CHƯƠNG
IV.
TỰ
TỨ
1.
Á pháp
[835c13]
Một thời, đức Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ có số đông tỳ-kheo
ở nước Câu-tát-la, hạ an cư nơi trú xứ nọ, suy nghĩ rằng,
«Làm cách nào chúng ta sống an lạc, không vất vả vì sự
ăn uống?» Rồi họ bảo nhau, «Chúng ta nên lập quy chế.
An cư, không nói chuyện với nhau. Không lễ bái, hỏi chào
nhau. Ai vào tụ lạc khất thực trước và về trước, thì
dọn dẹp chỗ ngồi ăn, trải tọa cụ, sửa soạn đồ đựng
nước, đồ rửa chân, đồ đựng thức ăn. Mỗi người tự
đem thức ăn đến để chỗ ngồi ăn. Nếu ai nhận được
thức ăn nhiều, trước hết nên sớt bớt để lại, nhận
đủ thì ăn. Ăn xong, im lặng trở về phòng. Người kế tiếp
vào tụ lạc khất thực; nhận được thức ăn rồi trở về,
đem thức ăn đến chỗ ngồi ăn. Nhận được thức ăn nhiều
thì trước hết nên sớt bớt để lại, nhận đủ thì ăn.
Nếu nhận được không đủ thì lấy thức ăn người trước
để lại đó mà ăn. Ăn xong, im lặng trở về phòng. Người
sau cùng vào xóm khất thực, được thức ăn mang về, đem
đến chỗ ngồi ăn. Nếu nhận được thức ăn nhiều thì
trước hết nên sớt bớt để lại. Nếu nhận đủ thì ăn.
Nhận không đủ để ăn thì lấy thức ăn của người trước
để lại đó mà ăn. Thức ăn dư thì cho người hành khất
hoặc phi nhơn. Trường hợp không có người để cho thì đem
bỏ chỗ đất sạch, không có cỏ, hoặc để nơi vũng nước
không có trùng. Vị ấy dọn dẹp đồ đựng thức ăn để
lại chỗ cũ, và ngọa cụ, đồ đựng nước, đồ rửa chân
tọa cụ; tất cả đều để lại chỗ cũ. Dọn quét chỗ
ngồi ăn. Nếu thấy [836a1] đồ đựng nước, đồ rửa chân
trống không, thì đi xách. Nếu tự mình có thể khiêng trở
về thì tốt. Bằng không, dùng tay ngoắt bạn để cùng khiêng
về chỗ cũ. Rồi im lặng trở về phòng. Chứ không vì lí
do nào mà nói bằng lời. Chúng ta lập quy chế như vậy, có
thể sống an lạc, không vì sự ăn uống mà khổ sở.»
Các
tỳ-kheo áp dụng quy chế trên trong thời gian an cư. Tự tứ
xong, đến chỗ đức Phật trong Kỳ-hoàn, nước Xá-vệ, đảnh
lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn ủy lạo
các tỳ-kheo:
«Các
ông có an lạc chăng? Thức ăn uống có đủ chăng? Trụ chỉ
có được hòa hợp chăng? Không vì thức ăn mà vất vả chăng?»
Các
tỳ-kheo bạch Phật:
«Chúng
con trụ chỉ được an lạc. Đồ ăn thức uống không thiếu
thốn. Chúng con đều hòa hợp. Không vì đồ ăn thức uống
mà phải khổ.»
Đức
Phật hỏi các tỳ-kheo:
«Nhờ
phương tiện nào mà các ông trụ chỉ được an lạc, giữa
các ông hòa hợp, không vì đồ ăn thức uống mà phải khổ?»
Các
tỳ-kheo đem nhơn duyên trên bạch lên đức Phật một cách
đầy đủ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Các
ông là những người si, tự cho đó là vui mà thật sự là
khổ. Các ông là những người ngu si, tự cho đó là điều
không tai hoạn, mà thật sự là đại hoạn. Các ông là những
người ngu si, cùng ở với nhau như oan gia, như những con cừu.
Tại sao vậy? Ta đã dùng vô số phương tiện dạy bảo các
tỳ-kheo, cùng dạy bảo nhau, cùng nhau trao đổi, giác ngộ
cho nhau. Các ông là những người ngu si, đồng như ngoại đạo
thọ pháp câm. Các ông không được làm theo pháp câm như vậy.
Nếu làm theo pháp câm, phạm đột-kết-la.»[1]
2.
Cầu thính
Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo nói như vầy: «Đức Phật dạy, ‘Các
tỳ-kheo phải cùng dạy bảo nhau, cùng nhau trao đổi, giác
ngộ cho nhau.’» Họ liền cử tội tỳ-kheo thanh tịnh. Các
tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được vô cớ cử tội người vô tội. Nếu muốn cử tội
tỳ-kheo hữu sự thì trước hết phải nói cho biết, để
vị ấy cầu thính,[2] sau đó mới cử.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo nghe Phật dạy: «Trước hết phải nói cho biết,
để vị ấy cầu thính, sau đó mới cử.» Tỳ-kheo thanh tịnh
trước kia đến nhóm sáu tỳ-kheo cầu thính, nhóm sáu tỳ-kheo
do hờn giận nên úp. Nay đến nhắc tỳ-kheo thanh tịnh cầu
thính trở lại. Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Tỳ-kheo
thanh tịnh trước đó, không được đến nhóm sáu tỳ-kheo
cầu thính. Nhóm sáu tỳ-kheo không được vì hờn mà lại
đến bảo tỳ-kheo thanh tịnh cầu thính. Từ nay về sau cho
phép người đủ năm pháp sau mới được cầu thính: Biết
thời chứ không phi thời; như thật chứ không hư dối; có
lợi chứ không vô ích; dịu dàng chứ không thô lỗ; từ tâm
chứ không sân hận.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo bản thân không có năm pháp. Các tỳ-kheo thanh
tịnh thì đầy đủ năm pháp. Các vị ấy đến nhóm sáu tỳ-kheo
bảo cầu thính, họ không chịu cầu thính. Các tỳ-kheo đem
nhơn duyên này đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép, khi tỳ-kheo đầy đủ năm pháp bảo cầu thính thì phải
cầu thính.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo đến người cầu thính rồi bỏ đi; hoặc cho
người khác cầu thính rồi lại lìa trú xứ. Các tỳ-kheo
đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được cầu thính nơi người được thính rồi lại bỏ đi,
cũng không được cho người cầu thính rồi lại bỏ đi. Từ
nay về sau, cho phép, đã hứa hẹn thì không được bỏ đi.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo hứa với người rồi tự ý bỏ đi, hoặc nhận
lời hứa của người rồi cũng lại bỏ đi. Các tỳ-kheo đem
việc này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được hứa với người rồi tự ý bỏ đi. Không được nhận
lời hứa của người rồi lại tự ý bỏ đi. Từ nay về
sau cho phép an cư rồi tự tứ.[3] Cho phép tự tứ khỏi phải
cầu thính. Tại sao vậy? Tự tứ tức là thính.»
3.
Pháp thức tự tứ
1.
Các tỳ-kheo nghĩ: ‹Phật cho phép các tỳ-kheo tự tứ.›
Các tỳ-kheo đồng loạt tự tứ gây nên sự ồn ào. Các tỳ-kheo
đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
nên đồng loạt tự tứ. Từ nay về sau cho phép tự tứ từng
người một.»
Các
tỳ-kheo không theo thứ tự mà tùy ý tự tứ khiến Thượng
tọa mệt nhọc. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Không
được tùy ý tự tứ, mà phải tự tứ từ nơi Thượng tọa.
Cho phép sai người thọ tự tứ bằng bạch nhị yết-ma. Người
có năm pháp sau đây không được sai làm người thọ tự tứ:
có ái, có nhuế, có bố, có si, không biết tự tứ rồi hay
chưa. Người có năm pháp sau đây nên sai làm người thọ tự
tứ: không ái, không nhuế, không bố, không si, biết người
tự tứ rồi hay chưa. Pháp thức sai như sau: người đủ điều
kiện là thượng tọa hoặc thứ tọa, tụng luật được hay
không tụng luật được mà có khả năng bạch nhị yết-ma;
dựa theo sự việc trên tác bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận sai tỳ-kheo có tên... làm người thọ
tự tứ. Đây là lời tác bạch!
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tăng sai tỳ-kheo có tên... làm người
thọ tự tứ. Các trưởng lão nào đồng ý Tăng sai tỳ-kheo
có tên... làm người thọ tự tứ thì im lặng. Vị nào không
đồng ý xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận sai tỳ-kheo có tên... làm người thọ tự
tứ rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được ghi nhận
như vậy.»
2.
Có các tỳ-kheo ngồi tại chỗ tự tứ. Các tỳ-kheo đem việc
này bạch với Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được ngồi tại chỗ mà tự tứ. Phải rời chỗ ngồi, và
quỳ để tự tứ.
Bấy
giờ, Thượng tọa rời chỗ ngồi để tự tứ. Tất cả Tăng
lại ngồi tại chỗ mà tự tứ. Đức Phật dạy:
«Nếu
Thượng tọa rời chỗ ngồi và quỳ thì tất cả Tăng cũng
phải rời chỗ ngồi và quỳ.»
Thượng
tọa tự tứ rồi vẫn quỳ, chờ tất cả Tăng tự tứ xong.
Thượng tọa bị mỏi mệt. Các tỳ-kheo đem việc này bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Tự
tứ xong, cho phép tùy ý ngồi.»
3.
Nhóm sáu tỳ-kheo nghĩ: «Chúng ta lén nói tự tứ. Nếu không,
tỳ-kheo kia hoặc có thể vì tác yết-ma ngăn ta tự tứ.»
Các tỳ-kheo đem việc này đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được có ý nghĩ lén nói tự tứ, sợ tỳ-kheo khác vì mình
tác yết-ma hoặc ngăn mình tự tứ. Phải nói tự tứ một
cách rõ ràng, đầy đủ, khiến cho người khác nghe được.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo có ý nghĩ: ‹Ta nên tự tứ nhanh. Nếu không,
tỳ-kheo khác vì ta tác yết-ma ngăn tự tứ.› Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được có ý nghĩ, ta nên tự tứ nhanh; nếu không, tỳ-kheo
khác vì ta tác yết-ma hoặc ngăn ta tự tứ. Từ nay về sau
cho phép an cư rồi thong thả tự tứ.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo có ý nghĩ: ‹Ta nên nói tự tứ một lần. Nếu
không, tỳ-kheo khác vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.›
Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được có ý nghĩ: Ta nên nói tự tứ một lần. Nếu không,
tỳ-kheo khác vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo tự nghĩ: ‹Ta phải nói lại tự tứ, sợ tỳ-kheo
khác vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.› Các tỳ-kheo bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được có ý nghĩ: ta phải nói lại tự tứ, sợ tỳ-kheo khác
vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ. Từ nay về sau cho phép
tỳ-kheo nói tự tứ ba lần.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo lật ngược y tự tứ, quấn y nơi cổ tự tứ,
trùm trên đầu tự tứ, phủ cả hai vai tự tứ, mang giày
dép tự tứ, hoặc ngồi nơi đất tự tứ, hoặc [837a1] ngồi
trên giường tự tứ. Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Không
được lật ngược y, quấn y nơi cổ, trùm trên đầu, phủ
cả hai vai, mang giày dép, ngồi nơi đất, ngồi trên giường
để tự tứ. Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo trống vai
bên hữu, cở bỏ giày dép, cùng quỳ chắp tay, tác bạch như
sau:
«Hôm
nay Đại đức chúng Tăng tự tứ, tôi Tỳ-kheo... cũng tự
tứ. Nếu thấy, nghe, nghi tôi có tội, xin Đại đức Trưởng
lão thương xót chỉ bảo tôi. Nếu tôi thấy có tội sẽ như
pháp sám hối.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng thưa như vậy.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo bệnh, trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép,
quỳ gối, chấp tay trong thời gian lâu nên căn bệnh tăng thêm.
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép tỳ-kheo bệnh với bất cứ hình thức nào
mà thân được an, thì thọ tự tứ.»
4.
Bấy giờ có trú xứ nọ, tỳ-kheo tự tứ, có tỳ-kheo ở
ngoài thuyết giới đường. Các tỳ-kheo tự tứ rồi đi ra
ngoài, tỳ-kheo ấy hỏi:
«Các
trưởng lão đi đâu? Không tự tứ hay chăng?»
Các
tỳ-kheo kia trả lời:
«Tôi
tự tứ rồi. Thầy từ đâu đến?
Vị
kia nói:
«Tôi
ở ngoài thuyết giới đường.»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, khi tự tứ không được ở ngoài thuyết giới
đường. Tỳ-kheo ngồi gần nên biết vị ấy có đến hay
không. Tác bạch trước rồi sau mới tự tứ.»
Văn
tác bạch:
«Đại
đức tăng, xin lắng nghe! Hôm nay chúng Tăng tự tứ. Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận hòa hợp tự
tứ. Đây là lời tác bạch.»
Bạch
như vậy rồi tự tứ.
Nhóm
sáu tỳ-kheo tự tứ phi pháp biệt chúng, tự tứ phi pháp hòa
hợp chúng, tự tứ pháp biệt chúng. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Không
được tự tứ phi pháp biệt chúng, tự tứ phi pháp hòa hợp
chúng, tự tứ pháp biệt chúng.
«Có
bốn loại tự tứ: tỳ-kheo tự tứ phi pháp biệt chúng, tự
tứ phi pháp hòa hợp, tự tứ như pháp biệt chúng, tự tứ
như pháp hòa hợp. Nếu tỳ-kheo tự tứ phi pháp biệt chúng,
tự tứ phi pháp hòa hợp, tự tứ như pháp biệt chúng, như
vậy là không thành tự tứ. Tự tứ như pháp hòa hợp là
đúng pháp tự tứ. Đó là pháp tự tứ mà ta dạy.»
5.
Bấy giờ, khi tự tứ, nơi trú xứ nọ, người tiền an cư,
hậu an cư ở chung, không biết nên tự tứ theo tiền an cư
hay hậu an cư. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Tùy
theo Thượng tọa ở nơi đó mà tự tứ. Thượng tọa có tiền
an cư, có hậu an cư thì nên theo vị cựu trú mà tự tứ.
Vị cựu trú cũng có tiền an cư, có hậu an cư thì nên theo
số đông mà tự tứ.»
Các
tỳ-kheo muốn tự tứ vào ngày mười bốn hay rằm. Đức Phật
dạy:
«Cho
phép tự tứ như vậy. Nếu nhà Vua có thay đổi ngày thì nên
tùy theo đó.»
Các
tỳ-kheo không biết nên tự tứ ngày hôm nay hay để ngày mai.
Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép vào bữa đại thực hay tiểu thực, Thượng
tọa xướng: Hôm nay chúng Tăng tự tứ.»
Các
tỳ-kheo không biết nên vào lúc nào. Đức Phật dạy:
«Cho
phép báo hiệu bằng cách đánh kiền chùy hay thổi ốc, đánh
trống, hay un khói, hoặc dựa theo bóng, xướng rằng: Giờ
tự tứ đến!»
Nhóm
sáu tỳ-kheo nghe Phật cho phép tự tứ liền ở trong phòng
riêng cùng những vị đồng Hòa thượng, A-xà-lê quen biết,
đồng học và ăn ý với nhau, riêng rẽ tác pháp tự tứ.
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được ở trong phòng riêng cùng những vị đồng Hòa thượng,
A-xà-lê quen biết, đồng học và ăn ý với nhau riêng rẻ
tác pháp biệt bộ tự tứ. Từ nay về sau hòa hợp lại một
chỗ để tự tứ.»
Các
tỳ-kheo lại không biết tự tứ ở chỗ nào, bạch Phật,
Phật dạy:
«Cho
phép tự tứ nơi thuyết giới đường.»
6.
Bấy giờ có số đông tỳ-kheo, ngày tự tứ, nơi chẳng phải
thôn, a-lan-nhã, chỗ chưa kết giới, ngay trên đường đi,
suy niệm: ‹Đức Phật dạy chúng ta hòa hợp tự tứ. Bây
giờ chúng ta nên làm thế nào?› Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Nếu
có số đông tỳ-kheo, đến ngày tự tứ, nơi chẳng phải
phải thôn, a-lan-nhã, chỗ chưa kết giới, ngay trên lộ trình,
nếu các tỳ-kheo hòa hợp được tự tứ là tốt, bằng không
thể hòa hợp được, tùy theo đồng Hòa thượng, A-xà-lê,
quen biết đồng ý với nhau dời đến chỗ khác, kết tiểu
giới để tác pháp tự tứ, bằng pháp bạch nhị yết-ma.»
Pháp kết tiểu giới như sau:
Sai
một vị có khả năng yết-ma, hoặc Thượng tọa hay thứ tọa,
hoặc tụng luật được hay không tụng luật được, miễn
có khả năng yết-ma tác bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Chỗ ngồi các tỳ-kheo vừa đủ kín.
Trong vòng chỗ các tỳ-kheo ngồi đó, nếu thời gian thích
hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, Tăng kết tiểu giới.
Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Chỗ ngồi các tỳ-kheo vừa đủ kín.
Trong vòng chỗ các tỳ-kheo ngồi, Tăng kết tiểu giới nơi
đây, các trưởng lão nào đồng ý trong giới hạn chỗ các
tỳ-kheo ngồi, Tăng kết tiểu giới nơi đây, thì im lặng.
Vị nào không đồng ý xin nói.
«Tăng
đã đồng ý trong giới hạn chỗ tỳ-kheo ngồi, kết tiểu
giới rồi, Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo bỏ đi mà không xả giới. Các tỳ-kheo không
vui, liền đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được bỏ đi mà không xả giới, nên xả giới rồi sau đó
mới đi.»
Pháp
thức xả bằng bạch Nhị yết-ma như sau: sai một vị có khả
năng hoặc thượng tọa hay thứ tọa, hoặc tụng luật được
hay không, miễn có thể tác yết-ma, tác bạch như sau:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Trong vòng chỗ các tỳ-kheo ngồi,
nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng giải tiểu
giới này, đây là lời tác bạch.
«Đại
đức tăng xin lắng nghe! Trong vòng chỗ các tỳ-kheo ngồi,
Tăng giải tiểu giới nơi đây. Các truởng lão nào đồng
ý trong giới hạn chỗ các tỳ-kheo ngồi, Tăng giải tiểu
giới, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
«Tăng
đã đồng ý trong giới hạn chỗ các tỳ-kheo ngồi, giải
tiểu giới rồi. Tăng đã đồng ý nên im lặng. Việc này
được ghi nhận như vậy.» [4]
Bấy
giờ, đến ngày tự tứ, trú xứ chỉ có một tỳ-kheo ở.
Vị ấy nghĩ: ‹Đức Thế Tôn dạy hòa hợp một chỗ cùng
nhau tự tứ. Nay ta nên làm thế nào?› Vị ấy liền bạch
các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Ngày
tự tứ, trú xứ chỉ có một tỳ-kheo ở, vị kia nên đến
chỗ thuyết giới lau quét, trải tọa cụ, chuẩn bị đồ
đựng nước, đồ rửa chân, đốt đèn, sắp xá-la, chờ khách
tỳ-kheo đến. Nếu khách tỳ-kheo đến năm người[5] hay hơn
năm người thì nên tác bạch yết-ma, sai người thọ tự tứ.»
Nếu
chỉ bốn người, thì cùng tự tứ lẫn nhau, nói: ‹Hôm nay
chúng Tăng tự tứ, tôi tỳ-kheo tên là... cũng thanh tịnh tự
tứ.› Lần thứ hai, thứ ba cũng nói như vậy.
Nếu
có ba người, hai người cũng tự tứ như vậy. Nếu có một
người thì tâm niệm, miệng nói: [838a1] ‹Hôm nay chúng Tăng
tự tứ, tôi tỳ-kheo tên là... cũng thanh tịnh tự tứ.›
Lần thứ hai, thứ ba cũng nói như vậy.
Nếu
có năm người, một người thọ dục, thì không được bạch
yết-ma sai người thọ tự tứ. Nếu có bốn người, không
được nhận dục của người thứ năm,[6] lại cùng tương
hỗ tự tứ.[7] Nếu có ba người, không được nhận dục
của người thứ tư,[8] lại cùng tương hỗ tự tứ. Nếu
có hai người không được nhận dục của người thứ ba,
ngoài ra hai người lại cùng tương hỗ tự tứ. Nếu có một
người không được nhận dục của người thứ hai để tâm
niệm tự tứ.
4.
Chúc thọ tự tứ
Bấy
giờ, đến ngày tự tứ, chúng Tăng tập hợp để tự tứ,
đức Phật bảo, «Các tỳ-kheo hãy tĩnh lặng, hôm nay chúng
Tăng tự tứ.» Các tỳ-kheo khác bạch Phật: «Có tỳ-kheo
bệnh không đến được.» Đức Phật dạy:
«Cho
phép gởi tự tứ, cho phép chúc thọ tự tứ.»
Người
bệnh gởi dục như sau: ‹Tôi gởi tự tứ cho thầy.› Hoặc
nói: ‹Tôi xin nói với thầy tự tứ.› Hoặc nói: ‹Xin thầy
nói tự tứ giùm tôi.› Hoặc dùng thân cử động để ra
dấu hiệu tự tứ, hoặc nói đầy đủ việc tự tứ. Như
vậy gọi là gởi tự tứ. Nếu không cử động thân hoặc
không nói bằng lời thì không thành gởi tự tứ, nên gởi
tự tứ lại.
Tỳ-kheo
chúc thọ đến chỗ người bệnh rồi mạng chung, hoặc ra
khỏi giới, hoặc thôi tu, đến nơi trú xứ ngoại đạo, hoặc
hùa vào với đồng bọn phá Tăng, hay đến trên giới trường,
hay khi dấu hiệu bình minh xuất hiện, hoặc tự nói phạm
biên tội, hoặc phạm tỳ-kheo-ni, hoặc vào đạo với tặc
tâm, hoặc từ ngoại đạo trở lại, hoặc huỳnh môn, hoặc
giết cha mẹ, hoặc giết A-la-hán, hoặc phá Tăng, hoặc với
ác tâm làm thân Phật ra máu, hoặc là phi nhơn, hoặc là súc
sanh, hoặc hai căn, hoặc bị người cử, hoặc diệt tẫn,
hoặc đáng diệt tẫn. Nếu gởi cho những hạng người như
vậy thì không thành chúc thọ tự tứ, nên gởi lại người
khác.
Hoặc
trên đường đi, hoặc đến trong Tăng có sự việc như vầy
phát sinh: bị Tăng tác yết-ma bất kiến tội, hoặc tác yết-ma
không sám hối tội, hoặc tác yết-ma không xả ác kiến; thì
không thành chúc thọ tự tứ. Nên gởi lại cho người khác.
Nếu
(người nhận chúc thọ) vì ngủ mà quên nói; hoặc nhập định;
hoặc nhầm lẫn quên; hoặc không cố ý làm; đến chỗ tự
tứ thì vẫn gọi là vì chúc thọ tự tứ mà đến.
Nếu
(người nhận chúc thọ) cố ý không nói, phạm đột-kết-la.
(Đối
với người bệnh) nếu có thể làm (những việc như trên)
như vậy thì tốt, bằng không thể làm được thì vị kia
nên dìu người bệnh đi, hay dùng giường dây, giường cây,
hoặc xếp y lại khiêng đến chỗ tự tứ. Nếu tỳ-kheo kia
nghĩ rằng, chúng ta dìu đến sợ bệnh càng tăng, hoặc có
thể đưa đến sự chết, thì chúng Tăng nên đến hết nơi
chỗ người bệnh để tác yết-ma tự tứ. Nếu có nhiều
tỳ-kheo bệnh tập trung lại một chỗ thì tốt, bằng không
thì các tỳ-kheo nên ra ngoài giới để tác yết-ma tự tứ,
chứ không được biệt chúng tự tứ.
Có
tỳ-kheo nhận chúc thọ tự tứ rồi mạng chung, hoặc thôi
tu, hoặc đến trên giới trường, hoặc khi dấu hiệu bình
minh xuất hiện. Các tỳ-kheo nghĩ: «Như vậy có mất chúc
thọ tự tứ hay không?» Đức Phật dạy: «Mất.»
Có
tỳ-kheo chúc thọ tự tứ rồi, trên đường đi bị trở ngại,
bị nạn giặc, hổ lang, sư tử, nước lụt, trong cương giới
đường bị đứt không thể đến, mang chúc thọ tự tứ đến
ngoài giới. Các tỳ-kheo nghĩ: «Có mất chúc thọ tự tứ
hay không ?» Đức Phật dạy:
«Không
mất.»[9]
«Từ
nay về sau, tỳ-kheo nhận chúc thọ tự tứ, gặp phải mạng
nạn, phạm hạnh nạn, trong cương giới không có đường đi,
cho phép từ ngoài giới mang chúc thọ tự tứ đến, trường
hợp đó Ta nói không mất chúc thọ.»
Các
tỳ-kheo nhận chúc thọ tự tứ của một người, e ngại không
dám nhận chúc thọ tự tứ người thứ hai, bèn đến bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép nhận.»
Tỳ-kheo
nhận hai người chúc thọ tự tứ, e ngại không dám nhận
chúc thọ tự tứ người thứ ba, bèn đến bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Cho
phép nhận.»
Tỳ-kheo
nhận ba người chúc thọ tự tứ, e ngại không dám nhận bốn
người chúc thọ tự tứ, liền bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép nhận nhiều hay ít theo khả năng có thể nhớ được
tên. Nếu nhớ hết được tên thì nói tên, bằng không nhớ
hết tên thì nói họ, hoặc nói tướng mạo, hoặc nói ‹Tôi
nhận một số đông tỳ-kheo chúc thọ tự tứ, các vị ấy,
Tăng sự như pháp xin gởi dục nói tự tứ.»
Tỳ-kheo
tuổi nhỏ không biết tự tứ, báo cáo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, Hòa thượng, A-xà-lê nên dạy vẻ. Nếu dạy mà
họ ưa quên không nhớ, nên khiến người thọ tự tứ dạy.
Nếu họ vẫn quên, nên đọc từng câu một.»
Tỳ-kheo
nhận chúc thọ tự tứ rồi, có công việc xảy đến. Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép chuyển dục cho các người khác như sau:
‹Tôi đã nhận chúc thọ tự tứ cho số đông Tỳ-kheo. Nay
tôi bận việc, tôi gởi dục cho các vị kia và tôi gởi luôn
dục của tôi. Tăng sự như pháp gởi dục nói tự tứ.›»
Tỳ-kheo
kia gởi dục rồi, công việc xong, trở về. E ngại rằng,
tôi đã chuyển chúc thọ tự tứ rồi, không biết nên như
thế nào. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Việc
xong nên đến. Không đến, như pháp trị.»
5.
Phá tự tứ
Nhóm
sáu tỳ-kheo có ý nghĩ: ‹Ta không nên đến chỗ tự tứ.
Vì ta sợ bị tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.›[10] Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được nói có ý nghĩ: ‹Ta không nên đến chỗ tự tứ, sợ
các tỳ-kheo vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.›»
Nếu
vì tri thức thân hậu không đến chỗ tự tứ cũng như vậy.
Nhóm
sáu tỳ-kheo có ý nghĩ: ‹Ta đến chỗ tự tứ nhưng không
ngồi, sợ các tỳ-kheo vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.›
Các tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được nói có ý nghĩ: đến chỗ tự tứ nhưng không ngồi,
sợ các tỳ-kheo vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.»
Nếu
vì tri thức quen biết cũng như vậy.
Có
vị tự nghĩ: ‹Nếu ta đến đó nhưng không nói tự tứ,
sợ các tỳ-kheo vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.› Các
tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được nói có ý nghĩ: ta đến đó nhưng không nói tự tứ,
sợ các tỳ-kheo vì ta tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.»
Nếu
vì tri thức thân hậu cũng như vậy.
Bấy
giờ, ngày tự tứ đến, có trú xứ nọ chúng Tăng hòa hợp,
chuẩn bị tự tứ, nghe có giặc đến; sợ hãi nên rời chỗ
ngồi bỏ đi, không tự tứ. Các tỳ-kheo đem việc này bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
có tám nạn và sự xảy đến thì cho phép nói lược tự tứ.
Trong đó, Tám nạn là: nạn Vua, nạn giặc, nạn lửa, nạn
nước, nạn bệnh, nạn người, nạn phi nhơn, nạn độc trùng.
Trong
đó, sự là, chúng Tăng đông mà chỗ ngồi chật hẹp, hoặc
nhiều vị bị bệnh thì nên nói lược tự tứ. Nếu chúng
Tăng đông mà phòng xá nhỏ, hoặc trời mưa thì nên nói lược
tự tứ. Hoặc bố-tát mà đêm đi qua đã lâu, hoặc có sự
đấu tranh, hoặc luận bàn A-tỳ-đàm, hay đoán sự Tỳ-ni,
thuyết pháp, hoặc đã lâu chúng Tăng chưa đứng dậy, tướng
bình minh chưa xuất hiện thì nên yết-ma tự tứ.
Nhận
sự chúc thọ của người khác, không được để đến tướng
bình minh xuất hiện. Nếu đến khi tướng bình minh xuất hiện
thì không được yết-ma tự tứ.
Các
tỳ-kheo có ý nghĩ và nói như vầy: ‹Vì nạn sự nên nói
lược tự tứ.› Nếu nạn sự còn xa, chúng ta có đủ thì
giờ để nói tự tứ đầy đủ, thì các tỳ-kheo nên nói
tự tứ đầy đủ. Nếu không nói tự tứ đầy đủ thì sẽ
như pháp trị.
Các
tỳ-kheo lại nói như vầy: ‹Vì nạn sự nên lược nói tự
tứ.› Nay nạn sự không còn xa. Ta không nói đủ tam ngữ
tự tứ được nên chỉ nói hai lần tự tứ, thì tỳ-kheo
nên nói hai lần tự tứ. Nếu không tái thuyết tự tứ thì
sẽ như pháp trị.
Các
tỳ-kheo lại nói: ‹Vì nạn sự nên lược nói tự tứ.›
Nay nạn sự đã gần kề, không đủ thì giờ để nói hai
lần tự tứ được. Có thể chỉ nói một lần tự tứ, thì
tỳ-kheo nên nói một lần tự tứ. Nếu không nói sẽ như
pháp trị.
Các
tỳ-kheo lại nói: ‹Vì nạn sự nên lược nói tự tứ.›
Nạn sự quá gần, không đủ thì giờ nói một lần tự tứ.
Chúng ta có thể đủ thì giờ tất cả đồng loạt nói tam
ngữ tự tứ. Trường hợp này văn tác bạch như sau:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng đồng loạt nói tam ngữ tự
tứ. Đây là lời tác bạch.»
Tác
bạch như vậy rồi đồng loạt nói tam ngữ tự tứ.
Nói
lại; nói một lần, cũng vậy.
Các
tỳ-kheo lại nói: ‹Vì nạn sự nên đồng loạt nói tam ngữ
tự tứ.› Nạn sự gần, không thể nói đồng loạt tam ngữ
tự tứ, cũng không thể tác bạch. Tỳ-kheo vì nạn sự này
nên ra đi.
6.
Già tự tứ
Bấy
giờ có trú xứ, tỳ-kheo phạm tăng tàn, vị kia không biết
nên làm thế nào, nên báo với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo đến
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo nơi trú xứ nào đó có phạm tăng tàn, tỳ-kheo đó
cần được cho phú tàng thì phải trao phú tàng. Trao yết-ma
phú tàng rồi mới tự tứ. Cần trao cho bổn nhật trị thì
phải trao bổn nhật trị. Trao yết-ma bổn nhật trị rồi
mới tự tứ. Cần trao ma-na-đỏa thì phải trao ma-na-đỏa.
Trao yết-ma ma-na-đỏa rồi mới tự tứ. Cần trao pháp xuất
tội thì phải trao pháp xuất tội. Trao yết-ma xuất tội rồi
mới tự tứ.
Bấy
giờ, đến ngày tự tứ, một trú xứ nọ có tỳ-kheo phạm
ba-dật-đề. Có vị nói phạm ba-dật-đề; có vị nói phạm
ba-la-đề-đề-xá-ni. Các tỳ-kheo ở đó nói, ‹Chúng ta nên
như thế nào?› Liền báo cáo với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
ngày tự tứ, trú xứ nào đó có tỳ-kheo phạm ba-dật-đề.
Tỳ-kheo nơi đó hoặc nói phạm ba-dật-đề, hoặc nói phạm
ba-la-đề-đề-xá-ni. Nếu biết vị ấy phạm ba-dật-đề
thì nên đưa người này đến một nơi, khiến người nói
phạm ba-la-đề-đề-xá-ni ở chỗ mắt thấy tai không nghe,
hướng dẫn tỳ-kheo phạm sám hối. Rồi đến chỗ tỳ-kheo
nói phạm ba-la-đề-đề-xá-ni nói: ‹Tỳ-kheo phạm tội, tôi
đã bảo sám hối rồi.› Nên phương tiện tác pháp như vậy
rồi tự tứ.
Bấy
giờ, ngày tự tứ, trú xứ nọ có tỳ-kheo phạm thâu-lan-giá.
Các tỳ-kheo, vị thì nói phạm thâu-lan-giá, vị thì nói phạm
ba-la-di. Những vị nói phạm thâu-lan-giá đều là hàng đa
văn, thông suốt A-hàm, A-tỳ-đàm, trì luật, thuộc hạng tỳ-kheo
được nhiều người biết đối với tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,
ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, hoặc Vua, hoặc đại thần, hoặc các
hàng ngoại đạo sa-môn phạm chí. Tỳ-kheo nói phạm ba-la-di
cũng là hàng đa văn, thông A-hàm, A-tỳ-đàm, trì luật, lại
cũng thuộc hạng nhiều tri thức đối với tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni...
cho đến sa-môn phạm chí. Các tỳ-kheo nói, ‹Nếu tự tứ
hôm nay, có thể chúng Tăng có sự tranh cãi. Có thể Tăng bị
vỡ. Hoặc sanh ra trần cấu ô nhiễm cho Tăng, khiến chúng
Tăng chia rẽ. Vậy chúng ta nên làm thế nào?› Họ liền báo
với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
ngày tự tứ, trú xứ nào đó có tỳ-kheo phạm thâu-lan-giá.
Các tỳ-kheo, người thì nói phạm thâu-lan-giá, kẻ thì nói
phạm ba-la-di. Tỳ-kheo nói phạm thâu-lan-giá là hạng đa văn,
thông A-hàm, A-tỳ-đàm, trì luật, được nhiều người biết
đối với tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, hoặc
Vua, hoặc đại thần, hoặc các hàng ngoại đạo sa-môn, phạm
chí. Tỳ-kheo nói phạm ba-la-di cũng thuộc về hàng đa văn,
thông A-hàm, A-tỳ-đàm, trì luật, nhiều tri thức với tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni... cho đến sa-môn phạm chí. Các tỳ-kheo nói, ‹Nếu
tự tứ hôm nay, có thể chúng Tăng có sự tranh cãi. Có thể
Tăng bị vỡ. Hoặc sanh ra trần cấu ô nhiễm cho Tăng, khiến
chúng Tăng chia rẽ.› Nếu sợ Tăng bị vỡ thì không nên
tự tứ liền ngày hôm đó mà nên đình lại thời gian rồi
sẽ tự tứ.»
Khi
tự tứ, nhóm sáu tỳ-kheo nghe đức Phật cho phép ngăn tự
tứ, liền ngăn tỳ-kheo thanh tịnh không cho tự tứ. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được ngăn tỳ-kheo thanh tịnh tự tứ. Nếu ngăn thì giống
như không ngăn. Nếu ngăn mà không có căn cứ, không tác nhân,[11]
đó gọi là không ngăn tự tứ. Nếu ngăn có căn cứ, có tác
nhân, đó mới gọi là ngăn tự tứ. Nếu ngăn không căn cứ,
không tác nhân hữu dư,[12] đó không gọi là ngăn tự tứ.
Nếu ngăn có căn cứ, có tác nhân hữu dư,[13] đó gọi là
ngăn tự tứ. Nếu ngăn không căn cứ, không tác nhân vô dư,
đó không gọi là ngăn tự tứ. Nếu ngăn có căn cứ, có tác
nhân vô dư, đó gọi là ngăn tự tứ.
Nếu
ngăn khi chưa nói tam ngữ tự tứ, gọi là không ngăn tự tứ.
Nói tam ngữ tự tứ rồi mà ngăn tự tứ, cũng không gọi
là ngăn tự tứ. Ngay khi nói tam ngữ tự tứ nếu ngăn tự
tứ mới gọi là ngăn tự tứ. Nói một lần, nói hai lần,
cũng như vậy.
Người
ngăn tự tứ, nếu thân nghiệp mà không thanh tịnh, khẩu không
thanh tịnh, ý nghiệp không thanh tịnh, không có trí, không
phân minh, không biết hỏi, không biết trả lời. Các tỳ-kheo
nên nói với tỳ-kheo này: ‹Thôi đi, trưởng lão khỏi phải
khởi lên việc tranh cãi.› Rồi không nghe theo tỳ-kheo đó,
mà nên tự tứ.
Nếu
người ngăn tự tứ mà thân nghiệp thanh tịnh, nhưng khẩu,
ý nghiệp không thanh tịnh, không có trí, không phân minh, không
biết hỏi, không biết trả lời. Các tỳ-kheo nên nói với
tỳ-kheo này rằng: ‹Thôi đi, trưởng lão khỏi phải khởi
lên việc tranh cãi.› Rồi không nghe theo tỳ-kheo đó, mà nên
tự tứ.
Nếu
người ngăn tự tứ mà thân, khuẩu nghiệp thanh tịnh, nhưng
ý nghiệp không thanh tịnh, không có trí, không phân minh, không
biết hỏi, không biết trả lời, thì các tỳ-kheo nên nói
với tỳ-kheo này rằng: ‹Thôi đi, trưởng lão khỏi phải
khởi lên việc tranh cãi.› Rồi không nghe theo tỳ-kheo đó,
mà nên tự tứ.
Nếu
người ngăn tự tứ mà thân, khẩu, ý nghiệp thanh tịnh, có
trí, phân minh, có khả năng hỏi và trả lời, thì các tỳ-kheo
nên hỏi tỳ-kheo này rằng: ‹Vì sao mà thầy ngăn tỳ-kheo
này tự tứ? Vì phạm giới nên thầy ngăn? Hay vì phá kiến
mà ngăn? Hay vì thầy này phá oai nghi mà thầy ngăn?› Nếu
vị kia trả lời: ‹Vì phá giới cho nên ngăn› thì nên hỏi
phạm những giới nào? Nếu nói phạm ba-la-di, tăng tàn, thâu-lan-giá,
đó gọi là phạm giới. Nếu nói không vì phá giới mà ngăn
mà vì phá kiến nên ngăn thì nên hỏi: ‹Phá kiến nào?›
Nếu nói sáu mươi hai kiến, các tà kiến, đó gọi là phá
kiến.
Nếu
nói không vì phá kiến mà ngăn, mà vì phá oai nghi nên ngăn
thì hỏi: ‹Phá oai nghi nào?› Nếu nói phạm ba-dật-đề,
ba-la-đề-đề-xá-ni, đột-kết-la, ác thuyết, đó gọi là
phá oai nghi. Nên hỏi thêm: ‹Do sự[14] gì mà ngăn người
khác tự tứ ? Vì thấy, nghe hay nghi mà ngăn?›
Nếu
trả lời vì thấy thì nên hỏi: ‹Thấy việc gì? Thấy như
thế nào? Bởi nguyên nhân nào mà thấy? Tỳ-kheo kia lại vì
nguyên nhân gì khiến cho thầy thấy? Thầy [840a1] ở tại chỗ
nào? Thầy kia ở tại chỗ nào? Thấy việc gì mà nói là phạm
ba-la-di, tăng tàn, ba-dật-đề, ba-la-đề-đề-xá-ni, thâu-lan-giá,
đột-kết-la, ác thuyết?›
Nếu
nói không thấy, nhưng do nghe thì nên hỏi: ‹Nghe việc gì?
Nghe như thế nào? Nghe từ ai? Nghe từ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,
ưu-bà-tắc, ưu-bà-di? Nghe phạm việc gì: ba-la-di, tăng tàn,
cho đến ác thuyết chăng?›
Nếu
nói không nghe mà do nghi, thì hỏi: ‹Nghi việc gì? Nghi như
thế nào? Nghe từ ai mà sanh nghi: từ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di chăng? Nghi việc gì: ba-la-di, tăng tàn... cho đến
ác thuyết chăng?›
Nếu
người ngăn tự tứ không thể trả lời. Nếu người ấy
có trí mà dùng ba-la-di để ngăn thì phải trao cho người ấy
tội tăng tàn,[15] rồi Tăng mới tự tứ. Nếu vị dùng tội
tăng tàn để ngăn, thì phải trao cho tội ba-dật-đề,[16]
rồi Tăng mới tự tứ. Nếu người ấy dùng tội ba-dật-đề
để ngăn thì phải trao cho các tội khác,[17] rồi Tăng mới
tự tứ. Nếu người ấy dùng các tội khác để ngăn thì
nên như pháp trị, rồi Tăng mới tự tứ.
Nếu
người ngăn tự tứ có trí, có thể trả lời. Nếu ngăn vì
phạm ba-la-di thì nên diệt tẫn,[18] rồi Tăng tự tứ. Nếu
ngăn vì phạm tăng tàn, thì nên trao cho ba-lợi-bà-sa hay bổn
nhật trị, hoặc ma-na-đỏa, hay xuất tội, rồi tự tứ. Nếu
ngăn vì phạm ba-dật-đề, thì cho sám hối, rồi tự tứ.
Nếu dùng các việc khác để ngăn thì nên như pháp trị rồi
tự tứ.[19]
Bấy
giờ, có trú xứ, đến ngày tự tứ, tỳ-kheo bệnh ngăn tỳ-kheo
bệnh tự tứ. Vị kia không biết làm thế nào, liền báo các
tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
có trú xứ nào, ngày tự tứ, tỳ-kheo bệnh ngăn tỳ-kheo bệnh
tự tứ, thì tỳ-kheo kia nói với tỳ-kheo này rằng, đức
Phật dạy như vầy: ‹Hiện đang bệnh, không được ngăn.
Phải đợi bệnh lành đã. Trưởng lão nên nói như pháp. Vị
kia cũng sẽ nói như pháp.› Tác pháp như vậy rồi sau đó
tự tứ.»
Bấy
giờ, có trú xứ, đến ngày tự tứ, tỳ-kheo bệnh ngăn tỳ-kheo
không bệnh tự tứ. Tỳ-kheo kia nên nói với tỳ-kheo này rằng:
‹Này trưởng lão, đức Phật có nói như vầy: ‘Phải đợi
bệnh lành đã. Ngài nên nói như pháp. Vị kia cũng nói như
pháp.’› Tác pháp như vậy rồi, sau đó tự tứ.
Bấy
giờ, có trú xứ, đến ngày tự tứ, tỳ-kheo không bệnh ngăn
tỳ-kheo bệnh tự tứ. Tỳ-kheo kia nên nói với tỳ-kheo này
rằng,: ‹Đức Phật dạy như vầy: ‘Phải đợi bệnh lành
đã. Trưởng lão nên nói như pháp. Vị kia cũng nói như pháp.’›
Tác pháp như vậy rồi, sau đó tự tứ.
7.
Hạn kỳ tự tứ
1.
Bấy giờ, có trú xứ, có số đông tỳ-kheo an cư tinh tấn
tu hành chứng đặng tăng thượng quả, quý vị khởi ý nghĩ:
«Hôm nay chúng ta tự tứ. Nếu di chuyển đến các trú xứ
khác, sợ không được pháp lạc như vầy. Chúng ta nên làm
thế nào?» Các vị liền báo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
trú xứ có số đông tỳ-kheo an cư tinh tấn tu hành chứng
đặng tăng thượng quả. Các tỳ-kheo có ý nghĩ: ‹Hôm nay
chúng ta tự tứ. Nếu di chuyển đến các trú xứ khác, sợ
không được pháp lạc như vầy.› Các tỳ-kheo nên tác bạch
tăng ích tự tứ.»
Văn
tác bạch như sau:
«Đại
đức tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận hôm nay không tự tứ. Đủ bốn tháng
sẽ tự tứ. Đây là lời tác bạch.»
Nên
tác bạch như vậy rồi sau đó đủ bốn tháng mới tự tứ.
2.
Bấy giờ có trú xứ, có số đông tỳ-kheo cùng sống với
nhau. Ngày tự tứ, các tỳ-kheo nghe các tỳ-kheo nơi trú xứ
kia đấu tranh không hòa hợp, muốn đến nơi đây tự tứ.[20]
Các vị không biết làm thế nào, liền báo các tỳ-kheo. Các
tỳ-kheo đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
trú xứ nào có số đông tỳ-kheo cùng sống với nhau, ngày
tự tứ, nghe các tỳ-kheo trú xứ khác đấu tranh không hòa
hợp, muốn đến đây tự tứ, thì tỳ-kheo kia nên tự tứ
trước hai, ba ngày. Nếu tự tứ vào ngày mười lăm thì nên
tự tứ ngày mười bốn. Nếu ngày mười bốn tự tứ thì
nên tự tứ ngày mười ba. Nếu nghe họ đến vào ngày hôm
nay thì nên tập Tăng tự tứ gấp. Nếu nghe họ đã đến
trong giới thì nên ra ngoài giới tự tứ. Nếu nghe họ đã
đến trong chùa thì nên sửa soạn nước rửa, nước tắm,
ghế ngồi tắm, bình tắm, dụng cụ cào đất, đồ đựng
bùn, tháo đậu, dược thảo, rồi bạch Thượng tọa nhen lửa,
thỉnh Tăng vào nhà để tắm. Các cựu Tăng tỳ-kheo nên kín
đáo từ nhà tắm mọi người ra ngoài giới tự tứ. Nếu
khách tỳ-kheo kêu bảo tự tứ thì nên trả lời: ‹Chúng
tôi tự tứ rồi.› Nếu cựu tỳ-kheo tự tứ rồi, khách
tỳ-kheo ngăn tự tứ thì không được ngăn.[21] Khi khách tỳ-kheo
đang tự tứ, cựu tỳ-kheo ngăn thì được ngăn. Nếu có thể
tạo phương tiện như vậy để tác pháp thì tốt, bằng không
tỳ-kheo kia nên tác bạch tăng thượng tự tứ.[22] Văn bạch
như sau:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận hôm nay Tăng không tự tứ, đến ngày
thứ mười lăm không trăng sẽ tự tứ. Đây là lời tác bạch.»
Nên
tác bạch tăng thượng tự tứ như vậy. Nếu khách tỳ-kheo
ở cho đến ngày thứ mười lăm không trăng, cựu tỳ-kheo
nên tác bạch tăng thượng tự tứ lần thứ hai. Văn bạch
như sau:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận hôm nay Tăng không tự tứ, đến ngày
thứ mười lăm có trăng sau sẽ tự tứ. Đây là lời tác
bạch.»
Nếu
tác bạch tăng thượng tự tứ lần thứ hai như vậy mà khách
tỳ-kheo không đi, cựu tỳ-kheo nên như pháp, như luật cưỡng
hòa hợp tự tứ.
3.
Bấy giờ có trú xứ, đến ngày tự tứ, khi tự tứ không
biết tội, không biết người. Tự tứ rồi biết tội biết
người. Các tỳ-kheo kia tự nghĩ, chúng ta nên làm thế nào?
Các vị liền báo với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Trú
xứ nào, khi tự tứ không biết tội, không biết người, tự
tứ rồi biết tội biết người; nếu tự tứ rồi, không
được đem những việc đã qua của người cử tội lại.»
Trú
xứ nào, khi tự tứ không biết tội, biết người. Tự tứ
rồi biết tội, biết người. Nếu tự tứ rồi, thì không
được đem những việc trước của người mà cử tội lại.
«Trú
xứ nào, khi tự tứ có biết tội, không biết người. Tự
tứ rồi biết tội, biết người. Nếu tự tứ rồi thì không
được đem những việc trước của người cử tội lại.
4.
Có trú xứ, ngày tự tứ của khách tỳ-kheo đến là ngày
mười bốn, còn cựu tỳ-kheo ngày mười lăm. Các tỳ-kheo
không biết nên thế nào, nên báo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
Nếu
có trú xứ nào, ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đến với số
lượng ít. Khách tỳ-kheo ngày mười bốn (tự tứ), cựu tỳ-kheo
ngày mười lăm. Khách tỳ-kheo nên tùy theo. Không theo, nên
như pháp trị.
Có
trú xứ khi tự tứ, khách tỳ-kheo đến với số lượng bằng
nhau cựu Tỳ-kheo. Khách tỳ-kheo ngày mười bốn tự tứ, cựu
tỳ-kheo ngày mười lăm. Khách tỳ-kheo bằng nhau đó nên theo
cựu Tỳ-kheo. Không theo, sẽ như pháp trị.
Khi
tự tứ, có trú xứ, khách tỳ-kheo đến đông. Khách tỳ-kheo
thì ngày mười bốn tự tứ, còn cựu tỳ-kheo ngày mười
lăm. Cựu tỳ-kheo ít, nên cùng khách tỳ-kheo cầu hòa hợp.
Nếu cùng hòa hợp thì tốt. Bằng không hòa hợp, cựu tỳ-kheo
nên ra ngoài giới tự tứ.
Ngày
tự tứ, [841a1] có trú xứ, khách tỳ-kheo đến ít. Khách tỳ-kheo
ngày mười lăm, cựu tỳ-kheo ngày mười bốn. Khách tỳ-kheo
đến ít nên theo cựu tỳ-kheo cầu hòa hợp, nếu cùng hòa
hợp thì tốt, bằng không, khách tỳ-kheo nên ra ngoài giới
tự tứ.
Ngày
tự tứ, có trú xứ, khách tỳ-kheo đến số lượng bằng
cựu tỳ-kheo. Khách tỳ-kheo ngày mười lăm, cựu tỳ-kheo ngày
mười bốn. Khách tỳ-kheo bằng nên theo cựu tỳ-kheo cầu
hòa hợp, cùng hòa hợp thì tốt, bằng không, khách tỳ-kheo
nên ra ngoài giới tự tứ.
Ngày
tự tứ, có trú xứ, khách tỳ-kheo đến nhiều. Khách tỳ-kheo
ngày mười lăm, cựu tỳ-kheo ngày mười bốn. Cựu tỳ-kheo
ít nên theo khách tỳ-kheo cầu hòa hợp, theo được thì tốt,
bằng không, như pháp trị. Khách tỳ-kheo ngày mười sáu, cựu
tỳ-kheo ngày mười lăm cũng như vậy.
5.
Ngày tự tứ, có trú xứ cựu tỳ-kheo tập hợp muốn tự
tứ. Khi tự tứ, khách tỳ-kheo đến. Tỳ-kheo kia nghĩ: chúng
ta nên làm thế nào? Họ liền báo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
Nếu
ngày tự tứ, trú xứ nào cựu tỳ-kheo tập hợp muốn tự
tứ. Khi tự tứ, khách tỳ-kheo đến ít. Khách tỳ-kheo nếu
là cấp thượng tọa thì tùy theo cấp thượng tọa mà thứ
tự tự tứ. Nếu cấp hạ tọa thì theo cấp hạ tọa mà thứ
tự tự tứ. Nếu đã nói tự tứ xong, cả chúng chưa đứng
dậy, hay phần đông chưa đứng dậy, hoặc đều đã đứng
dậy, khách tỳ-kheo đến với số ít, nên công bố sự thanh
tịnh. Nếu không công bố thì sẽ như pháp trị.
«Ngày
tự tứ, cựu tỳ-kheo muốn tự tứ. Có khách tỳ-kheo đến
với số lượng ngang bằng, cựu tỳ-kheo nên tự tứ lại.
Nếu không tự tứ, sẽ như pháp trị. Tự tứ đã xong, cả
chúng chưa đứng dậy, hay hầu hết chưa đứng dậy, hoặc
đều đã đứng dậy, khách tỳ-kheo đến với số lượng
ngang bằng, cựu tỳ-kheo nên tự tứ lại. Nếu không, sẽ
như pháp trị.[23]
«Ngày
tự tứ, trú xứ cựu tỳ-kheo sắp sửa tự tứ, khách tỳ-kheo
đến với số nhiều. Cựu tỳ-kheo nên tự tứ lại, nếu
không tự tứ sẽ như pháp trị. Nếu tự tứ đã xong, cả
chúng chưa đứng dậy, hoặc số đông chưa đứng dậy, hay
đều đã đứng dậy, khách tỳ-kheo đến với số lượng
nhiều, cựu tỳ-kheo nên tự tứ lại. Nếu không, sẽ như
pháp trị.
Trú
xứ nào ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đang ngồi sắp sửa tự
tứ, cựu tỳ-kheo đến với số ít. Nếu cựu tỳ-kheo là
hàng Thượng tọa thì theo chỗ hàng Thượng tọa tự tứ.
Nếu là hạ tọa theo chỗ của hạ tọa tự tứ. Nếu tự
tứ đã xong, cả chúng chưa đứng dậy, hoặc số đông chưa
đứng dậy, hay đều đã đứng dậy, cựu tỳ-kheo đến với
số ít, nên nói thanh tịnh tự tứ. Nếu không nói, sẽ như
pháp trị.
Trú
xứ nào ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đang ngồi sắp sửa tự
tứ, cựu tỳ-kheo đến với số lượng bằng nhau. Khách tỳ-kheo
nên tự tứ lại. Nếu không, sẽ như pháp trị. Nếu tự tứ
đã xong, cả chúng chưa đứng dậy, hay phần đông chưa đứng
dậy, hoặc đều đã đứng dậy, cựu tỳ-kheo đến với số
lượng bằng, khách tỳ-kheo nên tự tứ lại. Nếu không, sẽ
như pháp trị.
Trú
xứ nào ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đang ngồi sắp tự tứ,
cựu tỳ-kheo đến với số nhiều. Khách tỳ-kheo nên tự tứ
lại. Không tự tứ, sẽ như pháp trị. Nếu tự tứ đã xong,
cả chúng chưa đứng dậy, hoặc số đông chưa đứng dậy,
hay đều đã đứng dậy, cựu tỳ-kheo đến với số nhiều.
Khách tỳ-kheo nên tự tứ lại. Không vậy, sẽ như pháp trị.
Cựu
tỳ-kheo tự tứ, cựu tỳ-kheo đến cũng như vậy. Khách tỳ-kheo
tự tứ, khách tỳ-kheo đến cũng như vậy.
8.
Khách tự tự
1.
Có một trú xứ, ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đến. Khách tỳ-kheo
biết cựu tỳ-kheo chưa đến, nói: «Chúng ta có năm người,
hoặc hơn năm người, có thể tác yết-ma tự tứ.» Bèn tác
yết-ma tự tứ. Khi tác yết-ma tự tứ, cựu tỳ-kheo đến.
Khách tỳ-kheo nghĩ: «Ta nên làm thế nào?» Họ liền báo với
các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
ngày tự tứ trú xứ nào có khách tỳ-kheo đến. Khách tỳ-kheo
biết có cựu tỳ-kheo chưa đến, nhưng nói: ‹Chúng ta có
năm người, hay hơn năm người, có thể tác yết-ma tự tứ.›
Vị ấy liền tác yết-ma tự tứ. Khi tác yết-ma tự tứ,
cựu tỳ-kheo đến với số ít. Cựu tỳ-kheo là hàng thượng
tọa thì tỳ-kheo theo thứ tự của thượng tọa tự tứ. Hạ
tọa theo thứ tự của hạ tọa tự tứ. Nếu tự tứ đã
xong, cả chúng chưa đứng dậy, hay hầu hết chưa đứng dậy,
hoặc đều đã đứng dậy, cựu tỳ-kheo đến với số lượng
ít. Cựu tỳ-kheo nên nói thanh tịnh tự tứ. Nếu không, sẽ
như pháp trị.
«Trú
xứ nào ngày tự tứ khách tỳ-kheo đến, khách tỳ-kheo biết
cựu tỳ-kheo chưa đến, nhưng nói: ‹Chúng ta có năm người
hay hơn năm người có thể tác yết-ma tự tứ.› Họ liền
tác yết-ma tự tứ. Khi tác yết-ma tự tứ, cựu tỳ-kheo đến
với số lượng ngang bằng. Khách tỳ-kheo nên tự tứ lại,
nếu không sẽ như pháp trị. Tự tứ rồi, cả chúng chưa
đứng dậy, hay phần đông chưa đứng dậy, hoặc đều đã
đứng dậy, cựu tỳ-kheo đến với số lượng bằng, khách
tỳ-kheo nên tự tứ lại, nếu không sẽ như pháp trị.
«Trú
xứ nào, ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đến. Khách tỳ-kheo biết
cựu tỳ-kheo chưa đến, nhưng nói: ‹Nếu chúng ta có năm
người, hay hơn năm người, có thể cùng tác yết-ma tự tứ.›
Các vị ấy liền tác yết-ma tự tứ. Khi tác yết-ma tự tứ,
cựu tỳ-kheo đến với số lượng nhiều. Khách tỳ-kheo nên
tự tứ lại. Bằng không, sẽ như pháp trị. Nếu tự tứ
đã xong, cả chúng chưa đứng dậy, hoặc hầu hết chưa đứng
dậy, hay đều đã đứng dậy, cựu tỳ-kheo đến với số
đông, khách tỳ-kheo nên tự tứ lại. Bằng không, sẽ như
pháp trị.
«Trú
xứ nào, ngày tự tứ, cựu tỳ-kheo đến. Cựu tỳ-kheo biết
khách tỳ-kheo chưa đến, nhưng nói: ‹Nếu chúng ta có năm
người hay hơn năm người có thể tác yết-ma tự tứ.› Khi
tác yết-ma tự tứ, khách tỳ-kheo đến với số lượng ít.
Khách tỳ-kheo cấp Thượng tọa thì theo cấp Thượng tọa
mà tự tứ, hạ tọa thì theo thứ tự hạ tọa tự tứ. Nếu
tự tứ rồi, cả chúng chưa đứng dậy, hoặc số đông chưa
đứng dậy, hay đều đã đứng dậy, khách tỳ-kheo đến với
số ít, nên nói thanh tịnh tự tứ, nếu không nói sẽ như
pháp trị.
«Trú
xứ nào ngày tự tứ, cựu tỳ-kheo đến. Cựu tỳ-kheo biết
khách tỳ-kheo chưa đến, nhưng nói: ‹Nếu chúng ta có năm
người, hay hơn năm người, có thể tác yết-ma tự tứ.›
Khi tác yết-ma tự tứ, khách tỳ-kheo đến với số lượng
bằng. Cựu tỳ-kheo nên tác pháp tự tứ lại. Bằng không,
sẽ như pháp trị. Tự tứ đã xong, cả chúng chưa đứng dậy,
hay hầu hết chưa đứng dậy, hoặc đều đã đứng dậy,
cựu tỳ-kheo nên tự tứ lại. Bằng không, sẽ như pháp trị.
«Trú
xứ nào ngày tự tứ, cựu tỳ-kheo đến. Cựu tỳ-kheo biết
khách tỳ-kheo chưa đến, nhưng nói: ‹Nếu chúng ta có năm
người, hay hơn năm người, có thể tác yết-ma tự tứ.›
Khi tác yết-ma tự tứ, khách tỳ-kheo đến với số lượng
đông hơn, cựu tỳ-kheo nên tự tứ lại. Bằng không sẽ như
pháp trị. Nếu tự tứ rồi, cả chúng chưa đứng dậy, hay
số đông chưa đứng dậy, hoặc đều đã đứng dậy, khách
tỳ-kheo đến với số lượng nhiều hơn, cựu tỳ-kheo nên
tự tứ lại. Nếu không, sẽ như pháp trị.
«Khách
tỳ-kheo tự tứ, khách tỳ-kheo đến cũng như vậy. Cựu tỳ-kheo
tự tứ, cựu tỳ-kheo đến cũng như vậy.»
2.
Hoặc nói nên tự tứ,[24] hoặc nói không nên tự tứ. Nếu
có người không đến, bèn nói rằng, ‹Hãy biến mất đi!
Hãy diệt mất đi!› Muốn làm mọi phương tiện, để phá
hoại người khác, bèn tác yết-ma tự tứ. Nếu kia tác yết-ma,
tỳ-kheo kia không thành tựu pháp tác yết-ma, mắc tội thâu-lan-giá.
Bấy
giờ là ngày tự tứ, nếu khách tỳ-kheo đến [842a1] thấy
dấu hiệu của cựu tỳ-kheo như treo giường dây, trải giường
cây, phu cụ, nệm lông, gối, chỗ rửa chân. Thấy dấu hiệu
rồi, không tìm kiếm, bèn tác yết-ma tự tứ. Khi tác yết-ma
tự tứ, cựu tỳ-kheo đến. Khách tỳ-kheo tự nghĩ: ‹Ta nên
làm thế nào?› Các vị ấy liền báo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
ngày tự tứ, có khách tỳ-kheo đến, thấy có dấu hiệu của
cựu trú tỳ-kheo như treo giường dây, trải giường cây, phu
cụ, nệm lông, gối, chỗ rửa chân. Thấy có dấu hiệu mà
không tìm kiếm liền tác yết-ma tự tứ. Nếu tác yết-ma
tự tứ như vậy, thì không thành yết-ma tự tứ, lại có
tội.
«Thấy
dấu hiệu rồi tìm kiếm. Tìm mà không được, nên kêu. Nếu
không kêu mà tác yết-ma tự tứ, không thành yết-ma tự tứ,
lại có tội.
«Thấy
có dấu hiệu rồi liền tìm kiếm. Tìm không được, bèn nói:
‹Hãy biến mất đi! Hãy diệt mất đi!› Dùng nhiều phương
tiện muốn phá hoại người khác, bèn tác yết-ma tự tứ.
Sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia không thành tựu, mắc
thâu-lan-giá.
«Thấy
dấu hiệu liền tìm. Tìm không được, bèn kêu. Kêu rồi tác
yết-ma tự tứ. Sự yết-ma của tỳ-kheo kia tuy không phạm
tội nhưng không thành tựu.
«Thấy
rồi liền tìm. Tìm được, hòa hợp yết-ma tự tứ, thì sự
yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia thành tựu, và không mắc tội.
«Thấy
nhưng nghi cũng như vậy.»
«Có
trú xứ, ngày tự tứ, cựu tỳ-kheo đến thấy dấu hiệu
khách tỳ-kheo như y bát, tọa cụ, ống đựng kim, chỗ rửa
chân, mà không tìm kiếm, bèn tác yết-ma tự tứ, thì sự
yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia không thành tựu, mắc tội.
«Thấy
dấu hiệu liền tìm. Tìm không được nên kêu. Nếu không
kêu mà tác yết-ma tự tứ, thì sự yết-ma tự tứ không thành
tựu, lại có tội.
«Thấy
có dấu hiệu rồi liền tìm kiếm. Tìm không được, bèn nói:
‹Hãy biến mất đi! Hãy diệt mất đi!› Dùng nhiều phương
tiện muốn phá hoại người khác, bèn tác yết-ma tự tứ.
Sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia không thành tựu, mắc
thâu-lan-giá.
«Thấy
dấu hiệu rồi liền tìm. Tìm không được, bèn kêu. Kêu rồi,
tác yết-ma tự tứ. Yết-ma của tỳ-kheo kia tuy không thành
tựu, nhưng không phạm tội.
«Thấy
dấu hiệu rồi tìm kiếm. Tìm được, hòa hợp yết-ma tự
tứ. Yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia thành tựu, và không mắc
tội.
«Thấy
nhưng nghi cũng như vậy.»
Ngày
tự tứ, có trú xứ khách tỳ-kheo đến nghe tiếng cựu tỳ-kheo
kinh hành, tiếng tằng hắng, tiếng tụng kinh, tiếng bàn luận.
Nghe mà không tìm kiếm, liền tác yết-ma tự tứ. Khi tác yết-ma
tự tứ, cựu tỳ-kheo đến vị kia không biết nên như thế
nào, liền báo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Nếu
ngày tự tứ, có trú xứ nào, khách tỳ-kheo đến nghe tiếng
cựu tỳ-kheo đi kinh hành, tiếng tằng hắng, tiếng tụng kinh,
tiếng bàn luận. Nghe tiếng mà không tìm cầu liền tác yết-ma
tự tứ, thì không thành tựu mà mắc tội.
«Từ
‹nghe rồi tìm› cho đến ‹hòa hợp tự tứ› cũng như
vậy.
«Nghe
nhưng nghi cũng như vậy.»
«Có
trú xứ nào, ngày tự tứ, cựu tỳ-kheo lại, nghe tiếng khách
tỳ-kheo đến, tiếng tụng kinh, tiếng tằng hắng, tiếng kinh
hành, tiếng bàn luận, tiếng đập dũ y. Nghe rồi mà không
tìm liền tác yết-ma tự tứ, yết-ma của tỳ-kheo kia không
thành tựu, lại có tội.
«Từ
‹nghe rồi tìm› cho đến ‹hòa hợp tự tứ› cũng như
vậy.
«Nghe,
nghi cũng như vậy.»
Có
trú xứ, ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đến, thấy cựu tỳ-kheo
trên giới trường mà không tìm. Các tỳ-kheo liền tác pháp
yết-ma tự tứ. Các tỳ-kheo không biết thế nào liền bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Trú
xứ nào, ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đến, thấy cựu tỳ-kheo
ở trên giới trường mà không tìm, liền tác yết-ma tự tứ,
yết-ma của tỳ-kheo kia tuy thành tựu nhưng có tội.
«Nếu
thấy mà tìm. Tìm mà không kêu bèn tác yết-ma tự tứ. Yết-ma
tự tứ của tỳ-kheo kia tuy thành tựu nhưng có tội.
«Nếu
thấy mà tìm cầu, tìm cầu rồi kêu, tác yết-ma tự tứ,
tỳ-kheo kia không phá yết-ma, không tội.
«Thấy
nhưng nghi cũng như vậy.»
«Trú
xứ nào, ngày tự tứ cựu tỳ-kheo đến, thấy khách tỳ-kheo
ở trên giới trường, thấy mà không tìm cầu. Các tỳ-kheo
liền tác yết-ma tự tứ, thì sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo
kia tuy thành tựu, nhưng có tội.
«Nếu
thấy liền tìm cầu, tìm cầu không được mà không kêu bèn
tác yết-ma tự tứ, thì sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia
tuy thành, nhưng có tội.
«Nếu
thấy mà tìm cầu, tìm cầu rồi kêu, tác yết-ma tự tứ,
thì sự yết-ma của tỳ-kheo kia thành tựu, và không tội.
«Thấy
nhưng nghi cũng như vậy.»
«Khách
tỳ-kheo nghe cựu tỳ-kheo cũng như vậy.»
«Nghe
nhưng nghi cũng như vậy.»
«Cựu
tỳ-kheo nghe khách tỳ-kheo cũng như vậy.»
«Nghe
nhưng nghi cũng như vậy.»
Có
trú xứ ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đến, thấy cựu tỳ-kheo
ở trong cương giới. Thấy mà không tìm cầu, liền tác yết-ma
tự tứ. Khi tự tứ, thấy cựu tỳ-kheo đến, không biết
làm thế nào, liền báo các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Nếu
có trú xứ nào ngày tự tứ, khách tỳ-kheo đến, thấy cựu
tỳ-kheo ở trong cương giới, thấy mà không tìm cầu liền
tác yết-ma tự tứ, yết-ma của tỳ-kheo kia không thành tựu,
có tội.
«Thấy
mà tìm cầu, tìm cầu rồi không kêu bèn tác yết-ma tự tứ,
thì sự yết-ma của tỳ-kheo kia không thành tựu, và có tội.
«Thấy
mà tìm cầu, tìm cầu rồi kêu hòa hợp tác yết-ma tự tứ,
thì sự yết-ma tự tứ của tỳ-kheo kia thành tựu, và không
tội.
«Thấy
nhưng nghi cũng như vậy.»
«Khách
tỳ-kheo nghe cựu tỳ-kheo cũng như vậy.»
«Nghe
nhưng nghi cũng như vậy.»
«Cựu
tỳ-kheo nghe khách tỳ-kheo cũng như vậy.»
«Nghe
nhưng nghi cũng như vậy.»
Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo có ý nghĩ: «Chúng ta hãy từ nơi có
trú xứ có tỳ-kheo đến nơi có trú xứ không tỳ-kheo. Vì
sợ các tỳ-kheo khác vì chúng ta tác yết-ma, hoặc ngăn tự
tứ.»[25] Các tỳ-kheo liền bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
nên có ý nghĩ như vậy.»
Từ
nơi có trú xứ có tỳ-kheo đến nơi có trú xứ không tỳ-kheo,
vì sợ các tỳ-kheo khác vì họ tác yết-ma, hoặc ngăn tự
tứ. Vị kia nghĩ: ‹Ta hãy từ nơi có trú xứ có tỳ-kheo
đến nơi không trú xứ không Tỳ-kheo. Vì sợ các tỳ-kheo
khác vì ta tác yết-ma, hoặc ngăn tự tứ.› Đức Phật dạy:
«Không
nên có ý nghĩ như vậy.»
Từ
nơi có trú xứ có tỳ-kheo đến nơi không trú xứ không tỳ-kheo,
vì sợ các tỳ-kheo khác vì họ tác yết-ma, hoặc ngăn tự
tứ. Vị kia có ý nghĩ: ‹Ta hãy từ nơi có tỳ-kheo có trú
xứ đến chỗ không tỳ-kheo có trú xứ, hay không trú xứ,
hoặc ở trên giới trường. Vì sợ các tỳ-kheo khác vì ta
tác yết-ma, hoặc ngăn tự tứ.› Đức Phật dạy:
«Không
nên có ý nghĩ như vậy.
«Từ
nơi có tỳ-kheo có trú xứ đến nơi không tỳ-kheo có trú
xứ hay không trú xứ, hoặc [843a1] ở trên giới trường với
tỳ-kheo, sợ các tỳ-kheo khác vì họ tác yết-ma, hoặc ngăn
tự tứ. Nếu không có Tăng cùng đi, không nạn sự mà đi
thì mắc đột-kết-la.
«Từ
nơi có tỳ-kheo không trú xứ đến nơi không tỳ-kheo có trú
xứ cũng như vậy.
«Từ
nơi có tỳ-kheo không trú xứ đến nơi không tỳ-kheo không
trú xứ cũng như vậy.
«Từ
nơi có tỳ-kheo có trú xứ, không trú xứ đến nơi không tỳ-kheo
có trú xứ, không trú xứ cũng như vậy.
«Vì
thân hữu tri thức cũng như vậy.»
Bấy
giờ nhóm sáu tỳ-kheo-ni có ý như vầy: «Chúng ta hãy đến
trong chùa ngăn các tỳ-kheo đừng tác yết-ma hoặc ngăn tự
tứ đối với nhóm sáu tỳ-kheo.» Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
3.
«Tỳ-kheo-ni không được có ý nghĩ như vầy: ‹Đến trong
chùa ngăn các tỳ-kheo đừng tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ
đối với nhóm sáu tỳ-kheo.› Không được trước tỳ-kheo-ni
tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.»
Các
tỳ-kheo-ni, sai thức-xoa-ma-na, sa-di ni đến trong chùa ngăn các
tỳ-kheo khác, đừng tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ đối với
nhóm sáu tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Tỳ-kheo-ni
không được sai thức-xoa-ma-na, sa-di-ni đến trong chùa ngăn
các tỳ-kheo khác, đừng tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ đối
với nhóm sáu tỳ-kheo. Không được trước thức-xoa-ma-na,
sa-di ni tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ.»
Các
tỳ-kheo-ni lại có ý niệm sai bạch y thân hữu đến trong
chùa ngăn các tỳ-kheo, đừng tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ
đối với nhóm sáu tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Tỳ-kheo-ni
không nên có ý nghĩ sai bạch y thân hữu đến trong chùa ngăn
các tỳ-kheo khác, đừng tác yết-ma hoặc ngăn tự tứ đối
với nhóm sáu tỳ-kheo. Không được trước bạch y tác yết-ma
hoặc ngăn tự tứ.»
Bấy
giờ Vua Ba-tư-nặc sai quân đến hộ vệ cho chúng Tăng. Các
tỳ-kheo nói với các binh lính rằng:
«Quý
vị đi ra ngoài một chút, chúng tôi muốn tác yết-ma tự tứ.»
Quân
lính nói:
«Vua
sai chúng tôi đến đây để hộ vệ chúng Tăng. Chúng tôi
không dám đi chỗ khác.»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nên
nói một lần nữa, yêu cầu họ tránh đi chỗ khác. Nếu họ
đi thì tốt, bằng không đi tự mình nên đi đến chỗ không
thấy không nghe tác yết-ma tự tứ, chứ không được ở trước
người chưa thọ đại giới tác yết-ma tự tứ.»
Khi
các loại trời rồng, dạ xoa đến nghe tự tứ. Tỳ-kheo có
thiên nhãn thấy, sanh tâm e ngại, vì đức Phật không cho phép
tỳ-kheo trước người chưa thọ đại giới tự tứ, nên liền
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Trừ
loài người chưa thọ đại giới, ngoài ra cho phép yết-ma
tự tứ.»
Có
vị tự tứ rồi lại thuyết giới nên ngồi lâu mỏi mệt.
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được tự tứ rồi lại thuyết giới. Tự tứ tức là thuyết
giới.»
Đức
Phật dạy như vậy.
[1]
Thập tụng 23 (T23n1435 tr.165b11): thâu-lan-giá. Ngũ phần (T22n1421
tr.131a06): đột-kiết-la.
[2]
Cầu thính 求聽: «xin được nghe.» Cf. Ngũ phần 19 (T22n1421
tr.131a15), vấn thính 問聽: trước hết phải hỏi vị ấy
có chịu nghe không. Nếu chịu nghe thì mới được chỉ điểm.
Cầu thính hay vấn thính, đồng nghĩa với tự tứ. Chỉ có
khác, tự tứ thực hiện bởi Tăng.
[3]
Ngũ phần, đã dẫn: Các tỳ-kheo nói, duy chỉ A-la-hán mới
xứng đáng bảo cầu thính thôi. Nhân dó, Phật dạy pháp tự
tứ.
[4]
Hết quyển 37.
[5]
Năm người, kể luôn tỳ-kheo trú xứ.
[6]
Bốn người hiện diện, không đựơc nhận dục để báo có
người thứ năm nhưng vắng mặt.
[7]
Cf. Pali, Vin. i. 163: Ở đó có 5 tỳ-kheo, không được nhận
tự tứ dục (ekassa pavāraṇaṃ āharitvā) để tác Tăng pháp
tự tứ (saṅghe pavāretabbaṃ). Có bốn, không được nhận
dục một người để tác đối thủ tự tứ.
[8]
Xem cht. 6 & 7 trên.
[9]
Xem Chương Thuyết giới, mục «Dữ dục.»
[10]
Cf. Vin. i. 170: Phật quy định tác bạch ngăn không cho tỳ-kheo
phạm tội tự tứ (pavāranaṃ ṭhapetuṃ).
[11]
Vô căn, bất tác 無根不作. Cf. Pali, Vin.i. 170: avatthusmiṃ
akāraṇe, không có cơ sở (căn), không có lý do (tác).
[12]
Hữu dư bất tác 有餘不作. Không có lý do tuy chưa đầy đủ.
[13]
Hữu dư tác 有餘作. Có lý do tuy chưa đầy đủ.
[14]
Sự 事, trên kia nói là căn 根 (pali: vatthu) tức cơ sở nêu
tội để ngăn tự tứ.
[15]
Xem Phần I, Ch. ii. tăng-già-bà-thi-sa 8: vô căn ba-la-di báng;
và 9: giả căn báng.
[16]
Xem Phần I, Ch. v. ba-dật-đề 80: vô căn tăng-già-bà-thi-sa
pháp báng.
[17]
Đột-kiết-la hoặc ác thuyết.
[18]
Đối với tỳ-kheo phạm tội bị ngăn tự tứ có căn cứ.
[19]
Tuỳ ý sự (No.1446, tr.1047b15): nếu phạm ba-la-thị-ca thì tẫn
xuất. Nếu phạm tăng già-phạt-thi-sa, thì tạm gác đó chờ
tự tứ xong sẽ tri tội. Các tội khác, sám hối xong mới
tự tứ.
[20]
Ngũ phần 19 (T22n1421 tr.133c03): sợ các tỳ-kheo kia, sẽ đến
ngăn trú xứ này tự tứ.
[21]
Cf. Vin.i. không được ngăn (phủ nhận) tự tứ đối với
người đã tự tứ (na…pavāritamapi pavāraṇā ṭhapetabbā).
[22]
Tăng thượng tự tứ 增上自恣, chồng thêm ngày tự tứ.
[23]
Thập tụng 23 (No.1435, tr.167b7): «Các tỳ-kheo ấy nên tự tứ
lại tỳ-kheo trước đó đã tự tứ như vậy, không có tội.»
Cf. Pali, Vin. i. 165: Trong khi đang tự tứ, khách tỳ-kheo đến,
đông hơn; các tỳ-kheo trú xứ tự tứ lại (tehi bhikkhūhi
puna pavāretabbaṃ). Khách tỳ-kheo với số lượng bằng, hay
ít hơn, ai đã tự tứ là tự tứ tốt. Ai chưa tự tứ thì
tự tứ. (pavāritā suppavāritā, avasesehi pavāretabbaṃ). Những
người đã tự tứ, không có tội (pavāritānam anāpatti).
[24]
Xem Ch.ii. Bố tát, mục III.6. Phá yết-ma & cht. 211.
[25]
Xem Ch. ii. Thuyết giới, Mục iii.9 Chuyển trú xứ.