:
«Nên
dùng dây buộc lại.»
Tuy
buộc, vẫn còn thất lạc. Phật dạy:
«Nên
làm cái hộp để đựng.»
Vị
ấy lại dùng vật báu để làm. Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy. Nên dùng xương, ngà, sừng, đồng, thiết,
bạch lạp, chì, kẽm, tre, trúc, cây để làm.»
Nếu
đựng trong hộp bị đổ ra, Phật dạy:
«Nên
làm cái nắp để đậy lại.»
Vị
ấy lại dùng vật báu để làm cái nắp. Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy. Nên dùng xương, ngà, sừng, đồng, thiết,
bạch lạp, chì, kẽm, tre, trúc, cây để làm.»
Các
vị không biết để cái hộp ấy vào chỗ nào. Phật dạy:
«Nên
để dưới giường dây hoặc giường cây, trên cây trụ, hoặc
trên cây long nha, trên móc áo.»
2.
Đại giới cọng trú
Các
tỳ-kheo nghe đức Phật cho phép các tỳ-kheo đến thành La-duyệt
thuyết giới. Các nơi xa nghe, nhưng phải đến tập hợp để
thuyết giới nên mỏi mệt. Bấy giờ, các tỳ-kheo bạch Phật.
Phật dạy:
Từ
nay về sau, thuyết giới tùy theo từng trú xứ, trong phạm
vi hoặc thôn hoặc ấp. Cho phép kết giới bằng pháp bạch
nhị yết-ma, như sau:
Xướng
tiêu tướng cương giới của mỗi phương: hoặc khoảng không,
hoặc cây, hoặc núi, hoặc hang đá, hoặc hang núi cao, hoặc
đất trống, hoặc đụn cỏ, hoặc gần bên vườn, hoặc gò
mả, hoặc mé nước, hoặc đống đá, hoặc nơi chòm cây,
bên đống gai, nơi vực sâu, bên ngòi kênh, hoặc nơi đống
phân, hoặc thôn, cương giới của thôn... làm tiêu tướng.
Một vị xướng tướng bốn phương rồi, trong chúng nên sai
một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc tác bạch
như vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Như tiêu tướng cương giới đã
công bố, nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận nơi đây kết giới cho đồng nhất trú xứ, đồng nhất
thuyết giới. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Như tiêu tướng cương giới đã
công bố, nay Tăng kết giới nơi đây cho đồng nhất trú xứ,
đồng nhất thuyết giới. Các trưởng lão nào chấp thuận,
Tăng kết giới nơi đây cho đồng nhất trú xứ, đồng nhất
thuyết giới thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
«Chúng
Tăng đã chấp thuận kết giới nơi đây cho đồng nhất trú
xứ, đồng nhất thuyết giới rồi. Tăng chấp thuận nên im
lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Đức
Phật dạy tiếp:
Từ
nay về sau cho phép kết giới theo pháp thức như vầy:
Nên
trải tòa, đánh kiền chùy, tất cả đều tập trung lại một
chỗ, không cho phép nhận dục. Trong chúng vị nào là tỳ-kheo
cựu trú nên xướng tiêu tướng bốn phương của đại giới:
phương đông có núi thì lấy núi làm tiêu tướng; hoặc thôn,
hoặc thành, hoặc bờ, hoặc ruộng, hoặc vườn, hoặc rừng,
hoặc ao, hoặc cây, hoặc đá, hoặc tường, hoặc miễu thần,
hoặc nhà... Như tiêu tướng của phương đông, các phương
kia cũng vậy. Trong chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma,
dựa theo sự việc trên tác bạch vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo trong trú xứ này đã xướng
tiêu tướng bốn phương của đại giới. Nếu thời gian thích
hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng dựa vào nội
tướng bốn phương này kết làm đại giới đồng nhất trú
xứ, đồng nhất thuyết giới. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo nơi trú xứ này đã xướng
tiêu tướng bốn phương của đại giới. Nay Tăng dựa vào
bên trong tiêu tướng bốn phương kết làm đại giới đồng
nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới. Các trưởng lão nào
chấp thuận, nay Tăng dựa vào bên trong tiêu tướng bốn phương
này kết làm đại giới đồng nhất trú xứ, đồng nhất
thuyết giới thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
«Chúng
Tăng đã chấp thuận bên trong tiêu tướng bốn phương này
kết làm đại giới cho đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết
giới rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được ghi
nhận như vậy.»
Bấy
giờ có trường hợp các tỳ-kheo chỉ cần chúng bốn người
để tác yết-ma; hoặc chúng tỳ-kheo năm người, chúng tỳ-kheo
mười người, chúng tỳ-kheo hai mươi người, để tác yết-ma.
Trong khi đó, tập hợp cả đại chúng rất mỏi mệt. Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
Cho
phép kết giới trường, bằng pháp bạch nhị yết-ma như vầy:
Xướng
giới tướng bốn phương: hoặc đóng nọc để làm tiêu tướng,
hoặc đá, hoặc bờ ruộng... qui định ngang với mức nào
đó. Rồi trong chúng sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma,
dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo trong trú xứ này xướng
tướng bốn phương của tiểu giới. Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, Tăng chấp thuận, dựa vào bên trong tiêu tướng
bốn phương của tiểu giới kết làm giới trường. Đây là
lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo nơi trú xứ này xướng tướng
bốn phương của tiểu giới. Nay Tăng dựa vào bên trong tiêu
tướng bốn phương của tiểu giới kết làm giới trường.
Các trưởng lão nào chấp thuận, Tăng dựa vào bên trong tiêu
tướng bốn phương này kết làm giới trường thì im lặng.
Vị nào không đồng ý xin nói.
«Chúng
tăng đã chấp thuận bên trong tiêu tướng bốn phương này
kết làm giới trường rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng.
Việc này được ghi nhận như vậy.»
Bấy
giờ. Các tỳ-kheo có ý muốn mở rộng giới, hoặc thu hẹp
giới lại. Đức Phật dạy:
Từ
nay về sau, nếu muốn thay đổi tiêu tướng của giới thì
trước hết phải giải cương giới của giới cũ, sau đó
mới nới rộng ra hay thu hẹp lại tùy ý. Giải cũng bằng
pháp bạch nhị yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạnh như
vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nay đây là trú xứ đồng một trú
xứ, đồng một thuyết giới của tỳ-kheo. Nếu thời gian
thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận giải giới. Đây
là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Đây là trú xứ đồng một trú xứ,
đồng một thuyết giới của tỳ-kheo. Nay giải giới. Các
trưởng lão nào chấp thuận, đây là trú xứ đồng một trú
xứ, đồng một thuyết giới của tỳ-kheo, nay Tăng giải giới,
thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
«Chúng
tăng đã chấp thuận, đây là trú xứ đồng một trú xứ,
đồng một thuyết giới của tỳ-kheo, nay Tăng giải giới.
Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như
vậy.»
3.
Thất y giới
Bấy
giờ, có một tỳ-kheo yểm ly, thấy nơi a-lan-nhã có một cái
hang lý tưởng, tự nghĩ rằng: «Nếu ta được lìa y để
ngủ đêm,[25] thì ta sẽ ở hang này.»
Các
tỳ-kheo đem vấn đề này đến bạch lên đức Phật. Đức
Phật dạy:
«Từ
nay về sau, nên kết giới không mất y, bằng pháp bạch nhị
yết-ma. Trong chúng nên sai một vị có thể tác yết-ma, dựa
theo sự việc trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Đây là trú xứ đồng nhất trú
xứ, đồng nhất thuyết giới. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận kết [820a1] giới không mất y.
Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Đây là trú xứ đồng nhất trú
xứ, đồng nhất thuyết giới, nay Tăng kết giới không mất
y. Các trưởng lão nào chấp thuận, nơi đây đồng nhất trú
xứ, đồng nhất thuyết giới, Tăng kết giới không mất y,
thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận, nơi đây đồng một trú xứ, đồng một
thuyết giới, kết giới không mất y rồi. Tăng đã chấp thuận
nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo thay y để nhà cư sĩ. Trong khi thay y, loã
hình. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép các tỳ-kheo kết giới không mất y trừ
thôn và ranh giới ngoài của thôn, bằng pháp bạch nhị yết-ma.
Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa
theo sự việc trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Đây là trú xứ đồng một trú xứ,
đồng một thuyết giới. Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận kết giới không mất y, trừ thôn và
cương giới ngoài của thôn ra. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Đây là trú xứ đồng một trú xứ
đồng một thuyết giới. Nay Tăng kết giới không mất y, trừ
thôn và cương giới ngoài của thôn ra. Các trưởng lão nào
chấp thuận, Tăng ở trú xứ này đồng một trú xứ, đồng
một thuyết giới này, kết giới không mất y, trừ thôn và
cương giới ngoài thôn ra, thì im lặng. Vị nào không đồng
ý xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận nơi đây đồng một trú xứ, đồng một thuyết
giới, kết giới không mất y, trừ thôn và cương giới ngoài
thôn ra rồi. Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo kết hai giới tiếp nhau. Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy. Cần phải có tiêu tướng.»
Hai
cương giới chồng lên nhau. Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy. Cần phải có khoảng trống giữa hai giới.»
Có
các tỳ-kheo nọ giải đại giới trước rồi giải giới không
mất y. Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy. Trước phải giải giới không mất y, rồi
mới giải đại giới.»
Trường
hợp kết giới không mất y cách dòng nước chảy mạnh, khi
tỳ-kheo đến lấy y, bị nước cuốn trôi. Các tỳ-kheo đến
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, không được kết giới không mất y cách bởi dòng
nước chảy mạnh, trừ có cầu đi qua lại.»
4.
Đại giới liên kết
Trường
hợp hai trú xứ lợi dưỡng riêng, thuyết giới riêng. Các
tỳ-kheo muốn kết chung lại thành đồng nhất thuyết giới,
đồng nhất lợi dưỡng. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức
Phật dạy:
Từ
nay về sau, cho phép giải giới; rồi sau đó mới kết, bằng
pháp bạch nhị yết-ma.
Hai
trú xứ đều tự giải giới, rồi tập trung hết lại một
chỗ; không được nhận dục. Nên xướng tướng của cương
giới bốn phương hoặc chỗ a-lan-nhã, nơi gốc cây, chỗ đất
trống, hoặc núi, hoặc hang, hoặc hang núi, cỏ, vườn, rừng,
gò, mả, bên sông, hoặc đá, gốc cây chặt trụi, hoặc chòm
gai, hoặc hào, kênh, ao, đống phân, hoặc thôn, cương giới
của thôn... xướng cương giới ngang bằng chỗ nào rồi, trong
chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo
sự việc trên nên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Như giới tướng đã công bố, nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nơi
trú xứ này và trú xứ kia kết đồng nhất lợi dưỡng, đồng
nhất thuyết giới. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Như giới tướng đã công bố, nay
Tăng đối với trú xứ này và trú xứ kia kết đồng nhất
thuyết giới, đồng nhất lợi dưỡng. Các trưởng lão nào
đồng ý, Tăng đối với trú xứ này và trú xứ kia kết đồng
nhất thuyết giới, đồng nhất lợi dưỡng, thì im lặng.
Vị nào không đồng ý xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận nơi trú xứ này và trú xứ kia kết đồng
nhất lợi dưỡng, đồng nhất thuyết giới rồi. Tăng đã
chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Trường
hợp có hai trú xứ thuyết giới riêng, lợi dưỡng riêng.
Ý các tỳ-kheo muốn kết thành đồng một thuyết giới nhưng
lợi dưỡng riêng. Đức Phật dạy:
Từ
nay về sau, cho phép giải giới, sau đó kết lại bằng bạch
nhị yết-ma. Hai bên đều tự giải rồi, tập trung lại một
chỗ, không được nhận dục. Nên xướng tướng ở cương
giới hoặc a-lan-nhã, hoặc chỗ trống không... cho đến cương
giới của thôn như trước. Xưng tên của hai trú xứ. Trong
chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Như cương giới bốn phương đã
công bố. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, nơi đây kết đồng một thuyết giới, nhưng riêng
lợi dưỡng. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Như cương giới bốn phương đã
công bố. Nay Tăng nơi trú xứ này kết đồng một thuyết
giới, nhưng lợi dưỡng riêng. Các trưởng lão nào đồng
ý, trong phạm vi cương giới bốn phương, Tăng kết đồng
một thuyết giới, nhưng riêng lợi dưỡng, thì im lặng. Vị
nào không đồng ý xin nói.
«Tăng
đã đồng ý trong cương giới bốn phương nầy kết đồng
một thuyết giới nhưng riêng lợi dưỡng rồi. Tăng đã chấp
thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Trường
hợp có hai trú xứ thuyết giới riêng, lợi dưỡng riêng.
Các tỳ-kheo muốn thuyết giới riêng nhưng đồng một lợi
dưỡng, lý do là để giữ gìn trú xứ. Đức Phật dạy:
Cho
phép tập Tăng giải giới, rồi bạch nhị yết-ma kết. Trong
chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nơi hai trú xứ này kết thuyết giới
riêng, nhưng đồng một lợi dưỡng vì để giữ gìn trú xứ
vậy. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nay Tăng nơi hai trú xứ này kết
thuyết giới riêng, nhưng đồng một lợi dưỡng vì muốn
giữ gìn trú xứ. Các trưởng lão nào đồng ý, Tăng đối
với hai trú xứ này kết thuyết giới riêng, nhưng đồng một
lợi dưỡng, vì để giữ gìn trú xứ, thì im lặng. Vị nào
không đồng ý xin nói.
«Tăng
đã đồng ý đối với hai trú xứ này kết thuyết giới riêng,
nhưng đồng một lợi dưỡng, vì để giữ gìn trú xứ rồi.
Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận
như vậy.»
Trường
hợp có hai trú xứ đồng một thuyết giới, đồng một lợi
dưỡng. Các tỳ-kheo muốn được thuyết giới riêng, lợi
dưỡng riêng. Đức Phật dạy:
Từ
nay về sau cho phép tập trung một chỗ để giải giới, rồi
tùy theo trú xứ kia, mỗi bên đều tự kết giới.
Bấy
giờ có hai trú xứ cách xa nhau, đồng một thuyết giới, đồng
một lợi dưỡng. Trú xứ kia nhận được một ít đồ ăn
thức uống cúng dường đều đem đến trú xứ này, đến
nơi thì giờ ăn đã qua. Trú xứ này nhận được một ít
đồ ăn thức uống cúng dường đều mang đến trú xứ kia,
đến nơi thì giờ ăn đã qua. Các tỳ-kheo đem việc này đến
bạch Phật. Đức Phật dạy:
Không
được hai trú xứ cách xa nhau mà đồng một thuyết giới,
đồng một lợi dưỡng. Từ nay về sau cho phép nói lời như
vầy: nếu trú xứ này đặng một ít đồ ăn thức uống cúng
dường thì chỉ cần phân chia nơi trú xứ này. Trú xứ kia
được một ít đồ cúng dường thì chỉ cần phân chia nơi
trú xứ kia mà thôi.
5.
Tiểu giới
Bấy
giờ gặp ngày bố-tát, có số đông tỳ-kheo, trên đường
kinh qua khoảng trống, không thôn xóm, tâm tự nghĩ rằng: «Đức
Thế Tôn chế giới, phải tập hợp lại một chỗ hòa hợp
để thuyết giới. Chúng ta nên làm sao đây?» Các tỳ-kheo
đem việc này đến bạch lên đức Phật. Phật dạy:
«Các
tỳ-kheo lắng nghe! Nếu ngày bố-tát mà đang đi nơi khoảng
trống, không có thôn xóm, chúng Tăng nên hòa hợp, tập trung
lại một chỗ để cùng nhau thuyết giới. Nếu Tăng hòa hợp
không được thì tùy theo đồng Hòa thượng, đồng yết-ma,
thiện hữu tri thức, cùng nhau dừng bên đường, tập hợp
lại một chỗ, kết tiểu giới để thuyết giới, bằng pháp
bạch nhị yết-ma, như vầy:
Trong
chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nay chừng này tỳ-kheo gồm... vị
tập hợp. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận kết tiểu giới. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nay có chừng này tỳ-kheo tập hợp
kết tiểu giới. Các trưởng lão nào chấp thuận nay chừng
này tỳ-kheo tập hợp kết tiểu giới thì im lặng. Vị nào
không đồng ý xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận, chừng này tỳ-kheo[821a1] tập hợp kết tiểu
giới rồi. Tăng đã đồng ý nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo kết giới rồi, nhưng không giải giới mà
bỏ đi, mọi người cơ hiềm; đến bạch Phật. Đức Phật
dạy:
Không
được không giải giới mà bỏ đi. Nên bạch nhị yết-ma
để giải như vầy:
Trong
chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nay số chừng này tỳ-kheo tập hợp.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận
giải tiểu giới nơi đây. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nay số chừng này tỳ-kheo tập hợp
để giải tiểu giới này. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng
giải tiểu giới nơi đây thì im lặng. Vị nào không đồng
ý xin nói.
«Tăng
đã đồng ý giải tiểu giới này rồi. Tăng đã đồng ý
nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Bấy
giờ, trời mưa nước sông lớn. Các tỳ-kheo lại kết giới
cách một con sông mà đồng một trú xứ, đồng một thuyết
giới. Ngày mười lăm, muốn qua bên kia sông thuyết giới mà
không thể lội qua được, nên không thành tựu được việc
thuyết giới. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật, Phật
dạy:
Không
được cách hai bên dòng sông mà kết đồng một thuyết giới,
trừ có thuyền, cầu qua lại.
Trường
hợp có hai trú xứ cách xa nhau, kết đồng một thuyết giới.
Đến ngày mười lăm, các tỳ-kheo muốn đến tụ hợp để
thuyết giới mà nội trong ngày không đến kịp nên không thành
tựu việc kết giới. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức
Phật dạy:
Không
được hai trú xứ cách xa nhau mà kết chung một thuyết giới.
Nếu trú xứ cách dòng sông quá xa mà đồng một trú xứ đồng
một thuyết giới thì các tỳ-kheo ngày mười lăm thuyết giới,
ngày mười bốn phải đến trước; ngày mười bốn thuyết
giới, ngày mười ba phải đến trước. Không được nhận
dục.
III.
TẬP TĂNG
1.
Bạch Tăng
1.
Trường hợp có trú xứ nọ, đến ngày thuyết giới, có một
tỳ-kheo vào phòng đóng cửa ngủ. Các tỳ-kheo thuyết giới
rồi, vừa đứng dậy để giải tán, vị tỳ-kheo ngủ kia
nghe tiếng khua động thức dậy hỏi các tỳ-kheo:
«Các
Đại đức! muốn đi đâu, không thuyết giới sao?»
Các
tỳ-kheo trả lời:
«Chúng
tôi đã thuyết giới rồi. Vậy nãy giờ thầy đi đâu?»
Vị
kia nói:
«Sáng
giờ tôi ở nhà đóng cửa phòng ngủ chứ đi đâu.»
Các
tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
Ngày
thuyết giới, không được đóng cửa phòng mà ngủ. Từ nay
về sau, cho phép vị ngồi gần kiểm tra để biết người
nào đến, người nào không đến. Từ nay cho phép bạch trước,
sau đó mới thuyết giới. Văn bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nay là ngày mười lăm, chúng Tăng
thuyết giới. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận hòa hợp thuyết giới. Đây là lời tác bạch.»
Tác
bạch như vậy rồi sau đó mới thuyết giới.[26]
2.
Lúc bấy giờ, đến ngày thuyết giới, có tỳ-kheo ở một
mình tại một trú xứ, tự nghĩ rằng: «Đức Phật chế pháp,
nên hòa hợp tập trung lại một chỗ để thuyết giới. Nay
ta nên thế nào đây?» Vị ấy liền nói với các tỳ-kheo.
Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
Các
ông nên lắng nghe kỹ: Nếu đến ngày thuyết giới, tỳ-kheo
ở một mình, tỳ-kheo ấy nên đến nơi thuyết giới đường,
lau quét sạch sẽ, trải tọa cụ, múc bình nước súc miệng
và rửa chân, thắp đèn, sắp xá-la. Nếu có khách tỳ-kheo
đến, bốn vị hay hơn bốn vị thì tác bạch rồi mới thuyết
giới.
Nếu
có ba vị thì mỗi vị hướng vào nhau nói: ‹Hôm nay là ngày
mười lăm, Tăng thuyết giới, tôi tỳ-kheo... thanh tịnh.›[27]
Nói như vậy ba lần. Nếu có hai vị cũng hướng vào nhau nói:
‹Hôm nay là ngày mười lăm, Tăng thuyết giới, tôi tên là...
thanh tịnh.› Nói như vậy ba lần. Nếu có một vị thì nên
tâm nghĩ miệng nói: ‹Hôm nay là ngày mười lăm chúng Tăng
thuyết giới, tôi tỳ-kheo tên là... thanh tịnh.› Nói như
vậy ba lần.
Nếu
ba người thì không được nhận dục thanh tịnh của người
thứ tư, và bạch thuyết giới. Hai người thì không được
nhận dục thanh tịnh của người thứ ba, mà mỗi người nên
nói ba lời. Một người thì không được nhận dục thanh tịnh
của người thứ hai, nên tâm niệm nói ba lần.
3.
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo phi pháp biệt chúng yết-ma thuyết
giới, phi pháp hòa hợp chúng, pháp biệt chúng yết-ma thuyết
giới. Các tỳ-kheo đến bạch đức Thế Tôn. Ngài dạy:
Không
được phi pháp biệt chúng yết-ma thuyết giới, phi pháp hòa
hợp chúng. Không được dùng pháp biệt chúng yết-ma thuyết
giới.
Thuyết
giới có bốn cách:
Bấy
giờ, các tỳ-kheo phi pháp biệt chúng, phi pháp hòa hợp chúng,
như pháp biệt chúng, như pháp hòa hợp chúng yết-ma thuyết
giới. Nếu tỳ-kheo kia phi pháp biệt chúng yết-ma thuyết giới
thì vị kia không thành thuyết giới. Nếu phi pháp hòa hợp
chúng, như pháp biệt chúng yết-ma thuyết giới, thì không
thành thuyết giới. Chỉ có như pháp hòa hợp chúng yết-ma
thuyết giới, gọi là thuyết giới. Nên thuyết giới như vậy,
đó là pháp của Ta.
2.
Dữ dục
1.
Bấy giờ, đến ngày thuyết giới, Tăng tập hợp vì có Tăng
sự. Đức Thế Tôn bảo:
«Nay
có việc của Tăng, các tỳ-kheo tĩnh lặng.[28]»
Có
tỳ-kheo đến bạch Phật:
«Bạch
Đại đức! Có tỳ-kheo bệnh không đến được.»
Đức
Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép dữ dục.[29] Người nhận dục nên đem
dục đến.» Vị kia nên gởi dục như vầy: Nên nói, ‹Tôi
gởi dục nơi Đại đức›, hay nói, ‹Tôi thuyết dục›,
hay nói, ‹Nhớ thuyết dục dùm tôi›, hoặc ra dấu để dữ
dục; tất cả đều thành dữ dục. Hoặc nói đầy đủ để
dữ dục thì thành dữ dục. Nếu không hiện thân tướng,
miệng không thuyết dục thì không thành dữ dục, cần phải
dữ dục trở lại.
Nếu
tỳ-kheo nhận dục đến chỗ tỳ-kheo bệnh để nhận dục;
nhận dục rồi qua đời, hoặc đi chỗ khác, hoặc thôi tu,
hoặc vào trong ngoại đạo, hoặc vào nơi bộ chúng khác, hoặc
đến trên giới trường, hoặc minh tướng xuất hiện, hoặc
tự nói phạm biên tội, hoặc phạm tỳ-kheo-ni, hoặc tặc
tâm làm sa-môn, hoặc phá nội ngoại đạo, hoặc huỳnh môn,
hoặc sát phụ mẫu, sát A-la-hán, hoặc đấu loạn chúng Tăng,
hoặc với ác tâm làm thân Phật ra máu, hoặc phi nhơn, hoặc
súc sanh, hoặc hai hình, hoặc bị cử, hoặc diệt tẫn, hoặc
đáng diệt tẫn, hoặc nương thần túc ở trên không, hoặc
lìa chỗ thấy nghe; tất cả không thành dữ dục, phải gởi
dục cho người khác. Trường hợp đến giữa đường hay đến
trong Tăng cũng như vậy. Nếu người nhận dục ngủ, hoặc
nhập định hay quên; không cố ý làm như vậy thì thành dữ
dục. Nếu cố ý không nói thì phạm đột-kết-la. Nếu bệnh
nhân có thể làm được như vậy thì tốt, bằng không thì
dìu tỳ-kheo bệnh đến, hay để trên giường cây, giường
dây khiêng đến trong Tăng. Nếu sợ khua động tỳ-kheo bệnh
ảnh hưởng đến căn bệnh có thể bị chết, thì tất cả
chúng Tăng nên đến xung quanh chỗ tỳ-kheo bệnh để tác yết-ma.
Nếu số tỳ-kheo bệnh đông mà tập trung được lại một
chỗ thì tốt, bằng không thì các tỳ-kheo phải ra ngoài giới
tác yết-ma. Không có cách nào được phép biệt chúng tác
yết-ma.
2.
Bấy giờ, [822a1] đến ngày thuyết giới, chúng Tăng tập hợp
lại một chỗ để thuyết giới, đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
«Đã
đến giờ thuyết giới các ông nên tĩnh lặng.»
Bấy
giờ có tỳ-kheo nọ bạch đức Thế Tôn rằng:
«Hiện
có tỳ-kheo bệnh không đến được.»
Đức
Phật dạy:
Từ
nay về sau cho phép gởi sự thanh tịnh,[30] cho phép tỳ-kheo
đến nhận sự thanh tịnh. Tỳ-kheo kia nên gởi như sau: Nói
«Tôi thanh tịnh» tức thành gởi sự thanh tịnh, cho đến,
nói đầy đủ để gởi sự thanh tịnh như pháp dữ dục trên,
thì thành gởi sự thanh tịnh. Nếu thân không hiện tướng,
miệng không nói lên sự thanh tịnh thì không thành gởi sự
thanh tịnh. Cũng như pháp gởi dục trên kia, pháp gởi sự
thanh tịnh cũng vậy. Nếu người nhận thanh tịnh đến chỗ
tỳ-kheo bệnh nhận sự thanh tịnh; khi nhận sự thanh tịnh
rồi thì mạng chung hay đi nơi khác, hoặc thôi tu, hoặc gia
nhập chúng của ngoại đạo, hoặc vào bộ chúng khác, hoặc
đến trên giới trường, hoặc tướng bình minh xuất hiện,
hoặc tự nói phạm biên tội, hoặc phạm tỳ-kheo-ni, hoặc
tặc tâm làm sa-môn, hoặc phá nội ngoại đạo, hoặc huỳnh
môn, hoặc sát cha mẹ, sát A-la-hán, hoặc đấu loạn chúng
Tăng, hoặc với ác tâm làm thân Phật ra máu, hoặc phi nhơn,
hoặc súc sanh, hoặc hai hình, hoặc bị cử, hoặc diệt tẫn,
hoặc đáng diệt tẫn, hoặc nương thần túc ở trên không,
hoặc lìa chỗ thấy nghe; thảy đều không thành gởi sự thanh
tịnh, cần gởi cho người khác.
Trường
hợp đến giữa đường hoặc đến trong chúng cũng như vậy.
Người nhận sự thanh tịnh hoặc ngủ, hoặc nhập định hoặc
quên, mà không cố ý làm như vậy thì thành gởi sự thanh
tịnh. Nếu vị ấy cố ý không nói thì phạm đột-kết-la.
Nếu tỳ-kheo bệnh có thể làm như vậy được càng hay, bằng
không thể làm được thì nên dìu người bệnh đến hay để
trên giường dây, giường cây khiêng đến trong Tăng.
Bấy
giờ, các tỳ-kheo nghĩ rằng: Nếu khiêng tỳ-kheo bệnh đến
sợ bệnh tình tăng thêm, hoặc đưa đến mạng chung, chúng
Tăng nên đến đó tác yết-ma thuyết giới. Nếu có số đông
tỳ-kheo bệnh thì tập hợp lại một chỗ được thì càng
hay, nếu không thì các tỳ-kheo nên ra ngoài giới để tác
yết-ma thuyết giới. Nếu không ra ngoài giới thì không được
biệt chúng tác yết-ma thuyết giới, không có cách nào cho
phép biệt chúng yết-ma thuyết giới.
Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo gởi dục mà không gởi thanh tịnh,
trong Tăng có sự việc khởi lên, không thuyết giới được.
Bấy giờ, tỳ-kheo mang dục đến nói:
«Tôi
đem dục đến chứ không đem được sự thanh tịnh.» Việc
yết-ma thuyết giới được đình lại, khiến các tỳ-kheo
mỏi mệt, nên đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
Từ
nay về sau, khi gởi dục nên gởi thanh tịnh. Nên nói như sau:
«Tôi gởi dục và thanh tịnh cho thầy.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo dựa theo sự việc, nói:
«Tôi
gởi dục và thanh tịnh cho thầy theo sự việc này.»
Trong
tăng có nhiều việc khác khởi lên, bấy giờ tỳ-kheo đem
dục đến nói:
«Tôi
đem dục và thanh tịnh cho sự việc này chứ không đem dục
và thanh tịnh cho việc khác.» Do vậy, công việc bị đình
lại. Các tỳ-kheo đều bị mỏi mệt, đến bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Không
được theo từng sự việc mà gởi dục và thanh tịnh. Cho
phép gởi dục và thanh tịnh cho Tăng sự như pháp.»
Trường
hợp tỳ-kheo nhận dục thanh tịnh hoặc qua đời, hoặc thôi
tu, hoặc vào trong chúng của ngoại đạo, hoặc vào bộ chúng
khác, hoặc đến trên giới trường, hoặc dấu hiệu bình
minh xuất hiện. Các tỳ-kheo nghĩ, «Gởi dục và thanh tịnh
như vậy bị mất hay không?»
Đức
Phật dạy:
«Bị
mất.»
Trường
hợp tỳ-kheo nhận dục và thanh tịnh trên đường đi bị
cách trở,[31] hay nạn giặc, nạn thú dữ, hoặc nước lụt,
không thể đến nơi được, bèn từ ngoài cương giới[32]
mà đến trong Tăng-già-lam gởi dục thanh tịnh. Các tỳ-kheo
nghĩ, có bị mất dục và thanh tịnh chăng ?
Đức
Phật dạy:
«Không
mất.»
Từ
nay về sau cho phép tỳ-kheo gởi dục và thanh tịnh gặp mạng
nạn, phạm hạnh nạn, hoặc trong giới mà không đến được
trong Tăng, cho phép từ ngoài cương giới mà đến trong Tăng
gởi dục và thanh tịnh, như vậy không bị mất dục. Gởi
dục thanh tịnh như vậy là đúng lời Ta dạy.
Bấy
giờ, các tỳ-kheo nhận dữ dục thanh tịnh một người rồi,
nghi không dám nhận dục thanh tịnh người thứ hai. Đức Phật
dạy: «Cho phép nhận.»
Vị
kia nhận dục thanh tịnh hai người rồi, lại nghi không dám
nhận dục thanh tịnh người thứ ba. Đức Phật dạy: «Cho
phép nhận.»
Vị
kia nhận dục thanh tịnh ba người rồi, lại nghi không dám
nhận dục thanh tịnh người thứ tư. Đức Phật dạy: «Cho
phép nhận.»
Đức
Phật dạy tiếp: «Nếu có thể nhớ tên bao nhiêu thì tùy
theo đó nhận nhiều hay ít. Nếu không thể nhớ tên thì nói
họ, không thể nhớ họ thì nói tướng mạo. Không nhớ tướng
mạo thì nói số đông tỳ-kheo như pháp Tăng sự dữ dục
thanh tịnh.»
3.
Thuyết giới
4.
Bấy giờ, có một nơi, đến ngày thuyết giới, đại chúng
tập hợp thuyết giới, nhưng âm thanh nhỏ, đại chúng không
nghe được. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép đứng giữa chúng để thuyết giới. Nếu
đứng nói mà vẫn không nghe thì nên lập tòa rất cao giữa
chúng để ngồi nói. Nếu vẫn không nghe thì nên làm toà cao
chuyển luân[33] đứng ngang tầm tay với, từ nơi đó thuyết
giới.
«Khi
tụng bị quên hay lộn thì tỳ-kheo ngồi gần nên nhắc. Nếu
vẫn quên thì vị tỳ-kheo thứ hai nên thay thế để nói. Nên
nói tiếp theo chứ không được nói trở lại.»
5.
Trường hợp có việc xảy ra cho tỳ-kheo đem dục thanh tịnh,
như việc Tăng, việc Phật, việc Pháp, việc tỳ-kheo bệnh.
Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
Từ
nay về sau, cho phép chuyển trao dục thanh tịnh cho các tỳ-kheo
khác. Nên nói như sau: ‹Tôi nhận dục thanh tịnh cho số đông
tỳ-kheo. Vị kia và bản thân tôi, Tăng sự như pháp, gởi
dục thanh tịnh.›
6.
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nói đến tên Hòa thượng, A-xà-lê.
Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được gọi tên Hòa thượng, A-xà-lê.»
Các
tỳ-kheo hỏi với nhau, Hòa thượng, A-xà-lê của thầy tên
là gì? Vị kia không dám trả lời.
Các
tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
có người hỏi thì cho phép xưng tên của Hòa thượng, A-xà-lê.»
Trường
hợp tỳ-kheo hành ba-lợi-bà-sa, bổn nhật trị, ma-na-đỏa,
a-phù-ha-na, hoặc khi yết-ma lập chế, hoặc khi thọ giới,
hoặc khi sai người, hoặc khi giải (yết-ma) thì nên xưng tên
Hòa thượng, A-xà-lê.
Khi
tỳ-kheo có nhơn duyên nên xưng tên Hòa thượng, A-xà-lê mà
không dám xưng. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu có nhân duyên thì cho phép xưng danh tự Hòa thượng,
A-xà-lê.»
Nếu
tỳ-kheo bận việc nên dữ dục thanh tịnh, dữ dục rồi,
công việc xong, sanh nghi không dám đến chỗ thuyết giới.
Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
công việc xong nên đến, không đến nên như pháp trị.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo có ý nghĩ không đến chỗ thuyết giới do sợ
tỳ-kheo khác vì mình tác yết-ma ngăn không cho thuyết giới.
Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy.»
Vị
kia lại nghĩ không đến chỗ thuyết giới sợ vì thân hữu
tri thức của ta tác yết-ma hoặc ngăn việc thuyết giới.
Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy.»
Vị
kia lại nghĩ, ta đến chỗ thuyết giới không ngồi, sợ các
tỳ-kheo khác vì ta tác yết-ma, hoặc ngăn thuyết giới. Đức
Phật dạy:
«Không
được như vậy.»
Nếu
vì thân hậu tri thức mà đến chỗ thuyết giới không ngồi,
cũng như vậy.
8.
Bấy giờ, có trú xứ, đến ngày thuyết giới, chúng Tăng
tập hợp đông. Khi sắp thuyết giới, nghe có giặc đến,
thảy đếu sợ hãi nên rời chỗ ngồi bỏ đi, [823a1] không
thành thuyết giới. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Từ
nay về sau, khi tám nạn sự khởi, hoặc có các duyên, cho phép
thuyết giới lược. Tám nạn sự là: Vua, giặc cướp, lửa,
nước, bệnh, nhơn, phi nhơn, ác trùng. Các duyên khác là: đại
chúng tập hợp đông mà chỗ ngồi ít, hoặc phần đông trong
chúng bị bệnh, thì cho phép thuyết giới lược.»
«Trường
hợp đại chúng tập hợp đông mà trên chỗ ngồi che không
hết, hoặc trời mưa thì cho thuyết giới lược. Hoặc bố-tát
nhiều,[34] đêm đã khuya, hoặc có tranh cãi, hoặc luận biện
A-tỳ-đàm, Tỳ-ny, hoặc nói pháp quá khuya. Từ nay về sau,
cho phép tất cả chúng chưa đứng dậy, khi dấu hiệu bình
minh chưa xuất hiện nên tác yết-ma thuyết giới, chứ không
có cách nào có thể được phép thọ dục và thanh tịnh cách
đêm[35] yết-ma thuyết giới.»
Tỳ-kheo
nọ có ý nghĩ, vì nạn duyên cho phép thuyết giới lược,
nạn duyên chưa đến gấp, chúng ta có thể thuyết giới đầy
đủ. Tỳ-kheo kia nên thuyết giới đầy đủ; không thuyết
giới đầy đủ, sẽ như pháp trị.
Tỳ-kheo
nọ có ý nghĩ, nạn duyên này đã đến gần, chúng ta không
thể thuyết giới đầy đủ, chỉ có thể nói đến chín mươi
việc. Vị tỳ-kheo nọ nên nói chín mươi việc; không nói
sẽ như pháp trị.
Các
tỳ-kheo có ý nghĩ, nạn sự đã đến gần, chúng ta không
thể thuyết giới đầy đủ đến chín mươi việc, mà chỉ
có thể nói đến ba mươi việc thì nên nói đầy đủ ba mươi
việc; không nói sẽ như pháp trị.
Các
tỳ-kheo nghĩ, nạn sự này gần, chúng ta nói đầy đủ ba
mươi việc không được, chỉ có thể nói đến hai pháp bất
định. Tỳ-kheo nên nói đến hai pháp bất định; không nói
sẽ như pháp trị.
Bấy
giờ, các tỳ-kheo khởi nghĩ, nạn sự gần quá, chúng ta không
thể nói đầy đủ đến hai pháp bất định, có thể nói
đến mười ba việc. Vị kia phải nói đến mười ba việc,
không nói sẽ như pháp trị.
Các
tỳ-kheo kia nghĩ, nạn sự này gần, không thể nói đến mười
ba việc, có thể nói đến bốn việc. Tỳ-kheo kia nên nói
bốn việc; không nói sẽ như pháp trị.
Tỳ-kheo
kia nghĩ, nạn sự này, chúng ta nói bốn việc không được,
chỉ có thể nói bài tựa của giới. Vị kia phải nói đến
bài tựa của giới; không nói sẽ như pháp trị.
Bấy
giờ, các tỳ-kheo nghĩ, nạn sự này đến rồi, chúng ta nói
bài tựa của giới không được. Do nhân duyên của nạn sự
này, các tỳ-kheo phải từ chỗ ngồi đứng dậy đi liền.
Năm
cách nói pháp: Nói bài tựa rồi, còn lại nên nói ‹Như Tăng
thường nghe.› Nói bài tựa và bốn việc rồi, còn lại nên
nói ‹Như Tăng thường nghe.› Nói bài tựa, bốn việc và
mười ba việc rồi, còn lại nên nói ‹Như Tăng thường nghe.›
Nói bài tựa, bốn việc, mười ba việc, và hai việc rồi,
còn lại nên nói ‹Như Tăng thường nghe.› Nói đầy đủ
là thứ năm. Như vậy gọi là năm cách thuyết giới.
Lại
có năm cách nói: Nói bài tựa và bốn việc rồi, còn lại
nên nói ‹Như Tăng thường nghe.› Nói bài tựa, bốn việc
và mười ba việc rồi, còn lại nên nói ‹Như Tăng thường
nghe.› Nói bài tựa, bốn việc, mười ba việc và hai việc
rồi, còn lại nên nói ‹Như Tăng thường nghe.› Nói bài
tựa, mười ba việc, hai việc và ba mươi việc rồi, còn lại
nên nói ‹Như Tăng thường nghe.› Nói đầy đủ là thứ
năm.
Lại
có năm cách nói: Nói bài tựa, bốn việc, và mười ba việc
rồi, còn lại nên nói ‹Như Tăng thường nghe.› Nói bài
tựa, bốn việc, mười ba việc, hai việc, và hai việc rồi,
còn lại nên nói ‹Như Tăng thường nghe.› Nói bài tựa,
bốn việc, mười ba việc, hai việc, và ba mươi việc rồi,
còn lại nên nói ‹Như Tăng thường nghe.› Nói bài tựa,
bốn việc, mười ba việc, hai việc, ba mươi việc, chín mươi
việc rồi, còn lại nên nói ‹Như Tăng thường nghe.› Nói
đầy đủ là cách thứ năm. Như vậy gọi là năm cách thuyết
giới.
9.
Thế Tôn ở tại thành La-duyệt, trong núi Kỳ-xà-quật. Bấy
giờ có một tỳ-kheo tên là Na-na-do[36] tâm loạn cuồng si,
có khi nhớ ngày thuyết giới, có khi không nhớ, có khi đến
có khi không đến. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật.
Đức Phật dạy:
Từ
nay về sau, trao cho tỳ-kheo Na-na-do pháp bạch nhị yết-ma tâm
loạn cuồng si, theo phương thức như sau: Trong chúng nên sai
một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác
bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo Na-na-do nầy tâm loạn cuồng
si, có khi nhớ ngày thuyết giới, có khi không nhớ; có khi
đến, có khi không đến. Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, trao cho tỳ-kheo này yết-ma tâm loạn
cuồng si, hoặc nhớ, hoặc không nhớ, hoặc đến, hoặc không
đến đối với việc Tăng tác yết-ma thuyết giới. Đây là
lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo Na-na-do nầy tâm loạn cuồng
si, hoặc nhớ ngày thuyết giới, hoặc không nhớ, hoặc đến,
hoặc không đến. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo Na-na-do yết-ma tâm
loạn cuồng si, hoặc nhớ, hoặc không nhớ, hoặc đến, hoặc
không đến đối với việc yết-ma thuyết giới. Các trưởng
lão nào chấp thuận, Tăng trao cho Na-na-do này pháp cuồng si
tâm loạn, nhớ không nhớ, đến không đến đối với việc
yết-ma thuyết giới thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin
nói.
«Tăng
đã
chấp thuận, trao cho tỳ-kheo Na-na-do yết-ma cuồng si tâm loạn,
nhớ không nhớ, đến không đến rồi. Tăng chấp thuận nên
im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Có
ba loại cuồng si: Một là khi thuyết giới, nhớ không nhớ,
đến không đến. Hai là loại cuồng si nhớ thuyết giới mà
không đến. Ba là loại cuồng si không nhớ thuyết giới, không
đến. Trong ba loại cuồng si này, loại có nhớ thuyết giới,
không nhớ thuyết giới, có đến không đến, tỳ-kheo như
vậy chúng Tăng nên trao cho yết-ma cuồng si. Vị kia nhớ thuyết
giới mà không đến, chúng Tăng không nên trao yết-ma cuồng
si. Vị cuồng si không nhớ thuyết giới cũng không đến, không
được trao yết-ma cuồng si.
Tỳ-kheo
kia, Tăng trao yết-ma rồi, sau đó bệnh cuồng si chấm dứt,
khởi nghĩ, «Nay ta nên làm thế nào?» Vị ấy liền thưa với
các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
Nếu
người cuồng si được trao yết-ma rồi, sau đó bệnh cuồng
si hết, nên bạch nhị yết-ma để giải, theo pháp thức như
sau: Tỳ-kheo Na-na-do nên đến giữa chúng Tăng, trống vai bên
hữu, cởi bỏ giày dép, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp
tay thưa:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tôi là tỳ-kheo Na-na-do, trước đây
mắc bệnh cuồng si. Khi thuyết giới, hoặc nhớ hoặc không
nhớ, hoặc đến, hoặc không đến, Tăng đã cho tôi yết-ma
bệnh cuồng si. Nay tôi trở lại được chánh niệm, cầu giải
yết-ma cuồng si.»
Cầu
xin như vậy ba lần. Trong chúng nên sai một vị có khả năng
tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo Na-na-do nầy, trước đây
mắc bệnh cuồng si. Khi thuyết giới, hoặc nhớ hoặc không
nhớ, hoặc đến hoặc không đến, chúng Tăng đã trao cho yết-ma
cuồng si, sau đó bệnh cuồng si hết, nay tỳ-kheo này cần
cầu giải yết-ma bệnh cuồng si. Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, Tăng chấp thuận cho phép giải yết-ma bệnh
cuồng si. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Tỳ-kheo Na-na-do nầy, trước kia mắc
bệnh cuồng si. Khi thuyết giới hoặc nhớ hoặc không nhớ,
hoặc đến hoặc không đến, Tăng đã trao cho pháp yết-ma
bệnh cuồng si, sau khi trao yết-ma rồi, bệnh cuồng si chấp
dứt, nay tỳ-kheo này cần cầu chúng Tăng giải yết-ma cuồng
si. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng giải yết-ma cuồng si
cho tỳ-kheo Na-na-do[824a1] thì im lặng, vị nào không đồng
ý xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận giải yết-ma bệnh cuồng si cho tỳ-kheo Na-na-do
rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được ghi nhận
như vậy.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo đều nghĩ, người được trao cho pháp yết-ma
cuồng si rồi, sau đó bệnh lành, được giải yết-ma bệnh
cuồng si; thời gian sau, bệnh cuồng si lại trở lại, có được
trao pháp yết-ma lại hay không?
Đức
Phật dạy:
«Từ
nay về sau, tùy theo bệnh cuồng si phát khởi thì trao pháp
yết-ma, khi bệnh cuồng si hết thì giải.»
10.
Khi đức Thế Tôn ở nước Chiêm-bà, bên bờ sông Già-già,
vào ngày thứ mười lăm thuyết giới, thì bấy giờ, Ngài
ngồi nơi đất trống, chúng Tăng ngồi vây xung quanh. Phần
đầu của đêm đã qua, bước sang phần giữa của đêm, Tôn
giả A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy, trống vai bên hữu, cởi
bỏ giày dép, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa
với đức Phật rằng:
«Đầu
đêm đã qua, cúi xin đức Thế Tôn thuyết giới.»
Đức
Thế Tôn im lặng. Tôn giả A-nan thấy đức Phật im lặng,
liền trở về chỗ ngồi. Đầu đêm, giữa đêm đã qua, Tôn
giả A-nan lại từ chỗ ngồi đứng dậy, trống vai bên hữu,
cởi bỏ giày dép, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay
bạch Phật:
«Đầu
đêm, giữa đêm đã qua, cúi xin đức Thế Tôn thuyết giới.»
Đức
Thế Tôn vẫn im lặng. Tôn giả thấy đức Thế Tôn im lặng,
liền trở về chỗ ngồi. Đầu đêm giữa đêm cuối đêm
đều đã qua, dấu hiệu bình minh đã xuất hiện, các loài
chim bắt đầu kêu. Tôn giả liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, đầu gối bên hữu
chấm đất, chắp tay bạch Phật:
«Đầu
đêm giữa đêm và cuối đêm đều đã qua, dấu hiệu bình
minh đã xuất hiện, các loài chim đã bắt đầu kêu, chúng
Tăng ngồi đã lâu, cúi xin đức Thế Tôn thuyết giới. Đức
Phật bảo A-nan:
«Trong
chúng có người bất tịnh. Nếu trong chúng có người bất
tịnh mà muốn cho Như Lai thuyết giới với một chúng như
vậy, không có lý đó.»
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan im lặng về lại chỗ ngồi. Tôn giả Đại
Mục-kiền-liên nghĩ, trong chúng này có ai bất tịnh nên đức
Như Lai mới nói, ‹Nếu trong chúng có người bất tịnh mà
muốn cho Như Lai thuyết giới với một chúng như vậy, không
có lý đó.› Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền quán sát
nhơn tâm của chúng, liền thấy có một vị bất tịnh, ngồi
cách đức Như Lai không xa, chẳng phải sa-môn mà xưng là sa-môn,
chẳng phải phạm hạnh mà nói là phạm hạnh, phạm giới,
phạm ác pháp, bất tịnh ô uế, tà kiến, che dấu ác nghiệp,
bên trong ôm ấp sự hủ mục, giống như bộng cây không khác.
Thấy như vậy rồi, Tôn giả liền nghĩ chính do người này
mà đức Phật nói với Tôn giả A-nan, ‹Nếu trong chúng có
người bất tịnh mà muốn cho Như Lai thuyết giới với một
chúng như vậy, không có lý đó.› Tôn giả Đại Mục-kiền-liên
đến chỗ người kia nói:
«Ngươi
đứng dậy! Đức Như Lai đã thấy ngươi rồi, đã biết ngươi
rồi. Ngươi phải mau mau đứng dậy, ra khỏi chỗ này, không
được ở nơi đây.»
Bấy
giờ, Tôn giả Mục-liên nắm tay vị ấy kéo ra ngoài cửa,
rồi trở vào, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân
và bạch Phật:
«Trong
chúng đã thanh tịnh, cúi xin đức Thế Tôn thuyết giới.»
Đức
Phật nói với Tôn giả Mục-liên:
«Hiện
tại, ông không được làm như vậy, và sau này cũng không
được làm như vậy. Này Mục-liên! Từ nay về sau cho phép
tác tự ngôn trị. Nếu không tự ngôn thì không được trị.
Từ nay về sau, các ông tự tác yết-ma thuyết giới.»
Đức
Phật bảo Tôn giả Mục-liên:
«Đây
là lần thuyết giới cuối cùng của Như Lai. Tại sao vậy?
Người có phạm không được dự thuyết giới. Người có
phạm không được nghe giới. Không được hướng đến người
phạm giải tội. Người có tội không được giải tội cho
người khác.»
Đức
Phật bảo Tôn giả Mục-liên:
«Nước
biển có tám điều hy hữu, cho nên A-tu-la thích sống nơi đó.
Tám điều ấy là:
«Tất
cả các dòng sông đều chảy dồn về nơi đó. Đó là một
kỳ đặc, A-tu-la thích vui sống.
«Lại
nữa, nầy Mục-liên, nước biển thường còn, không mất quy
luật sóng biển của nó. Đó là kỳ đặc thứ hai của nước
biển mà A-tu-la thích vui sống.
«Lại
nữa, Mục-liên, năm dòng sông lớn như sông Hằng, sông Diêm-ma,
Na-tát-la, A-di-la-bà-đề-ma, khi đã chảy nhập vào biển thì
cái tên cũ của nó đều mất. Đó là đặc kỳ thứ ba của
biển mà A-tu-la thích vui sống.
«Lại
nữa, nầy Mục-liên, nước năm dòng sông lớn nầy và nước
mưa đều chảy về biển mà nước biển không tăng giảm.
Đây là kỳ đặc thứ tư mà A-tu-la thích vui sống.
«Lại
nữa, toàn bộ nước biển đều cùng một vị là mặn. Đó
là kỳ đặc thứ năm của biển mà A-tu-la thích vui sống.
«Lại
nữa, nầy Mục-liên, nước biển không chấp nhận thây chết.
Dầu có thây chết thì gió biển cũng đưa nó vào bờ. Đây
là kỳ đặc thứ sáu của biển mà A-tu-la thích vui sống.
«Lại
nữa, này Mục-liên, nước biển sản xuất nhiều trân bảo
đặc biệt mà nơi lục địa không có. Các loại trân bảo
ấy như vàng bạc, chơn châu, lưu ly, san hô, xa cừ, mã não.
Đó là kỳ đặc thứ bảy của biển mà A-tu-la thích vui sống.
«Lại
nữa, nầy Mục-liên, nơi đại hải, loài sinh vật có thân
hình lớn cư trú nơi đó. Loài sinh vật có thân hình lớn
bề dài đến cả một trăm do tuần, hai trăm do tuần, ba trăm
do tuần cho đến bảy trăm do tuần. Đây là kỳ đặc thứ
tám của biển mà A-tu-la thích vui sống.
«Do
tám đặc tánh này của biển cả mà A-tu-la thích vui sống
nơi đó. Cũng như vậy, nầy Mục-liên, trong giáo pháp của
Ta cũng có tám đặc tánh, khiến cho các đệ tử sau khi thấy
rồi đều tự mình thích vui sống trong đó. Tám đặc tánh
ấy là:
«Như
nước biển lớn đều do tất cả mọi dòng sông chảy về,
cũng vậy, Mục-liên, các đệ tử của Ta lần lượt học
giới cũng đều trở về giáo pháp của Ta, ở trong đó học
các pháp lành. Như vậy, này Mục-liên, đây là một kỳ đặc
khiến các đệ tử thấy rồi tự mình thích vui sống.
«Này
Mục-liên, cũng nước biển thường còn, không mất quy luật
sóng biển của nó; các đệ tử của Ta trụ ở trong giới
cho đến trọn đời không phạm. Đó là kỳ đặc thứ hai
khiến các đệ tử thấy rồi tự mình thích vui sống.
«Này
Mục-liên, như nước năm dòng sông lớn khi chảy về biển
cả thì tên cũ của nó đều mất, chỉ còn gọi là biển;
cũng như vậy, Mục-liên, trong giáo pháp của Ta bốn chủng
tánh Sát-lợi, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà, với đức tin kiên
cố từ bỏ gia đình xuất gia học đạo thì cái tên cũ không
còn được gọi mà chỉ xưng là Sa-môn Thích tử. Đó là đặc
tánh thứ ba của giáo pháp Ta, khiến các đệ tử thấy rồi
tự mình thích vui sống.
«Này
Mục-liên, cũng như nước năm dòng sông lớn và nước mưa
đều chảy về biển mà nước biển không tăng giảm; cũng
như vậy, Mục- liên, trong giáo pháp của Ta các tộc tánh,
với lòng tin kiên cố từ bỏ gia đình xuất gia học đạo
vào cảnh giới vô dư Niết-bàn mà cảnh giới vô dư Niết-bàn
không tăng không giảm. Đó là đặc tính thứ tư trong giáo
pháp của Ta, khiến các đệ tử thấy rồi tự mình thích
vui sống.
«Mục-liên,
cũng như nước trong biển cả đồng một vị mặn; giáo pháp
của Ta đồng một vị giải thoát. Này Mục-liên, Đây là
đặc tánh thứ năm trong giáo pháp của Ta, khiến các đệ
tử thấy rồi tự mình thích vui sống.
«Mục-liên,
cũng như biển cả không chấp nhận thây chết. Dầu có thây
chết thì gió biển cũng đưa vào bờ. Trong giáo pháp của
ta cũng như vậy, không chấp nhận thây chết. Thây chết là
chẳng phải sa-môn mà tự xưng là sa-môn, chẳng phải phạm
hạnh mà tự xưng là phạm hạnh, phạm giới, ác pháp, bất
tịnh ô uế, tà kiến, che dấu nghiệp bất thiện, bên trong
ôm ấp sự hư mục giống như cây bị thúi trong ruột, tuy
ngồi ở trong chúng mà thường xa lìa chúng Tăng, chúng Tăng
cũng không gần họ. Mục-liên, đây là đặc tánh thứ sáu
trong giáo pháp của Ta, khiến các đệ tử thấy rồi tự mình
thích vui sống.
«Mục-liên,
cũng như [825a1] nước biển cả sản xuất nhiều trân bảo
khác lạ, nơi lục địa không thể có như vàng, bạc, chơn
châu, lưu ly, san hô, xa cừ, mã não. Trong giáo pháp của Ta
cũng sản xuất nhiều trân bảo, như tứ niệm xứ, tứ chánh
cần, tứ như ý túc, tứ thiền, ngũ căn, ngũ lực, thất giác
ý, bát hiền Thánh đạo. Như vậy, này Mục-liên, đó là kỳ
đặc thứ bảy trong giáo pháp của Ta, khiến các đệ tử
thấy rồi tự mình thích vui sống.
«Này,
Mục-liên, cũng như nước trong biển cả là nơi cư trú của
nhiều loài vật có thân hình lớn hằng trăm do tuần, cho đến
bảy trăm do tuần. Cũng như vậy, này Mục-liên, trong giáo
pháp của Ta cũng dung chứa các đại hình, như trong chúng Tăng
những vị hướng đến Tu-đà-hoàn, đặng quả Tư-đà-hàm,
cho đến những vị hướng đến A-la-hán, đặng quả A-la-hán.
Này, Mục-liên, đây là kỳ đặc thứ tám ở trong giáo pháp
của Ta, khiến các đệ tử thấy rồi tự mình thích vui sống.»
11.
Trường hợp một trú xứ đến ngày thuyết giới, có số
đông tỳ-kheo ngu si tập trung lại một chỗ, mời vị Thượng
tọa thuyết giới. Vị Thượng tọa nói:
«Trước
đây tôi không tụng giới.»
Kế
đó, mời Trung tọa, Hạ tọa thuyết giới. Các vị cũng đều
trả lời: