CHƯƠNG
VII.
THUỐC
1.
Các loại thuốc
[866c8]
1. Lúc bấy giờ, tại nước Ba-la-nại, có năm tỳ-kheo đến
chỗ đức Thế Tôn đảnh lễ sát chân, rồi đứng lui qua
một bên, bạch Phật rằng:
«Bạch
Đại đức, nên ăn thức ăn nào?»
Đức
Phật dạy:
«Cho
phép ăn thức ăn do khất thực được, gồm có năm loại thức
ăn.»[1]
Bấy
giờ, có tỳ-kheo khất thực nhận được cơm. Phật dạy:
«Cho
phép ăn.»
Nhận
được các thức ăn bằng cơm, như cơm gạo lúa tám, cơm đại
mạch, cơm gạo mì,[2] cơm lúa tẻ, cơm câu-bạt-đạt-la.[3]
Phật dạy:
«Cho
phép ăn cơm như vậy.»
Nhận
được lương khô,[4] đức Phật cho phép ăn các loại thuộc
lương khô. Nhận được cơm khô, đức Phật cho phép ăn các
loại cơm khô. Nhận được cá, đức Phật cho phép ăn các
loại cá. Nhận được thịt, đức Phật cho phép ăn các loại
thịt. Nhận được canh, đức Phật cho phép ăn các loại canh.
Nhận được tu-bộ,[5] đức Phật cho phép ăn. Nhận được
sữa, đức Phật cho phép dùng các loại sữa. Nhận được
lạc, đức Phật cho phép ăn các loại lạc. Nhận được sữa
đông,[6] đức Phật cho uống các loại nước sữa đông.[7]
Nhận được kiết-la,[8] đức Phật cho phép dùng. Nhận được
man-nâu,[9] đức Phật cho phép dùng các loại man-nâu. Nhận
được rau, đức Phật cho ăn các loại rau. Nhận được thức
ăn khư-xà-ni,[10] đức Phật cho phép ăn các thức ăn khư-xà-ni.
Khư-xà-ni gồm có rễ, cọng, lá, bông và trái, cũng như dầu
mè, đường mía,[11] các thức ăn bằng chưng nấu.
Khi
đức Thế Tôn ở tại nước Ba-la-nại, bấy giờ có năm tỳ-kheo
từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước đức Phật, đảnh
lễ sát chân Ngài rồi đứng lui qua một bên, bạch Phật:
«Nên
uống thứ thuốc nào?»
Đức
Phật dạy:
«Cho
uống thứ thuốc hủ lạn.[12] Tỳ-kheo bệnh nào có nhơn duyên
thì được phép dùng loại thuốc suốt đời.»
1.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đang nằm trên võng, có tỳ-kheo
bệnh, theo lời dạy của thầy thuốc, dùng trái ha-lê-lặc.[13]
Đức Phật dạy:
«Cho
phép tỳ-kheo bệnh, có nhân duyên suốt đời được dùng trái
ha-lê-lặc.»
2.
Phật ở tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có tỳ-kheo bị chứng
thống phong,[14] thầy thuốc bảo dùng nước trấp lúa mạch
chua. Phật cho phép dùng.[867a1] Tỳ-kheo không biết làm cách
nào. Đức Phật dạy:
Bảo
tịnh nhơn rửa sạch đồ đựng, đem lúa mạch ngâm cho nát,
rồi lọc lấy nước trấp mà uống. Nếu nước lúa mạch
bị hôi thì đậy lại. Có cặn thì cho phép dùng đồ lọc.
Tỳ-kheo không biết làm cái lọc thế nào. Đức Phật dạy:
Cho phép dùng các loại như đồng, gỗ, hay tre làm đồ để
lọc, như đãy lọc nước, có ba góc, hoặc lớn hoặc nhỏ.
Nếu trong lúa mạch bị khô thì bảo tịnh nhơn cho thêm nước
vào. Bấy giờ, tỳ-kheo bệnh uống nước lúa mạch ngâm trước
mặt mọi người, khiến các tỳ-kheo thấy vậy đều nhờm
gớm. Phật dạy:
«Trước
nhiều người không được uống như vậy. Nên uống chỗ vắng.»
Bấy
giờ tất cả Tăng đều cần nó. Đức Phật dạy:
«Tất
cả Tăng có thể uống chung.»
Khi
các tỳ-kheo mỗi người dùng đồ đựng riêng để uống,
nên những đồ đựng đó có mùi hôi xông khắp nơi. Đức
Phật dạy:
«Không
được chứa riêng mà nên dùng một cái rồi chuyền nhau uống
chung.»
Có
tỳ-kheo uống rồi không rửa chén, đưa cho tỳ-kheo khác. Đức
Phật dạy:
«Không
được như vậy. Nên rửa rồi mới đưa cho người khác.»
3.
Phật ở tại nước Xá-vệ. Có tỳ-kheo bị thổ tả. Tỳ-kheo
nấu cháo, phút chốc đã quá ngọ. Đức Phật dạy:
«Cho
phép, nếu là lúa mạch nguyên hạt; hay bằng lúa tẻ nguyên
hạt. Nấu cho chín, không để cho vỡ hạt; rồi lọc lấy
nước uống.»
Lúc
bấy giờ, có tỳ-kheo bệnh, thầy thuốc bảo dùng bệ-hê-lặc,[15]
đức Phật cho phép dùng.
Thầy
thuốc bảo dùng a-ma-lặc,[16] đức Phật cho phép dùng. Nếu
có tỳ-kheo vì nhân duyên bệnh thì có thể dùng suốt đời.
4.
Bấy giờ, có tỳ-kheo bệnh, thầy thuốc bảo dùng tô-la,[17]
đức Phật cho phép dùng. Tỳ-kheo có nhơn duyên bệnh thì được
phép dùng trọn đời.
Bấy
giờ, tỳ-kheo bệnh, thầy thuốc bảo dùng thuốc trái cây,[18]
đức Phật cho phép dùng. Nếu không phải là thức ăn thường
thì tỳ-kheo có nhân duyên bệnh được phép dùng trọn đời.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo bệnh, cần năm loại thuốc rễ lớn.[19]
Đức Phật dạy: cho phép dùng. Cần năm loại thuốc rễ nhỏ,[20]
đức Phật cho phép dùng. Tỳ-kheo vì nhơn duyên có bệnh được
uống trọn đời.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo bệnh, thầy thuốc bảo uống thuốc chất-đa-la.[21]
Đức Phật dạy:
«Tỳ-kheo
có nhơn duyên bệnh trọn đời được dùng.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo bệnh, thầy thuốc bảo uống thuốc kế-sa.[22]
Đức Phật dạy: «Tỳ-kheo có nhơn duyên bệnh được dùng
trọn đời. Kế-sa gồm cả rễ, cọng, lá, hoa và trái của
kế-sa.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo bệnh, thầy thuốc bảo dùng sa-lê-sa-bà.[23]
Đức Phật dạy: «Tỳ-kheo bệnh cho phép dùng sa-lê-sa-bà,
gồm cả rễ, cọng, lá, hoa, quả. Nếu cứng thì nghiền cho
nhỏ. Thức-cừ[24] cũng như vậy, đế-thố[25] cũng như
vậy.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo bệnh, thầy thuốc bảo uống cây lá lốt[26]
và hột tiêu, Phật dạy:
«Tỳ-kheo
có nhơn duyên bệnh cho phép dùng trọn đời.»
5.
Bấy giờ, có tỳ-kheo bệnh, cần các thứ thuốc bột mịn[27]
để tắm rửa, đức Phật cho phép dùng các thứ thuốc bột
mịn như bột cây hồ đồng, bột cây tai ngựa,[28] bột cây
xá-ma-la,[29] hoặc tự mình chà xát hay thay nhau chà xát. Khi
cần chày và cối, đức Phật cho phép chứa dùng. Cần nia,
sàng, chổi để quét đức Phật cho phép chứa dùng.
Bấy
giờ. Các tỳ-kheo e ngại không dám lấy hương bột bỏ vào
thuốc bột để xoa, đức Phật cho phép chứa dùng. Khi thuốc
bột không có đồ đựng, đức Phật cho phép dùng bình để
đựng. Nếu bụi đất vào, Phật cho phép dùng nắp đậy lại.
Muốn cần bảo đảm, Phật cho phép buộc dưới giường, hoặc
treo trên vách hay trên cọc ngà voi.[30]
Bấy
giờ, có tỳ-kheo bệnh dùng thuốc bột thô xoa vào người
để tắm rửa, bị đau. Đức Phật cho phép bột mịn, hoặc
bùn mịn, hay lá hay hoa hay trái làm thành bột mịn, khiến
cho bệnh nhân được khoan khoái. Nếu thân thể bị ghẻ lở,
hoặc hắc lào, hay nhọt, ghẻ ngứa, cho đến thân thể bị
hôi thúi.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo bệnh cần muối để làm thuốc, đức Phật
cho phép dùng. Muối[31] ở dây gồm muối sáng, muối đen, muối
viên, muối lâu-ma, muối chi-đầu-bệ, muối mỏ, muối than,
muối tân-đà-bà, muối thi-lô-bệ, muối biển.[32] Nếu tỳ-kheo
nào có nhân duyên bệnh được dùng trọn đời.
6.
Bấy giờ, có tỳ-kheo bệnh cần tro[33] để làm thuốc, Phật
cho phép dùng tro để làm thuốc. Trong các loại tro này gồm
có tro tát-xà, tro tân-na, tro ba-la-ma. Nếu Tỳ-kheo có nhân
duyên bệnh được dùng suốt đời.
7.
Bấy giờ, có tỳ-kheo bệnh cần thuốc xà-bà,[34] đức Phật
cho phép dùng. Trong thuốc xà-bà gồm có hinh-ngưu, hinh-nga-bà-đề,
thi-bà-lê-đà, bộ-thê-dạ-bà-đề, tát-xà-la-sà,[35] nếu
tỳ-kheo có nhơn duyên bệnh được dùng trọn đời.
8.
Bấy giờ, có tỳ-kheo bệnh cần thuốc trị con mắt,[36] đức
Phật cho phép dùng. Loại thuốc nhỏ mắt gồm có: đà-bà-xà-na,
kỳ-la-xà-na. Nếu tỳ-kheo có nhơn duyên bệnh được dùng
trọn đời.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo bị bạch ế[37] sanh nơi mắt, cần huyết
của người; bạch Phật. Phật cho phép dùng.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo bị bạch ế làm cho con mắt bị bệnh, cần
xương người. Đức Phật cho phép dùng.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo mắt bị bệnh bạch ế, cần tóc mịn nhuyễn.
Đức Phật cho phép đốt tóc lấy bột thoa mắt.
Bấy
giờ, Tất-lăng-già-bà-ta bị bệnh đau mắt, cần cái lược
bằng lưu ly để chữa. Đức Phật dạy:
«Vì
chữa trị bệnh mắt nên được phép tích trử để dùng.»
9.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất bị chứng thống phong, thầy
thuốc bảo ăn ngó sen. Khi ấy, Tôn giả Mục-liên đến chỗ
Tôn giả Xá-lợi-phất, chào hỏi xong, ngồi một bên, hỏi
Tôn giả Xá-lợi-phất rằng:
«Bệnh
có bớt không?»
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói:
«Chưa
bớt.»
Tôn
giả Mục-liên lại hỏi:
«Cần
thứ gì?»
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
«Cần
ngó sen.»
Tôn
giả Mục-liên nói:
«Nơi
phương đông có ao lớn A-nậu[38] nước trong veo, không bụi
bặm, uống nước đó không sanh bệnh hoạn gì cả. Cách đây
không xa lại có cái ao rộng năm mươi do tuần, nước trong
sạch, không có bợn nhơ, có ngó sen như cái trục bánh xe.
Khi bẻ, nó tiết ra nước trấp như sữa. Ăn vào, ngọt như
mật. Và cách ao này không xa, có núi vàng. Sườn núi cao năm
mươi do tuần, trong đó có bảy đại long tượng vương, anh
em cùng ở với nhau. Con nhỏ nhất cung cấp cho một vua Diêm-phù-đề.
Con lớn kế đó cung cấp cho vua hai thiên hạ. Con lớn hơn
nữa cung cấp cho Chuyển luân Thánh vương của bốn thiên hạ.
Y-la-bà-ni[39] long tượng vương thì cung cấp cho Thiên đế
Thích. Các long tượng vương kia xuống ao tắm rửa và uống
nước trong sạch đó, rồi dùng vòi nhổ ngó sen, rửa sạch
bùn để ăn, nên sắc da rất tốt, khí lực dồi dào. Ngó
sen nơi ao đó có thể ăn được.»
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất im lặng chấp thuận. Khi Tôn giả
Mục-liên thấy Tôn giả Xá-lợi-phất chấp thuận bằng cách
im lặng, liền biến khỏi nước Xá-vệ, trong chớp nhoáng
như co tay vào duổi tay ra, hiện đến bên bờ ao kia, hoá làm
đại long tượng vương, có hình sắc to đẹp hơn bảy tượng
vương kia. Bảy tượng vương kia khi thấy, đều kinh hoàng,
lông trong mình dựng ngược lên, vì sợ rằng nó sẽ đoạt
ao của mình. Bấy giờ, Đại Mục-liên thấy bảy long tượng
vương kia ôm lòng sợ sệt liền hiện nguyên hình. Bảy long
tượng vương hỏi Mục-liên rằng:
«Tỳ-kheo
cần gì?»
Tôn
giả Mục-liên nói:
«Tôi
cần ngó sen.»
«Tỳ-kheo
cần ngó sen sao không nói sớm. Khiến chúng tôi sợ hoảng
hồn, lông trong người dựng ngược lên cả.»
Bảy
long tượng vương liền vào trong ao tắm rửa và uống nước,
rồi lấy vòi nhổ ngó sen, rửa sạch bùn, trao cho Mục-liên.
Bấy
giờ, Mục-liên nhận được ngó sen rồi, liền biến khỏi
ao này, hiện lại nước Xá-vệ, đến trong Kỳ-hoàn, trao ngó
sen cho Xá-lợi-phất và nói:
«Ngó
sen đây.»
10.
Khi Tôn giả Xá-lợi-phất ăn xong, bệnh lành liền. Số ngó
sen còn dư trao cho người nuôi bệnh. Người nuôi bệnh trước
đó đã nhận lời thỉnh nên không dám ăn. Các tỳ-kheo bạch
Phật, Phật dạy:
«Cho
phép người nuôi bệnh, đã nhận lời thỉnh hay không nhận
lời thỉnh, được ăn thức ăn của người bệnh còn lại.»
Có
các tỳ-kheo trước đó đã nhận thức ăn, rồi đến tụ
lạc kia có [868a1] đàn-việt mời ăn, ăn xong trở về đến
trong Tăng-già-lam, đem thức ăn đã nhận cho các tỳ-kheo khác.
Các tỳ-kheo này trước đó đã nhận lời thỉnh nên không
dám nhận, vì không ai nhận nên vị ấy đem thức ăn bỏ.
Các loài chim quạ đến dành ăn, kêu la inh ỏi.
Bấy
giờ đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi A-nan:
«Vì
sao chim quạ kêu la inh ỏi như thế?»
Tôn
giả A-nan trình bày đầy đủ sự việc lên đức Phật. Đức
Phật dạy:
«Từ
nay về sau cho phép làm pháp dư thực[40] để ăn.»
Vị
kia đem thức ăn đến trước một tỳ-kheo thưa:
«Thưa
Đại đức, tôi đã nhận lời thỉnh (hoặc nói tôi đã ăn).
Xin Đại đức chứng biết cho.»
Vị
tỳ-kheo tác dư thực pháp nên lấy một ít thức ăn mà ăn;
rồi nói: «Tôi đã ăn rồi, thầy có thể dùng đi.» Nên làm
pháp dư thực như vậy rồi ăn.
Bấy
giờ, có vị trưởng lão Thượng tọa, được rất nhiều
người biết, vào thôn khất thực. Rồi đem đến một nơi,
ngồi ăn. Ăn xong, đem thức ăn dư đến trong Tăng-già-lam cho
các tỳ-kheo khác. Các tỳ-kheo trước đó đã nhận lời thỉnh
nên không dám ăn. Không ai ăn nên đem bỏ. Chim quạ tranh nhau
ăn, kêu la inh ỏi. Đức Thế Tôn biết mà vẫn cố hỏi A-nan:
«Vì
sao chim quạ kêu la như thế?»
Tôn
giả A-nan đem sự việc bạch lên đức Thế Tôn một cách
đầy đủ. Ngài dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép, tự mình đem thức ăn về, làm pháp dư
thực, thì được ăn.»
Làm
pháp dư thực bằng cách đem thức ăn đến trước tỳ-kheo
kia nói:
«Thưa
Đại đức, tôi đã nhận lời thỉnh (hoặc nói tôi đã ăn).
Xin thầy chứng biết cho.»
Vị
tác pháp dư thực kia nên lấy một ít thức ăn, ăn rồi nói:
«Tôi ăn rồi đó. Thầy cứ dùng đi.» Nên làm pháp dư thực
như vậy rồi ăn.
Bấy
giờ, Tỳ-xá-khư Vô-di-la Mẫu[41] nhận được nhiều trái
cây tươi. Bà liền nghĩ như vầy: «Nay ta nên làm thức ăn
thỉnh Phật và Tăng thọ thực rồi dùng trái cây này dâng
cúng.» Nghĩ xong, liền sai người đến trong Tăng-già-lam thưa:
«Cúi
xin chư Đại đức nhận bữa ngọ trai của chủ con vào ngày
mai.»
Trong
đêm đó, lo sửa soạn các thức ăn ngon. Sáng ngày sai người
đến báo giờ.
Đức
Thế Tôn khoác y, bưng bát, cùng một ngàn hai trăm năm mươi
tỳ-kheo đến nhà Tỳ-xá-khư Vô-di-la Mẫu, an tọa nơi chỗ
ngồi. Tỳ-xá-khư Mẫu dùng các thức ăn ngon bổ dâng cúng
Phật và Tăng. Ăn xong, dẹp cất bát rồi, bà lấy một chiếc
ghế thấp ngồi một bên. Đức Thế Tôn dùng nhiều phương
tiện thuyết pháp, khai hóa, khiến bà hoan hỷ. Đức Thế Tôn
nói pháp rồi rời chỗ ngồi ra về.
Khi
Tỳ-xá-khư Vô-di-la Mẫu dâng thức ăn, quên đem quả để
dâng, bèn nghĩ: «Ta vì trái tươi này nên thỉnh Phật và Tăng
dùng cơm. Nay lại quên đem quả để dâng.» Nghĩ như vậy
rồi, bà liền sai người đem trái tươi đến trong Tăng-già-lam
cúng cho các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo ăn rồi, nên không dám nhận.
Đến bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
từ thí chủ kia đem đến thì nên làm pháp dư thực để ăn.»
Pháp
dư thực như trước đã nói.
2.
Các loại thịt
1.
Thế Tôn ở tại thành Vương-xá, có tỳ-kheo bị bệnh điên
cuồng, đến nơi lò giết bò trâu, ăn thịt sống và uống
máu. Bệnh lành, bản tâm hồi phục, lo sợ phạm giới. Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
phạm. Nếu các tỳ-kheo khác bị bệnh như vậy, ăn thịt sống
và uống máu mà bệnh được lành thì cũng được phép dùng.»
2.
Thế Tôn ở tại nước Ba-la-nại. Bấy giờ gặp lúc mất
mùa, lúa gạo khan hiếm, khất thực khó được. Các tỳ-kheo
khất thực không được nên đến chỗ nuôi voi để xin. Bấy
giờ các quỷ thần vì tín kính sa-môn nên khiến voi chết.
Các tỳ-kheo nhờ đó nhận được thịt voi để ăn. Đức
Thế Tôn khởi từ niệm, bảo các tỳ-kheo:
«Voi
là một binh chúng của Vua. Nếu nhà Vua nghe được việc này
tất không hoan hỷ. Từ nay về sau không được ăn thịt voi.»
3.
Bấy giờ, các tỳ-kheo ở nước Ba-la-nại khất thực không
được nên đến nơi chuồng ngựa để xin. Lúc ấy có quỷ
thần vì tín kính sa-môn, liền khiến ngựa chết. Các tỳ-kheo
nhờ đó mà nhận được thịt ngựa để ăn. Đức Thế Tôn
từ mẫn, bảo các tỳ-kheo:
«Ngựa
là một binh chúng của Vua. Nếu vua nghe được chắc không
hoan hỷ. Từ nay về sau không được ăn thịt ngựa.»
4.
Bấy giờ, có tỳ-kheo đến nước Ba-la-nại khất thực không
được, bèn đến nơi người đánh cá[42] để xin. Bấy giờ
có quỷ thần vì tin kính sa-môn nên khiến các loài rồng chết.
Tỳ-kheo nhờ đó nhận được thịt rồng[43] để ăn.
Bấy
giờ, Thiện Hiện Long vương[44] từ nơi ao của mình ra, đến
chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân Ngài, rồi đứng qua
một bên thưa:
«Kính
bạch đức Thế Tôn, có loài rồng có thể làm khô ráo một
quốc độ hay ít hơn một quốc độ, mà nay các tỳ-kheo lại
ăn thịt loài rồng này. Lành thay! Đức Thế Tôn, đừng cho
tỳ-kheo ăn thịt loài rồng.»[45]
Đức
Thế Tôn nghe Thiện Hiện Long vương nói, im lặng nhận lời.
Khi Thiện Hiện Long vương biết đức Phật hứa khả rồi,
đầu mặt kính lễ Phật, rồi về lại bản xứ.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp các Tăng
tỳ-kheo, bảo: «Hiện có loài rồng có đại thần lực, có
oai đức, có thể làm khô ráo một quốc độ, hay ít hơn một
quốc độ, mà các tỳ-kheo ăn thịt loài rồng này. Từ nay
về sau không được ăn thịt loài rồng.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo ở nước Ba-la-nại khất thực không được,
bèn đến nhà Chiên-đà-la, nơi đó nhận được thịt chó
và ăn. Các tỳ-kheo đi khất thực, chó ghét chạy theo sủa.
Các tỳ-kheo nghĩ: «Trong số chúng ta, chắc có người ăn thịt
chó nên khiến chúng nó ghét, chạy theo chúng ta sủa.» Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau không được ăn thịt chó, nếu ăn phạm đột-kiết-la.»
Thế
Tôn ở tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có tỳ-kheo uống thuốc
tiêu xổ. Có vị ưu-bà-di tên là Tô-tỳ,[46] đến Tăng-già-lam,
thăm viếng các phòng. Đến chỗ tỳ-kheo, hỏi rằng:
«Thầy
bệnh thế nào?»
Tỳ-kheo
nói:
«Tôi
uống thuốc tiêu xổ.»
Tô-tỳ
lại hỏi:
«Thầy
cần gì?»
Tỳ-kheo
bệnh nói:
«Cần
thịt.»
Tô-tỳ
thưa:
«Con
sẽ đem thịt đến.»
Tô-tỳ
liền trở về Ba-la-nại, sai người cầm tiền đi mua thịt.
Tô-tỳ nói với người chạy việc rằng:
«Anh
cầm tiền này đi mua thịt đem về đây.»
Hôm
đó tại Ba-la-nại người ta không mổ thịt. Người đàn ông
đi khắp nơi tìm mua mà không có, trở về đến chỗ ưu-bà-di
thưa:
«Thưa
đại gia, đại gia biết cho, hôm nay người ta không mổ thịt,
con tìm mua khắp nơi mà không có thịt.»
Ưu-bà-di
nghĩ như vầy: «Ta hứa cúng thịt cho tỳ-kheo bị tiêu xổ.
Sợ rằng tỳ-kheo này không nhận được thịt, hoặc có thể
qua đời. Nếu vì sanh tử này mà tỳ-kheo phải qua đời thì
đối với pháp người xuất gia bị thối chuyển. Nếu là
bậc hữu học thì không được thăng tiến. Nếu là A-la-hán
thì khiến cho thế gian bị mất phước điền.» Nghĩ như vậy
xong, ưu-bà-di liền vào phòng sau, lấy dao bén tự cắt thịt
trong người, gói lại. Bảo đứa ở nấu, rồi đem đến Tăng-già-lam
cho tỳ-kheo bị bệnh tiêu xổ. Đứa ở làm theo lời dạy,
đem đến dâng cho tỳ-kheo. Tỳ-kheo ăn xong bệnh liền lành.
Vị ưu-bà-di kia sau khi tự cắt thịt mình rồi, cả người
bị đau nhức vô cùng, hết sức khổ não. Trước đó phu chủ
của ưu-bà-di đi khỏi, khi về không thấy Tô-tỳ nên hỏi:
«Tô-tỳ
ưu-bà-di ở đâu?»
Gia
nhân thưa:
«
Bà bệnh nằm trong nhà.»
Phu
chủ hỏi:
«Bệnh
gì?»
Tô-tỳ
trình bày rõ nhân duyên. Phu chủ nói:
«Chưa
từng có người nào có lòng tin kính sa-môn như Tô-tỳ, đến
mức không thương tiếc kể cả thân mạng như vậy.»
Tô-tỳ
ưu-bà-di nghĩ: «Nay ta đang bị đau nhức vô cùng, có thể
do đây mạng sống sẽ chấm dứt. Nay ta nên sắm sửa các
thứ đồ ăn thức uống để thỉnh Phật và Tăng đến thọ
thực, ngõ hầu có cơ hội ta được chiêm ngưỡng lần cuối.»
Tô-tỳ liền sai người đến Tăng-già-lam, thưa:
«Kính
thỉnh Đại đức Tăng sáng mai đến thọ thực.»
Đức
Thế Tôn nhận lời bằng cách im lặng.
Liền
trong [869a1] đêm hôm đó, các thứ đồ ăn thức uống ngon
bổ được chuẩn bị đầy đủ, sáng sớm sứ giả đến
thưa đã đến giờ. Bấy giờ, đức Thế Tôn khoác y, bưng
bát, cùng các Tăng tỳ-kheo đến nhà của Tô-tỳ ưu-bà-di,
an tọa nơi chỗ ngồi. Đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi:
«Ưu-bà-di
Tô-tỳ đâu không thấy?»
Gia
chủ thưa:
«Vì
bệnh nên ở trong nhà.»
Đức
Phật bảo:
«Gọi
ưu-bà-di Tô-tỳ ra đây.»
Gia
chủ liền vào trong nhà nói:
«Đức
Phật bảo gọi cô ra.»
Tô-tỳ
ưu-bà-di nghĩ như vầy: «Ta đã được đức Thế Tôn gọi.»
Bà liền đứng dậy bước ra, đột nhiên sự đau nhức bổng
chấm dứt, vết thương lành lại như cũ, không hề có tỳ
vết chi cả. Khi ưu-bà-di Tô-tỳ đến chỗ đức Phật, đảnh
lễ sát chân Ngài, rồi đứng lui qua một bên. Đức Phật
dạy:
«Không
được làm như vậy! Không được làm như vậy! Tô-tỳ ưu-bà-di
nên cho như vầy, nên học như vầy. Không được tự gây khổ
cho mình. Cũng không được gây lo rầu cho người.»
Bấy
giờ, Tô-tỳ ưu-bà-di tự tay châm sớt các thứ đồ ăn thức
uống ngon bổ. Đức Phật và Tăng ăn xong, cất bát. Tô-tỳ
lấy chiếc ghế nhỏ ngồi một bên. Bấy giờ đức Phật
vì ưu-bà-di phương tiện nói các thứ pháp, khiến bà được
hoan hỷ. Đức Thế Tôn vì bà nói các pháp xong liền từ chỗ
ngồi ra về. Đến trong Tăng-già-lam, qua chỗ tỳ-kheo bị tiêu
xổ, hỏi rằng:
«Ông
được Tô-tỳ ưu-bà-di đem thịt đến cho ông ăn phải không?»
Vị
ấy thưa:
«Bạch
Thế Tôn, có.»
Đức
Phật hỏi:
«Ông
có ăn không?»
Vị
ấy thưa:
«Có
ăn.»
Đức
Phật lại hỏi:
«Ngon
không?»
Vị
kia thưa:
«Ngon,
thịt thơm ngon như vậy khó mà có được.»
Đức
Phật dạy:
«Ông
là người ngu si, ăn thịt người. Từ nay về sau không được
ăn thịt người. Nếu ăn, phạm tội thâu-lan-giá. Các thứ
thịt đáng tởm khác cũng không được ăn. Nếu ăn thì phạm
đột-kiết-la.»
Thế
Tôn ở nước Ba-la-nại. Có cư sĩ, cha của Da-thâu-già[47]
đến chỗ đức Phật, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi lui qua
một bên. Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện
vì ông mà nói pháp khai hóa khiến ông được hoan hỷ. Cha
của Da-thâu-già nghe Phật nói pháp khai hóa tâm sanh đại hoan
hỷ rồi, từ chỗ ngồi đứng dậy bạch Phật rằng:
«Cúi
xin Ngài nhận lời thỉnh mời của con.»
Bấy
giờ Da-thâu-già đang đứng hầu sau đức Phật, đức Thế
Tôn im lặng nhận lời mời thỉnh, còn Da-thâu-già không nhận
lời mời, vì đức Phật chưa cho phép ông nhận biệt thỉnh.
Đức Phật dạy:
«Có
hai cách thỉnh cho phép được nhận. Hoặc là thỉnh Tăng,
hoặc là thỉnh riêng.»
Bấy
giờ, có một cư sĩ khác có ý nghĩ: «Làm phước đức gì
để Tăng thường được cúng dường, và sự bố thí của
ta không dứt tuyệt?»
Cư
sĩ liền bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép thường làm thức ăn cho Tăng.»
Ông
thưa như vầy:
«Con
không thể thường làm thức ăn cho chúng Tăng được.»
«Làm
phước đức gì để Tăng thường được cúng dường, và
sự bố thí của ta không dứt tuyệt?»
Cư
sĩ liền bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép tỳ-kheo thường đến nhà ông thọ thức ăn.»
Vị
kia liền thưa:
«Con
không thể thường làm thức ăn cho đạo nhơn ăn được.»
«Làm
phước đức gì để Tăng thường được cúng dường, và
sự bố thí của ta không dứt tuyệt?»
Cư
sĩ liền bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng sai đến thọ thực, hoặc đưa thức ăn[48] đến
trong Tăng; hoặc thức ăn ngày mồng tám, ngày bố-tát, thức
ăn ngày mồng một[49] trong tháng.
Bấy
giờ, có cư sĩ nghĩ: «Cần làm phước gì để cúng dường
thuốc chữa bệnh cho chúng Tăng?» Vị ấy bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Cho
phép cúng tiền thuốc cho chúng Tăng.»
Bấy
giờ, có cư sĩ vừa làm xong phòng xá mới mà không có đạo
nhơn ở, nghĩ rằng: «Cúng dường chúng Tăng thứ gì để
các tỳ-kheo đến ở nơi phòng này?» Vị ấy bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Cho
phép nấu cháo để trong phòng.»
Nếu
các vị không ở thì lại cho phép làm các thứ bánh và trái
trong phòng. Nếu các vị không ở thì nên làm thức ăn cho.
Nếu không ở thì cho phép cho tiền phòng.[50] Nếu các vị
vẫn cố không chịu ở thì cho phép cho giường dây, giường
cây, nệm ngồi, gối, đồ trải dưới đất. Nếu vẫn cố
không ở thì nên cho áo lót, giạ, mền. Nếu vẫn cố không
ở thì cho bình bát cùng ba y. Nếu vẫn cố không ở, thì nên
làm cánh cửa, móc cửa, cho cây gậy, cho giày dép, cúng dù,
cho quạt, cho bình nước, cho bình nước rửa, cho đồ đựng
nước, cho các thứ dùng trong nhà tắm như bình đựng nước
tắm, giường, cho vật cạo ghét, cho hương xông, cho hương
hoàn, cho y phòng. Nếu vẫn cố không chịu ở, thì nên cúng
tất cả vật cần dùng của sa-môn.
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn đang nằm trên võng. Các tỳ-kheo
đi khất thực, thấy một người nặn sữa bò cho bò bê uống.
Rồi lại nặn. Từ miệng con bò nghé, tiết ra một thứ nước
bọt giống như sữa. Sau đó các vị nghi không dám uống sữa,
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép uống sữa.» Ngài nói, phương pháp nặn sữa là như vậy.
Thế
Tôn ở tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, vào mùa thu, các tỳ-kheo
mắc bệnh nên nhan sắc tiều tụy, hình dung khô gầy, sanh
ghẻ lở.[51] Khi ấy, đức Thế Tôn ở nơi tịnh thất khởi
ý nghĩ như vầy: «Tháng mùa thu, các tỳ-kheo mắc bệnh, nhan
sắc tiều tụy, thân hình khô gầy sanh ghẻ. Nay ta nên cho
phép các tỳ-kheo ăn thứ gì để trị các chứng bệnh ấy?»
Ngài liền nghĩ: «Có năm thứ thuốc người đời thường
dùng[52] là váng sữa, dầu, mật, bơ lỏng, đường mía.[53]
Ta nên cho các tỳ-kheo dùng để làm thuốc chữa bệnh gầy
ốm, như phương pháp dùng lương khô[54] vậy.» Nghĩ như vậy
rồi, xế hôm ấy, từ nơi chỗ vắng đứng dậy, đem việc
này tập hợp các Tăng tỳ-kheo, Ngài dạy:
«Vừa
rồi ở chỗ vắng Như Lai tư duy sự việc như vậy, như vậy.
Từ nay về sau cho phép các tỳ-kheo có nhơn duyên bệnh được
dùng năm thứ thuốc: váng sữa, dầu, mật, bơ lỏng, đường
mía.»
Các
tỳ-kheo nhận được các thứ thuốc ăn béo bổ; trong thời
gian giữa ngày, không thể ăn kịp, huống chi nay lại thêm
năm thứ thuốc này cũng trong thời gian giữa ngày. Lúc ấy,
thuốc tuy nhiều mà người bệnh không kịp giờ để uống,
nên các tỳ-kheo bệnh hoạn càng tăng, hình thể vẫn khô gầy,
nhan sắc vẫn tiều tụy. Bấy giờ, đức Thế Tôn biết mà
vẫn cứ hỏi Tôn giả A-nan:
«Sao
các tỳ-kheo hình thể nhan sắc vẫn như vậy?»
Tôn
giả A-nan đem nhơn duyên trên bạch lên đức Phật một cách
đầy đủ. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, nếu tỳ-kheo nào có bệnh, thời hay phi thời, đều
được phép dùng năm thứ thuốc ấy.»
Bấy
giờ các tỳ-kheo bệnh nhận được thức ăn béo bổ, không
thể ăn hết, cho người nuôi bệnh. Người nuôi bệnh nhận
lời thỉnh rồi, nên không ăn mà đem bỏ. Các chim quạ tranh
nhau ăn kêu la inh ỏi. Đức Phật biết mà vẫn cố ý hỏi
A-nan:
«Tại
sao các loài chim quạ kêu la như thế?»
Tôn
giả A-nan đem nhơn duyên trên bạch đầy đủ lên đức Phật.
Đức Phật dạy:
«Cho
phép người nuôi tỳ-kheo bệnh, dù nhận lời thỉnh hay không
nhận lời thỉnh, được phép ăn thức ăn của người bệnh
ăn chưa hết; không phạm.»
Lúc
bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất bị bệnh thống phong, thầy
thuốc bảo ăn năm thứ mỡ: Mỡ gấu, mỡ cá, mỡ lừa, mỡ
heo, mỡ cá sấu.[55] Tôn giả bạch Phật, Phật cho phép dùng.
Nhận đúng thời, lọc đúng thời, nấu đúng thời như phương
pháp dùng dầu. Nhận phi thời, lọc phi thời, nấu phi thời;
không được dùng. Nếu dùng thì như pháp trị.
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn cùng một ngàn hai trăm năm mươi
tỳ-kheo du hành trong nhân gian tại nước Xá-vệ. Bấy giờ,
gặp lúc mất mùa, lúa gạo khan hiếm, nhân dân đói khổ,
khất thực khó được. Có năm trăm người ăn xin thường
đi theo sau đức Phật. Bấy giờ, đức Thế Tôn đi chưa xa
lắm, đến dưới một bóng cây bên đường, trải ni-sư-đàn
ngồi. Lúc ấy có một cư sĩ tên là Tư-ha-tỳ-la,[56] là người
huấn luyện voi, chở đường cát đen[57] trên năm trăm cỗ
xe, đi ngang qua đường. Trên đường đi, thấy tướng bánh
xe nghìn căm[58] nơi dấu chân đức Phật có ánh sáng rõ ràng,
liền theo dấu chân tìm đến. Từ xa thấy đức Thế Tôn ngồi
dưới gốc cây, tướng mạo đoan chánh, các căn tịch tịnh,
điều phục tối thượng, cũng như long tượng vương, tối
thắng không ai sánh kịp, thí như đáy nước lóng trong không
có bợn nhơ. Thấy đức Thế Tôn như vậy, người huấn luyện
voi sanh lòng kính tín, đến trước Ngài, đảnh lễ sát chân,
rồi lui ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn vì cư sĩ Tư-ha mà
phương tiện nói các pháp, khai hóa, [870a1] khiến được hoan
hỷ. Bấy giờ, Tư-ha cư sĩ nghe đức Phật nói pháp sanh đại
hoan hỷ, liền cúng dường các tỳ-kheo mỗi vị một tô đường
cát đen. Các tỳ-kheo không nhận vì đức Phật chưa cho phép
nhận đường cát đen. Các tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật
cho phép nhận đường cát đen. Đức Phật bảo Tư-ha cúng
cho mỗi tỳ-kheo một tô đường cát đen. Tư-ha vâng lời Phật
dạy. Cúng cho mỗi vị một tô đường cát đen. Cúng xong,
còn dư đường cát đen. Phật bảo tuỳ ý cúng lại lần thứ
hai, lần thứ ba. Cúng ba lần xong vẫn còn dư. Phật bảo cho
người ăn xin. Cho rồi vẫn còn dư, Phật bảo cho lại lần
thứ hai, lần thứ ba, để người ăn xin được no đủ. Cho
người hành khất đầy đủ rồi vẫn dư. Đức Phật bảo
Tư-ha, nên đem đường cát đen còn dư để chỗ tịnh địa,
hoặc trong nước không trùng. Tại sao vậy? Vì chưa từng thấy
chư thiên hay loài người, các ma, phạm vương, hay sa-môn, bà-la-môn
nào ăn loại đường cát đen nầy mà có thể tiêu hóa được,
ngoại trừ Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác.
Bấy
giờ, Tư-ha vâng lời đem đường cát đen còn dư đổ chỗ
nước không trùng. Nước liền tuôn khói và phát lên âm thanh,
như cây sắt nóng đỏ bỏ vào trong nước, âm thanh chấn động.
Đường cát đen dư nầy bỏ vào trong nước, nước sôi, cũng
phát ra âm thanh như vậy. Tư-ha thấy vậy hoảng sợ, lông
trong người dựng ngược, đến chỗ đức Phật, đảnh lễ
sát chân Ngài, rồi lui qua ngồi một bên, đem nhơn duyên này
bạch lên đức Phật. Đức Thế Tôn biết Tư-ha ôm lòng hoảng
sợ, lông trong người dựng ngược, nên phương tiện nói các
pháp, khai hóa, khiến được hoan hỷ. Liền từ chỗ ngồi,
Tư-ha lìa trần cấu, đặng con mắt pháp trong sạch, thấy
pháp đắc pháp, đặng tăng thượng quả, liền bạch đức
Thế Tôn:
«Kính
bạch Đại đức, con xin quy y Phật, Pháp, Tăng làm người
ưu-bà-tắc. Từ nay về sau con không sát sanh cho đến không
uống rượu.» Tư-ha nghe đức Phật nói pháp sanh đại hoan
hỷ, đảnh lễ đức Phật rồi cáo lui.
Bấy
giờ, tỳ-kheo khất thực thấy bạch y khi làm đường cát
đen, có bỏ kế-ny.[59] Các tỳ-kheo sanh nghi không dám ăn quá
ngọ, nên bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Phương
pháp làm như vậy. Cho phép ăn.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo khất thực nhận được đường cát dẻo,[60]
nên bạch Phật. Đức Phật cho phép ăn. Nhận được nước
đường,[61] Phật cho phép uống. Nhận được thứ mật đường
đặc,[62] Phật cho phép ăn. Nhận được đường cát trắng,[63]
Phật cho phép dùng; nhận được ô-bà-đà-phả-ni,[64] đức
Phật cho phép dùng. Nhận được nước hòa với nước mía,
đức Phật cho phép uống. Nhận được nước mía, đức Phật
cho phép uống. Nếu là các loại nước uống không làm người
say, cho phép uống vào lúc phi thời. Nếu là loại nước uống
làm người say, không được uống. Nếu uống thì sẽ như
pháp trị. Nhận được mía, đức Phật cho phép ăn.
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn du hành trong nhân gian từ nước Ma-kiệt-đề
đến thành Vương-xá. Tất-lăng-già-bà-ta[65] được nhiều
người biết, có nhiều đồ chúng, nhận được nhiều tô,
du, mật, sanh tô, thạch mật đem cho đồ chúng. Đồ chúng
tập trung tích trử, các đồ chứa đựng đều đầy hết.
Bồn lớn, bồn nhỏ, chõ lớn, đãy đựng lạc, đãy lọc,
treo trên vách, trên móc long nha, trên trụ, hoặc dưới gian
nhà, chảy xuống ướt, làm cho phòng nhà hôi thúi.
Bấy
giờ, nhiều cư sĩ đến thăm Tăng-già-lam, thấy các phòng
xá của đồ chúng Tất-lăng-già-bà-ta dồn chứa nhiều đồ
ăn thức uống, các loại thuốc, cùng ngủ chung với chúng
ở trong phòng, hôi thúi bất tịnh, tất cả đều cơ hiềm
nói: «Sa-môn Thích tử mà còn nhiều ham muốn, không biết
nhàm chán, tự xưng là mình biết chánh pháp. Như vậy có gì
là chánh Pháp? Cứ xem họ dồn chứa các thứ đồ ăn thức
uống, các loại thuốc nhiều như vậy đâu khác gì kho chứa
của vua Bình-sa?»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống khổ
hạnh, biết hổ thẹn, ưa học giới, hiềm trách Tất-lăng-già-bà-ta
rằng, «Sao dồn chứa nhiều đồ ăn thức uống, nhiều thứ
thuốc ở trong phòng và cùng ngủ chung với chúng, hôi thúi
bất tịnh như vậy?» Bấy giờ, các tỳ-kheo bạch Phật. Phật
dùng nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo, ha trách đồ chúng
của Tất-lăng-già-bà-ta rằng:
«Các
ông làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Tại sao dồn chứa nhiều đồ ăn
thức uống, nhiều loại thuốc ở trong phòng và cùng ngủ
với chúng, hôi thúi bất tịnh như vậy?»
Dùng
vô số phương tiện ha trách rồi, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Từ
nay về sau, nếu có tỳ-kheo bệnh nào cần tô, du, mật, sanh
tô, hắc thạch mật, được phép dùng đến bảy ngày. Nếu
quá hạn còn dùng thì sẽ như pháp trị.»[66]
Bấy
giờ, đức Thế Tôn từ thành Vương-xá du hành trong nhân gian
(điều này như trên, không khác với giới lần lượt ăn,
nên không chép ra).
Lúc
bấy giờ, có tỳ-kheo bị bệnh hoạn phong, cần thuốc. Thầy
thuốc bảo ngâm nước lúa mạch,[67] đức Phật cho phép uống.
Trường hợp cần dầu ngâm với nước lúa mạch; cần phả-ny[68]
ngâm với nước lúa mạch, đức Phật cho phép dùng. Có trường
hợp thuốc đúng thời hòa[69] với thuốc đúng thời; thuốc
phi thời[70] hòa với thuốc đúng thời; thuốc bảy ngày[71]
hòa với thuốc đúng thời; thuốc trọn đời[72] hòa với
thời dược thì nên thọ như thuốc đúng thời. Hoặc thuốc
phi thời hòa với thuốc phi thời; thuốc bảy ngày hòa với
thuốc phi thời; thuốc trọn đời hòa với thuốc phi thời,
thì nên thọ như thuốc phi thời.
Hoặc
thuốc bảy ngày hòa với thuốc bảy ngày; thuốc trọn đời
hòa với thuốc bảy ngày, thì nên thọ như thuốc bảy ngày.
Hay
thuốc trọn đời hòa với thuốc trọn đời, thì thọ như
thuốc trọn đời.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo bị mụt nhọt, cần thuốc để thoa; dùng
cái soong để sao thuốc. Bạch Phật. Phật cho phép dùng. Bấy
giờ, có tỳ-kheo bị giộp,[73] thầy thuốc bảo dùng mỡ người
để trị. Đức Phật cho phép dùng. Lúc ấy có tỳ-kheo bị
ói mửa, cần tóc mềm mịn. Đức Phật dạy cho phép đốt
lấy tro hòa với nước, lọc rồi uống.
Bấy
giờ có tỳ-kheo tự mình đến bãi tha ma, lấy tóc người,
lấy mỡ người đem về, các cư sĩ thấy đều ghét tởm,
cho là xấu, là bần tiện. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Cho
phép lấy lúc vắng người.»
Lúc
bấy giờ, có tỳ-kheo thân bị bệnh nhiệt, thầy thuốc bảo
dùng chiên-đàn sẽ lành bệnh. Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật
cho phép dùng. Nếu là trầm thủy hay chiên-đàn tất-lăng-kỳ-già-la-nậu-bà-la,[74]
Phật cho phép dùng để thoa thân.
Bấy
giờ, các phòng tỳ-kheo bị rắn vào. Tỳ-kheo chưa ly dục
sợ hãi. Phật cho phép đuổi nó, hoặc dùng ống đồng đựng
nó, hoặc lấy dây cột nó rồi mang đi vất. Vị kia không
mở dây khi đặt xuống đất để thả, nên rắn bị chết.
Đức Phật dạy:
«Không
nên không mở dây khi thả.»
Bấy
giờ, phòng các tỳ-kheo bị chuột vào. Tỳ-kheo chưa ly dục
đều sợ hãi. Đức Phật dạy:
«Nên
đuổi nó chạy ra ngoài. Hoặc dùng bẩy để bắt rồi đem
thả đi.»
Vị
kia để trong bẩy đem bỏ luôn cả bẩy. Chuột ở trong bẩy
chết. Đức Phật dạy:
«Khi
thả, không được không mở bẩy ra.»
Lúc
bấy giờ, phòng các tỳ-kheo bị bò cạp, rít, sâu vào. Các
tỳ-kheo chưa ly dục sợ hãi. Đức Phật dạy: Dùng vật gì
xấu hay cục bùn, hay lấy đồ quét, túm nó đem bỏ đi. Khi
bỏ, không mở ra nên bị chết, Phật dạy:
«Khi
bỏ, không được không mở ra.»
Lúc
bấy giờ, đức Phật ở tại thành Vương-xá. Các tỳ-kheo
phá nhà tắm. Có con rắn trong bọng cây chạy ra, cắn thầy
tỳ-kheo chết. Bấy giờ, đức Thế Tôn từ niệm bảo các
tỳ-kheo:
Vị
Tỳ-kheo kia không sanh từ tâm đối với vua của rắn là tám
vị Long vương nên bị rắn cắn chết. Tám Long vương[75] là
Tỳ-lâu-lặc-xoa Long vương, Già-ninh, Cù-đàm-minh, Thí-bà-di-đa-la,
Đa-xà-y-la-bà-ny, Già-tỳ-la-thấp-ba-la, Đề-đầu-loại-thác
Long vương. Nếu tỳ-kheo từ tâm đối với tám rắn Long vương
thì không bị rắn cắn chết. Nếu Tỳ-kheo này [871a1], có
từ tâm đối với tất cả chúng sanh thì cũng không bị rắn
kia cắn chết.
Đức
Phật cho phép làm bài chú tự bảo hộ niệm từ:
«Tỳ-lâu-lặc-xoa-từ,
Già-ninh từ, Cù-đàm-minh từ, Thí-bà-di-đa-la từ, Đa-xà-y-la-bà-ny
từ, Già-tỳ-la-thập-ba-la từ, Đề-đầu-lại-thác từ. Từ
niệm chư Long vương, kiền-thát-bà, la-sát-sa. Nay tôi tác từ
tâm trừ diệt các độc ác, từ đây được bình phục, đoạn
độc, diệt độc, trừ độc. Nam mô Bà-già-bà.»[76]
Đức
Phật cho phép dùng dao mổ ra máu rồi dùng thuốc thoa, cũng
cho phép chứa con dao nhọn.
Lúc
bấy giờ, có tỳ-kheo bị bệnh độc,[77] thầy thuốc bảo
uống hủ lạn dược.[78] Nếu hủ lạn dược nầy đã rơi
xuống đất[79] thì nên lấy đồ đựng đầy nước hòa với
thuốc, lọc rồi thọ, sau đó mới uống. Nếu thuốc chưa
rơi xuống đất, thì lấy đồ đựng đầy nước hòa với
thuốc, lọc rồi uống chứ khỏi phải thọ.
Bấy
giờ, cũng có Tỳ-kheo bị bệnh độc, thầy thuốc bảo uống
bùn ở trong ruộng. Đức Phật cho phép dùng đồ đựng đầy
nước hòa với bùn và lọc, sau đó thọ rồi mới uống.
Thế
Tôn ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ Kỳ-bà Đồng tử dùng
dao chữa chỗ đại tiểu tiện, và dưới hai nách của tỳ-kheo
bệnh. Lúc ấy đức Thế Tôn vì từ niệm, bảo các tỳ-kheo:
«Kỳ-bà
Đồng tử này dùng dao chữa chỗ đại tiểu tiện, và dưới
hai nách cho tỳ-kheo bệnh. Người bịnh không được dùng dao
chữa như vậy. Tại sao? Vì dao bén, nên nơi bị mổ ăn sâu
vào trong thịt. Từ nay về sau, cho phép dùng dây gân hay dây
bằng lông cột thắt lại hoặc lấy móng tay ngắt cho đứt
da, sau đó mới sức thuốc. Đức Phật dạy tiếp:
«Cho
phép làm thuốc bằng tro. Nếu tay cầm không bảo đảm, Phật
cho phép làm đồ đựng thuốc tro. Nếu đồ đựng dễ vỡ,
cho phép làm bằng xương.»
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn bị chứng thống phong, thầy thuốc
bảo hòa ba loại thuốc để uống, nên kêu A-nan lấy ba thứ
thuốc để hòa, mang ra. Bấy giờ, A-nan vâng lời Phật, tự
hòa ba thứ thuốc lại nấu với nhau, rồi đem dâng cho Phật.
Lúc ấy đức Thế Tôn biết mà cố ý hỏi A-nan:
«Ai
nấu thuốc này?»
A-nan
thưa:
«Con
tự nấu.»
Đức
Phật bảo A-nan:
«Không
được tự nấu. Nếu tự nấu, sẽ như pháp trị.»
3.
Tịnh trù
Thế
Tôn ở tại thành Vương-xá cùng một ngàn hai trăm năm mươi
Tăng tỳ-kheo du hành trong nhân gian. Bấy giờ, gặp lúc mất
mùa lúa gạo khan hiếm, nhân dân đói khổ, khất thực khó
được. Có sáu trăm chiếc xe chở đầy đồ ăn thức uống
đi theo đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn khi ấy, từ nước Bà-xà
du hành trong nhân gian đến Tỳ-xá-ly. Lúc ấy các tịnh nhơn
sửa soạn đầy đủ các thức ăn thanh tịnh. Họ lớn tiếng
cao giọng, hoặc kêu người bảo dùng nắp đậy đồ chứa
vật này, đồ chứa vật kia. Đức Thế Tôn biết mà vẫn
cố ý hỏi tôn giả A-nan:
«Tại
sao các tỳ-kheo kêu la lớn tiếng như bọn người chài cá
vậy?»
Tôn
giả A-nan bạch Phật:
«Các
tịnh nhơn sửa soạn các thức ăn thanh tịnh nên lớn tiếng
cao giọng, hoặc bảo đậy nắp đồ chứa vật này, đồ chứa
vật kia, cho nên lớn tiếng như vậy.»
Đức
Phật bảo tôn giả A-nan:
«Không
được trong cương giới, cùng ngủ với thức ăn, cùng nấu
đồ ăn để ăn. Nếu ăn thì sẽ như pháp trị.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo đem đồ ăn thức uống để nơi đất trống,
tích trử không bảo đảm, khiến trẻ chăn bò chăn dê, hoặc
kẻ trộm cướp lấy đi. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Nên
kết nhà tịnh trù nơi chỗ đất vắng, hay ở bên phòng.»
4.
Tịnh nhục
Thế
Tôn ở tại Tỳ-xá-ly. Bấy giờ có tướng quân Tư-ha[80] là
đệ tử của Ni-kiền. Tại công đường,[81] có năm trăm Lê-xa
ngồi ăn, họ dùng vô số phương tiện khen ngợi Phật, Pháp,
Tăng. Bấy giờ, tướng quân Tư-ha tại chỗ ngồi nghe vô số
phương tiện khen ngợi Phật, Pháp, Tăng nên sanh lòng tin ưa,
muốn đến yết kiến đức Phật. Ông ta nghĩ như vầy: «Nay
ta hãy đến thưa với thầy Ni-kiền để đến chỗ Cù Đàm.»
Bấy giờ, Tư-ha liền đến thưa với Ni-kiền rằng:
«Tôi
muốn đến chỗ sa-môn Cù-đàm.»
Ni-kiền
nói rằng:
«Ông
chủ trương nên làm.[82] Cù-đàm giáo hóa đệ tử bằng thuyết
không nên làm. Thôi, đừng nên đến đó.»
Bấy
giờ, tướng quân Tư-ha rút lại ý định đi gặp Phật trước
đó. Các Lê-xa lần thứ nhì, lần thứ ba cũng khen ngợi Phật,
Pháp, Tăng như vậy. Tướng quân Tư-ha khi nghe lần thứ hai,
lần thứ ba sự khen ngợi như vậy, khởi ý nghĩ như vầy:
«Nay ta hãy đi gặp Cù-đàm, khỏi phải từ giã thầy Ni-kiền.
Xem Thầy sẽ làm gì được ta?» Bấy giờ, Tư-ha liền đến
chỗ Phật, đảnh lễ sát chân rồi ngồi lui qua một bên.
Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện nói pháp, khai hóa,
khiến được hoan hỷ. Tư-ha nghe Phật phương tiện nói pháp
tâm sanh đại hoan hỷ bạch Phật rằng:
«Tôi
nghe nói Cù-đàm giáo hóa các đệ tử bằng thuyết không nên
làm. Các sa-môn đồn như vậy, có đúng sự thật, có đúng
như pháp chăng?»
Đức
Phật nói với Tư-ha rằng:
«Có
nhân duyên phương tiện để nói rằng, Ta giáo hóa các đệ
tử bằng thuyết không nên làm; lời nói ấy đúng sự thật,
đúng như pháp. Có nhân duyên phương tiện để nói rằng,
Ta giáo hóa các đệ tử bằng thuyết hãy nên làm; lời nói
ấy đúng sự thật, đúng như pháp. Có nhân duyên phương tiện
để nói rằng, Ta giáo hóa các đệ tử bằng pháp đoạn diệt;[83]
lời nói ấy đúng sự thật, đúng như pháp. Có nhân duyên
phương tiện để nói rằng, Ta giáo hóa đệ tử bằng pháp
uế ác;[84] lời nói ấy đúng sự thật, đúng như pháp. Có
nhân duyên phương tiện để nói rằng, Ta giáo hóa đệ tử
bằng pháp điều phục;[85] lời nói ấy đúng sự thật, đúng
như pháp. Có nhân duyên phương tiện để nói rằng, Ta giáo
hóa đệ tử, đó là thuật ngữ bằng pháp diệt ám;[86] lời
nói ấy đúng sự thật, đúng như pháp. Có nhân duyên phương
tiện để nói rằng, Ta giáo hóa đệ tử rằng ‹Sự sanh
của ta đã dứt; không còn tái sinh nữa›[87]; lời nói ấy
đúng sự thật, đúng như pháp. Có nhân duyên phương tiện
để nói rằng, Ta giáo hóa đệ tử rằng, Ta đã đến chỗ
vô uý, thuyết vô uý pháp;[88] lời nói ấy đúng sự thật,
đúng như pháp.»
Đức
Phật nói với Tư-ha:
«Vì
sao Ta nói ‹Không nên làm› cho đến ‹chỗ vô úy› để
giáo hóa đệ tử, rằng lời nói ấy đúng sự thật, đúng
như pháp?»
«Ta
nói ‹không nên làm›, là không nên làm ba pháp ác bất thiện:
thân làm ác, miệng nói ác, tâm nghĩ ác.
«Ta
nói ‹nên làm›, là nên làm ba pháp thiện.
«Ta
nói ‹pháp đoạn diệt›, là đoạn diệt tham dục, sân nhuế,
ngu si.
«Ta
nói ‹pháp uế ác› là kinh tởm pháp bất thiện do bởi nghiệp
thân, khẩu, ý.
«Ta
nói ‹pháp điều phục› là điều phục tham dục, sân nhuế,
ngu si.
«Ta
nói ‹diệt ám› là diệt các pháp tối tăm ác, bất thiện.
«Ta
nói ‹sự sanh của ta đã dứt› là nói sự thọ sanh của
Ta đã dứt tuyệt, không còn bào thai, và lại giáo hóa cho
con người cắt đứt sanh tử.
«Ta
nói ‹đến chỗ vô úy› là tự mình không có sự sợ sệt,
lại an ủi chúng sanh.
«Nầy
Tư-ha! Đó là, có nhân duyên để nói rằng, Ta giáo hóa các
đệ tử bằng thuyết ‹không nên làm›; ‹đến chỗ vô
úy›, lời nói ấy đúng sự thật, đúng như pháp.»
Tư-ha
bạch Phật:
«Con
xin quy y Phật, Pháp, Tăng. Từ nay về sau, con không sát sanh
cho đến không uống rượu.»
Đức
Phật bảo Tư-ha:
«Ông
hãy tự xét kỹ trước khi thọ giới. Ông là vị đại thần
trong nước, mọi người đều biết, nên làm việc làm lợi
ích cho mọi người. Đừng nên cử động khinh suất, rồi
sau có sự ăn năn.»
Tư-ha
thưa:
«Khi
mà con đến làm đệ tử của ngoại đạo sa-môn, bà-la-môn,
họ liền cầm phan, xướng lệnh khiến cho người trong nước
biết: ‹Tư-ha là đệ tử của Ni-kiền.› Nay con nghe đức
Thế Tôn ân cần dạy bảo rằng: ‹Ông hãy tự xét kỹ trước
khi thọ giới. Ông là vị đại thần trong nước, mọi người
đều biết, nên làm, việc làm lợi ích cho mọi người. Đừng
nên cử động khinh suất, rồi sau có sự ăn năn.› Điều
này làm cho con càng tin tưởng sâu xa hơn.»
Tư-ha
lại bạch Phật:
«Bạch
Đại đức! Lần thứ hai, con xin trọn đời quy y Phật, Pháp,
Tăng. Không sát sanh, cho đến không uống rượu. Từ nay về
sau, cửa ngõ nhà con Ni-kiền ngoại đạo không được [872a1]
vào. Phật và các đệ tử tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di, ra vào cửa ngỏ nhà con không có sự trở ngại.»
Đức
Phật nói với Tư-ha rằng:
«Trước
đây, ông như là nguồn suối ngày đêm cung cấp cho ngoại
đạo Ni-kiền, nay làm sao đoạn tuyệt được?»
Tư-ha
lại hỏi đức Phật:
«Con
được nghe người ngoài nói rằng: Sa-môn Cù-đàm tự nói,
‹Bố thí, nên bố thí cho Ta, không nên bố thí cho người
khác. Bố thí cho ta sẽ được quả báo lớn. Bố thí cho người
khác sẽ không được quả báo. Nên bố thí cho đệ tử của
Ta. Không nên bố thí cho đệ tử người khác. Bố thí cho
đệ tử của Ta sẽ được quả báo lớn. Bố thí cho đệ
tử người khác sẽ không được quả báo.› »
Đức
Phật trả lời cho Tư-ha rằng:
«Ta
không nói như vậy, mà ta nói: Nếu người có từ tâm, chỉ
đem nước vo gạo cho đến như nước cơm, đem đổ chỗ nước
bất tịnh có trùng, khiến cho loài trùng kia được thọ hưởng
chất này; Ta nói người kia còn có phước. Huống chi là cho
con người. Ta nói, bố thí cho người trì giới được quả
báo lớn hơn so với cho người phá giới.»
Tư-ha
bạch Phật rằng:
«Như
lời đức Thế Tôn đã nói, như lời đức Thế Tôn đã nói.
Chúng con xin tự biết.»
Rồi
đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện nói pháp, khai hóa,
khiến cho Tư-ha được hoan hỷ. Từ chỗ ngồi xa lìa trần
cấu, đặng con mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc pháp,
đạt được quả chứng; liền bạch Phật rằng:
«Nay,
lần thứ ba, con nguyện trọn đời quy y Phật, Pháp, Tăng.
Không sát sanh cho đến không uống rượu. Cúi xin đức Thế
Tôn nhận lời mời thọ thực của con vào ngày mai.»
Đức
Thế Tôn nhận lời bằng sự im lặng. Tư-ha biết đức Thế
Tôn hứa khả, liền đứng dậy kính lễ sát chân Phật cáo
lui.
Trong
đêm ấy, Tư-ha sắm sửa đầy đủ các thứ đồ ăn thức
uống ngon bổ, sáng ngày đúng giờ, đến thỉnh Phật phó
trai. Đức Thế Tôn khoác y, bưng bát, cùng một ngàn hai trăm
năm mươi tỳ-kheo, đến nhà Tư-ha, trải ni-sư-đàn an tọa.
Ngay lúc ấy, các Ni-kiền Tử đến chỗ ở của Lê-xa hoa tay
cao lên, kêu la lớn tiếng với giọng oán giận rằng:
«Tướng
quân Tư-ha này, đã tự giết con bò lớn để thiết đãi bữa
cơm cho Sa-môn Cù-đàm và các đệ tử. Biết thí chủ vì mình
giết mà vẫn cố ăn!»
Lúc
ấy, có người đến chỗ Tư-ha nói cho biết rằng:
«Hiện
có các Ni-kiền Tử đến trú xứ của Lê-xa, đưa tay cao lên,
lớn tiếng kêu gào, oán hận, nói: ‹Tướng quân Tư-ha, tự
giết bò thiết đãi bữa ăn cho Sa-môn Cù-đàm và các Tăng
tỳ-kheo.›»
Tư-ha
nghe rồi nói:
«Những
người đó là ngày đêm thường xuyên coi Phật và Tăng tỳ-kheo
là oan gia. Ta không bao giờ vì mạng của ta mà cố ý đoạn
mạng chúng sanh.» Bấy giờ, tướng quân Tư-ha dùng các đồ
ăn thức uống ngon bổ dâng lên. Bữa ăn của đức Phật và
Tăng tỳ-kheo đã xong, bình bát được thu dọn, ông lấy chiếc
ghế nhỏ ngồi qua một bên, đức Phật vì ông mà phương
tiện nói pháp, khai hóa, khiến cho Tư-ha được hoan hỷ. Vì
ông nói pháp xong, rời chỗ ngồi ra về.
Khi
về đến Tăng-già-lam, vì nhơn duyên này, đức Phật tập
hợp Tăng tỳ-kheo, bảo rằng:
«Từ
nay về sau, nếu có thí chủ vì mình cố ý giết thì không
được ăn. Vì mình cố ý giết ở đây là cố ý thấy, cố
ý nghe, cố ý nghi. Có ba nhơn duyên như vậy là thịt bất
tịnh, Ta nói không được ăn. Nếu thấy vì ta mà cố ý giết,
hoặc nghe từ người đáng tin nói, vì ta mà cố ý giết, hoặc
thấy trong nhà có đầu, có da, có lông, có máu, có chân, và
người này có khả năng làm mười điều ác, thường là người
sát hại, có thể vì ta mà cố ý giết. Ba nhơn duyên như vậy
gọi là thịt không thanh tịnh, không được ăn. Có ba loại
thịt tịnh nên ăn: Không cố ý thấy, không cố ý nghe, không
cố ý nghi. Nếu không thấy vì ta mà giết, không nghe vì ta
mà giết, hoặc không thấy trong nhà có đầu, chân, da, lông
máu, và người kia không phải là người giết hại, cho đến
thọ trì mười điều thiện, người kia không bao giờ vì ta
mà đoạn mạng chúng sanh. Ba thứ thịt như vậy gọi là tịnh,
được ăn. Nếu là thịt làm ở nơi thờ tự thì không được
ăn. Tại sao vậy? Người kia với dụng ý làm để đem đến
cúng tế. Cho nên không được ăn, nếu ăn sẽ như pháp trị.»
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn cùng một ngàn hai trăm năm mươi
tỳ-kheo du hành trong nhân gian. Từ Tỳ-xá-ly, đến Tô-di; từ
Tô-di đến ở thành Bạt-đề.[89] Bấy giờ, ở thành Bạt-đề
có đại cư sĩ tự Mân-trà,[90] là đệ tử của Bất-lan Ca-diếp,[91]
giàu có rất nhiều của báu, nhiều voi ngựa xe cộ, nô tỳ,
người ăn kẻ ở, kho lẫm nhẫy đầy, có đại oai lực, tùy
theo ý muốn, chu cấp người vật. Khi người cư sĩ này vào
kho, thì như lỗ trục của bánh xe, lúa thóc tự nhiên tuôn
ra mãi, cho đến khi nào cư sĩ ra khỏi kho. Người vợ của
cư sĩ cũng có phước lực như vậy. Dùng tám đấu gạo nấu
cơm cung cấp cho cả bốn binh chủng; và người bốn phương
đến xin đều cho họ ăn đầy đủ, không khi nào hết, cho
đến khi nào đứng dậy đi. Người con cũng có phước lực
như vậy. Dùng cái đãy đựng đầy một ngàn lượng vàng,
cho cả bốn binh chủng và người bốn phương đến xin theo
ý muốn của họ đều được đầy đủ, không bao giờ hết,
cho đến khi nào đứng dậy đi. Vợ con của cư sĩ cũng đều
có phước lực như vậy. Họ dùng một gói hương thoa cho bốn
binh chúng và người bốn phương đến xin, một cách đầy
đủ theo ý muốn, không bao giờ hết, cho đến khi nào đứng
dậy đi. Tôi tớ trai của cư sĩ cũng có phước lực như vậy.
Dùng một cái cày, cày bảy khu đất gò. Đứa tớ gái cũng
có phước lực như vậy. Dùng tám đấu thóc mà cho binh bốn
bộ ăn không hết. Trong gia đình ấy, người nào cũng tranh
nói đó là phước lực của mình.
Lúc
bấy giờ, cư sĩ Mân-trà nghe đức Phật từ Tô-di du hành
trong nhân gian đến thành Bạt-đề. Cư sĩ nghĩ như vầy: «Nay
ta đến xin phép thầy Bất-lan Ca-diếp để đến chỗ Sa-môn
Cù-đàm.» Nghĩ như vậy rồi, đến chỗ vị thầy thưa:
«Bạch
Đại sư, con nghe Phật từ Tô-di, du hành trong nhân gian đến
thành Bạt-đề. Nay con muốn đến đó để gặp Sa-môn Cù-đàm.»
Bất-lan
Ca-diếp nói với cư sĩ rằng:
«Cư
sĩ, Ông có đại thần lực, tự tại theo ý, không nên đến
gặp Sa-môn Cù-đàm, mà Sa-môn Cù-đàm phải đến yết kiến
ông. Theo pháp là như vậy. Người xuất gia nên đến thăm
hỏi người bạch y.»
Vị
cư sĩ nghĩ như vầy: «Chưa từng có Sa-môn nào là cái gai
đối với Sa-môn khác. Ta cần gì phải xin phép Bất-lan Ca-diếp?
Không từ biệt mà đi, Bất-lan Ca-diệp có thể làm gì ta được?
Ta cứ đến gặp Cù-đàm.»
Cư
sĩ Mân-trà đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân,
rồi đứng lui qua một bên. Đức Thế Tôn vì ông dùng nhiều
phương tiện nói pháp, khai hóa, khiến cho cư sĩ được hoan
hỷ. Bấy giờ, Mân-trà nghe Phật nói pháp, sanh tâm vui mừng
lớn, liền bạch Phật rằng:
«Con
là cư sĩ ở thành Bạt-đề, đệ tử của Bất-lan Ca-diếp.»
Ông
đem đầy đủ tất cả việc phước lực gia nghiệp của mình
bạch lên đức Thế Tôn và hỏi rằng:
«Trong
nhà của con, mọi người đều tranh nhau bảo đó là phước
lực của mình. Vậy xin đức Thế Tôn vì con mà cho biết đó
là phước lực của ai?»
Đức
Phật bảo cư sĩ Mân-trà rằng:
«Thuở
quá khứ, tại nước Ba-la-nại, ông là một cư sĩ giàu có,
nhiều của cải, kho chứa đầy nhẫy. Vợ con, tớ trai, tớ
gái của ông lúc bấy giờ, cũng là vợ con, tớ trai, tớ gái
của ông hiện nay. Cư sĩ, bấy giờ là lúc lúa gạo khan hiếm,
nhân dân đói khát, khất cầu khó được. Một hôm nọ, trong
nhà cư sĩ đang ngồi ăn thì có một vị Phật-bích-chi tên
là Đa-ha-lâu-chi[92] vào khất thực. Cư sĩ nói: ‹Các người
cứ ăn đi, để tôi đem phần ăn của tôi cúng dường vị
Tiên nhơn này.› Vợ của ông lại nói như vầy: ‹Anh cứ
ăn đi, để em đem phần ăn của em cúng cho vị tiên nhơn này.›
Tớ trai, tớ gái của ông cũng đ