CHƯƠNG
V.
DA
THUỘC
I.
NHÂN DUYÊN THỦ-LUNG-NA
1.
Hai bàn chân
[843b12]
Một thời, đức Thế Tôn ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ
tại thành Chiêm-ba[1] có con ông đại trưởng giả, tự là
Thủ-lung-na.[2] Cha mẹ của Thủ-lung-na chỉ sanh được một
con nên rất thương yêu. Từ nhỏ đến lớn quen sống vui sướng,
chân chưa từng dẫm lên đất để đi, dưới bàn chân mọc
lông. Vua nước Ma-kiệt[3] nghe trong thành Chiêm-ba có con ông
đại trưởng giả, tự là Thủ-lung-na. Cha mẹ của Thủ-lung-na
chỉ sanh được một con nên rất thương yêu. Từ nhỏ đến
lớn quen sống vui sướng, chân chưa từng dẫm lên đất để
đi, dưới bàn chân mọc lông. Vua muốn được thấy, liền
ra lệnh cho ông chủ thành Chiêm-ba[4] bảo các trưởng giả
đều đem con của mình đến chỗ nhà Vua. Ông chủ thành Chiêm-ba
ra lịnh các ông trưởng giả đem con của họ đến chỗ Vua
Ma-kiệt. Khi đến nơi, họ đảnh lễ sát chân nhà Vua, rồi
đứng qua một bên, tâu với Vua:
«Đại
vương muốn thấy con của các đại trưởng giả trong thành
Chiêm-ba. Đây là một đứa từ nhỏ đến lớn quen theo sống
sung sướng, cha mẹ rất thương yêu, chân chưa từng dẫm lên
đất để đi, dưới bàn chân mọc lông. Xin Vua cho phép dùng
vải trải trên đất.»
Vua
cho phép lấy vải trải trên đất. Con ông trưởng giả có
tên Thủ-lung-na liền dùng vải trải trên đất, bước đến
chỗ nhà Vua, đầu mặt kính lễ. Nhà Vua thấy dưới bàn chân
mọc lông. Lòng Vua rất hoan hỷ, liền ban cho[5] những lợi
ích trong đời hiện tại và nói:
«Ta
đã cho các ngươi những lợi ích trong đời hiện tại. Đức
Thế Tôn hiện ở trong núi Kỳ-xà-quật, thành Vương-xá. Các
ngươi có thể đến đó để chiêm ngưỡng và lễ bái hỏi
chào Ngài. Ngài sẽ cho ngươi những điều có lợi ích cho
đời sau.»
Bấy
giờ, chủ thành Chiêm-ba và các trưởng giả nghe Vua nói, rồi
cùng nhau đến trong núi Kỳ-xà-quật. Lúc ấy Trưởng lão
Ta-kiệt-đà[6]
là thị giả của Phật, đang ngồi trên tảng đá lớn ở
một chỗ nọ. Ông chủ thành Chiêm-ba đến chỗ trưởng lão
Ta-kiệt-đà, hỏi:
«Hiện
nay đức Thế Tôn ở đâu? Chúng tôi muốn diện kiến đức
Như Lai.»
Ta-kiệt-đà
bảo:
«Chờ
một chút! Trưởng giả hãy để tôi bạch Phật.»
Trưởng
lão Ta-kiệt-đà liền biến mất khỏi tảng đá, trong khoảnh
khắc như đại lực sĩ co duỗi cánh tay, đến trước đức
Phật, bạch:
«Trưởng
giả Chiêm-ba muốn diện kiến đức Thế Tôn.»
Phật
bảo:
«Ông
đến nơi nhà mát trải chỗ ngồi. Ta sẽ đến đó.»
Ta-kiệt-đà
vâng lời dạy, trải chỗ ngồi xong, đến chỗ Phật, đảnh
lễ sát chân, đứng qua một bên bạch:
«Con
đã trải chỗ ngồi xong. Bây giờ là phải thời.»
Đức
Thế Tôn từ trong nhà bước ra, đến ngồi vào chỗ ngồi
đã trải sẵn, bảo Ta-kiệt-đà:
«Mời
trưởng giả Chiêm-ba đến!»
Trưởng
lão Ta-kiệt-đà liền biến mất trước đức Phật, trong khoảnh
khắc như kẻ lực sĩ co duỗi cánh tay, đã có mặt nơi tảng
đá.
Ông
trưởng giả thấy liền khen:
«Thật
chưa từng có! Đệ tử đức Thế Tôn thần túc còn như thế,
huống là đức Như Lai.»
Ta-kiệt-đà
nói:
«Thưa
Trưởng giả. Bây giờ là phải thời.»
Ông
chủ thành Chiêm-ba đến chỗ đức Phật, đầu mặt kính lễ
rồi lui ra ngồi một bên. Đức Thế Tôn liền vì ông chủ
thành Chiêm-ba và các con trưởng giả phương tiện nói pháp.
Ngài nói pháp về bố thí, về trì giới, về sanh thiên. Họ
liền ngay trên chỗ ngồi mà được sự thanh tịnh của con
mắt pháp, thấy pháp đắc pháp, đạt được quả chứng,
không còn thối lui; bạch Phật rằng:
«Đại
đức, chúng con từ nay về sau, xin quy y Phật, Pháp, Tăng. Cúi
xin đức Thế Tôn nhận chúng con làm người ưu-bà-tắc, trọn
đời không sát sanh, cho đến không uống rượu.»
Con
ông trưởng giả có tên Thủ-lung-na ngồi trong đám đông,
nghĩ rằng: «Ta nghe lời Phật dạy, ở tại gia cùng vợ con
khó tu hạnh thanh tịnh. Nay ta nên theo Phật, xin cạo bỏ râu
tóc, xuất gia làm đạo.» Rồi có ý chờ mọi người giải
tán.
Bấy
giờ chủ thành Chiêm-ba nghe đức Phật phương tiện nói các
pháp, sanh tâm đại hoan hỷ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy
làm lễ, nhiễu quanh đức Phật và cáo lui. Con ông trưởng
giả tên là Thủ-lung-na trở lại, đến chỗ đức Phật, đầu
mặt làm lễ, rồi lui ra đứng một bên, bạch đức Thế Tôn:
«Con
vừa nghe Phật nói, nếu ở tại gia cùng vợ con khó có thể
tu hạnh thanh tịnh. Nay con muốn theo đức Thế Tôn, xin cạo
bỏ râu tóc, cho con xuất gia làm đạo.»
Đức
Phật hỏi Thủ-lung-na.
«Cha
mẹ ông đã cho phép chưa?»
Thủ-lung-na
thưa:
«Thế
Tôn, cha mẹ con chưa cho phép.»
Đức
Phât [844a1] dạy:
«Nếu
cha mẹ con không cho phép, Như Lai không nhận con xuất gia.»
Thủ-lung-na
thưa:
«Con
sẽ tìm cách để cha mẹ con cho phép.»
Đức
Phật dạy:
«Nay
phải thời.»
Bấy
giờ Thủ-lung-na trở lại thành Chiêm-ba, đến chỗ cha mẹ
thưa:
«Con
vừa nghe Phật nói, sống tại gia cùng vợ con không thể tu
hạnh thanh tịnh được. Nay con muốn theo Phật cạo bỏ râu
tóc để xuất gia hành đạo. Xin cha mẹ cho phép.»
Cha
mẹ Thủ-lung-na nói:
«Phép
xuất gia quá khó. Làm sa-môn cũng không phải dễ. Chi bằng
con sống tại gia, vui với ái dục, tuỳ ý làm việc phước.
Khỏi phải xuất gia.»
Thủ-lung-na
nghe cha mẹ nói như vậy, vẫn cố xin lần thứ hai, lần thứ
ba như vậy, chứ không chịu thôi. Thủ-lung-na ba lần thưa
xin cha mẹ như vậy, cha mẹ vẫn không cho. Bấy giờ, Thủ-lung-na
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, rồi ngồi xuống đất và
nói:
«Từ
nay trở đi, con không tắm rửa, không thoa hương thơm, không
uống nước, không ăn. Hoặc chết, hoặc xuất gia.»
Một
ngày không ăn, cho đến năm ngày không ăn. Bà con, bạn bè
của Thủ-lung-na nghe Thủ-lung-na muốn theo Phật cạo bỏ râu
tóc, xuất gia làm đạo mà cha mẹ không cho, đã không ăn cho
đến năm ngày. Các bà con thân quen của Thủ-lung-na bèn đến
chỗ Thủ-lung-na, nói:
«Đứng
dậy đi, Thủ-lung-na. Hãy đi tắm, thoa hương thơm, ăn uống,
làm việc phước đức theo ý muốn. Chứ xuất gia không phải
dễ. Làm sa-môn cũng rất khó. Thôi đi, đừng xuất gia nữa.»
Thủ-lung-na
nghe các bà con thân quen nói như vậy, vẫn giữ nguyên ý nguyện.
Bấy giờ các bạn của Thủ-lung-na đến chỗ cha mẹ của
Thủ-lung-na nói:
«Hãy
cho Thủ-lung-na xuất gia làm đạo. Nếu vui sống xuất gia thì
còn thường gặp. Nếu không vui xuất gia nữa, sẽ trở về
lại. Chứ nếu để Thủ-lung-na chết thì làm sao?»
Cha
mẹ Thủ-lung-na nghe xong liền nói:
«Thôi
thì tùy ý xuất gia.»
Thủ-lung-na
nghe cha mẹ cho phép rồi, trong lòng tự nghĩ: «Nay ta gầy yếu
thế này không kham ngày ăn một bữa. Cần phải bồi dưỡng
một chút.» Khi Thủ-lung-na có ít nhiều sức khỏe, liền đến
chỗ cha mẹ thưa:
«Nay
con xin đi xuất gia.»
Cha
mẹ nói:
«Nay
hợp thời.»
Thủ-lung-na
liền đến chỗ đức Thế Tôn trong núi Kỳ-xà-quật, thành
Vương-xá, đầu mặt kính lễ rồi đứng qua một bên, bạch
Phật:
«Cha
mẹ con đã cho con xuất gia làm đạo. Cúi xin Phật độ cho
con, được thọ đại giới.»
Đức
Phật liền cho xuất gia thọ đại giới.
Bấy
giờ cha mẹ Thủ-lung-na, trong khoảng cách giữa hai thành, thiết
lập bảy trạm ngựa để mang thức ăn còn nóng đến Thủ-lung-na
cho kịp thời. Đến giờ, Thủ-lung-na đem thức ăn này cúng
dường các Thượng tọa, rồi tự mình vào thành khất thực.
Cha mẹ Thủ-lung-na nghe con mình đem thức ăn này dâng cúng
cho các tỳ-kheo, rồi tự mình khất thực, nên từ đó về
sau không đưa thức ăn nữa.
2.
Giây đàn căng
Bấy
giờ, Thủ-lung-na đến ở bên sông Ôn thủy, trong rừng Thi-đà,[7]
siêng năng tinh tấn kinh hành, đến độ bàn chân rỉ máu,
khiến chỗ kinh hành đất dính đầy máu như chỗ lò sát sanh.
Thủ-lung-na ở chỗ vắng tư duy như vầy: «Nay ta siêng năng
tinh tấn, trong hàng đệ tử của đức Phật không có ai hơn.
Tại sao không được vô lậu giải thoát? Gia đình ta có của
cải, có thể vui sống, tuỳ ý làm việc phước đức. Hay
là ta xả giới về nhà, không tiếp tục làm đạo nữa.»
Bấy
giờ đức Thế Tôn biết tâm niệm đó của Thủ-lung-na nên
trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi tay, từ Kỳ-xà-quật
đến rừng Thi-đà, thấy chỗ kinh hành đất dính máu như
lò sát sanh. Ngài biết mà vẫn hỏi các tỳ-kheo:
«Ai
kinh hành nơi đây mà đất dính máu, như chỗ lò sát sanh thế
này?»
Các
tỳ-kheo bạch Phật:
«Tỳ-kheo
Thủ-lung-na siêng năng tinh tấn kinh hành, bàn chân rỉ máu,
nên đất dính máu như vậy.»
Đức
Phật bảo kêu Thủ-lung-na đến. Tỳ-kheo vâng lời dạy của
đức Phật đến chỗ Thủ-lung-na nói:
«Đức
Thế Tôn bảo kêu Thầy đến.»
Thủ-lung-na
nghe đức Phật kêu liền đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân
Ngài rồi lui ra ngồi một bên. Đức Phật biết mà vẫn cố
hỏi:
«Vừa
rồi ở nơi chỗ vắng ông nghĩ như vầy: ‹Nay ta siêng năng
tinh tấn, trong hàng đệ tử của đức Phật không có ai hơn.
Tại sao không được vô lậu giải thoát? Gia đình ta có của
cải, có thể vui sống, tuỳ ý làm việc phước đức. Hay
là ta xả giới về nhà, không tiếp tục làm đạo nữa.›
Có thật vậy chăng?»
«Kính
bạch đức Thế Tôn, có thật như vậy.»
Đức
Thế Tôn nói:
«Nay
Ta hỏi ông. Cứ tuỳ ý mà trả lời. Khi ông còn ở nhà, có
hay chơi đàn không?»
«Bạch
đức Thế Tôn, đúng như vậy, lúc còn ở nhà con hay chơi
đàn.»
«Này
Thủ-lung-na, khi dây đàn căng quá thì âm thanh có tốt hay không?»
«Bạch
Đức Thế Tôn, không.»
«Này
Thủ-lung-na, khi dây đàn chùng, âm thanh có tốt hay không?»
«Bạch
Đức Thế Tôn, không.»
«Này
Thủ-lung-na, khi dây đàn không chùng không căng quá, thì âm
thanh có tốt hay không?»
«Kính
bạch Đức Thế Tôn, âm thanh tốt.»
Đức
Thế Tôn nói:
«Cũng
vậy, này Thủ-lung-na, nếu tinh tấn quá thì bị chao động.
Ít tinh tấn thì sanh biếng nhác. Nên tinh tấn vừa phải đối
với các căn.»[8]
Thủ-lung-na
nghe đức Phật lược nói giáo giới rồi, một mình ở nơi
chỗ vắng siêng năng tinh tấn, tâm không phóng dật, đầu
đêm, sau đêm kỉnh giác lòng mình, tu hành pháp trợ đạo,
để đạt mục đích của người xuất gia, không bao lâu đắc
quả, ngay trong đời này mà chứng đắc vô thượng tịnh hạnh,
biết rằng, ‹Sự sanh đã dứt; phạm hạnh đã vững; điều
cần làm đã làm xong; không còn tái sinh đời sau nữa.› Thủ-lung-na
đắc đạo A-la-hán.
3.
Sáu tín giải
Khi
Thủ-lung-na đắc đạo A-la-hán rồi, đến chỗ đức Thế
Tôn, đảnh lễ sát chân, đứng qua một bên bạch Phật:[9]
«Nếu
có tỳ-kheo đạt được A-la-hán rồi, dứt sạch các hữu
lậu, vị ấy an lạc trong sáu trường hợp:[10] an lạc với
xuất ly, an lạc nơi sự không sân hận, an lạc nơi đời sống
tịch tĩnh, an lạc nơi sự diệt tận ái dục, an lạc nơi
sự diệt tận thủ uẩn, an lạc nơi sự không si. Nếu có
tỳ-kheo đạt được A-la-hán, sạch các hữu lậu, vị ấy
an lạc nơi sáu xứ này. Bạch đức Thế Tôn, có trường hợp
nào không y nơi tín mà được xuất ly hay chăng?»
«Không
nên có ý nghĩ là không y trên tín mà có an lạc nơi sự xuất
ly để đạt được đạo A-la-hán, dứt sạch hữu lậu, diệt
tận dục, vô dục, diệt tận nhuế, không còn nhuế, diệt
tận si, vô si.»[11]
«Bạch
Đức Thế Tôn, có trường hợp nào, không y vào trì giới
mà được an lạc nơi sự không sân nhuế hay chăng?»[12]
«Không
nên có ý nghĩ là không y vào trì giới mà có an lạc nơi sự
không sân nhuế để đạt được đạo A-la-hán, dứt sạch
hữu lậu, diệt tận dục, vô dục, diệt tận nhuế, không
còn nhuế, diệt tận si, vô si.»
«Bạch
Thế Tôn, có trường hợp nào, không đoạn các lợi dưỡng
mà có an lạc nơi sự tịch tĩnh[13] hay chăng?»[14]
«Không
nên có ý nghĩ là không đoạn lợi dưỡng mà có an lạc sự
tịch tĩnh để đạt được đạo A-la-hán, dứt sạch hữu
lậu, diệt tận dục, vô dục, diệt tận nhuế, không còn
nhuế, diệt tận si, vô si.
«Vị
kia do có sự an lạc nơi ái tận, an lạc nơi sự diệt tận
thủ uẩn, an lạc nơi vô si mà đạt được đạo A-la-hán,
dứt sạch hữu lậu, diệt tận dục, vô dục, diệt tận nhuế,
không còn nhuế, diệt tận si, vô si.
«Tỳ
kheo như vậy tâm giải thoát hữu lậu, đối với sắc được
nhận thức nhiều bởi con mắt, huệ giải thoát, tâm giải
thoát, cả hai đều không nhiễm ô. Thức không cùng với tạp
sắc, trú thiền thứ tư. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như
vậy.
«Bạch
Thế Tôn, cũng như núi đá lớn nguyên vẹn, không bị sứt,
không không bị thủng, không kẻ nứt. Nếu từ phương đông
có trận mưa to gió lớn đưa đến thì núi này không bị di
chuyển, không bị lay động. Từ phương nam, tây, bắc cũng
như vậy. Cũng vậy, bạch đức Thế Tôn, nếu tỳ-kheo được
đạo A-la-hán, tâm được giải thoát, dứt sạch các hữu
lậu, đối với sắc được nhận thức nhiều bởi con mắt,
huệ giải thoát, tâm [845a1] giải thoát, cả hai đều không
nhiễm ô, thức không cùng với tạp sắc, trú thiền thứ tư.
Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như vậy.»
Nói
như vậy rồi nói kệ:
Người
tin tưởng xuất ly,
Tỳ-kheo
ưa vắng lặng,
Ưa
thích không sân nhuế,
Và
an lạc nơi ái tận,
An
lạc không thủ uẩn,
Tâm
không còn ngu si,
Xét
biết không khởi nữa;
Từ
đây được giải thoát.
Chính
nhờ giải thoát này
Liền
được tâm tĩnh lặng.
Đã
đạt được vô quán,
Không
còn gì phải làm.
Thí
như hòn núi lớn
Gió
không thể hoại được.
Sắc,
thanh cũng như vậy,
Cùng
hương, vị, xúc, pháp;
Đối
với pháp thiện ác,
Kẻ
trí không dao động
Tâm
an trụ giải thoát,
Mà
quán sự diệt tận.[15]
Thủ-lung-na
sau khi nói bài kệ như vậy, được đức Phật ấn chứng,
từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước đức Phật kính lễ
sát chân rồi cáo lui.
Thủ-lung-na
ra đi không lâu, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Nên
tự ghi nhận như vầy về sự đắc đạo. Chỉ nói về nghĩa,
chứ không nói thẳng là đã đắc. Đừng nên như những tỳ-kheo
ngu si kia hoan hỷ tự ghi nhận, rồi sau không có sở đắc,
luống tự khổ nhọc.»
Một
hôm, Thủ-lung-na đến chỗ đức Phật, đảnh lễ sát chân
rồi lui ngồi qua một bên, đức Phật bảo Thủ-lung-na:
«Bình
sanh của ông quen sung sướng, không quen đi bộ. Cho phép ông
ở trong chùa mang dép một lớp.»
Thủ-lung-na
liền bạch Phật:
«Con
đã xả bỏ năm cỗ voi chúa, xuất gia làm đạo. Nay nếu con
mang giày một lớp không khỏi có người cười rằng, Thủ-lung-na
bỏ năm cỗ voi chúa, xuất gia làm đạo, lại tham dép một
lớp. Nếu đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo dùng thì con
mới dùng.»
Đức
Phật im lặng chấp nhận và do nhơn duyên này tập hợp Tăng
tỳ-kheo, vì các tỳ-kheo tùy thuận nói pháp, dùng vô số phương
tiện khen ngợi hạnh đầu đà, thiểu dục tri túc, ưa xuất
ly, rồi bảo các tỳ-kheo:
«Vì
hộ thân, hộ y, hộ ngọa cụ, cho phép khi ở trong chùa được
mang dép một lớp.»
Bấy
giờ các tỳ-kheo mang dép một lớp, không bao lâu bị lủng
hư. Đức Phật cho dùng vỏ cây hoặc da vá lại, dùng chỉ
để may. Nếu bị đứt thì nên dùng gân hay lông may lại.
Bấy giờ cần dùi để dùi, tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật
cho phép sử dụng dùi để dùi.[16]
II.
NHÂN DUYÊN ỨC NHĨ
1.
Tăng già biên địa
Bấy
giờ Đại Ca-chiên-diên ở trong sườn núi Câu-lưu Hoan hỷ[17]
tại nước A-bàn-đề,[18] cùng với Ức Nhĩ ưu-bà-tắc,[19]
có cả người sai khiến.[20]
Bấy
giờ, Ức Nhĩ lòng tự nghĩ rằng:
«Như
lời Phật dạy, nếu ta sống tại gia cùng với vợ con, không
thể tu hạnh thanh tịnh được. Ta hãy cạo bỏ râu tóc xuất
gia làm đạo.»
Ức
Nhĩ liền đến chỗ Đại Ca-chiên-diên thưa:
«Con
nghe lời Phật dạy, nếu sống tại gia cùng với vợ con, không
thể tu hạnh thanh tịnh được. Cúi xin Đại đức cho con xuất
gia thọ đại giới.»
Ca-chiên-diên
nói:
«Xuất
gia là việc rất khó. Làm sa-môn cũng không phải là dễ. Ông
nên sống tại gia, hộ trì Phật giới, tùy theo thời tu hành
theo lời Phật dạy.»
Ức
Nhĩ thưa xin ba lần. Đại Ca-chiên-diên thấy Ức Nhĩ ân cần
ba phen, bèn cho xuất gia, nhưng đến ba năm mới được thọ
đại giới. Tại sao vậy? Bởi vì không đủ Tăng gồm mười
vị. Ức Nhĩ thọ giới chưa bao lâu liền đắc đạo A-la-hán.
Tự ghi nhận sự đắc đạo như trước đã nói.
Bấy
giờ Ức Nhĩ nghe đức Phật có công đức tướng hảo trang
nghiêm, các căn tịch tịnh, vô thượng điều phục, như tượng
vương, như vực suối trong vắt, người nghe đều hoan hỷ.
Ức Nhĩ muốn đến yết kiến đức Phật nên đến chỗ Ca-chiên-diên
thưa:
«Con
nghe công đức của Phật như vậy, muốn đến yết kiến Như
Lai, bậc Vô sở trước, Đẳng chánh giác.»
Ca-chiên-diên
nói:
«Công
đức của Phật như lời ông nói.»
Ca-chiên-diên
nói tiếp:
«Ông
nhơn danh tôi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ sát chân, thăm
hỏi Thế Tôn: ‹Thế Tôn đi đứng khỏe mạnh không? Ít bịnh,
an lạc không?› Rồi ông đem năm việc sau đây đến bạch
đức Thế Tôn:
«1.
Tại nước A-thấp-bà A-bàn-đề ít Tỳ-kheo, nên thọ đại
giới khó khăn, ba năm mới tổ chức được.[21] Tại sao như
vậy? Vì không đủ Tăng mười vị. Từ nay về sau, cúi xin
đức Thế Tôn phương tiện khai cho thế nào để nước A-thấp-bà
A-bàn-đề được thọ đại giới dễ dàng.
«2.
A-thấp-bà A-bàn-đề nhiều chông gai, sỏi đá; giày dép một
lớp dễ bị hư rách. Cúi xin đức Thế Tôn cho phép mang giày
dép hai lớp.
«3.
A-thấp-bà A-bàn-đề người đời ưa tắm. Cúi xin đức Thế
Tôn cho phép tỳ-kheo thường thường tắm rửa.
«4.
Như các phương khác có những loại ngọa cụ tốt như y-lê-diên-đà,
mạo-la, mạo-mạo-la, cù lâu[22] như vậy. Nước A-thấp-bà
A-bàn-đề cũng dùng da làm ngọa cụ như da sơn dương, da cừu,
da hươu.[23] Cúi xin đức Thế Tôn cho phép được dùng ngọa
cụ bằng da.
«5.
Có tỳ-kheo đến địa phương khác. Sau đó, trú xứ cũ được
y,[24] không dám nhận; vì sợ phạm ni-tát-kỳ. Cúi xin đức
Thế Tôn phương tiện khai cho được nhận.»
Tỳ-kheo
Ức Nhĩ nghe Đại Ca-chiên-diên nói, im lặng thọ trì, từ
chỗ ngồi đứng dậy, đầu mặt kính lễ, nhiễu quanh rồi
cáo lui. Ức Nhĩ nghe đức Thế Tôn ở trong núi Kỳ-xà-quật,
thành Vương-xá. Ức Nhĩ mang đầy đủ ba y và bát đến chỗ
đức Phật, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên, đức
Phật liền ủy lạo bằng cách hỏi:
«Trụ
chỉ có được an lạc hay không? Có vất vả vì sự ăn uống
không ?»
Ức
Nhĩ bạch Phật, trụ chỉ được an lạc, không bị vất vả
bởi thức ăn. Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:
«Sửa
soạn chỗ cho các tỳ-kheo nghỉ.»
Tôn
giả A-nan tự biết, theo thường pháp của đức Thế Tôn,
là muốn cho khách tỳ-kheo cùng nghỉ với Ngài, nên mới bảo
A-nan sửa soạn. Tôn giả vâng lời Phật dạy, vào trong phòng
nơi đức Phật nghỉ, sửa soạn một chỗ ngồi đối diện
với chỗ ngồi của Ngài. Rồi trở lại chỗ Phật, đảnh
lễ sát chân, đứng qua một bên, bạch đức Thế Tôn:
«Con
đã sửa soạn chỗ cho khách tỳ-kheo nghỉ xong. Con xin phép
được mời khách vào.»
Đức
Thế Tôn liền đứng dậy vào phòng, đến chỗ ngồi. Ức
Nhĩ cùng vào phòng với đức Phật, ngồi vào chỗ ngồi đối
diện. Đức Thế Tôn ngồi tĩnh lặng trong giây lát, rồi bảo
Ức Nhĩ:
«Ông
có thể nói pháp không?»
Ức
Nhĩ nghe lời Phật dạy, bèn ở trước đức Phật, nói «Mười
sáu cú nghĩa»,[25] không thêm, không bớt, không hoại, âm thanh
trong trẻo, chương cú thứ tự rõ ràng có thể hiểu được.
Bấy giờ, đức Thế Tôn nghĩ: ‹Hay thay, tỳ-kheo này nói
kinh pháp mười sáu cú nghĩa, không tăng, không giảm, không
hư hoại, âm thinh trong trẻo, thứ tự chương cú rõ ràng,
có thể hiểu được.› Đức Phật hỏi Ức Nhĩ:
«Trước
đây ông làm gì?»
Ức
Nhĩ thưa:
«Từ
lâu, con thấy dục là tai hại. Nhưng thọ giới được thì
rất khó. Phải đợi đến ba năm. Vì sao vây? Vì không đủ
chúng mười vị.»
Ức
Nhĩ nghĩ rằng nay đã đúng lúc bạch lên đức Thế Tôn năm
việc mà Hòa thượng Ca-chiên-diên dặn. Ức Nhĩ bạch Phật:
«Hòa
thượng Ca-chiên-diên của con dặn con nhơn danh người đê
đầu đảnh lễ sát chân đức Thế Tôn và xin được vấn
an sức khỏe Thế Tôn: ‹Thế Tôn đi đứng khỏe mạnh không?
Ít [846a1] bịnh, an lạc không?› »
Rôi
Ức Nhĩ trình bày năm việc như trên lên đức Thế Tôn. Đức
Thế Tôn chấp thuận bằng sự im lặng.
Sáng
sớm hôm sau, đức Phật dùng nhơn duyên này tập hợp Tăng
tỳ-kheo, vì các tỳ-kheo tùy thuận nói pháp, dùng vô số phương
tiện khen ngợi hạnh đầu đà, oai nghi tề chỉnh, thiểu dục
tri túc, ưa nơi không nhàn, và bảo các tỳ-kheo:
«Cho
phép nước A-thấp-bà A-bàn-đề có người thứ năm là người
trì luật[26] thì được thọ đại giới. Các nơi khác gặp
trường hợp như vậy cũng cho phép. Nơi khác là: phương Đông
có nước tên là Bạch mộc điều;[27] ngoài nước ấy thì
được phép. Phương Nam có tháp tên là Tĩnh thiện,[28] ngoài
tháp ra thì được phép. Phương Tây có Quốc sơn tên là Nhất-sư-lê
Tiên nhơn chủng,[29] ngoài núi ra thì được phép. Phương Bắc
có nước tên là Trụ,[30] ngoài ra thì được phép. Ngoài các
nơi như trên nếu có người thứ năm là người trì luật
thì được phép thọ giới.
«Cho
phép nước A-thấp-bà A-bàn-đề mang giày dép hai lớp.
«Cho
phép nước A-thấp-bà A-bàn-đề thường xuyên được tắm
rửa.
«Cho
phép nước đó trải da của loài sơn dương, cừu, da hươu
làm ngọa cụ.
«Cho
phép các tỳ-kheo nhận được y đủ mười ngày. Quá hạn
nên xả. Xả rồi sám hối.»
2.
Những quy định về da thuộc
i.
Quy định chung về giày dép
Bấy
giờ, có tỳ-kheo nhận được đôi dép vá bằng da; khi ở
cách Phật không xa, bèn xé lột ra cho hư hoại, vì sợ phạm
mang dép hai lớp. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi tỳ-kheo
ấy:
«Sao
ông xé đôi dép cho hư hoại?»
Vị
tỳ-kheo thưa:
«Vì
con sợ phạm giới mang dép hai lớp.»
Đức
Phật dạy:
«Giày
dép bị lủng hư, được phép vá hai lớp.»
Các
tỳ-kheo nhận được loại da chưa thuộc. Đức Phật dạy:
«Cho
phép thuộc da cho mềm. Hoặc tự mình làm cho nó mềm, hoặc
nhờ người làm cho mềm rồi mới cắt làm giày dép một lớp.»
Cần
dao, Phật cho phép chứa dao. Cần ván, Phật cho phép chứa ván.
Cần gân, cần lông, cần chỉ da... đức Phật đều cho phép
chứa. Cần kéo, đức Phật cho phép chứa kéo. Dao lụt, cho
phép mài, cho phép chứa đá mài.
Bấy
giờ, các tỳ-kheo để rải rác dao, dùi, gân, lông, chỉ da,
kéo, không có chỗ cất. Đức Phật dạy:
«Cho
phép làm cái túi để đựng. Hoặc lấy tre đan thành lồng;
hoặc lấy vỏ cây làm thành cái lồng. Cho phép dùng đãy bằng
lông bọc bên ngoài. Có thể dùng một trong mười loại vải
để làm cái đãy.
Các
tỳ-kheo dùng da để làm. Đức Phật dạy:
«Không
được dùng da làm.»
Các
tỳ-kheo để y mới trên giày dép rồi ngồi, làm bẩn y. Đức
Phật dạy:
«Không
được để y mới lên trên giày dép rồi ngồi lên trên. Các
tỳ-kheo cũng không được ngồi trên da. Trừ nước A-thấp-bà
A-bàn-đề.»
Các
tỳ-kheo đem giày dép để ở trước rồi ngủ, chó ngậm đem
đi. Đức Phật dạy:
«Không
được để giày dép ở trước rồi ngủ. Nên lấy cỏ phủ
lại. Hoặc úp hai đế lại với nhau rồi để dưới ni-sư-đàn.»
Tỳ-kheo
đem giày dép để một bên rồi ngủ. Khi lăn qua, nằm trên
giày dép, với tâm cẩn thận nghĩ, sợ phạm tội nằm ngủ
trên da. Đức Phật dạy:
«Không
phạm.»
Có
tỳ-kheo đem giày dép để trong bình bát mang đi. Tỳ-kheo khác
thấy, nhờm gớm. Đức Phật dạy:
«Không
nên để giày dép trong bình bát. Nên giữ bát cho sạch sẽ.»
Có
tỳ-kheo một tay cầm cả giày dép và bình bát. Tỳ-kheo khác
thấy, nhờm gớm. Đức Phật dạy:
«Không
được một tay cầm cả giày dép và bình bát. Nên một tay
cầm bình bát, một tay xách giày dép.»
Các
tỳ-kheo lội qua nước bùn, vén y không được. Y rớt trong
nước bùn. Đức Phật dạy:
«Cho
phép dùng ngón tay móc giày dép. Bình bát để trong bàn tay.
Một tay vén y.»
ii.
Các loại da
Các
tỳ-kheo ở nước Câu-tát-la, du hành trong nhơn gian. Đến nơi
thôn không có trú xứ tỳ-kheo. Nghỉ đêm tại nhà ông thợ
làm đồ gốm, gần bên chỗ nhồi bùn có da thú. Tỳ-kheo ngủ
bên trên, sáng ngày mới thấy, sợ phạm ngủ trên da. Đức
Phật dạy:
«Không
phạm.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo tích trữ loại da lớn[31] như sư tử, cọp, beo,
rái cá, mèo rừng, ca-la,[32] cáo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Không
được chứa tất cả da lớn.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo ngồi trên giường cao lớn, hoặc ngồi một mình
trên giường dây, giường cây, giường ngà voi, trải bằng
da ngựa, da voi; đệm bông, ngọa cụ tạp sắc, cù lâu,[33]
dùng các loại lông con rái cá độn làm nệm. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được ngồi trên giường cao lớn, cho đến dùng lông con rái
cá độn làm nệm.»
Các
tỳ-kheo đến nhà bạch y. Họ trải giường cao rộng tốt
đẹp cho tỳ-kheo, mời tỳ-kheo ngồi. Các tỳ-kheo nói:
«Đức
Phật không cho phép chúng tôi ngồi trên giường cao lớn.»
Các
bạch y thưa:
«Chúng
con đâu có cái giường nào khác.»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép ngồi. Trừ loại giường bằng vật báu, ngoài ra, nơi
nhà bạch y, được phép được ngồi.»
Các
tỳ-kheo đến nhà bạch y. Họ vì tỳ-kheo trải giường bằng
da, giường đơn.[34] Các tỳ-kheo e ngại không dám ngồi, nghĩ
rằng: ‹Đức Phật không cho chúng ta ngồi trên da thú, trừ
tại nước A-thấp-bà A-bàn-đề.› Các bạch y thưa:
«Chúng
con không có cái giường nào khác.»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép nơi nhà bạch y được ngồi.»
Các
tỳ-kheo đến nhà bạch y. Họ trải giường dây, giường cây
dài. Các tỳ-kheo e ngại không dám ngồi vì Phật không cho
phép họ và thượng tọa cùng ngồi trên một giường. Các
bạch y thưa:
«Chúng
con không đủ chỗ cho mỗi vị ngồi riêng một giường.»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép nơi nhà bạch y được ngồi chung.»
Các
tỳ-kheo đến nhà bạch y. Họ trải đãy bằng da. Tỳ-kheo
có tâm e ngại, nghĩ rằng: ‹Đức Phật không cho phép ngồi
trên da.›
Các
cư sĩ thưa:
«Chúng
con không có chỗ ngồi nào khác.»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép nơi nhà bạch y được ngồi.»
Bấy
giờ, Bạt-nan-đà Thích tử có đàn-việt là một người chăn
bò. Sáng sớm, Bạt-nan-đà khoác y đến nhà đàn-việt, trải
chỗ ngồi. Lúc đó, người chăn bò đến ngồi nghe pháp. Bạt-nan-đà
Thích tử khéo léo vì ông nói pháp, dùng mọi phương tiện
khuyến hóa người đàn-việt khiến rất hoan hỷ, nên hỏi:
«Đạt
đức cần gì?»
Bạt-nan-đà
nói:
«Thôi.
Tôi không cần gì. Như thế là cúng dường rồi.»
Người
đàn-việt lại thưa:
«Xin
Thầy cần gì cứ nói.»
Bạt-nan-đà
nói:
«Thôi,
tôi không cần gì. Tôi có nói ra cũng không đáp ứng được
đâu!»
Người
đàn-việt nói:
«Đại
đức cứ nói, con sẽ dâng cúng.»
Cách
đó không xa có một con bê khoang, Bạt-nan-đà nói:
«Tôi
cần loại da đó.»
Người
đàn-việt thưa:
«Xin
ngài đợi một chút, để con giết nó đã.»
Người
ấy liền giết con bê, lột da cúng cho Bạt-nan-đà. Bạt-nan-đà
nhận được da rồi, từ chỗ ngồi đứng dậy mang đi. Con
bò mẹ rống la thống thiết, đi theo Bạt-nan-đà đến cửa
Kỳ-hoàn. Các tỳ-kheo thấy hỏi:
«Con
bò này tại sao rống la và đi theo thầy?»
Bạt-nan-đà
nói:
«Đây
là da của con nó. Tôi mang về nên nó đi theo.»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được xin da sống. Nếu xin, sẽ như pháp trị.»
iii.
Các vật dụng bằng da
1.
Các tỳ-kheo e ngại không dám đeo phao nổi qua sông. Đức Phật
dạy:
«Được
phép.»
Các
tỳ-kheo nắm đuôi trâu lội qua sông. Khi qua khỏi sông mới
biết là trâu cái nên e ngại. Đức Phật dạy:
«Không
phạm. Tuy nhiên, từ nay về sau, không nên nắm đuôi trâu cái
qua sông.»
Các
tỳ-kheo không dám ngồi trên thảm bằng da để qua sông. Đức
Phật dạy:
«Được
phép ngồi.»
Các
tỳ-kheo e ngại không dám ngồi trên thuyền bằng da để qua
sông. Đức Phật dạy:
«Cho
phép được ngồi trên thuyền bằng da để qua sông. Hoặc
ngồi hay nằm tùy ý.»
2.
Các tỳ-kheo dùng da làm đãy đựng dao, không dùng vật gì
bao phủ dao lại nên bị hư. Đức Phật dạy:
«Nên
dùng lông mịn hoặc kiếp-bối hay da lớn bao phủ dao lại.»
Các
tỳ-kheo chứa giày dép da hai lớp. Đức Phật dạy:
«Không
được chứa giày dép da hai lớp.»
Các
tỳ-kheo chứa giày dép da ca-na-phú-la.[35] Đức Phật dạy:
«Không
được chứa giày dép da ca-na-phú-la.»
Tỳ-kheo
cùng với bạch [847a1] y nước Câu-tát-la cùng đi trên đường,
bị vật nhọn đâm chảy máu dưới chân rất trầm trọng,
không thể đi được. Bạch y thấy vậy liền đưa giày dép
mình mang cho tỳ-kheo. Tỳ-kheo e ngại phạm xử dụng giày dép
da ca-na-phú-la nên không dám nhận. Đức Phật dạy:
«Có
nhân duyên như vậy thì cho phép thọ dụng.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo chứa giày dép bằng sừng xoay.[36] Đức Phật
dạy:
«Không
được chứa giày dép bằng sừng xoay.»
Các
tỳ-kheo chứa giày dép bằng sừng nai. Đức Phật dạy:
«Không
được chứa giày dép bằng sừng nai.»
Các
tỳ-kheo chứa giày dép a-la-lê.[37] Đức Phật dạy:
«Không
được chứa như vậy.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo dùng da nhiều màu làm dây cột giày dép. Đức
Phật dạy:
«Không
được chứa.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo dùng bố bằng lụa làm dây cột giày dép. Đức
Phật dạy:
«Không
được chứa.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo chứa giày dép phú-la-bạt-đà-la.[38] Đức Phật
dạy:
«Không
được chứa.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép chơn-thệ-lê.[39] Đức Phật dạy:
«Không
được chứa.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép bện hai bên.[40] Đức Phật dạy:
«Không
được chứa.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép có nhiều dây. Đức Phật dạy:
«Không
được chứa.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép hình cuốn.[41] Đức Phật dạy:
«Không
được chứa.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép bằng da lớn, da sư tử, da cọp,
da beo, da rái cá, da mèo rừng, da nhiều màu, da cáo. Đức Phật
dạy:
«Tất
cả loài da đó không được chứa.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo dùng da lớn viền giày dép hoặc dùng làm dây,
hoặc dùng để vá. Đức Phật dạy:
«Không
được dùng để viền hay làm dây hoặc vá.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép màu xanh. Đức Phật dạy:
«Không
được chứa.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo dùng màu xanh viền giày dép, hoặc dùng làm dây
hay vá. Đức Phật dạy:
«Không
được dùng màu xanh viền giày dép, hoặc làm dây hay vá.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép màu vàng. Đức Phật dạy:
«Không
được mang.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép viền màu vàng, hoặc làm dây cột
hay vá. Đức Phật dạy:
«Không
được dùng giày dép, hoặc dây cột vá có viền màu vàng.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép màu đỏ. Đức Phật dạy:
«Không
được mang giày dép màu đỏ, dây cột và vá cũng như vậy.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép màu trắng. Đức Phật dạy:
«Không
được mang giày dép màu trắng, dây cột viền, đường vá
viền cũng như vậy.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép giống như lông công. Đức Phật
dạy:
«Không
được như vậy.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép màu gấm.[42] Đức Phật dạy:
«Không
được dùng như vậy.»
Tỳ-kheo
kia nhận được giày dép màu gấm đã làm thành. Đức Phật
dạy:
«Không
được chứa; nếu làm mất màu thì được phép chứa.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép độn bằng loại lông mịn. Đức
Phật dạy:
«Không
được chứa.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mang giày dép độn bằng kiếp-bối.[43] Đức Phật
dạy:
«Không
được chứa.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo dùng tơ lụa độn giày dép. Đức Phật dạy:
«Không
được chứa dùng.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo dùng cỏ bẹ, cỏ bà-sa, cỏ xá-la, cỏ hán-đà-la[44]
độn giày dép. Đức Phật dạy:
«Không
được chứa.»
«Này
nhóm sáu tỳ-kheo, các ông là những người si. Điều nào Ta
ngăn cấm, lại làm các điều khác. Từ nay về sau, tất cả
loại giày dép có độn đều không được chứa để dùng.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo gặp trời mưa bùn bẩn chân, bẩn tọa cụ,
bẩn thân ngọa cụ. Đức Phật cho phép vì hộ thân, hộ tọa
cụ, trong Tăng-già-lam được mang giày dép bằng cỏ bồ để
rửa chân. Khi mang giày dép bằng cỏ bồ để rửa chân rồi,
nước vào trong giày dép bẩn chân, bẩn tọa cụ, bẩn thân,
bẩn ngọa cụ. Đức Phật cho phép dùng vỏ cây, hoặc da đóng
dưới gót.
3.
Bấy giờ, trong nước Xá-vệ, nhóm sáu tỳ-kheo mang guốc bằng
khâm-bà-la.[45] Đức Phật dạy:
«Không
được dùng guốc bằng bốn loại cỏ như vậy và không được
mang.»
Khi
đức Phật ở tại thành Vương-xá, thì bấy giờ nhóm sáu
tỳ-kheo lột vỏ cây đa-la[46] để làm guốc, nên cây bị
khô héo. Các cư sĩ thấy cùng nhau cơ hiềm: ‹Sa môn thích
tử không biết hổ thẹn, đoạn mạng sống mà tự nói tôi
biết chánh pháp. Lột vỏ cây đa-la để làm guốc khiến cho
cây bị khô chết. Như vậy có gì là chánh pháp?› Tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy.»
Khi
đức Thế Tôn ở tại nước Câu-thiểm-di, thì bấy giờ,
nhóm sáu tỳ-kheo mang guốc bằng gỗ đi như ngựa, âm thanh
rối loạn các vị tọa thiền. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Không
được mang guốc gỗ.»
Các
tỳ-kheo e ngại không dám mang guốc vào nhà đại tiểu tiện,
không dám mang guốc để rửa chân. Đức Phật dạy:
«Trừ
mang đi đường. Các trường hợp trên được mang.»
Thế
Tôn ở tại nước Ta-kiệt-đề. Bấy giờ, tỳ-kheo Tỳ-xá-ly
Bạt-xà Tử[47] mang guốc bằng vàng, guốc bằng bạc. Đức
Phật dạy:
«Không
được mang.»
Ông
ta lại mang guốc bằng lưu ly. Đức Phật dạy:
«Không
được dùng.»
Ông
ta tự làm và mang guốc bằng vật báu. Đức Phật dạy:
«Không
được mang.»
Sau
đó ông lại mang guốc gỗ quí. Đức Phật dạy:
«Không
được mang.»
Đức
Phật dạy tiếp:
«Ông
là người si. Ta cấm thứ này, ông lại vội sắm các thứ
khác để mang. Từ nay về sau, không được mang tất cả loại
guốc.»
4.
Thế Tôn ở tại nước Tỳ-xá-ly. Bấy giờ nhóm sáu tỳ-kheo
cùng đức Phật đi kinh hành mà mang giày dép. Phật bảo các
tỳ-kheo:
«Đệ
tử thọ học với các công xảo sư ở bên ngoài còn có sự
cung kính đối với Thầy. Còn nhóm sáu tỳ-kheo này là những
người ngu si, mới mang giày dép cùng Phật đi kinh hành.»
Đức
Phật dạy tiếp:
«Từ
nay về sau, không được mang tất cả mọi thứ giày dép như
vậy.»
Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo đối với Hòa thượng, đồng hàng
Hòa thượng, A-xà-lê, đồng hàng A-xà-lê, mà kinh hành nơi
chỗ tốt, còn đồng hàng Hòa thượng kinh hành nơi chỗ xấu.
Mình kinh hành nơi chỗ cao, còn đồng hàng Hòa thượng kinh
hành nơi chỗ thấp. Mình đi trước, còn đồng hàng Hòa thượng
đi sau. Cùng nói với đồng hàng Hòa thượng, cùng kinh hành,
lật ngược y, y quấn cổ, y trùm đầu, trùm hai vai, mang giày
dép. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được để Hòa thượng, đồng hàng Hòa thượng, hoặc A-xà-lê
đồng hàng A-xà-lê kinh hành nơi chỗ xấu mà mình kinh hành
nơi chỗ tốt, cho đến mang giày dép, tất cả đều không
được.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo đối với Hòa thượng, đồng hàng Hòa thượng,
A-xà-lê đồng hàng A-xà-lê phủ y lên hai vai, mang giày dép,
hoặc có việc trao hay nhận, không trống vai bên hữu, không
cởi bỏ giày dép. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy.»
Đức
Phật dạy:
«Từ
nay về sau, khi đối trước Hòa thượng đồng hàng Hòa thượng,
A-xà-lê đồng hàng A-xà-lê phải trống vai bên hữu, cởi
bỏ giày dép, khi có việc trao hay nhận.»
Các
tỳ-kheo ở tại nhà bạch y đối với Hòa thượng đồng hàng
Hòa thượng, A-xà-lê đồng hàng A-xà-lê, có việc trao hay
nhận, trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, nên bị lộ hình.
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Tại
nhà bạch y, đối trước Hòa thượng đồng hàng Hòa thượng,
A-xà-lê đồng hàng A-xà-lê khỏi phải trống vai bên hữu,
khỏi phải cởi bỏ giày dép, khi có việc trao hay nhận.»
Bấy
giờ có tỳ-kheo cùng tỳ-kheo khác cùng đi trên đường. Một
tỳ-kheo đến tỳ-kheo khác xin nước. Các tỳ-kheo nghĩ: ‹Đức
Phật không cho phép mang giày dép khi có việc trao hay nhận.›
Tỳ-kheo kia liền cởi bỏ giày dép để lấy nước, nên bị
mất giày dép. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép trên đường đi, tùy ý mang giày dép khi có việc trao
hay nhận.»
Có
tỳ-kheo, lúc xẩm tối, đến tỳ-kheo khác xin nước. Vị kia
nghĩ: ‹Đức Phật không cho phép mang giày dép khi có việc
trao hay nhận.› Bấy giờ, trú xứ nọ lại cách xa chỗ lấy
nước, tuy sợ độc trùng, nhưng tỳ-kheo kia vẫn cởi bỏ
giày dép, đến đó để lấy nước, nên bị độc trùng cắn
chân đau nhức, không vui. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Sau
khi mặt trời lặn, phải đi xa lấy nước, vì sợ độc trùng
nên được phép mang giày dép, khi có việc trao hay nhận.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo thấy Hòa thượng đồng hàng Hòa thượng, A-xà-lê
đồng hàng A-xà-lê không đứng dậy đón rước. Các [848a1]
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nên
đứng dậy chào tiếp. Trừ khi ăn hoặc khi làm pháp dư thực,
hay khi bệnh thì nói: ‹Đại đức biết cho, tôi vì nhân duyên
như vậy nên không đứng dậy chào đón được.› »
Hòa
thượng là người trao giới cho mình. Đồng hàng Hòa thượng
là những vị đã đủ mười hạ.
A-xà-lê
có năm hạng: xuất gia A-xà-lê, thọ giới A-xà-lê, giáo thọ
A-xà-lê, dạy kinh A-xà-lê, y chỉ A-xà-lê.
Xuất
gia A-xà-lê là người hướng dẫn mình xuất gia.
Thọ
giới A-xà-lê là vị làm yết-ma khi mình thọ giới.
Giáo
thọ A-xà-lê là vị dạy mình oai nghi.
Dạy
kinh A-xà-lê là từ nơi vị đó mình được học kinh, đọc
kinh, noi theo đường tu hành, hoặc thuyết nghĩa cho đến một
câu trong bốn câu của bài kệ.
Y chỉ
A-xà-lê là vị ấy mình nương vào để sống, dù chỉ trong
một đêm.
Đồng
hàng A-xà-lê là những vị đã đủ năm tuổi. Trừ y chỉ
A-xà-lê.[48]
5.
Phòng ở của tỳ-kheo này nên lau quét. Lau quét rồi mà còn
bụi thì dùng nước bùn trét lên trên. Trét bùn rồi mà còn
bẩn thì lấy đồ trải lên. Đồ trải đó hoặc là y-lê-diên-đà,
mạo-la, mạo-mạo-la, cù-lâu, hoặc một trong mười loại y.
Các
tỳ-kheo không rửa chân mà đi trên đồ trải. Đức Phật
dạy:
«Bên
cửa nên để đồ chùi chân. Nếu vẫn không sạch, thì ngoài
cửa nên để nước rửa chân.»
Tỳ-kheo
rửa chân rồi, khi chân chưa khô, bước lên trên đồ trải,
nên đồ trải bị hư mục. Đức Phật dạy:
«Chân
chưa khô, không được bước lên trên đồ trải. Nếu có
việc gấp thì lấy chân chùi trên đầu gối, hoặc chùi nơi
lòng bàn chân, hoặc lấy tay chùi, hoặc dùng vật xấu chùi.»
Các
tỳ-kheo vì Hòa thượng, đồng hàng Hòa thượng, A-xà-lê,
đồng hàng A-xà-lê trao hay nhận điều gì, phải rửa chân
mãi cực nhọc, bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, nếu vì Hòa thượng, đồng hàng Hòa thượng, A-xà-lê,
đồng hàng A-xà-lê cần trao hay nhận điều gì cho phép dùng
cái mâm đồng, cái khay, cái kỷ. Tất cả vật cần dùng hay
thức ăn đều để hết lên trên đó, rồi trao một lần.»
Có
tỳ-kheo dưới chân bị thủng, gặp lúc trời mưa. Các tỳ-kheo
dìu đến nơi nhà vệ sinh bị ngã, nằm trên bùn rất khổ
sở. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép vì hộ thân, hộ y, hộ ngọa cụ, trong Tăng-già-lam được
mang giày dép một lớp.»
Các
tỳ-kheo trên đường đi vì Hòa thượng, đồng hàng Hòa thượng,
A-xà-lê, đồng hàng A-xà-lê có việc trao hay nhận, phải trống
vai bên hữu, cởi bỏ giày dép mệt nhọc. Các tỳ-kheo bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
trên đường đi vì Hòa thượng, đồng hàng Hòa thượng, A-xà-lê,
đồng hàng A-xà-lê có việc trao hay nhận, nên đưa lên trên
đầu hoặc trên vai để trao hay nhận.»
6.
Phật ở nước Xá-vệ. Bấy giờ nhóm sáu tỳ-kheo mang giày
dép vào tụ lạc. Các cư sĩ thấy đều cơ hiềm nói: ‹Sa-môn
Thích tử tự nói mình biết chánh pháp. Nhưng vào tụ lạc
mà mang giày dép, giống như Vua hay đại thần của Vua. Như
vậy có gì là chánh pháp?› Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Không
được mang giày dép vào tụ lạc.»
Các
tỳ-kheo bệnh, với tâm e ngại không dám mang giày dép vào
tụ lạc. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép các tỳ-kheo bệnh mang giày dép vào tụ lạc.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo mượn cớ bệnh mang giày dép vào tụ lạc. Các
tỳ-kheo thấy nói: ‹Đức Phật đâu cho phép mang giày dép
vào tụ lạc?›
Vị
kia nói:
«Tôi
bị bệnh.»
Các
tỳ-kheo hỏi:
«Bệnh
gì?»
Vị
kia nói:
«Thưa
trưởng lão, đức Phật há không nói, nếu có người nào
đó chỉ trong chốt lát mà không vui, thì gọi là bệnh hay
sao? Vì vậy cho nên chúng tôi mượn cớ bị bệnh.»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được mượn cớ bệnh để mang giày dép vào tụ lạc.»
Bấy
giờ, trưởng lão Tất-lăng-già-bà-ta gót chân bị đau, cần
mang giày dép trùm ngoài gót chân. Các tỳ-kheo bạch Phật,
đức Phật cho phép mang giày dép trùm ngoài gót chân. Trưởng
lão Tất-lăng-già-bà-ta trên đường đi, mắt bị mờ, ngón
chân bị thương tích bởi đá sỏi. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Cho
phép mang giày dép trùm ngoài ngón chân.»
Tất-lăng-già-bà-ta
có nhiều thân hữu, trên đường cùng đi, nhận được nhiều
đại mạch, tiểu mạch, đậu ban, gạo lúa tám. Các tỳ-kheo
nghi không dám nhận, bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép nhận.»
Các
tỳ-kheo nhận rồi không biết để đâu, bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Cho
phép đựng trong cái đãy hay cái khăn.»
Trưởng
lão Tất-lăng-già-bà-ta, trên đường đi, nhận được sữa,
dầu, mật, đường cát. Các tỳ-kheo không dám lấy bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Cho
phép nhận lấy.»
Nhận
lấy rồi không biết để đâu bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Dùng
cái bát cạn cho vào trong cái bát nhỏ hay cái bát vừa để
nhận. Cái bát cạn để vào trong cái bát nhỏ, cái bát nhỏ
để vào cái bát vừa, cái bát vừa để vào trong cái bát
lớn.»
Các
tỳ-kheo không biết cái bát cạn để trong cái bát nhỏ, cái
bát nhỏ để vào trong cái bát vừa, thì cái bát vừa phải
tịnh thí hay không,[49] bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Khỏi
phải tịnh thí.»
7.
Trưởng lão Tất-lăng-già-bà-ta già yếu không thể đi bộ
được, bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép dùng cái xe kéo bộ hay cái kiệu, hoặc xe ngựa. Nhưng
không được kéo bởi người nữ, trâu bò cái, ngựa cái,
không được xử dụng.»
Tất-lăng-già-bà-ta,
trên đường đi có người cúng loại xe kéo,[50] không dám
nhận, bạch Phật. Phật cho phép nhận.
Lại
có người cúng loại xe kéo bằng da, không dám nhận, bạch
Phật. Phật cho phép nhận, rồi dùng một trong mười loại
y phủ lên trên chỗ da.
Lại
có người cúng loại xe kéo được bện bằng da, không dám
nhận, bạch Phật. Phật cho phép nhận, với điều là bỏ
loại dây bằng da, bằng tóc, còn các loại dây khác thì không
sao.
Các
tỳ-kheo cần cái càng xe, bạch Phật, đức Phật cho phép làm.
Các
tỳ-kheo cần dây cột xe, bạch Phật. Đức Phật cho phép làm.
Nếu dây thừng bị đứt thì cho phép làm bằng da.
Nếu
khiêng xe, vai bị đau; cho phép làm gối để lót. Nếu phía
sau đau, cũng cho phép làm cái gối để lót. Bấy giờ không
biết nên để ai khiêng, bạch Phật. Đức Phật dạy:
Cho
phép tỳ-kheo, hoặc người giúp việc trong Tăng-già-lam, hoặc
ưu-bà-tắc hay sa-di. Nếu nhận được xe thì cũng như vậy.
Nếu xe bằng da thì nên dùng một trong mười loại y phủ chỗ
da lại rồi dùng. Nếu được xe bện bằng da thì trừ loại
dây bằng da, bằng tóc, ngoài ra được dùng. Các vị không
biết nên để ai kéo, bạch Phật. Đức Phật dạy:
Cho
phép tỳ-kheo, hoặc người giúp việc trong Tăng-già-lam, hoặc
ưu-bà-tắc hay sa-di kéo.
Trưởng
lão Tất-lăng-già-bà-ta nhận được người coi Tăng-già-lam.
Đức Phật dạy:
«Được
phép nuôi.»
8.
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo làm giường bằng da, giường đơn
bằng da. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được chứa.»
Họ
lại làm nệm da, gối da, ngọa cụ da, đồ trải dưới đất
bằng da. Khi trải dưới đất bị sanh trùng, đem vào phòng,
hôi thối. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được chứa.»
Bấy
giờ, có bà-la-môn xuất gia làm đạo, đem da y-sư[51] làm vật
chùi chân, để trong cửa. Đức Phật dạy:
«Cho
phép chứa.»
Các
tỳ-kheo xách nước, dây xách nước thường bị đứt. Đức
Phật dạy:
Cho
phép dùng da làm dây để xách. Nếu gàu bị hư, Phật cho phép
dùng da để làm. Dây bị đứt, Phật cho phép làm bằng da.
Dây
cửa ngõ thường bị đứt, Phật cho phép làm bằng da. Khi
mở cửa, đóng cửa đau tay, Phật cho phép dùng miếng da lớn
trùm lên.
Chốt
cửa không xoay được, đức Phật cho phép để miếng da. Trên
cái chốt bị hư Phật cho phép dùng da xâu lại. Nếu bị kêu
cũng vậy.
Chân
giường dây, giường cây bị hư, Phật cho phép dùng da xâu
lại.
Có
các tỳ-kheo bị đau chân, Phật cho phép dùng miếng da lớn
phủ lên trên cho [849a1] chỗ đau lành. Sau đó, bỏ đi.
Tỳ-kheo
dùng dây lợp lại nhà bị đứt, Phật cho phép dùng da làm.
Dây
cửa sổ thường bị đứt, Phật cho phép dùng cước hay lông
để làm.
9.
Nhóm sáu tỳ-kheo chứa đãy đựng bình bát, đãy đựng giày
dép, đãy đựng kim chỉ bằng da. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Không
được chứa như vậy.»
Bấy
giờ có người thợ mộc xuất gia làm Tỳ-kheo, chứa đãy
da để đựng đồ nghề. Đức Phật dạy:
«Không
được chứa.»
Thợ
mộc xuất gia làm Tỳ-kheo, tất cả đồ nghề không được
cất chứa. Chúng tăng được gỗ làm đồ dùng, bạch Phật.
đức Phật cho phép chứa. Không biết dùng đựng vật gì.
Đức Phật dạy:
«Mười
loại y, tùy ý chứa đựng.»
Bình
đựng dầu, sữa của tỳ-kheo để không kín đáo. Đức Phật
dạy:
Cho
phép dùng da ướt phủ lên. Nếu bị trùng cắn lủng thì dùng
bùn trét lên.
Tỳ-kheo
nhận được đồ đựng dầu bằng da có hình hoa, e ngại không
dám chứa. Đức Phật cho phép chứa.
Tỳ-kheo
nhận được đồ đựng dầu bằng sừng, e ngại không dám
chứa. Đức Phật cho phép chứa. Nếu phía trên, phía dưới
hay bên hông bị lủng thì dùng da ràng lại.
10.
Khi đức Thế Tôn ở tại thành Vương-xá, bấy giờ có tỳ-kheo
bị cây nhọn đâm vào chân bị thương, cần giày dép mềm.
Đức Phật cho phép xử dụng.
Bấy
giờ, đức Phật cùng Tôn giả A-nan đi đến rừng Thi-đà,
cách chỗ gò mả không xa, thấy có đôi giày hai lớp quý giá.
Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi A-nan:
«Tại
sao ông không lấy đôi giày ấy?»
Tôn
giả A-nan thưa:
«Sợ
phạm phải điều dùng giày hai lớp.»
Đức
Phật dạy:
«Xem
đó như vật phấn tảo thì được lấy.»
Có
tỳ-kheo trên đường đi, cách chỗ gò mả không xa, thấy da
người chết dày, được xâu nơi cây gỗ, bèn lột lấy đem
về phòng cắt làm đôi giày một lớp. Trong phòng có mùi thối.
Các tỳ-kheo khác hỏi:
«Tại
sao trong phòng có mùi hôi thối?»
Tỳ-kheo
kia trình bày sự việc với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được chứa da người. Nếu chứa, phạm thâu-lan-giá. Ngoài
ra, các thứ da bất tịnh khả ố khác cũng không được chứa,
nếu chứa phạm đột-kết-la.»
11.
Bấy giờ, có tỳ-kheo từ nước giá lạnh[52] đến, chân bị
nứt, đến chỗ đức Phật, đảnh lễ sát chân rồi đứng
lui qua một bên. Đức Phật biết mà vẫn hỏi:
«Tại
sao chân ông bị nứt?»
Vị
ấy bạch Phật:
«Con
từ xứ lạnh đến nên bị nứt.»
Đức
Phật hỏi tỳ-kheo ấy:
Nước
đó họ mang bằng thứ gì?
Vị
tỳ-kheo ấy thưa:
«Mang
dép da phú-la-am.»[53]
Đức
Phật dạy:
«Cho
phép mang như vậy. Nếu cần dùng tất thì cho phép dùng tất.
Cho phép đến nơi cư sĩ, vợ cư sĩ chẳng phải bà con để
xin. Không được chứa dư. Nếu chứa dư, sẽ như pháp trị.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo dùng da làm dây lưng. Đức Phật dạy:
«Không
được dùng da làm dây lưng, dây ngồi thiền.»
Tỳ-kheo
chứa đồ bằng da. Đức Phật dạy:
«Không
được chứa.»
Tỳ-kheo
dùng da làm mão. Đức Phật dạy:
«Không
được dùng như vậy.»
Tỳ-kheo
làm khẩn-thù-thán[54] bằng da. Phật dạy:
«Không
được.»
Tỳ-kheo
không lau chùi giày dép nên bẩn chân, bẩn ngọa cụ. Đức
Phật dạy:
«Phải
lau chùi giày dép.»
Tỳ-kheo
rửa chân chưa khô mang giày dép nên giày dép bị hư mục.
Phật dạy:
«Không
được như vậy.»
Tỳ-kheo
không thường giặt vật lau chân. Các tỳ-kheo thấy bẩn gớm.
Đức Phật dạy:
«Nên
giặt.»
Vị
ấy giặt rồi không vắt không phơi, bị sanh trùng. Phật dạy:
«Nên
giặt rồi vắt, hong cho khô.»
[1]
Chiêm-bà 瞻婆. Pali: Campā, thủ phủ của nước Aṅga, lân
bang thân thiện với Magadha.
[2]
Thủ-lung-na 守籠那. Pali (Vin.i. 179): Soṇo-Koḷiviso seṭṭhi-putto,
Soṇa-Koḷivisa, con trai của một nhà phú hộ.
[3]
Pali, ibid., rājā Magadho Seniyo Bimbíāro.
[4]
Thành chủ Chiêm-ba la vua nước Ương-già, không phải thần
dân của Vua nước Ma-kiệt. Nhưng Ma-kiệt và Ương-già có
thời liên kết. Vin. ibid., Bimbisāra cai trị 80 ngàn thôn. Vua
tập tọp 80 ngàn thôn trưởng.
[5]
Pali, cho 80 ngàn thôn trưởng.
[6]
Ta-kiệt-đà 娑竭陀. Pali: Sāgata. Truyện về vị thị giả
này, xem Phần I, Ch. v, duyên khởi ba-dật-đề 51 (tỳ-kheo uống
rượu).
[7]
Thi-đà lâm尸陀林. Pali: Sītavana, bãi tha-ma ngoại thành Vương-xá.
Chỗ thiêu vất xác người chết.
[8]
Cf. Vin.i. 183: accāraddhavīriyaṃ uddhaccāya saṃvattati, atilīnavīriyaṃ
kosajjāya saṃvattati…indriyānañca samataṃ paṭivijjha, «nỗ
lực tinh tấn thái quá đưa đến loạn động. Ít gắng sức
tinh tấn sinh ra dã dượi. Hãy giữ các căn quân bình.»
[9]
Tham chiếu, Trung A-hàm 29 (T01, tr.611c), Tạp A-hàm 9 (T02, tr.62b),
Tăng nhất 13 (T02, tr.162). Pali, A. iii. 374 Soṇa-sutta.
[10]
Cf. Vin.ibid., chaṭṭhāni adhimutto, sáu thắng giải hay tín giải
(xác tín): nekkhamma, xuất ly hay thoát ly gia đình; paviveka, viễn
ly hay sống ẩn dật; avyāpajja, không thù hận; upādānakkhata,
đã sạch các thủ (phiền não); taṇhakkhaya, ái tận; asammoha,
vô si.
[11]
Tham chiếu, Pali, Vin.i.ibid., «Chớ có quan điểm rằng, tôn
giả này duy chỉ y trên tín mà có tín giải về sự xuất
ly... Y trên sự diệt tận của tham, do ly tham, có tín giải
về xuất ly. Y trên sự diệt tận sân, do vô sân, mà có tín
giải xuất ly…»
[12]
Tham chiếu Pali, ibid., «Đừng nên có quan điểm rằng, tôn
giả này tin giới cấm thủ (sīlabbataparāmāsa) là tối thắng,
do đó mà có tín giải nơi sự không não hại.»
[13]
Tịch tĩnh; Pali: paviveka: viễn ly, sống xa lánh, ẩn dật.
[14]
Tham chiếu Pali, ibid., «Đừng có quan điểm rằng, tôn giả
này vì tham trước lợi dưỡng mà có tín giải nơi sự viễn
ly.»
[15]
Tham chiếu Pali, inid., ṭhitaṃ cittaṃ vippamuttaṃ, vayañcas-sānupassatīti,
Tâm đã giải thoát, an trụ; vị ấy quan sát sự chìm xuống
của nó.
[16]
Hết quyển 38.
[17]
Câu-lưu Hoan hỷ sơn khúc 拘留歡喜山曲. Pali, Vin.i. 194: Kuraraghare
papāte pabbate, trên sườn núi Papāta, thị trấn Kuraraghara.
Ngũ phần 21 (T22n1421, tr.144a13): A-thấp-ba A-vân-đầu quốc
Ba-lâu-đa sơn 阿濕波阿雲頭國波樓多山.
[18]
A-bàn-đề quốc, 阿槃提國. Pali, Vin.i. 194, Avantī.
[19]
Ức Nhĩ ưu-bà-tắc億耳優婆塞. Ngũ phần 21, ibid., cư sĩ
tên là Sa-môn Ức Nhĩ 沙門 億耳. Pali, Vin.i. 194, Soṇa Kuṭikaṇṇa.
[20]
Hán: sử nhân câu 使人俱. Cf. Pali, ibid., Soṇo upasako Kuṭikaṇṇo
āyasmato Mahā-Kaccānassa upaṭṭhako hoti, ưu-bà-tắc Soṇa Kuṭikaṇṇa
là người phục vụ cho Trưởng lão Đại Ca-chiên-diên. Bản
Hán hiểu upaṭṭhako, người phục vụ, là nhân vật thứ
ba; không phải là từ đồng cách.
[21]
Ngũ phần 21, ibid., Ức Nhĩ thọ sa-di 6 năm mới thọ cụ túc.
[22]
Y-lê-diên-đà, mạo-la, mạo-mạo-la, cù lâu 伊梨延陀耄羅耄耄羅氍氀.
Pali (Vin.i. 195): eragu, moragu, majjhāru, jantu. Thập tụng: ma nhục
phú (phủ đệm gai), mao nhục phú (phủ đệm lông), hoa y nhục
phú (phủ đệm áo bông) 麻褥覆毛褥覆花衣褥覆.
[23]
Cổ dương, bạch dương, lộc 羖羊白羊鹿. Pali: eḷakacamma,
ajacamma, migacamma.
[24]
Y được dành cho tỳ-kheo vắng mặt tại trú xứ cũ.
[25]
Thập lục cú nghĩa 十六句義. Ngũ phần, ibid., Thập lục
nghĩa phẩm kinh 十六義品 經. Thập tụng 25 (T23n1435, p181b25):
Ba-la-diên-tát-giá-đà-xá-tu-đố-lộ 波羅延薩遮 陀舍修妒路.
Pali, Vin.i. 196, Aṭṭhakavaggikāni, được hiểu là Nghĩa phẩm,
hay Bát kệ phẩm, gồm 16 kinh, 210 kệ, Phẩm thứ tư thuộc
bộ Suttanipāta.
[26]
Trì luật ngũ nhân 持律五人. Nên hiểu là thứ năm là người
trì luật. Tăng năm người, có một người trì luật. Không
đòi hỏi tất cả năm vị đều là trì luật. Do đó không
nên hiểu nhóm từ Hán này là «Năm người trì luật.» Thập
tụng 25 (T23n1435 tr.181c29): trì luật đệ ngũ 持律第五. Cf.
Vin.i. 197: vinayadharapañcamena.
[27]
Bạch mộc điều 白木調. Hán dịch này phù hợp Pali: Setakaṇṇika;
nhưng Vin.i.197 nói thị trấn này ở về phía nam, gần với
Thập tụng, ibid., trung nam phương, Bạch mộc tụ lạc 白木聚落.
Lấy đây làm mốc. Qua khỏi đây, được xem là biên địa.
[28]
Tĩnh thiện 靜善. Không tìm thấy tương đương trong Thập
tụng và Pali. Tham chiếu, Thập tụng: phương đông có tụ
lạc bà-la-môn tên là Già-lang 伽郎. Tương đương Pali: Kajaṅgala,
thị trấn nhỏ ở về phía đông.
[29]
Nhất-sư-lê Tiên nhơn chủng 一師梨仙人種. Có lẽ Thập
tụng nói là Ưu-thi-la sơn 優尸羅山, ở phương bắc; Tương
đương Pali: Usīraddhaja, về phía bắc.
[30]
Trụ 柱. tên nước. Thập tụng: phương tây có tụ lạc bà-la-môn
tên là Trụ 住婆羅門 聚落. Pali: về phía tây có ngôi làng
bà-la-môn tên là Thūna, mà hai bản Hán đều đọc là Thāna.
[31]
Đại bì 大皮; Cf. Thập tụng 25 (tr.182a 23), da của năm loại
thú gọi là da lớn (kích cỡ): sư tử, cọp, beo, rái cá và
chồn.
[32]
Ca-la 迦羅. không biết con gì. Có lẽ Pali (Vin.i.186): kāḷaka,
con sóc (?). Hoặc Skt. kālaka, một loại rắn nước (Wogihara:
hắc long)
[33]
Cù-lâu 氍氀; chưa rõ. Xem cht. 31 Ch. vi: Y ở sau. Tham chiếu
Trương A-hàm 3, kinh số 2. Du hành, T01, tr. 23b.
[34]
Độc tọa sàng 獨坐床. Xem Phần II, tỳ-kheo-ni, ba-dật-đề
83 & cht. 142.
[35]
Ca-na-phú-la 迦那富羅. Xem dưới.
[36]
Triền giác cách tỷ 旋角革屣. Không hiểu «sừng xoay» là
cái gì. Đoạn tương đương trong Mahāvagga v (Vin.i.186): meṇḍavisāṇavaddhika
(có mõm giày làm bằng sừng con cừu), ajavisāṇavaddhika (có
mõm giày làm bằng sừng hươu).
[37]
A-la-lê cách tỷ 阿羅梨革屣. (?)
[38]
Phú-la-bạt-đà-la 富羅跋陀羅. Pali, ibid., puṭabaddha, một
loại giày ống, cao đến đầu gối.
[39]
Chơn-thệ-lê 真誓梨. Pali: tittirapattika (?), loại dép có hình
cánh chim chá-cô.
[40]
Biên biên cách tỷ 編邊革屣.
[41]
Quyển hình cách tỷ 捲形.
[42]
Cẩm sắc 錦色; nên hiểu là «được thêu màu.»
[43]
Tức bông gòn.
[44]
Bà-sa 婆娑, Pali (Vin.i. 189): pabbaja, một loại cỏ lau (cỏ
tim đèn). Hán-đà-la 漢陀羅; Pali: hintāla, giống cây chà-là;
một loại cây cọ. Xá-la, 舍羅. Chưa rõ loại cỏ này; hoăc
Pali: sara, cỏ lau.
[45]
Khâm-bà-la 欽婆羅, vải dệt bằng lông thú. Pali (Vin. i. 190):
kambala.
[46]
Đa-la 多羅. Pali (Vin.i. 189): tālataruṇa, tāla non hay chồi cây
tāla; loại cây lá hình quạt; loại cây cọ.
[47]
Tỳ-xá-ly Bạt-xà Tử 毘舍離跋闍子. Người họ Bạt-xà
(Pali: Vajjiputta) ở Tỳ-xá-ly (Pali: Vesāli).
[48]
Chưa đủ 10 tuổi hạ, không được làm y chỉ.
[49]
Tác tịnh, vì sợ phạm súc trưởng bát; ni-tát-kỳ 21.
[50]
Liễn 輦; xe do người kéo.
[51]
Y-sư bì 伊師皮.
[52]
Hàn tuyết quốc 寒雪國.
[53]
Phú-la-am-đề 富羅菴鞮. Cf. Bì cách sự (T23, tr.1059b1): tại
vùng có tuyết lạnh, cho dùng giày phú-la. Xem thêm Ngũ phần
21 (T22n1421 tr.146c24) Có lẽ một loại giày ống. Wogihara, Skt.
pūla: loại giày có giây đai. Mahāvyutpatti, 272 (21): pūlā, hữu
đái ngoa 有帶靴, phú-la 富羅. Nhất thiét kinh âm nghĩa (T54n2128
tr.740b07): phúc-la 腹羅, cũng viết là 福羅; hoặc nói là phú-la
富羅, chính xác nói là bố-la 布羅; dịch là đoản áo ngoa
短靿靴, loại giày ống cổ ngắn (?). Phiên dịch danh nghĩa
(T54n2131, tr.1108b17): phú-la 富羅, chính xác là phúc-la 腹羅,
dịch là đoản áo ngoa 短靿靴. Không rõ Pali tương đương.
[54]
Khẩn-thù-thán 緊殊炭. Chưa rõ cái gì.