THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
TỨ PHẦN LUẬT 四分律
Hán dịch: Tam tạng Phật-đà Da-xá và Trúc-phật-niệm. 
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng
Hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng 
Mục Lục Tứ Phần Luật
Giới Tỳ-Kheo
Giới Tỳ-Kheo-Ni
Tăng sự
Tạp Pháp
CHƯƠNG VI.

I. Y PHẤN TẢO
Một thời Thế Tôn ở trong vườn Lộc dã, nước Ba-la-nại. Bấy giờ có năm tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân rồi đứng lui qua một bên, bạch Phật:

«Chúng con nên thọ trì loại y nào?»

Đức Phật dạy:

«Nên thọ trì y phấn tảo[1] và mười loại y[2] như: câu-xá, kiếp-bối, khâm-bạt-la, sô-ma, xoa-ma, xá-nâu, ma, sí-di-la, câu-nhiếp-la, thẩn-la-bát. Mười loại y như trên nhuộm thành màu sắc ca-sa[3] để thọ trì.

Tỳ-kheo được y nơi gò mả, đức Phật cho phép dùng. Tỳ-kheo nhận được y nguyện,[4] đức Phật cho phép dùng. 

Tỳ-kheo trên đường đi cách gò mả không xa, thấy y phấn tảo quý giá,[5] e ngại không dám lấy, đức Phật cho phép lấy. 

Thế Tôn ở nước Xá-vệ. Có một người con của một giòng họ lớn xuất gia. Từ những nơi chợ búa, nơi đường hẻm đi đến nghĩa địa, chỗ bỏ đồ rác rưới, ông lượm được y xấu cũ đem về làm y tăng-già-lê để thọ trì. Phu nhơn Vua Ba-Tư-Nặc trông thấy, tâm từ niệm phát sanh, liền lấy y rất quý giá xé ra, dùng đồ bất tịnh bôi rồi đem bỏ nơi đó để tỳ-kheo lượm. Tỳ-kheo e ngại không dám lấy, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Nếu họ vì tỳ-kheo thì nên lấy.»

Có tỳ-kheo thuộc giòng họ lớn xuất gia. Ông lượm những y cũ xấu nơi đống rác, nơi cầu tiêu, nơi đường hẻm, nơi chợ búa đem về làm tăng-già-lê. Vị trưởng giả thành Xá-vệ thấy, sanh tâm từ mẫn, đem nhiều y tốt bỏ nơi đường hẻm, nơi cầu tiêu, và sai người coi chừng đừng cho ai lấy, để cho tỳ-kheo lấy. Bấy giờ có các tỳ-kheo đi vào thôn xóm, nhìn thẳng xuống trước bước chân mà đi nên không thấy. Người được sai coi chừng kia, thưa:

«Sao đại đức không nhìn qua nhìn lại?»

Khi ấy tỳ-kheo thấy, nhưng e ngại không dám lấy. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Nếu họ vì tỳ-kheo thì cho phép nhận.»

Có tỳ-kheo lấy áo của người chết ở nơi hố chôn, e ngại, bạch Phật, đức Phật hỏi:

«Với tâm niệm nào khi ông lấy chiếc áo ấy?»

Vị ấy thưa:

«Với tâm niệm là đồ phấn tảo, chứ không với tâm trộm.»

Đức Phật dạy:

«Như vậy thì không phạm. Tuy nhiên, từ nay về sau không được lấy áo người chết nơi hố chôn người.»

Có cư sĩ giặt y rồi phơi nơi tường rào. Các tỳ-kheo mặc nạp y, thấy tưởng là y phấn tảo nên lấy. Cư sĩ thấy, kêu nói:

«Y của tôi đó, đừng lấy!»

Tỳ-kheo nói.

«Tôi tưởng là y phấn tảo nên lấy.»

Nói xong, bỏ y lại đi. Tỳ-kheo kia e ngại, bạch Phật. Đức Phật hỏi:

«Với tâm niệm gì khi ông lấy y đó?»

Tỳ-kheo kia thưa:

«Với ý nghĩ là y phấn tảo cho nên lấy, chứ không lấy có tâm của kẻ trộm.»

Đức Phật dạy:

«Không phạm. Từ nay về sau không được lấy y phấn tảo nơi tường, nơi rào.»

Bấy giơ, có y một người chết ở trước đại quan đoán sự. Tỳ-kheo lấy y của người ấy. Sau đó quan đoán sự sai Chiên-đà-la đem xác chết bỏ. Chiên-đà-la nói:

«Tại sao không bảo người lấy y đem xác chết bỏ?»

Quan đoán sự hỏi:

«Người nào lấy y?»

Chiên-đà nói:

«Sa-môn Thích tử lấy.»

Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Không nên lấy y người chết, chỗ quan đoán sự.»

Bấy giờ tỳ-kheo trên đường đi, cách gò mả không xa, thấy y của người chết chưa rã, liền lấy đi. Người chết liền đứng dậy nói:

«Đại đức chớ lấy y của tôi đi!»

Tỳ-kheo nói:

«Ngươi là người chết, làm gì có y!»

Nói rồi vẫn lấy y đi, không bỏ lại. Người chết theo tỳ-kheo đến ngoài cửa ngõ Kỳ-hoàn, ngã xuống đất. Các tỳ-kheo khác thấy hỏi tỳ-kheo này:

«Người ấy nói gì vậy?»

Tỳ-kheo này trả lời:

«Tôi tưởng người ấy đã chết nên lấy y đem về đây.» Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Không nên lấy y của người chết chưa rã.»

Có người chăn bò để áo trên đầu ngủ. Tỳ-kheo thọ trì y phấn tảo thấy tưởng là ngưới chết, nhưng nghĩ: «Đức Thế Tôn không cho phép tỳ-kheo lấy áo của người chết chưa rã.» Nghĩ như vậy xong, liền lấy xương tay của người chết đánh trên đầu của người chăn bò; khiến cho vỡ đầu. Người chăn bò liền đứng dậy hỏi:

«Tại sao Đại đức đánh tôi?»

Tỳ-kheo nói:

«Tôi tưởng ông chết.»

Người chăn bò nói:

«Thầy không phân biệt được tôi sống hay chết sao?»

Nói xong liền đánh tỳ-kheo gần chết. Các tỳ-kheo [850a1] bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Người chết chưa rã, không được đánh.»
 
 

Nhóm sáu tỳ-kheo sử dụng phi y làm đãy đựng bát, đãy đựng giày dép, ống đựng kim, và chứa ngọa cụ bằng gấm bông, đệm bằng dạ, nệm gối, da rái cá. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Không được dùng phi y làm đãy đựng bát, cho đến đựng kim, không được chứa ngọa cụ bằng gấm bông, đệm bằng dạ, nệm gối, da rái cá.»

Bấy giờ, có tỳ-kheo bắt gặp ngọa cụ bằng gấm bông, đệm bằng dạ, gối, nơi gò mả, e ngại không dám lấy, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Cho phép lấy dùng.»

Có tỳ-kheo bắt gặp y-lê-diên-đà, mạo-la, mạo-mạo-la, cù-lâu,[6] nơi gò mả, e ngại không dám lấy, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Cho phép lấy, nhưng lột bỏ da và cỏ; ngoài ra, được phép chứa làm đồ trải đất.»

Có tỳ-kheo bắt gặp giường dây bằng da, giường cây, giường đơn nơi gò mả, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Cho phép lấy, nhưng lột bỏ da, rồi chọn một trong mười loại y bao lại.»

Có tỳ-kheo bắt gặp giường dây, giường cây, giường đơn nơi gò mả, e ngại không dám lấy, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Cho phép lấy, trừ hai loại giường làm bằng dây da và tóc.» 

Có tỳ-kheo thấy được xe kéo, dù, xe kéo bộ tại gò mả, e ngại không dám lấy, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Cho phép lấy.»

Có tỳ-kheo thấy được bình đựng nước rửa, gậy, quạt tại gò mả, e ngại không dám lấy, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Cho phép lấy.»

Có tỳ-kheo thấy được liềm, lưỡi dao, móc tại gò mả, e ngại không dám lấy; bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Cho phép lấy.»

Có tỳ-kheo thấy được tiền nơi gò mả, tự mình mang đi. Tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Không được lấy.»

Có tỳ-kheo cầm lấy đồng, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Phải đập cho mất hình tướng rồi mới được mang đi.»

Có tỳ-kheo thấy được y bị trâu nhơi, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Cho phép lấy dùng.»

Có tỳ-kheo thấy được y chuột gặm, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Cho phép lấy dùng.»

Có tỳ-kheo thấy được y bị cháy, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Cho phép lấy dùng.»

Y phấn tảo có mười loại:[7] y bị trâu bò nhơi, y bị chuột gặm, y bị lửa cháy, y kinh nguyệt, y sản phụ, y trong miếu thần hoặc y bị chim tha đi hay gió bay rơi các nơi thì được lấy, y gò mả, y nguyện,[8] y thọ vương chức, y vãng hoàn. Mười loại y trên gọi là y phấn tảo.

Bấy giờ, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la cùng với Vua A-xà-thế nước Ma-kiệt-đà đánh nhau, nên có nhiều người chết. Các tỳ-kheo muốn đến đó để lấy y người chết, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Cho phép đến đó. Nếu có người thì nên nói rồi mới lấy. Không có người thì mới tự ý lấy.»

Bấy giờ Vua A-xà-thế cùng Tỳ-lê-xa đánh nhau, có nhiều người chết. Tỳ-kheo muốn đến lấy y của người chết, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Nên đến nói rồi mới lấy. Nếu không có người thì tùy ý lấy.»

Trường hợp có số đông cư sĩ tụ họp nơi gò mả, cởi y bỏ một đống, để chôn người chết. Tỳ-kheo trì phấn tảo thấy, tưởng là y phấn tảo, nên lấy đi. Các cư sĩ thấy nói:

«Y của chúng tôi. Chớ lấy!»

Các tỳ-kheo nói:

«Chúng tôi tưởng là y phấn tảo.»

Nói xong liền bỏ xuống đất rồi đi. Tỳ-kheo e ngại, bạch Phật. Đức Phật hỏi:

«Các ông lấy với tâm niệm thế nào?»

Các tỳ-kheo thưa:

«Chúng con nghĩ là y phấn tảo chứ không lấy với tâm trộm cắp.»

Đức Phật dạy:

«Như vậy thì không phạm. Nhưng không được lấy y đang để thành đống.»

Có các cư sĩ, đốt người chết nơi gò mả. Các tỳ-kheo trì phấn tảo thấy khói, kêu các tỳ-kheo khác đến để lấy y phấn tảo. Các vị ấy nói: 

«Vâng.»

Các tỳ-kheo liền đến, im lặng đứng một chỗ. Bấy giờ có cư sĩ trao cho tỳ-kheo một chiếc y quý giá. Vị tỳ-kheo thứ hai nói:

«Hãy mang lại đây. Tôi chia với thầy.»

Vị tỳ-kheo kia nói:

«Chia cho ai? Người cư sĩ nói cho tôi kia mà!»

Hai tỳ-kheo tranh nhau. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Nên đến hỏi người cư sĩ y này cho ai, tùy theo người cư sĩ trả lời mà quyết định. Nếu người cư sĩ nói, ‹Không biết›, hoặc nói, ‹Cho cả hai› thì mới phân làm hai phần.»

Bấy giờ, có tỳ-kheo đến nơi gò mả lấy y phấn tảo. Từ xa trông thấy y phấn tảo, một tỳ-kheo liền chỉ và nói:

«Y đó của tôi.»

Tỳ-kheo thứ hai liền chạy đến lấy. Hai vị tranh nhau, đều nói là của mình. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Y phấn tảo không có chủ, ai lấy trước thì được.»

Có hai tỳ-kheo cùng đến nơi gò mả để lấy y phấn tảo. Hai vị từ xa thấy y, đều chỉ tay, và nói y ấy của tôi. Vừa nói hai người đều chạy đến để lấy. Hai người cùng tranh nhau, đều nói của mình. Tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Y phấn tảo không có chủ. Hai người đồng thời lấy thì chia làm hai phần.»

Bấy giờ có số đông cư sĩ chở người chết đến gò mả. Tỳ-kheo trì y phấn tảo thấy, liền nói với các tỳ-kheo khác:

«Chúng ta nên đến để lấy y phấn tảo. Hôm nay chắc lấy được nhiều.»

Tỳ-kheo kia nói:

«Các thầy đi đi. Tôi không đi được.»

Các tỳ-kheo liền đi, lấy được nhiều y phấn tảo, đem về trong Tăng-già-lam, giặt sạch, sửa sang lại. Tỳ-kheo kia thấy, nói tỳ-kheo này rằng:

«Thầy làm gì mà không cùng tôi đi lấy y? Tôi đi lấy được khá nhiều đem về đây.»

Tỳ-kheo này nói:

«Đem đến đây chia cho tôi với.»

Tỳ-kheo kia nói:

«Thầy không cùng tôi đi lấy, sao đòi chia?»

Hai vị tranh cãi nhau. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Thuộc về vị đi lấy kia.»

Có số đông tỳ-kheo trì y phấn tảo, hẹn nhau đến gò mả lấy y phấn tảo. Có hai tỳ-kheo được y quý giá. Các tỳ-kheo kia nói:

«Chia cho chúng tôi với.»

Tỳ-kheo kia trả lời:

«Tôi được y này, tại sao bảo chia cho thầy?»

Nhiều vị cùng tranh, tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Tùy theo sự cam kết trước. Được nhiều ít nên cùng chia cho nhau.»
 
 

Phật ở tại nước Xá-vệ. Có các cư sĩ, khi ông bà hay cha mẹ chết, dùng tràng phan bảo cái, y vật trang trí nơi mộ của ông bà hay cha mẹ. Tỳ-kheo trì y phấn tảo thấy, bèn lột lấy đi. Các cư sĩ thấy đều cơ hiềm: «Sa-môn thích tử không biết hổ thẹn, trộm lấy vật của người mà tự nói tôi biết chánh pháp. Xem thế thì có gì là chánh pháp? Chúng ta vì tổ phụ mẫu hay phụ mẫu xây mộ phần, dùng tràng phan bảo cái để cúng dường, sao họ tự tiện lột lấy đi. Làm như chúng ta vì sa-môn Thích tử xây mộ phần cúng dường. Sự thật chúng ta vì ông bà, cha mẹ của chúng ta mà dùng tràng phan bảo cái trang trí nơi mộ phần để cúng dường kia mà!»

Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Không được lấy vật như vậy.»

Trường hợp các vật ấy gió thổi bay đến chỗ khác, hoặc chim ngậm bay đi rớt chỗ khác. Tỳ-kheo thấy, e ngại không dám lấy, bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Trường hợp như vậy thì cho phép lấy.»

Các tỳ-kheo thấy y vật trang nghiêm cúng dường nơi tháp, liền lấy. Lấy rồi e ngại, bạch Phật. Phật hỏi:

«Với tâm niệm nào khi ông lấy?»

Tỳ-kheo thưa:

«Với ý nghĩ là y phấn tảo nên lấy, chứ không với tâm niệm trộm cắp.»

Đức Phật dạy:

«Như vậy thì không phạm. Nhưng không được lấy y vật trang nghiêm cúng dường nơi tháp.»

II. KỲ-BÀ ĐỒNG TỬ
1. Kỹ nữ thành Vương-xá
Thế Tôn ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ ở Tỳ-xá-ly có một dâm nữ tên là Am-bà-la-bà-lợi,[9] nhan sắc vô cùng xinh đẹp. Ai muốn cùng ngủ một đêm thì phải trả năm mươi lượng vàng. Ban ngày cũng phải trả năm mươi lạng vàng như vậy. Bấy giờ, Tỳ-xá-ly do có dâm nữ này nên người trong bốn phương tụ tập về đó. Quốc pháp nhờ vậy mà cực kỳ sáng chói.

Các đại thần thành Vương-xá nghe đồn: «Tỳ-xá-ly có một dâm nữ [851a1] tên là Am-bà-la-bà-lợi, nhan sắc vô cùng xinh đẹp. Ai muốn cùng ngủ một đêm thì phải trả năm mươi lượng vàng. Ban ngày cũng phải trả năm mươi lạng vàng như vậy. Bấy giờ, Tỳ-xá-ly do có dâm nữ này nên người trong bốn phương tụ tập về đó. Tỳ-da-ly nhờ vậy mà cực kỳ sáng chói.»

Các đại thần đến chỗ Vua Bình-sa tâu:

«Đại vương biết chăng, tại nước Tỳ-xá-ly có một dâm nữ tên là Am-bà-la-bà-lợi, nhan sắc vô cùng xinh đẹp. Ai muốn cùng ngủ một đêm thì phải trả năm mươi lượng vàng. Ban ngày cũng phải trả năm mươi lạng vàng như vậy. Bấy giờ, Tỳ-xá-ly do có dâm nữ này nên người trong bốn phương tụ tập về đó. Tỳ-xá-ly nhờ vậy mà cực kỳ sáng chói.»

Nhà Vua nghe xong liền ra lệnh cho các đại thần:

«Các khanh sao không đưa dâm nữ ấy về đây?» 

Bấy giờ trong thành Vương-xá, có một đồng nữ tên là Sa-la-bạt-đề,[10] xinh đẹp không ai sánh kịp, hơn cả Am-bà-la-bà-lợi. Các đại thần liền an trí dâm nữ này. Ai muốn ngủ với dâm nữ này một đêm phải trả với giá một trăm lượng vàng, và một ngày cũng như vậy. Bấy giờ thành Vương-xá nhờ có dâm nữ này nên người bốn phương tụ tập về, nhờ vậy mà cực kỳ sáng chói. Bấy giờ con Vua Bình-sa tên là Vô Úy[11] cùng dâm nữ này chung ngủ trong đêm. Dâm nữ có thai. Từ đó dâm nữ ra lệnh cho người giữ cửa rằng: «Nếu có khách cần gặp thì nói tôi bị bệnh.» Sau đó, đủ ngày tháng, dâm nữ hạ sanh một bé trai, tướng mạo xinh đẹp. Dâm nữ liền dùng vải trắng bọc hài nhi này, bảo tớ gái đem bỏ ra ngoài đường. Người tớ gái làm theo lời sai bảo, bồng hài nhi đem bỏ. 

Cũng vào buổi sáng tinh sương lúc ấy, Vương tử Vô Úy muốn đi xe đến yết kiến Phụ vương nên sai người dọn dẹp dọc đường. Bất ngờ, từ xa Vương tử trông thấy một vật trắng dọc đường, liền dừng xe, hỏi người bên đường rằng: 

«Cái gói trắng đó là gì?» 

Người bên đường trả lời:

«Một đứa bé.»

Vương tử hỏi: 

«Còn sống hay chết?

Người bên đường nói:

«Nó sống.»

Vương tử liền ra lệnh bồng về. Vương tử Vô Úy không có con nên đem về nhà giao cho nhũ mẫu nuôi dưỡng. Vì «Nó sống» cho đặt tên là Kỳ-bà.[12] Đồng tử được Vương tử lượm nên gọi là Đồng tử.[13] Theo thời gian lớn khôn, Vương tử rất yêu mến. 

Một hôm Vương tử kêu Kỳ-bà Đồng tử đến và nói:

«Con muốn ở lâu nơi Vương gia mà không có tài nghề gì thì không được thọ hưởng bổng lộc của Vua. Con cần học kỹ thuật.»

Kỳ-bà Đồng tử trả lời:

«Con sẽ học.»
 
 

2. Học thuốc
Kỳ-bà Đồng tử tự nghĩ: «Tay ta nên học nghề gì để có được nhiều của cải mà ít bận rộn?» Nghĩ xong, Kỳ-bà Đồng tử quyết định học nghề thầy thuốc. Nghề này đại tài phú mà ít bận rộn. Kỳ-bà Đồng tử nghĩ tiếp: «Ai dạy nghề thầy thuốc cho ta đây.» Thời gian ấy, Kỳ-bà Đồng tử nghe tại nước Đắc-xoa-thi-la[14] có vị thầy thuốc họ A-đề-lê, tên là Tân-ca-la, tay nghề rất cao. Vị này có thể dạy ta được.» Kỳ-bà Đồng tử liền đến nước kia, chỗ Tân-ca-la ở, thưa:

«Con muốn theo thầy học nghề làm thuốc, xin thầy dạy cho con.»

Tân-ca-la trả Lời: «Được!»

Thời gian bảy năm, Kỳ-bà Đồng tử theo học nghề thầy thuốc. Một hôm tự nghĩ: «Nghề thầy thuốc này ta phải học tập bao lâu mới xong?» Nghĩ rồi, Kỳ-bà Đồng tử liền đến chỗ vị thầy thưa:

«Con học nghề làm thuốc này bao lâu mới xong?»

Vị thầy liền trao cho một cái giỏ và dụng cụ đào rễ cây, nói với Kỳ-bà Đồng tử:

«Con đến nơi nước Đắc-xoa-thi-la, trong phạm vi một do tuần, tìm xem các loại cây, có loại cây nào không phải là thuốc đem về đây.»

Kỳ-bà Đồng tử liền vâng lời thầy dạy, đến nước Đắc-xoa-thi-la, trong phạm vi một do tuần tìm kiếm mà không thấy loại cây nào không phải là thuốc. Những loại cây mà Kỳ-bà Đồng tử thấy đều là vật có thể phân tích để dùng vào thuốc được cả. Kỳ-bà Đồng tử mang giỏ không trở về, đến chỗ vị thầy thưa:

«Thưa thầy con đã đến nước Đắc-xoa-thi-la tìm loại cây nào không phải là thuốc, trong phạm vi một do tuần. Con tìm khắp nơi, không thấy có loại cây nào là chẳng phải thuốc. Tất cả đều có thể phân chất dùng vào thuốc được hết.»

Ông thầy dạy thuốc trả lời Kỳ-bà Đồng tử rằng:

«Nay con có thể về. Y đạo như vậy đã thành. Trong cõi Diêm-phù-đề này, ta là hạng nhất. Sau khi thầy qua đời, con là người kế thế.»
 
 

3. Chữa bịnh
1. Bấy giờ Kỳ-bà Đồng tử tự nghĩ: «Nay ta, trước hết nên trị bệnh cho ai? Nước này vừa nhỏ, lại ở vùng biên phương. Ta nên về lại bổn quốc để bắt đầu mở y đạo tại đó.» Nghĩ xong, Kỳ-bà Đồng tử liền trở về lại thành Bà-già-đà. 

Trong thành Bà-già-đà, bấy giờ có người vợ của đại trưởng giả mang phải trọng bệnh đau đầu mười hai năm, các thầy thuốc đều không thể chữa trị được. Kỳ-bà Đồng tử nghe liền đến nơi nhà đó nói với người giữ cửa rằng:

«Nhà ngươi vào thưa với trưởng giả là có người thầy thuốc ở ngoài cửa.»

Người giữ cửa liền vào thưa. Vợ ông trưởng giả hỏi:

«Tướng mạo của ông thầy thuốc thế nào?»

Người giữ cửa thưa:

«Ông thầy thuốc tuổi còn nhỏ.»

Bệnh nhân liền nghĩ: «Các vị thầy thuốc lớn tuổi có kinh nghiệm kia còn chưa chữa trị được, huống là tuổi nhỏ.» Bà ta liền bảo người giữ cửa ra nói với ông thầy thuốc là nay ta không cần thầy thuốc nữa. Người giữ cửa liền ra nói:

«Tôi đã vì ông vào thưa với vợ ông trưởng giả. Mà vợ ông trưởng giả nói nay không cần thầy thuốc nữa.»

Kỳ-bà Đồng tử lại nói:

«Người có thể vì tôi vào thưa với vợ ông trưởng giả cho phép tôi chữa trị. Nếu lành thì tùy ý cho tôi thứ gì cũng được.»

Bấy giờ người giữ cửa lại vào thưa với bà chủ:

«Ông thầy thuốc nói cho phép ông ấy được chữa. Nếu lành thì tùy ý cho ông ấy thứ chi cũng được.»

Vợ ông trưởng giả nghe xong liền nghĩ: «Nếu như vậy thì không tốn gì.» Bà ra lệnh cho người giữ cửa gọi vào. Được gọi, Kỳ-bà Đồng tử vào, đến chỗ vợ ông trưởng giả hỏi:

«Bệnh khổ của bà thế nào?»

Vợ ông trưởng giả trả lời: 

«Bệnh như vậy, như vậy.»

Kỳ-bà Đồng tử lại hỏi:

«Bắt đầu từ chỗ nào?»

Bà ta nói: 

«Bệnh bắt đầu như vậy, như vậy.» 

Kỳ-bà Đồng tử hỏi tiếp: 

«Bệnh bao lâu rồi?»

Bà trả lời: 

«Bệnh chừng ấy thời gian.»

Kỳ-bà Đồng tử hỏi xong nói:

«Bệnh này tôi có thể chữa trị được.»

Kỳ-bà Đồng tử liền dùng thuốc tốt như váng sữa đem chưng rồi nhểu vào lỗ mũi bệnh nhân. Váng sữa được nhểu vào đó đều chảy ra nơi miệng của bệnh nhân. Bà vợ ông trưởng giả liền lấy đồ hứng lấy tinh sữa ấy để riêng một chỗ. Kỳ-bà Đồng tử thấy vậy, lòng ôm sầu não, vì nghĩ: «Với một ít váng sữa bất tịnh như vậy mà bà ta còn tiếc như thế, huống chi khi lành bệnh bà này trả ơn ta được là bao!» Bà vợ ông trưởng giả thấy Kỳ-bà Đồng tử có vẻ buồn hỏi:

«Tại sao thầy có vẻ sầu não?»

Kỳ-bà Đồng tử nói: 

«Thật vậy, tôi có áo não.»

Bà ta hỏi:

«Tại sao thầy sầu não?»

Kỳ-bà Đồng tử đáp:

«Vì tôi tự nghĩ với một ít váng sữa bất tịnh như thế mà bà còn tiếc, thì khi bà lành bệnh trả ơn cho tôi thế nào? Nên áo não.» 

Bà vợ trưởng giả nói:

«Vì việc nhà nên không dễ vất bỏ. Nó có thể dùng thắp đèn được nên tôi hứng lấy. Thầy cứ chữa bệnh chuyện gì phải sầu ưu.»

Kỳ-bà Đồng tử nghe nói như vậy liền tiếp tục chữa trị. Sau khi bệnh lành, vợ ông trưởng giả tạ ơn Kỳ-bà Đồng tử bốn trăm ngàn lượng vàng và tôi tớ, xe cộ. Kỳ-bà Đồng tử nhận được những phẩm vật này rồi, về lại thành Vương-xá. Đến cửa nhà của Vô Úy Vương tử, nói với người giữ cửa:

«Người vào tâu với Vương tử rằng Kỳ-bà Đồng tử ở ngoài cửa.»

Người giữ cửa liền vào tâu. Vương tử ra lệnh người giữ cửa gọi vào. Kỳ-bà Đồng tử vào rồi, đầu mặt kính lễ xong, đứng qua một bên, tường trình đầy đủ tất cả sự việc đã qua với Vô Úy Vương tử và nói:

«Tất cả tặng vật nhận được xin dâng lên Vương tử.»

Vương tử nói:

«Thôi đi! Khỏi phải làm điều đó. Con cứ tự tiện xử dụng.»

Đây là con bệnh đầu tiên mà Kỳ-bà Đồng tử cậu chữa trị.[15]

2. Lúc bấy giờ, Vua Bình-sa mắc phải chứng bệnh xuất huyết nơi đường đại tiểu tiện. Các thị nữ thấy đều cười bảo rằng:

«Hiện Đại vương cũng mắc phải bệnh như bọn phụ nữ chúng ta.»

Vua Bình-sa, nghe qua hổ thẹn, liền kêu Vô Úy Vương tử bảo rằng:

«Hiện cha mắc chứng bệnh như vậy, con có thể vì cha tìm thầy thuốc chữa gấp được không?»

Vô Úy thưa:

«Có Kỳ-bà Đồng tử rành về nghề thuốc, có thể chữa trị bệnh cho phụ vương được.»

Nhà Vua bảo kêu đến. Vô Úy vương tử kêu Kỳ-bà Đồng tử đến hỏi rằng:

«Con có thể chữa bịnh cho phụ vương của ta được không?»

Kỳ-bà Đồng tử thưa: 

«Có thể chữa được.»

Vô Úy bảo:

«Nếu được, thì ngươi đến chữa gấp.»

Kỳ-bà Đồng tử đến chỗ Vua Bình-sa, kính lễ sát chân Vua xong, đứng lui qua một bên, rồi hỏi Vua rằng:

«Đại vương bị bệnh khổ thế nào?»

Nhà Vua trả lời: 

«Bị bệnh như vậy, như vậy.»

Kỳ-bà Đồng tử hỏi: 

«Bệnh phát khởi từ đâu?»

Vua trả lời: 

«Bệnh bắt đầu như vậy, như vậy.»

Kỳ-bà Đồng tử hỏi tiếp: 

«Bệnh phát bao lâu rồi?»

Nhà Vua nói: 

«Bệnh phát từ lúc đó.»

Hỏi xong, Kỳ-bà Đồng tử thưa:

«Có thể chữa trị được.»

Kỳ-bà Đồng tử liền lấy cái máng bằng sắt, đựng đầy nước ấm, bảo Vua Bình-sa vào trong máng nước. Vua liền vào. Bảo Vua ngồi trong nước; Vua liền ngồi. Bảo Vua nằm trong nước, Vua liền nằm. Khi ấy, Kỳ-bà Đồng tử dùng nước rưới lên Vua mà chú thuật; Vua liền ngủ. Kỳ-bà Đồng tử nhanh nhẹn bước vào trong nước, dùng dao bén mổ ngay chỗ ung nhọt của Vua; rửa sạch, dùng thuốc thoa. Thoa xong, bệnh lành. Nơi mụt nhọt mọc lông lại, giống như chỗ không bệnh. Đâu đó xong, Kỳ-bà Đồng tử liền thay máng nước đầy, dùng nước rưới Vua, chú thuật. Vua tỉnh dậy hỏi:

«Chữa cho ta đi!»

Kỳ-bà Đồng tử thưa: 

«Tôi đã trị xong.»

Nhà Vua nói: 

«Chữa khỏi không?»

Kỳ-bà Đồng tử thưa: 

«Đã khỏi rồi.»

Nhà Vua liền dùng tay sờ, mà không biết mụt nhọt ở chỗ nào.»

Vua hỏi: 

«Nhà ngươi chữa trị bằng cách nào, đến nỗi không còn dấu mụt nhọt nữa?»

Kỳ-bà Đồng tử thưa: 

«Tôi chữa bệnh há có thể còn lại dấu mụt nhọt ư?»

Bấy giờ Vua tập hợp các thị nữ mà nói rằng:

«Kỳ-bà Đồng tử, người thầy thuốc này đại lợi ích. Ta nghĩ rằng, ta phải ban thưởng của cải rất nhiều mới được.»

Các thị nữ liền lấy các loại anh lạc, vòng xuyến đeo nơi tay chân, kể cả các vật quý báu dùng để che kín thân người nữ và tiền vàng, ma ni, chơn châu, lưu ly, bối ngọc, pha lê, gom thành một đống lớn.

Bấy giờ, nhà Vua kêu Kỳ-bà Đồng tử đến nói rằng:

«Nhà ngươi chữa bệnh cho ta lành, ta dùng những vật này để trả ơn ngươi.»

Kỳ-bà Đồng tử thưa với đại vương:

«Thôi, tâu Đại vương, như vậy đã là ban cho tôi rồi. Tôi vì Vương tử Vô Úy mà chữa bệnh cho Đại vương.»

Khi ấy, Vua ra lệnh rằng:

«Nhà ngươi không được chữa bệnh người khác.[16] Chỉ chữa bệnh cho ta, cho Phật, cho Tăng tỳ-kheo và người trong cung mà thôi.»

Đây là con bệnh thứ hai mà Kỳ-bà Đồng tử đã chữa trị.

3. Lúc bấy giờ, tại thành Vương-xá có ông trưởng giả thường bị đau đầu, không có thầy thuốc nào chữa trị được. Bấy giờ, có vị thầy thuốc nói với ông trưởng giả là sau bảy năm ông trưởng giả sẽ chết. Có ông lại nói, sau sáu năm, sau năm năm, cho đến sau một năm sẽ chết. Có ông lại nói sau bảy tháng sẽ chết, hoặc sáu tháng, cho đến một tháng sẽ chết. Có ông lại nói sau bảy ngày sẽ chết.

Bấy giờ, ông trưởng giả tự mình đến nhà Kỳ-bà Đồng tử nói rằng:

«Ông chữa bệnh cho tôi. Tôi sẽ đền ơn ông một trăm ngàn lượng vàng. »

Kỳ-bà Đồng tử nói: 

«Không thể được.»

Ông trưởng giả lại nói:

«Tôi sẽ trả ơn ông hai trăm ngàn. Ba trăm ngàn. Bốn trăm ngàn lượng vàng.»

Kỳ-bà Đồng tử nói: 

«Không thể được.»

Bệnh nhân nói: 

«Tôi sẽ làm tôi tớ và tất cả gia nghiệp của tôi sẽ thuộc về ông.»

Kỳ-bà Đồng tử nói rằng: 

«Không phải tôi vì tiền bạc ít mà nói là không thể chữa được bịnh cho ông. Nhưng vì trước đây Vua Bình-sa có ra lệnh cho tôi rằng: ‹Khanh chỉ chữa bệnh cho ta, cho Phật, cho Tăng tỳ-kheo và người trong cung mà thôi, chứ không được chữa cho người khác.› Cho nên tôi nói không thể được. Nay nếu ông đến xin phép Vua thì tôi mới dám chữa.»

Ông trưởng giả liền đến tâu với Vua:

«Nay tôi có bệnh ngoặt nghèo. Xin Vua cho phép Kỳ-bà Đồng tử trị bệnh cho tôi.»

Vua liền kêu Kỳ-bà Đồng tử đến nói rằng:

«Trong thành Vương-xá có ông trưởng giả bị bệnh, ông có thể trị được không?»

Kỳ-bà Đồng tử trả lời: «Được.»

Nhà Vua nói: 

«Nếu trị được thì đến trị.»

Lúc ấy, Kỳ-bà Đồng tử liền đến nhà ông trưởng giả, và hỏi rằng:

«Chứng bệnh của ông thế nào?»

Trưởng giả trả lời: 

«Chứng bệnh tôi như vậy, như vậy.»

Kỳ-bà Đồng tử lại hỏi: 

«Bệnh phát khởi từ đâu?»

Bệnh nhân nói: 

«Bệnh từ như vậy, như vậy khởi phát.»

Kỳ-bà Đồng tử hỏi tiếp: 

«Thời gian bệnh lâu mau rồi?»

Trưởng giả nói:

«Thời gia bệnh là, chừng ấy.»

Hỏi xong, Kỳ-bà Đồng tử nói:

«Bệnh này tôi chữa được.»

Khi ấy, Kỳ-bà Đồng tử liền cho uống nước muối, khiến bệnh nhân bị khát; rồi cho uống rượu đến say. Kế đó, buộc bệnh nhân vào giường, tập hợp thân nhân đến xung quanh. Kỳ-bà Đồng tử dùng dao bén mổ đầu, banh xương sọ ra, chỉ cho thân quyến thấy trùng đầy trong đầu của bệnh nhân. Đây là căn nguyên của chứng bệnh. Kỳ-bà Đồng tử nói với mọi người:

«Như lời thầy thuốc trước đây đã nói, sau bảy năm bệnh nhân sẽ chết. Ý là sau bảy năm cái não hết nên phải chết. Nói như vậy là vì không khéo thấy. Hoặc có những vị nói sau sáu, năm, bốn, ba, hai và một năm sẽ chết, vì nghĩ rằng, sau khi hết não sẽ chết. Tất cả cũng không thấy rõ. Hoặc nói sau bảy tháng cho đến một tháng sẽ chết, cũng không thấy rõ. Còn vị thầy thuốc nói bảy ngày sẽ chết. Nói như vậy là vì nghĩ, trong vòng bảy hôm, não của bệnh nhân sẽ hết nên phải chết. Chính vị thầy thuốc này mới là người khéo thấy. Nếu nay không chữa trị, qua bảy ngày, não hết, sẽ phải chết.» 

Bấy giờ, Kỳ-bà Đồng tử trừ sạch bịnh trong đầu xong, đổ váng sữa, mật vào đầy trong đầu, sau ghép xương sọ rồi may lại, dùng thuốc tốt bôi. Tức thì, bệnh khỏi, thịt đầy lại như cũ, tóc mọc lại, như chỗ không bị mổ không khác.

Kỳ-bà Đồng tử hỏi ông trưởng giả: 

«Ông nhớ lời hứa trước đây không?»

Ông trưởng giả trả lời: 

«Tôi nhớ trước đây có nói, ‹Nếu thầy chữa bệnh tôi lành, tôi sẽ làm tôi tớ và tất cả gia nghiệp của tôi sẽ giao cho thầy›».

Kỳ-bà Đồng tử nói: 

«Thôi, Trưởng giả, như thế là đã cho tôi rồi. Chỉ nên dùng lời nói trước.»

Khi ấy, ông trưởng giả liền đem bốn mươi vạn lượng vàng, để tạ ơn. Kỳ-bà Đồng tử dùng một trăm ngàn lượng dâng lên Vua, một trăm ngàn lượng cung phụng thân phụ, hai trăm ngàn lượng tự mình sử dụng. Đây là bệnh nhân thứ ba, mà Kỳ-bà Đồng tử chữa trị.
 
 

4. Lúc bấy giờ, tại nước Câu-thiểm-di có con ông trưởng giả vì ham đùa trên cái bánh xe,[17] nên ruột bên trong bị thắt lại, ăn uống không tiêu, không bài tiết được, nhưng tại nước đó không ai chữa trị được. Ông nghe nước Ma-kiệt có vị thầy thuốc rất giỏi, có thể chữa được bệnh này, liền sai sứ đến tâu với Vua:

«Con ông trưởng giả nước Câu-thiểm-di bệnh. Kỳ-bà Đồng tử có thể chữa được. Cúi xin Vua cho phép đến.»

Vua Bình-sa cho gọi Kỳ-bà Đồng tử đến hỏi rằng:

«Có con ông trưởng giả nước Câu-thiểm-di bị bệnh, ngươi có thể chữa được không?»

Kỳ-bà Đồng tử trả lời là được.

Nhà Vua nói:

«Nếu chữa được, thì đi chữa cho họ.»

Bấy giờ, Kỳ-bà Đồng tử đi xe đến nước Câu-thiểm-di. Kỳ-bà Đồng tử vừa mới đến nơi thì con ông trưởng giả đã chết, nghe tiếng kỹ nhạc đưa ma. Kỳ-bà Đồng tử liền hỏi rằng:

«Ở đây có việc gì mà có tiếng kỹ nhạc, tiếng trống kèn vậy?»

Người bên cạnh trả lời:

«Con ông trưởng giả bị bệnh mà ông đến chữa đó, đã chết rồi. Đó là tiếng kèn trống đưa đi chôn.»

Cậu Kỳ-bà Đồng tử có tài giỏi phân biệt tất cả các loại âm thanh, nên bảo khiêng trở lại, và nói:

«Người này chưa chết.»

Kỳ-bà Đồng tử nói như vậy, họ liền khiêng trở lại.

Kỳ-bà Đồng tử xuống xe, lấy dao bén mổ ngay bụng, vạch chỗ ruột bị thắt, chỉ cho cha mẹ và thân nhân của bệnh nhân xem và nói rằng:

«Đây là vì đùa trên bánh xe nên khiến cho ruột bị thắt lại như vầy. Do đó ăn uống không [853a1] tiêu, chứ không phải là chết.»

Kỳ-bà Đồng tử liền giải thông ruột ra, sắp lại như cũ, rồi may ngoài da, dùng thuốc tốt thoa nó. Sau đó vết mổ lành, lông mọc trở lại giống như chỗ không mổ.»

Con ông trưởng giả trả ơn cho Kỳ-bà Đồng tử bốn mươi vạn lượng vàng. Vợ của con ông cũng đem bốn mươi vạn lượng vàng để đền ơn người đã cứu chồng mình sống lại. Cha mẹ của bệnh nhân mỗi người cũng đem bốn mươi vạn lượng vàng để hậu tạ cho Kỳ-bà Đồng tử. Đây là bệnh thứ tư mà Kỳ-bà Đồng tử đã cứu chữa. 

5. Lúc bấy giờ, quốc vương Úy-thiền[18] là Vua Ba-la-thù-đề,[19] ròng rã mười hai năm bị bệnh đau đầu, không có thầy thuốc nào chữa được. Vua nghe Vua Bình-sa có vị thầy thuốc đại tài, có thể chữa trị chứng bệnh của mình được, liền sai sứ đến tâu với Vua Bình-sa rằng:

«Ba-la-thù-đề mắc bệnh, Kỳ-bà Đồng tử có thể chữa trị được. Xin Vua cho phép Kỳ-bà Đồng tử được đến chữa.»

Vua liền gọi Kỳ-bà Đồng tử đến hỏi:

«Ngươi có thể chữa bệnh cho Ba-la-thù-đề không?»

Kỳ-bà Đồng tử trải lời: 

«Có thể được.»

Nhà Vua nói: 

«Nếu chữa được thì đi chữa.»

Vua nói tiếp:

«Vua ấy từ bọ cạp mà ra. Khanh khéo giữ mình, chớ để mất mạng.»

Kỳ-bà Đồng tử thưa: 

«Xin vâng.»

Bấy giờ, Kỳ-bà Đồng tử đến nước Úy-thiền, chỗ của Ba-la-thù-đề, kính lễ sát chân, rồi đứng qua một bên, hỏi Vua rằng:

«Bệnh trạng thế nào?»

Nhà Vua trả lời: 

«Bệnh trạng như vậy, như vậy. »

Kỳ-bà Đồng tử hỏi: 

«Bệnh bắt đầu từ đâu?»

Nhà Vua nói: 

«Bệnh bắt đầu như vậy, như vậy.» 

Kỳ-bà Đồng tử hỏi tiếp: 

«Từ khi phát bệnh đến nay, bao lâu rồi?»

Bệnh nhân nói: 

«Thời gian bệnh là chừng ấy.»

Theo thứ tự hỏi xong, Kỳ-bà Đồng tử nói: 

«Bệnh này tôi có thể chữa được.»

Nhà Vua nói: 

«Nếu dùng váng sữa hay thuốc trộn váng sữa, ta không uống được. Nếu cho ta uống thuốc trộn váng sữa, ta sẽ giết ngươi.»

Chứng bệnh này các thứ thuốc khác không trị được. Chỉ có váng sữa trị được mà thôi.

Kỳ-bà Đồng bèn bày chước, tâu với Vua:

«Y pháp trị bệnh của tôi, mai, trưa, chiều, tối xin được phép tự do ra vào.» 

Nhà Vua nói với Kỳ-bà Đồng tử:

«Tùy ý ngươi cứ ra vào.»

Kỳ-bà Đồng tử lại tâu tiếp.

«Nếu cần vị thuốc quý giá, phải cởi ngựa để đi cho nhanh, xin Vua cho phép.»

Vua liền cấp cho con lạc đà đi năm mươi do tuần ngày. Kỳ-bà Đồng tử liền dùng thức ăn rất mặn cho Vua ăn. Rồi ở chỗ kín đáo, nấu váng sữa làm thuốc. Làm cho nó thành màu nước, vị nước. Kỳ-bà Đồng tử đưa thuốc cho mẹ của Vua và dặn:

«Khi nào Vua thức dậy, khát nước, đòi uống nước, thì đưa thứ thuốc này cho Vua dùng.»

Kỳ-bà Đồng tử đưa thuốc cho mẹ của Vua rồi, liền cỡi con lạc đà có sức chạy năm mươi do tuần ngày mà đi.

Vua thức dậy khát nước, đòi uống. Bà mẹ đưa thứ thuốc nước đó cho Vua uống. Khi thuốc tiêu hóa, cảm thấy có mùi váng sữa, Vua nói:

«Kỳ-bà cho ta uống váng sữa, là oan gia của ta, làm sao chữa bệnh ta được. Hãy cấp tốc kiếm, đưa đến đây.»

Sứ giả liền đến chỗ Kỳ-bà Đồng tử ở, tìm không có. Hỏi người giữ cửa rằng:

«Kỳ-bà Đồng tử ở đâu?»

Người giữ cửa nói: 

«Kỳ-bà Đồng tử, cởi con lạc đà đi năm mươi do tuần ngày, đã đi rồi.»

Vua càng thêm lo sợ, nói:

«Cho ta uống váng sữa là oan gia của ta, làm sao chữa trị cho ta được!»

Lúc ấy, nhà Vua có một người đi bộ giỏi, tên là Ô, một ngày có thể đi sáu mươi do tuần. Nhà Vua liền kêu đến bảo:

«Ngươi có thể truy đuổi Kỳ-bà Đồng tử được chăng?»

Người ấy thưa: 

«Có thể.»

Nhà Vua nói: 

«Ngươi đến gọi về đây!» 

Nhà Vua dặn: 

«Kỳ-bà Đồng tử có kỹ thuật cao, ngươi chớ nên ăn những thức ăn gì do Kỳ-bà Đồng tử đưa. Có thể ngươi bị thuốc độc đó.»

Ô thưa: 

«Vâng.»

Và theo lời dạy của Vua.

Kỳ-bà Đồng tử đi đến nửa đường, khỏi phải lo sợ nữa, ngừng lại làm thức ăn, nên Ô, người chạy nhanh đuổi theo kịp. Nói với Kỳ-bà Đồng tử:

«Vua Ba-la-thù-đề sai gọi ông.» 

Đáp, sẽ đi liền.

Kỳ-bà Đồng tử mời Ô ăn. Ô không chịu ăn. Kỳ-bà Đồng tử tự mình ăn nửa trái a-ma-lặc,[20] để lại nửa trái, uống nước cũng để lại nửa ly. Dưới móng tay Kỳ-bà Đồng tử đã phục sẵn thuốc độc, thuốc ấy ngấm vào nửa trái và nửa ly nước còn lại. Kỳ-bà Đồng tử nói với ông Ô rằng:

«Tôi đã ăn nửa trái và uống nửa ly nước rồi, còn lại mỗi thứ phân nửa đây, ông có thể dùng đi.»

Ô liền nghĩ: «Kỳ-bà Đồng tử đã tự mình ăn nửa trái và uống nửa ly nước rồi, số còn lại bảo ta ăn, chắc không có độc.» Nghĩ như vậy rồi, Ô liền ăn nửa trái A-ma-lặc và uống nửa ly nước còn lại. Liền bị ói,[21] không thể đi được nữa. Kỳ-bà Đồng tử đem thuốc để trước Ô và nói rằng:

«Giờ đó, giờ đó, ông uống thuốc này sẽ khỏi bệnh.»

Kỳ-bà Đồng tử liền cởi con lạc đà đi năm mươi do tuần ngày đó tiếp tục đi.

Sau đó, Vua cùng Ô đều lành bệnh. Vua Ba-la-thù-đề sai sứ gọi Kỳ-bà Đồng tử, nói rằng:

«Nhà ngươi đã trị lành bệnh cho ta. Ta xin tạ ơn nhà ngươi gấp bội lần so với phẩm vật mà nhà ngươi đã thu được nhiều hay ít nơi nước kia.»

Kỳ-bà Đồng tử nói: 

«Thôi, tâu Đại vương, như thế là đã ban cho tôi rồi. Tôi vì Vua Bình-sa nên trị bệnh cho Vua mà thôi.»

Bấy giờ, Vua Ba-la-thù-đề cho đưa đến một chiếc y quý giá, trị giá bằng phân nửa nước để tạ ơn.

Nhà Vua nói với Kỳ-bà Đồng tử: 

«Nhà ngươi không thuận ý, nay ta xin biếu chiếc y này để gọi là báo ân.» Đây là con bệnh thứ năm mà Kỳ-bà Đồng tử đã chữa trị.

7. Bấy giờ, đức Thế Tôn bị bệnh dư nước,[22] nói với Tôn giả A-nan: 

«Ta bị bệnh dư nước. Cần được chữa trị.»[23]

Tôn giả A-nan nghe đức Thế Tôn dạy như vậy, đến chỗ Kỳ-bà Đồng tử nơi thành Vương-xá, nói rằng:

«Đức Như Lai bị chứng dư nước, cần được chữa trị»

Kỳ-bà Đồng tử cùng A-nan đến chỗ đức Phật, đảnh lễ sát chân, rồi đứng lui qua một bên, bạch Phật:

«Đức Như Lai bị chứng dư nước phải không?»

Đức Phật dạy:

«Đúng như vậy, Kỳ-bà Đồng tử. Như lai muốn chữa trị.»

Kỳ-bà Đồng tử bạch Phật:

«Như Lai muốn xổ bao nhiêu lần?»

Phật dạy:

«Cần ba mươi lần.»

Bấy giờ, Kỳ-bà Đồng tử cùng A-nan đến thành Vương-xá lấy ba bó hoa ưu-bát[24] đem về nhà. Kỳ-bà Đồng tử lấy một bó xông thuốc và chú thuật dặn đưa đức Như Lai ngửi, sẽ xổ được mười lần. Lấy bó thứ hai, xông với thuốc và chú thuật, dặn đưa đức Như Lai ngửi, sẽ xổ được mười lần nữa. Sau lấy bó thứ ba xông với thuốc và chú thuật, dặn đưa đức Như Lai ngửi, thì sẽ xổ được chín lần. Kế đó uống một bụm nước nóng,[25] sẽ xổ được một lần nữa. Theo đó Kỳ-bà Đồng tử lấy ba bó hoa đặt trên tay Tôn giả A-nan. Tôn giả A-nan đem hoa ra khỏi thành Vương-xá, đến chỗ đức Thế Tôn, lấy một bó hoa dâng lên đức Thế Tôn. Ngài ngửi, liền xổ được mười lần. A-nan dâng bó hoa thứ hai, lại xổ được mười lần tiếp. Bó thứ ba, xổ được chín lần. Kỳ-bà Đồng tử quên dặn Tôn giả A-nan dâng nước nóng lên đức Phật. Nhưng đức Thế Tôn biết rõ tâm niệm Kỳ-bà Đồng tử, liền kêu A-nan bảo lấy nước nóng đem đến. A-nan nghe Phật dạy liền lấy nước nóng đem đến dâng lên đức Phật. Đức Phật liền uống một bụm nước nóng. Chứng dư nước liền khỏi. Phong khí cũng theo đó mà điều hoà.

8. Bấy giờ, Vua Bình-sa nghe Đức Phật bị bệnh, cùng tám vạn bốn ngàn người hộ giá đi đến chỗ đức Thế Tôn; kính lễ hỏi thăm Ngài, rồi ngồi lui qua một bên. 

Lúc ấy, Vua Ưu-điền nghe Đức Thế Tôn bệnh, cũng dẫn bảy vạn người đến thăm. Vua Ba-la-thù-đề cùng với sáu vạn người đến thăm. Vua Phạm Thí cùng với năm vạn người. Mạt-lợi Phu nhân, Lê-sư-đạt-đa, Phú-la-na.

Bốn Đại thiên vương và các thuộc hạ tuỳ tùng. Thích Đề-hoàn Nhơn cùng Đao lợi chư thiên. Diệm thiên tử cùng với Diệm thiên. Đâu-suất thiên vương cùng Đâu-suất chư thiên. Hóa lạc thiên vương cùng Hóa lạc chư thiên. Tha hóa tự tại thiên vương cùng Tha hóa tự tại thiên. Phạm thiên vương cùng với chúng Phạm thiên. Ma-hê-thủ-la thiên vương cùng với Ma-hê-thủ-la chư thiên. Tất cả đều đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân Ngài, rồi đứng qua một bên. 

Lúc ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất cũng cùng với năm trăm tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn đảnh lễ sát chân, lui đứng qua một bên. 

Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề nghe đức Thế Tôn bệnh, cũng cùng năm trăm tỳ-kheo-ni; A-nan Tân-đề cùng năm trăm ưu-bà-tắc; Tỳ-xá-khư Mẫu cùng năm trăm ưu-bà-di, đến chỗ đức Thế Tôn, [855a1] đầu mặt kính lễ thăm hỏi Ngài. 

Bấy giờ, Đề-bạt-đạt-đa nghe đức Thế Tôn bị bệnh cũng đến chỗ đức Thế Tôn, đầu mặt lễ sát chân, ngồi qua một bên. Lúc ấy, Đề-bạt-đạt-đa thấy trước đức Thế Tôn bốn bộ chúng nhóm hợp, liền khởi ý nghĩ như vầy: «Nay ta có thể uống thuốc như Phật, khiến bốn bộ chúng đến thăm hỏi ta.» Nghĩ xong, liền đến chỗ Kỳ-bà Đồng tử nói rằng:

«Tôi muốn uống thứ thuốc như Phật uống. Ông có thể cho tôi uống được không?»

Kỳ-bà Đồng tử nói:

«Thứ thuốc đức Thế Tôn dùng tên là Na-la-diên,[26] thứ thuốc này chẳng phải ai cũng dùng được. Chỉ có Chuyển luân vương, bậc đã thành tựu Bồ-tát, đức Như Lai mới có thể dùng được.»

Đề Bà nói:

«Nếu không cho tôi dùng tôi sẽ hại ông.»

Bấy giờ, Kỳ-bà Đồng tử sợ bị hại mạng nên liền đưa thuốc cho Đề-bà-đạt-đa. Do uống thuốc này mà Đề-bà-đạt-đa bị bệnh nặng, thân tâm đều đau khổ, cô đơn một mình, không ai tới lui thăm viếng, cũng không có bà con chăm sóc. Đề-bà-đạt-đa tự nghĩ: «Như ta hiện nay, không ai cứu giúp. Chỉ có đức Như Lai.»

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn biết tâm nghĩ Đề-bà-đạt-đa như vậy, liền từ núi Kỳ-xà-quật, thân phóng ra ánh sáng «thi dược»[27] chiếu đến Đề-bà-đạt-đa, khiến tất cả bệnh khổ liền được chấm dứt. Sau khi Đề-bà-đạt-đa được lành bệnh không lâu, đến các ngã đường trong thành Vương-xá xướng lên rằng:

«Thái tử Tất-đạt-đa xả bỏ ngôi vị Chuyển luân vương xuất gia làm đạo. Nay làm nghề thầy thuốc để nuôi sống. Tại sao biết như vậy? Chính tôi vừa được chữa lành đây, nên tôi biết.»

Các tỳ-kheo nghe biết; trong đó có vị thiểu dục tri túc sống khổ hạnh, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách Đề-bà-đạt-đa: «Đức Như Lai dũ lòng thương đối với ông, sao ông không biết đền đáp?»

Bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, bạch Phật:

«Thật chưa từng có! Thế Tôn đã dũ lòng thương đối với Đề-bà-đạt-đa. Nhưng Đề-bà-đạt-đa lại không trả ơn.»

Đức Phật bảo các tỳ-kheo:

«Không phải chỉ đến hôm nay ta dũ lòng thương đối với Đề-bà-đạt-đa mà không được trả ơn đâu. Vào đời quá khứ, có nhà Vua tên là Nhất Thiết Thí,[28] làm Vua cõi Diêm-phù-đề. Khi ấy cõi đất Diêm-phù-đề rộng và bằng phẳng, nhân dân đông đúc, no đủ vui sướng vô cùng. Hồi ấy Diêm-phù-đề có tám vạn bốn ngàn thành, năm ngàn ức tụ lạc, sáu vạn biên thành. Bấy giờ, có bệnh nhân đến chỗ Vua Nhất Thiết Thí, thưa với Vua rằng:

«Tôi nay không ai cứu giúp. Chỉ có Vua thôi.» 

Bấy giờ, nhà Vua tập hợp các danh y trong cõi Diêm-phù-đề, chỉ cho thấy bệnh nhân này và hỏi các lương y rằng:

«Bệnh nhân này cần dùng thứ thuốc gì?»

Các lương y khám bệnh rồi thưa:

«Theo bệnh của người này, người thường không thể cho thuốc được. Chỉ có các bậc thành tựu Bồ-tát mới có thể cho phương thuốc được.»

Nhà Vua hỏi: 

«Cần thứ thuốc gì?»

Lương y nói: 

«Bệnh nhân này nếu có được thịt máu sống do Bồ-tát từ tâm để ăn trong hai mươi chín ngày thì mới lành được.»

Vua Nhất Thế Thí khởi tâm nghĩ rằng: «Sanh tử miên viễn, luân chuyển không bờ, chịu các khổ não; hoặc đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh bị chặt chân tay, xẻo tai, xẻ mũi, móc mắt, bổ đầu, cuối cùng đâu có ích gì» Vua liền giao việc nước cho quần thần, vào trong chỗ vắng, tư duy bốn hạnh vô lượng. Bấy giờ, Vua Nhất Thế Thí dùng dao bén cắt thịt nơi đùi vế, sai người đem đến cho bệnh nhân ăn, trải qua hai mươi chín ngày như vậy, sau đó Vua hỏi sứ giả rằng:

«Bệnh nhân thế nào?»

Sứ giả tâu với nhà Vua: 

«Bệnh nhân đã lành.»

Nhà Vua bảo, dẫn đến ta xem.

Sứ giả liền tắm rửa người bệnh, mặc áo mới dẫn đến chỗ Vua. Vua hỏi?

«Bệnh của ngươi thế nào?»

Người bệnh nói: 

«Đã lành.»

Nhà Vua nói: 

«Thôi, nhà ngươi tuỳ ý mà lui.»

Khi người kia ra khỏi cửa, chân bên hữu vấp phải đá chảy máu. Người khác thấy vậy hỏi:

«Nầy nam tử! Tại sao chân của ngươi bị chảy máu?»

Người kia liền nói: 

«Ông Vua phi pháp này! Vua tệ ác này! Vua dâm dục phi pháp này! Vua ham mê tà kiến nầy! Tôi vấp phải then cửa trong nhà của ông ấy, nên chân bị thương chảy máu như vậy.»

Mọi người nói: 

«Chưa từng có hạng người nào vô ân như thế này. Vua Nhất Thế Thí trong vòng hai mươi chín ngày tự lấy thịt và máu thân mình, để chữa trị bệnh cho được lành, mà đối với Vua không có sự trả ơn, lại còn thêm tiếng oán!»

Đức Phật bảo các tỳ-kheo:

«Vua Nhất Thiết Thí lúc bấy giờ chính là bản thân ta vậy. Bệnh nhân lúc ấy chính là Đề-bà-đạt-đa hiện nay. Đời trước ta tỏ lòng từ mẫn đối với Đề-bà-đạt-đa, nhưng đã không được trả ơn. Hiện nay cũng như vậy, không hề trả ơn.»

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn vì Đề-bà-đạt-đa nói kệ này rằng:

Tất cả núi và biển,

Ta không cho là nặng.

Người không trả ơn kia,

Ta cho đó là nặng.

Người không đền đáp ơn,

Như bệnh hủi xấu ác;

Hoặc là bệnh hủi trắng,

Không trả ơn cũng vậy.

«Vậy các tỳ-kheo luôn luôn cần nghĩ đến việc trả ơn. Hãy học như vây.»

Lúc bấy giờ, Kỳ-bà Đồng tử chăm sóc bệnh đức Thế Tôn và dùng thang tiêu xổ, cùng thịt loài chim đồng nội, chữa lành căn bệnh. Đây là bệnh nhân thứ sáu được Kỳ-bà Đồng tử chữa lành.

III. ĐÀN VIỆT THÍ Y
1. Kỳ-bà thỉnh nguyện 
Một hôm, Kỳ-bà Đồng tử mang chiếc y quý giá[29] đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi đứng lui qua một bên, bạch đức Thế Tôn:

«Con trị bệnh cho Quốc vương, trị bệnh cho Đại thần, hoặc được một quốc độ, hoặc được một tụ lạc. Cúi xin đức Thế Tôn cho một ước nguyện.»

Đức Phật dạy:

«Ta không hề cho ai ước nguyện mà vượt quá điều nguyện.»[30]

Kỳ-bà Đồng tử lại thưa:

«Con xin một ước nguyện thanh tịnh.»[31]

Đức Phật dạy:

«Nguyện thanh tịnh ấy là gì?»

Kỳ-bà Đồng tử thưa:

«Chiếc y quý giá này, con nhận được từ Vua Ba-la-thù-đề, giá trị bằng phân nửa nước. Cúi xin đức Thế Tôn ai mẫn, vì con nạp thọ. Từ nay về sau, nguyện đức Thế Tôn cho phép các tỳ-kheo nào muốn khoác y của đàn-việt cúng, hay y phấn tảo, thì tùy ý được mặc.»

Bấy giờ, đức Thế Tôn chấp thuận bằng cách im lặng. Kỳ-bà Đồng tử được đức Thế Tôn chấp thuận, liền đem bình nước rửa bằng vàng rửa tay đức Phật, rồi đem chiếc y rất quý giá dâng lên Ngài. Đức Phật vì lòng từ mẫn nên vì ông mà nhận. Kỳ-bà Đồng tử đảnh lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật vì Kỳ-bà Đồng tử nói các bài pháp, khiến sanh hoan hỷ, rồi Kỳ-bà Đồng tử lễ Phật cáo lui. 

Bấy giờ, đức Thế Tôn vì nhơn duyên này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, vì các tỳ-kheo, mà tùy thuận nói pháp, ngài dùng vô số phương tiện khen ngợi hạnh đầu đà, nhiếp trì oai nghi, thiểu dục tri túc, có trí tuệ, ưa nếp sống xuất ly. Đức Phật bảo các tỳ-kheo: 

«Tất cả các loại y quý giá, y nầy là bậc nhất. Như bò cho ra sữa, trong sữa cho ra lạc, trong lạc cho ra tô, trong tô cho ra thục tô, trong thục tô cho ra đề hồ là tinh chất đệ nhất. Y nầy cũng như vậy, trong tất cả các loại y nó là đệ nhất. Từ nay về sau, cho phép các tỳ-kheo tùy ý khoác y của đàn-việt dâng cúng, hay y phấn tảo.»
 
 

2. Các loại y quý
Bấy giờ, Vua Bình-sa nghe đức Phật cho phép các tỳ-kheo chứa y đàn-việt cúng, liền đem y khâm-bà-la quý giá đang mặc dâng cúng cho tỳ-kheo. Các tỳ-kheo không nhận nói:

«Đức Phật chưa cho phép chúng tôi chứa loại y quý giá. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Từ nay về sau cho phép chứa y quý giá khâm-bà-la.»

Sau đó, Vua lại sai người đem y quý giá cù-lâu[32] đến. Các tỳ-kheo không dám nhận, vì đức Phật chưa cho phép chứa y quý giá cù-lâu. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Từ nay về sau cho phép chứa.»

Nhóm sáu tỳ-kheo chứa cù-lâu bằng lông vừa rộng vừa dài. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Đức Phật dạy:

[855a1]«Không được chứa.»

Đức Phật dạy tiếp: 

«Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo chứa cù-lâu rộng ba khủy tay, dài năm khủy tay, lông dài ba ngón tay, tịnh thí rồi mới chứa.»

Bấy giờ Kỳ-bà Đồng tử nghe đức Phật cho phép các tỳ-kheo chứa y của đàn-việt cúng, liền sai người đem cù-lâu bằng lông ngắn, nhà Vua mặc, đến cúng các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo không dám nhận, và nói vì đức Phật chưa cho phép chúng tôi chứa loại cù-lâu bằng lông ngắn này. Các tỳ-kheo đem việc này bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Từ nay về sau cho phép chứa.»
 
 

3. Nhận và chia
Bấy giờ, nơi thành Vương-xá có các ưu-bà-tắc nghe đức Phật cho phép các tỳ-kheo chứa y đàn-việt cúng, liền sai người đem rất nhiều loại y tốt cúng cho các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo không biết nên làm như thế nào, liền đến bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Cho phép nhận và chia.»

Các tỳ-kheo không biết nên chia như thế nào. Đức Phật dạy:

«Nên đếm số người nhiều hay ít. Như mười người thì chia làm mười phần. Cho đến trăm người thì chia làm trăm phần. Khi chia y, số y vừa có thứ tốt, vừa có thứ xấu, người chia y vội lấy phần mình. Đức Phật dạy:

«Không được như vậy, mà nên sai người khác chia, khiến người khác lấy phần.»

Người kia tự lấy phần của mình. Đức Phật dạy:

«Không được tự lấy phần, mà nên rút thăm để chia.»

Vị tỳ-kheo kia tự rút thăm. Đức Phật dạy:

«Không được tự mình rút thăm khi chia. Khi rút thăm, không được để cho thấy.»

Bấy giờ, có vải y quý giá thứ Vua mặc, không thể chia được. Đức Phật cho phép cắt ra để chia. Từ nay về sau, cho phép dùng dao để cắt rọc vải. 

Bấy giờ, có tỳ-kheo nhận được vải chưa giặt. Đức Phật cho phép tự mình giặt, hoặc sai người giặt. Lúc ấy, cần chậu để giặt. Đức Phật cho phép dùng chậu để giặt. Hoặc không có ván để giặt, đức Phật cho phép sắm ván để giặt. Hay cần kéo để cắt, đức Phật cho phép sắm kéo để dùng.
 
 

4. Y cát triệt
Khi đức Thế Tôn từ thành Vương-xá du hành trong nhân gian đến phương nam. Trên đường đi, thấy cánh đồng ruộng, người ta đắp bờ xung quanh những thửa ruộng rất khéo. Thấy vậy, đức Phật bảo Tôn giả A-nan:

«Ông có thấy những thửa ruộng này không?»

Tôn giả thưa:

«Có thấy, bạch đức Thế Tôn.»

Đức Phật hỏi ông A-nan: 

«Ông có thể vì các tỳ-kheo mà chế pháp y như vậy được không?»

Tôn giả thưa:

«Bạch đức Thế Tôn, con có thể chế được.»

Đức Phật bảo Tôn giả:

«Ông nên trở về dạy các tỳ-kheo.»

Bấy giờ, Tôn giả A-nan trở về lại thành Vương-xá dạy các tỳ-kheo may y cắt rọc như vầy: Đây là điều dài, đây là điều[33] ngắn, đây là lá,[34] đây là đường may thứ nhất, đây là đường may thứ hai, đây là đường may giữa, đây là lá điều hướng hai bên.[35]

Bấy giờ, tại thành Vương-xá có số đông tỳ-kheo đã khoác y cắt rọc.[36] Sau khi đức Thế Tôn du hành trong nhân gian từ phương nam trở về thành Vương-xá, thấy các tỳ-kheo số đông đã khoác y cắt rọc nên nói rằng:

«A-nan là người thông minh, đại trí tuệ. Ta chỉ nói sơ qua mà có thể giải nghĩa rộng rãi. Đệ tử các đức Như Lai, Vô sở trước, đời quá khứ, đã mặc pháp y như vậy; như Ta hiện nay. Đệ tử của các đức Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác, đời vị lai, cũng sẽ mặc pháp y như vậy; như ta hiện nay. Vì y của sa-môn, dùng dao cắt rọc may thành, nên không bị oán tặc cướp đoạt. Từ nay về sau, cho phép các tỳ-kheo cắt rọc may thành y an-đà-hội, y uất-đà-la-tăng, y tăng-già-lê. 

Bấy giờ, các tỳ-kheo cắt rọc may thành y an-đà-hội, mặc sát thân, lá y ngoài đường biên mau hư, bụi đất vào trong lá, từ đó về sau cho phép may y an-đà-hội không cắt rọc. Các tỳ-kheo khoác y uất-đà-la-tăng, tăng-già-lê cắt rọc, lá y ngoài đường biên cũng mau bị hư, bụi đất vào bên trong ẩm ướt. Đức Phật dạy:

«Từ nay về sau cho phép khoác y uất-đa-la-tăng, tăng-già-lê cắt rọc, nhưng lá y ngoài đường biên may thành chân chim, hoặc lá y ngoài đường biên may thành cái lề, hoặc may thành răng con ngựa.» 

Các tỳ-kheo không biết may bao nhiêu điều. Đức Phật dạy:

«Nên may năm điều, không được may sáu điều. Nên may bảy điều, không được may tám điều. Nên may chín điều, không được may mười điều. Cho đến mười chín điều, không được may hai mươi điều. Nếu quá số điều này, không được chứa.»

Bấy giờ, có tỳ-kheo vận xếp ngược niết-bàn-tăng[37] vào nhà bạch y, bị bung nên lộ hình. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Không được như vậy. Cho phép làm cái dây để cột.»

Bầy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo chứa và xử dụng cái dây cột có màu sắc đẹp. Đức Phật dạy: 

«Không được tích chứa và xử dụng cái dây có màu sắc đẹp như vậy.»

Các tỳ-kheo dùng gấm để làm. Đức Phật dạy:

«Không được làm bằng gấm.»

Các tỳ-kheo chứa và xử dụng cái dây màu trắng. Đức Phật dạy:

«Không được dùng màu trắng để làm. Cho phép nhuộm màu ca-sa để chứa dùng.»

Nhóm sáu tỳ-kheo may dây thắt lưng vừa rộng, vừa dài. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:

«Không được may như vậy. Cho phép may bề rộng bảy ngón tay, vòng quanh lưng ba bận. Nếu nhận được cái đã may rồi, nên làm hai lớp, ba lớp, bốn lớp. Nếu ba, bốn lớp bị rối loạn thì cho phép may dính lại. Nếu ngắn thì cho phép làm dây nối thêm. Nếu mỏng manh, mà thường cột sợ mau đứt thì nên làm cái khâu hay cái móc.»

Các tỳ-kheo dùng vật báu làm (khâu và móc). Đức Phật dạy:

«Không được dùng những vật quý báu để làm. Nên dùng xương, ngà, sừng, thiết, đồng, bạch lạp, chì, kẽm, chỉ, cây, hồ giao để làm.»

Các tỳ-kheo không biết đặt cái móc thế nào. Đức Phật dạy: 

«Dùng chỉ khâu hoặc xâu lỗ rồi buộc vào.»

Bấy giờ, các tỳ-kheo buộc nhưng bị hư đứt hoài. Đức Phật cho sửa chữa. Nhưng lại không biết sửa thế nào? Phật bảo hoặc xếp lại rồi dùng chỉ khâu, hoặc trên đầu dây sờn hư thì lấy chỉ khâu nối lại, hoặc vá lại.

Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo vào tụ lạc không chịu cột tăng-kỳ-chi.[38] Khi đi y bị rơi, lộ hình. Đức Phật dạy:

«Không được không buộc y mà vào tụ lạc. Cho phép buộc dây hay khâu lại.»

Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất vào nhà bạch y, bị gió thổi, y cắt rọc bị tuột khỏi vai. Các tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy

«Cho phép trên đầu vai đặt cái khâu hay cái móc.»

Thế Tôn ở tại thành Vương-xá, cùng với một ngàn hai trăm năm mươi tỳ-kheo du hành trong nhân gian. Bấy giờ, phần đông tỳ-kheo cầm y, hoặc đội y trên đầu, hoặc choàng nơi vai, hoặc quấn nơi thắt lưng. Bấy giờ, có tỳ-kheo tự là Già-phạm-bà-đề,[39] đến bên sông Hằng, chỗ đức Phật muốn lội qua, dùng thần lực vẹt nước để Phật lội qua. Khi Phật lội qua sông rồi, thấy các tỳ-kheo phần nhiều cầm y, hoặc đội y trên đầu, hoặc choàng nơi vai, hay quấn nơi thắt lưng. Thấy vậy, Ngài nghĩ: «Các tỳ-kheo này cầm nhiều y như vầy. Ta nên vì các tỳ-kheo quy định số lượng y hoặc nhiều hoặc ít như thế nào cho có giới hạn. Nếu quá thì không được chứa.»
 
 

5. Kỹ nữ thành Tỳ-da-li
Thế Tôn từ nước Bà-xà, du hành nhân gian đến Tỳ-xá-ly. Bấy giờ Am-bà-la-bà-đề nghe đức Phật cùng một ngàn hai trăm năm mươi tỳ-kheo du hành nhân gian đến Tỳ-xá-ly, liền đi xe đến chỗ đức Thế Tôn. Từ xa nhìn thấy đức Thế Tôn, tướng hảo đoan nghiêm, sanh tâm cung kính hoan hỷ, liền xuống xe đi bộ đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi lui qua đứng một bên. Bấy giờ, đức Phật nói pháp khuyến hóa khiến sanh hoan hỷ. Nghe đức Phật nói pháp rồi, Am-bà-la-bà-đề vui mừng hớn hở bạch Phật:

«Cúi xin đức Thế Tôn và các Tăng tỳ-kheo, sáng mai con thỉnh thọ thực và nghỉ lại tại vườn con một đêm.»[40]

Đức Thế Tôn hứa khả bằng cách im lặng. Am-bà-la-bà-đề biết đức Phật hứa khả rồi, đảnh lễ sát chân, nhiễu quanh đức Phật rồi cáo lui.

Thế Tôn đang ở trong vườn của Am-bà-la tại Tỳ-xá-ly. 

Các Lê-xa[41] nghe đức Phật cùng một ngàn hai trăm năm mươi đệ tử du hành nhân gian, đang đến nơi Tỳ-xá-ly, liền mặc đủ loại y phục, trang sức bằng anh lạc, đi các loại xe đến nghinh đón đức Thế Tôn. Các Lê-xa hoặc có người khoác y phục anh lạc màu thiên thanh, thắng xe màu thiên thanh, ngựa màu thiên thanh, thị tùng cũng mặc màu thiên thanh, đao, mâu, phan, cái cũng màu thiên thanh. Hạt châu, lông, phất trần màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, ngựa xe thị tùng trang sức cũng như vậy. Có năm trăm Lê-xa như vậy đến chỗ đức Phật. Khi Am-bà-la-bà-đề nghinh đón đức Phật trở về, giữa đường gặp các Lê-xa, không bên nào chịu tránh nhường đường, nên nóc xe [856a1] đụng nhau. Trong số Lê-xa có một vị kỳ lão hỏi Am-bà-la-bà-đề rằng:

«Vì lý do gì nhà ngươi không tránh đường, ép sát nhau khiến nóc xe đụng nhau?»

Bà-đề trả lời:

«Sở dĩ như vầy là vì tôi thỉnh đức Phật và chư Tăng về nghỉ nơi vườn tôi. Tất cả tâm tôi đều hướng về đức Phật, nên không để ý các việc khác.»

Lê-xa nói:

«Tôi trao cho nhà ngươi một trăm ngàn lượng vàng, nhà ngươi nhường cho tôi được thỉnh Phật cúng dường có được không?»[42]

Bà-đề nói:

«Tôi đã thỉnh Phật và Tăng nghỉ đêm nơi vườn tôi, làm sao thay đổi được.»

Lê-xa nói:

«Tôi sẽ trao cho nhà ngươi hai trăm ngàn lượng vàng. Cho đến, mười sáu trăm ng