CHƯƠNG
IX.
CÂU-THIỂM-DI
1.
Tránh sự phát khởi
[879b24]
Thế Tôn ở tại Câu-thiểm-di.[1] Bấy giờ có tỳ-kheo phạm
giới. Trong chúng, có vị nói phạm; có vị nói không phạm.
Trong số tỳ-kheo thấy phạm nói với tỳ-kheo không thấy phạm
rằng:
«Tỳ-kheo
này thực sự có phạm chứ không phải là không phạm.» Vị
tỳ-kheo không thấy có tội kia hiểu, liền nói:
«Tỳ-kheo
này thật sự phạm giới, chứ chẳng phải là không phạm.»
Sau
đó, cùng hoà hiệp, tác pháp cử tội.[2] Tỳ-kheo phạm tội
nói:
«Tôi
không phạm. Cử tội phi pháp, không thành cử tội, không thành
yết-ma.»
Tỳ-kheo
này[3] bèn đi vào nhân gian tìm bạn đảng; nói với các tỳ-kheo
khác rằng:
«Tôi
không phạm tội. Cử tội phi pháp, không thành cử tội. Yết-ma
đối với tôi không thành tựu.»
Tỳ-kheo
kia thấy như vầy: «Tỳ-kheo này không phạm tội. Cử tội
phi pháp, không thành cử tội, không thành yết-ma.»
Tỳ-kheo
phạm tội liền dẫn các tỳ-kheo tùy cử[4] là bộ đảng
của mình, đến chỗ tỳ-kheo mà trước kia nói là không thấy
phạm, nói rằng:
«Nầy
trưởng lão! Tỳ-kheo này không phạm giới, không thành cử,
phi pháp cử tội kẻ khác, yết-ma không thành.»
Tỳ-kheo
này[5] trở lại thấy không phạm nên nói:
«Vị
kia không phạm tội, không thành cử tội, phi pháp cử tội
yết-ma không thành.»
Vị
bị cử kia cùng tỳ-kheo tùy cử, bèn yết-ma thuyết giới
tách riêng[6] các tỳ-kheo thấy tội.
2.
Biệt bộ yết-ma
Bấy
giờ tỳ-kheo cử tội đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ
sát chân rồi ngồi qua một bên, bạch Phật rằng:
«Tỳ-kheo
bị cử và các tỳ-kheo tùy cử yết-ma cùng với chúng con
đã thành yết-ma thuyết giới biệt bộ.»
Đức
Phật dạy:
«Đây
là những kẻ ngu si phá Tăng. Nếu những vị kia yết-ma thuyết
giới như lời ta dạy thì yết-ma thành tựu, không phạm.[7]
Nếu các thầy cũng yết-ma thuyết giới như lời ta dạy thì
cũng thành tựu, không phạm. Tại sao vậy? Vì có hai trú xứ
bất đồng: Tỳ-kheo kia tự tác thành trú xứ bất đồng,
hoặc chúng Tăng cho tác thành trú xứ bất đồng.»
Thế
nào gọi là tỳ-kheo kia tự tác thành trú xứ bất đồng?
Nếu
tỳ-kheo phá Tăng kia đi ra ngoài tìm cầu bạn đảng. Như vậy,
tỳ-kheo tự tác thành trú xứ bất đồng.
Thế
nào gọi là chúng Tăng tác thành cho trú xứ bất đồng?
Tăng
tác pháp yết-ma không thấy phạm, yết-ma không sám hối, yết-ma
không bỏ ác kiến.[8] Như vậy gọi là chúng Tăng tác thành
cho trú xứ bất đồng. Đây là hai trú xứ bất đồng.
Có
hai đồng trú xứ: Tỳ-kheo tự tác thành đồng trú xứ, hoặc
Tăng tác thành cho đồng trú xứ.
Thế
nào gọi là tự tác thành đồng trú xứ?
Tỳ-kheo
phá Tăng này cùng với bộ đảng của mình đi tìm cầu bộ
đảng tốt bên ngoài. Như vậy là tỳ-kheo tự tạo sự chung
sống.[9]
Thế
nào là Tăng tác thành cho đồng trú xứ? Chúng Tăng hòa hợp,
trước kia tác pháp yết-ma bất kiến phạm, yết-ma bất sám,
yết-ma bất xả ác kiến; nay Tăng hòa hợp giải các yết-ma
đó. Như vậy gọi là Tăng tác thành cho đồng trú xứ. Đó
là hai đồng trú xứ.
Tỳ-kheo
bị cử kia và tỳ-kheo tùy cử, cùng với tỳ-kheo tác cử
nầy, gây đấu tranh, mạ nhục phỉ báng nhau, moi móc sở trường,
sở đoản của nhau. Bấy giờ, các tỳ-kheo đến chỗ Phật,
đảnh lễ, rồi ngồi lui qua một bên, bạch đức Thế Tôn
rằng:
«Bạch
Đại đức Thế Tôn, tỳ-kheo tùy cử, cùng với tỳ-kheo tác
cử nầy, gây đấu tranh, mạ nhục phỉ báng nhau, moi móc sở
trường, sở [880a1] đoản của nhau. Chúng con phải làm thế
nào?»
Đức
Phật dạy:
«Cho
phép, khi Tăng bị vỡ, phi pháp hoà hợp, hãy nên cùng ngồi
tại một chỗ như vậy, sao cho thân và miệng không phát sinh
sự xấu ác.[10] Khi Tăng bị vỡ, nhưng như pháp hòa hợp,
hãy ngồi xen kẽ từng người một.»[11]
3.
Hoà giải
Rồi
thì, đức Thế Tôn đến chỗ tỳ-kheo bị cử, nói như vầy:
«Các
ngươi chớ nên phạm tội mà nói là không phạm, không sám
hối. Tại sao vậy? Nếu tỳ-kheo phạm tội; các Tỳ-kheo khác
nói, ‹Trưởng lão phạm tội, có tự thấy hay không?› Đáp
rằng không thấy. Nhưng tỳ-kheo kia đa văn, biết A-hàm, trì
pháp, trì luật, biết Ma-di,[12] có được nhiều bạn bè, tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương đại thần,
các loại sa-môn, bà-la-môn, ngoại đạo. Tỳ-kheo phạm tội
kia liền nghĩ rằng, ‹Tỳ-kheo kia đa văn, biết A-hàm, trì
pháp, trì luật, biết Ma-di, có được nhiều bạn bè, tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương đại thần,
các loại sa-môn, bà-la-môn, ngoại đạo. Nay, nếu ta không
thấy tội, tỳ-kheo kia liền vì ta tác pháp yết-ma bất kiến
tội, yết-ma bất sám hối, yết-ma bất xả ác kiến. Hoặc
tỳ-kheo kia tác pháp cử tội ta: yết-ma bất kiến, yết-ma
bất sám hối, yết-ma bất xả ác kiến. Tỳ-kheo kia lại không
cùng ta yết-ma thuyết giới, không cùng ta tự tứ, đồng ở
một nhà, đồng trú một chỗ, ngồi một giường, một phản,
trước bữa ăn sau bữa ăn cũng không cung kính lễ bái, chấp
tay tiếp đón nhau theo tuổi lớn nhỏ. Hay tỳ-kheo kia không
cùng ta đồng một yết-ma, đồng một thuyết giới... cho đến
không chấp tay tiếp đón nhau.[13] Như thế thì trong Tăng sẽ
phát sinh sự đấu tranh, mạ nhục phỉ báng nhau, moi móc sở
trường, sở đoản của nhau. Như vây, Tăng sẽ bị vỡ, khiến
cho Tăng bị bôi bẩn, khiến cho Tăng sống chia rẽ.›
«Nếu
tỳ-kheo thấy sự phá Tăng này là nghiêm trọng thì nên theo
lời người kia mà nói rằng ‹Tôi có tội.› Hãy nên như
pháp sám hối.
«Thôi,
hãy dừng lại, các tỳ-kheo, chớ đấu tranh nhau nữa. Chớ
mạ nhục phỉ báng nhau; moi móc sở trường, sở đoản của
nhau. Tất cả các ngươi phải nên hòa hợp, cùng tập họp
một chỗ, đồng một thầy học, hoà hợp như nước với
sữa, mới có lợi ích, sống an lạc trong chánh pháp của Phật.»
Đức
Thế Tôn sau khi khuyên bảo tỳ-kheo bị cử và các tỳ-kheo
tùy cử như vậy rồi, liền đến chỗ tỳ-kheo tác cử kia,
nói rằng:
«Các
ngươi chớ nên thường xuyên cử tội tỳ-kheo khác. Tại sao
vậy? Trong khi tỳ-kheo phạm sự được tỳ-kheo kia hỏi, ‹Trưởng
lão có tự thấy phạm tội hay không?› Vị kia nói không thấy.
Nhưng tỳ-kheo kia, nếu đa văn, biết A-hàm, trì pháp, trì luật,
biết Ma-di, nhiều bạn bè thuộc tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di, quốc vương đại thần, các hàng sa-môn, ngoại đạo.
Tỳ-kheo kia nghĩ như vầy: ‹Tỳ-kheo ấy đa văn, biết A hàm,
trì pháp, trì luật, biết Ma-di, có được nhiều bạn bè trong
hàng tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương
đại thần, các hàng sa-môn, ngoại đạo. Nếu vị kia nói
không thấy tội, nay chúng ta yết-ma tác cử vì không thấy
tội, yết-ma vì không sám hối, yết-ma vì không xả ác kiến.
Nếu chúng ta tác pháp yết-ma vì không thấy tội, yết-ma vì
không sám hối, yết-ma vì không xả ác kiến; chúng ta không
cho vị kia cùng một yết-ma thuyết giới, không cùng tự tứ
cho đến, không chấp tay tiếp đón, chúng ta không cùng một
yết-ma thuyết giới, cho đến không chấp tay tiếp đón; thế
thì trong Tăng sẽ có sự đấu tranh, mạ nhục, phỉ báng lẫn
nhau; moi móc sở trường, sở đoản của nhau, khiến Tăng bị
vỡ, khiến Tăng bị trần cấu, khiến Tăng sống chia rẽ.›
«Nếu
tỳ-kheo coi sự phá Tăng này là nghiêm trọng thì không được
cử tội Tỳ-kheo kia.
«Thôi,
hãy dừng lại, các tỳ-kheo, chớ đấu tranh nhau nữa. Chớ
mạ nhục phỉ báng nhau; moi móc sở trường, sở đoản của
nhau. Tất cả các ngươi phải nên hòa hợp, cùng tập họp
một chỗ, đồng một thầy học, hoà hợp như nước với
sữa, mới có lợi ích, sống an lạc trong chánh pháp của Phật.»
4.
Trường Sanh Vương
Thế
Tôn, sau khi nói với tỳ-kheo kia rồi, khi đêm đã qua, tảng
sáng, khoác y, bưng bát, vào Câu-thiểm-di khất thực. Sau đó,
về lại trong Tăng-già-lam, dùng nhơn duyên này tập hợp Tăng
tỳ-kheo bảo rằng:
Thuở
quá khứ xa xưa vua Phạm Thí[14] nước Già-xa[15] có oán thù
với tổ phụ vua Trường Sanh[16] nước Câu-tát-la. Vua Phạm
Thí có binh chúng oai lực dũng mãnh, tài bảo lại nhiều. Oai
lực binh chúng của vua Trường Sanh không bằng, của báu lại
ít. Sau một thời gian, Vua Phạm Thí cử bốn bộ binh kéo đến
nước Câu-tát-la chinh phạt Vua Trường Sanh, đoạt cả quốc
độ, binh chúng cùng kho tàng trân bảo. Vua Trường Sanh cùng
đệ nhất phu nhơn tẩu thoát đến nước Ba-la-nại, giả làm
người bà-la-môn bện tóc. Cả hai ở trong nhà người thợ
đồ gốm.
Sau
đó một thời gian, đệ nhất phu nhơn của Vua Trường Sanh
phát khởi tâm niệm: ‹Ta muốn được thấy bốn bộ binh,
vào buổi sáng, cùng nhau thao diễn tại ngã tư đường chỗ
đất bằng. Ta muốn uống nước rửa đao kiếm.›
Phu
nhơn nghĩ xong, liền đến chỗ nhà vua nói:
«Vua
có biết không? Vừa rồi thiếp có ý nghĩ: Muốn được thấy
bốn bộ binh, vào buổi sáng, cùng nhau thao diễn tại ngã tư
đường chỗ đất bằng. Tôi muốn uống nước rửa đao kiếm.»
Nhà
vua nói:
«Khanh
làm sao có được ước nguyện đó! Vua Phạm Thí, có oán cừu
với Tổ phụ ta, đã đoạt cả quốc độ, binh chúng, cùng
kho tàng trân bảo của ta. Không còn gì cả!»
Phu
nhơn nói:
«Nếu
không được mãn nguyện, thiếp sẽ chết.»
Bấy
giờ, vua Phạm Thí có một vị đại thần tự là Phú-lô-hê-xỉ,[17]
là bạn của vua Trường Sanh. Vua Trường Sanh nói với vợ
rằng:
«Ta
cần phải nói với người bạn ta biết việc này.»
Rồi
vua Trường Sanh liền đến chỗ Phú-lô-hê-xỉ nói như vầy:
«Nầy,
ông bạn có biết không? Đệ nhất phu nhân của ta có ý nghĩ:
Muốn được thấy bốn bộ binh, vào buổi sáng, cùng nhau thao
diễn tại ngã tư đường chỗ đất bằng; và muốn uống
nước rửa đao kiếm. Nghĩ xong liền đến nói với tôi sự
việc như vậy. Tôi nói với vợ tôi rằng: ‹Khanh làm sao
có được ước nguyện đó! Vua Phạm Thí, có oán cừu với
Tổ phụ ta, đã đoạt cả quốc độ, binh chúng, cùng kho tàng
trân bảo của ta. Không còn gì cả!› Vợ ta liền nói: ‹Nếu
không được toại ngyện thì thần thiếp sẽ chết.› Ta liền
nói rằng: ‹Ta cần phải nói cho bạn ta biết nhân duyên này.›
»
Phú-lô-hê-xỉ
nói:
«Hãy
chờ một chút, để tôi xem trong bụng của phu nhân đã.»
Phú-lô-hê-xỉ
đến xem trong bụng của đệ nhất phu nhân vua Trường Sanh
xong, liền để trống vai bên hữu, quỳ thẳng gối, chấp
tay ba lần xưng nói: «Vua của nước Câu-tát-la hiện đang
ở trong bụng.» Rồi ông nói với phu nhân: ‹Phu nhân sẽ
được thấy bốn bộ binh, vào buổi sáng, cùng nhau thao diễn
tại ngã tư đường chỗ đất bằng; và sẽ uống nước rửa
đao kiếm, tại chỗ đó.›»
Bấy
giờ, Phú-lô-hê-xỉ đến chỗ vua Phạm Thí tâu như vầy:
«Vua
biết chăng? Khi có vì tinh tú như vậy xuất hiện, thì cần
phải vào buổi sáng sớm, khi mặt trời mới mọc, cho bốn
bộ thao diễn tại ngã tư đường, và rửa đao kiếm.»
Phú-lô-hê-xỉ:
«Nay
chính là lúc thích hợp.»
Bấy
giờ, Phú-lô-hê-xỉ liền tập hợp bốn bộ binh tại ngã
tư đường thao diễn, rồi rửa đao kiếm.
Khi
ấy, phu nhân của vua Trường Sanh được nhìn thấy bốn bộ
binh, vào buổi sáng, cùng nhau thao diễn tại ngã tư đường
chỗ đất bằng; và bà được uống nước rửa đao kiếm.
Sau
đó, thai đủ tháng, phu nhân hạ sanh một nam nhi, tướng mạo
đoan chánh, liền được đặt tên là Trường[18]. Khi khôn
lớn, Vua Trường Sanh rất yêu mến.
Bấy
giờ, vua Phạm Thí nghe vua Trường Sanh nước Câu-tát-la cùng
đệ nhất phu nhân trốn thoát làm bà-la-môn bện tóc ở tại
nhà người thợ đồ gốm, liền ra lệnh người hầu cận
rằng:
«Ngươi
đến nơi nhà người thợ gốm [881a1] bắt vua Trường Sanh
và đệ nhất phu nhân trói cho kỹ dẫn về đây. Rồi nổi
tiếng trống hung dữ, báo hiệu sự chết xuất hiện. Dẫn
ra từ cửa bên hữu, phanh thây làm bảy phần; bêu trên đầu
cây nhọn.»
Bấy
giờ, vua Trường Sanh khi nghe vua Phạm Thí ra lệnh như vậy,
liền kêu người con trai dặn dò rằng:
«Này
Trường con, nay con có biết không? Vua Phạm Thí nước Già-xa,
là oán cừu của Tổ phụ cha, đã chiếm đoạt tất cả quốc
độ, binh chúng, cùng tài sản của ta và nay ra lệnh người
hầu cận giết bố mẹ con. Con nên trốt thoát, đừng để
vua Phạm Thí giết.»
Vương
tử Trường trốn thoát. Vua Phạm Thí sai người đến bắt
vua Trường Sanh và đệ nhất phu nhân trói kỹ. Rồi nổi tiếng
trống hung dữ, báo hiệu sự chết xuất hiện. Dân chúng tụ
tập rất đông.
Lúc
ấy, con của vua Trường Sanh cải trang đi theo sau cha mẹ mình
khóc kể, nước mắt chảy ròng rã. Vua Trường Sanh xoay lại
thấy con mình liền nói như vầy: «Oán thù lớn nhỏ, đều
không nên báo. Lấy oán trả oán, oán không thể trừ. Chỉ
không thù oán, oán thù mới dứt.» Nhà vua nói như vậy ba
lần.
Khi
ấy dân chúng nghĩ rằng: «Vua nước Câu-tát-la tâm cuồng
điên loạn. Hôm nay mới dạy Trường Ma-nạp. Nay đây ai là
Trường Ma-nạp?» Đám đông cùng nói như vậy ba lần.
Rồi
thì, Vua Phạm Thí sai người dẫn Vua Trường Sanh đi ra từ
cửa bên hữu, phanh thây làm bảy phần, bêu lên đầu cây
nhọn.
Bấy
giờ, con vua Trường Sanh là Trường từ đó trở lại trong
thành Ba-la-nại, học các kỹ thuật, học kinh thơ, học xem
tướng, tinh tú, học bói toán, học vẽ hình tượng, âm nhạc,
hý kịch, xuất sắc nhất trong số học chúng.
Lúc
bấy giờ, ở chỗ của kỹ nữ vua Phạm Thí cách đó không
xa có một người huấn luyện voi. Vương tử Trường đến
nơi tượng sư xin được học. Tượng sư chấp thuận.
Một
thời, Trường Ma-nạp, vào lúc quá nửa đêm, gảy đàn và
ca vũ, tấu lên âm thanh tuyệt diệu. Trong đêm đó vua Phạm
Thí sau khi nghe tiếng đàn cầm ca vũ du dương, liền hỏi người
hầu cận:
«Quá
nửa đêm rồi, ai là người gảy tiếng đàn cầm và ca vũ
với âm thanh tuyệt diệu như thế?»
Người
hầu cận thưa:
«Tâu
Đại vương, cách chỗ ở kỹ nữ của Vua không xa, có một
người huấn luyện voi đang ở. Người học trò của ông tên
là Trường Ma-nạp, thường quá nửa đêm khảy đàn cầm ca
vũ với âm thanh du dương đó.»
Vua
nghe rồi liền bảo, «Gọi đến đây. Ta muốn gặp.» Người
hầu cận vâng lệnh đi gọi đến. Ma-nạp đến, đảnh lễ
sát chân Vua rồi đứng qua một bên. Vua hỏi:
«Có
thật vào lúc quá nửa đêm, ngươi khảy đàn và ca hát với
âm thanh vi điệu đó hay chăng?»
Ma-nạp
thưa:
«Đúng
như vậy.»
Nhà
vua nói:
«Nay
trước mặt ta, ngươi hãy khảy đàn và ca hát, tấu lên âm
thanh mỹ diệu đó.»
Ngay
trước mặt nhà vua Ma-nạp liền khảy đàn và ca hát, tấu
lên âm thanh mỹ diệu đó. Nhà vua nghe xong, rất hoan hỷ, nói:
«Ngươi
ở lại đây. Ta sẽ nuôi ngươi.»
Ma-nạp
tâu:
«Vâng.»
Lúc
bấy giờ, nơi nhà ở của đệ nhất phu nhân vua Phạm Thí
không ai được vào, chỉ có phu nhân của vua và Ma-nạp Trường
mà thôi. Sau đó một thời gian, ngọc ma ni của phu nhân bị
mất. Phu nhân đến chỗ Vua thưa rằng:
«Bệ
hạ biết không? Ngọc ma ni của thần thiếp đã bị mất rồi.»
Nhà
vua hỏi:
«Có
ai vào nhà hay không?»
«Không
có ai vào cả. Chỉ có Vua và thần thiếp cùng Ma-nạp Trường
mà thôi.»
Vua
liền kêu Trường Ma-nạp hỏi:
«Đệ
nhất phu nhân của ta bị mất viên ngọc ma ni, ngươi có lấy
không?»
Ma-nạp
liền nghĩ: «Nhà của phu nhân Vua ở không ai được vào. Chỉ
có Phu nhân và ta. Nếu ta nói không lấy thì nhà vua sẽ trị
tội ta. Từ nhỏ tới lớn ta đã quen sống sung sướng, không
thể chịu khổ hình được.»
Ma-nạp
liền thưa vua rằng:
«Con
lấy.»
Nhà
vua hỏi cùng với ai lấy? Thưa rằng:
«Cùng
với Thái tử của vua lấy.»
Nhà
Vua lại hỏi:
«Cùng
với ai lấy nữa.»
Tâu
rằng:
«Cùng
với đại thần có trí tuệ bậc nhất của Vua Lấy.»
Nhà
vua hỏi:
«Cùng
với ai lấy nữa?»
Thưa
rằng:
«Cùng
với đại trưởng giả bậc nhất lấy.»
Vua
hỏi:
«Cùng
với ai lấy nữa?»
Thưa
rằng:
«Cùng
với đệ nhất dâm nữ.»
Nhà
vua liền bắt Ma-nạp, thái tử, đại thần, trưởng giả,
đệ nhất dâm nữ trói lại.
Bấy
giờ, thái tử nhà vua hỏi Trường Ma-nạp:
«Nhà
ngươi biết thật sự ta không lấy viên ngọc. Nhưng tại sao
nhà ngươi vu oan cho ta lấy? »
Trường
Ma-nạp trả lời:
«Thật
sự thái tử không lấy mà tôi cũng không lấy. Nhưng Thái
tử là người được nhà Vua yêu trọng nhất, chắc chắn
không vì viên ngọc mà nhà Vua đoạn mạng thái tử, do đó
tôi khai.»
Vị
đại thần có trí tuệ bậc nhất hỏi Trường Ma-nạp rằng:
«Thật
sự nhà ngươi biết ta không lấy viên ngọc, nhưng tại sao
vu oan cho ta lấy?»
Trường
Ma-nạp nói:
«Thật
sự ông không lấy, tôi cũng không lấy. Nhưng ông là vị đại
thần có trí tuệ. Ông có thể tìm được viên ngọc, do đó
tôi khai ông.»
Đại
trưởng giả nói với Trường Ma-nạp rằng:
«Thật
sự nhà ngươi biết ta không lấy viên ngọc, nhưng tại sao
vu oan cho ta lấy?»
Trường
Ma-nạp nói:
«Ông
thật sự không lấy. Thật sự tôi cũng không lấy. Nhưng ông
là đại trưởng giả trong nước này. Ông là một nhà đại
phú tài bảo vô số. Nếu vua cần viên ngọc thì ông có thể
bồi thường được, do đó tôi khai cho ông.»
Đệ
nhất dâm nữ nói với Trường Ma-nạp rằng:
«Ông
biết tôi không lấy viên ngọc, tại sao khai oan cho tôi?»
Trường
Ma-nạp nói:
«Thật
sự cô không lấy mà tôi cũng không lấy viên ngọc. Nhưng
cô là đệ nhất dâm nữ, có nhiều người để ý cô nhưng
chưa đạt được cô. Do đó thế nào họ cũng tìm cho được
ngọc. Cho nên tôi khai cho cô.»
Bấy
giờ, Bạch Tặc ở nước Ba-la-nại, nghe đệ nhất Phu nhân
của nhà vua bị mất viên ngọc, nhà Vua bắt trói Trường
Ma-nạp, thái tử, đại thần, đại trưởng giả, dâm nữ
nên liền đến chỗ Trường Ma-nạp hỏi rằng:
«Thật
sự phu nhân Nhà vua bị mất viên ngọc không?»
Ma-nạp
nói:
«Thật
sự có mất.»
Bạch
Tặc hỏi:
«Có
ai vào nhà của phu nhân không?»
Ma-nạp
nói:
«Chỉ
có phu nhân của vua và tôi mà thôi.»
Bạch
Tặc hỏi:
«Vậy
có ai đang đi trong đó?»
Ma-nạp
nói:
«Con
khỉ cái đi trong đó.»
Bạch
Tặc nói với Trường Ma-nạp rằng:
«Như
vậy viên ngọc có thể tìm được.»
Bấy
giờ, Bạch Tặc liền đến chỗ Vua Phạm Thí tâu rằng:
«Vua
biết không? Nay viên ngọc có thể tìm được. Vua hãy cho mang
ra các thứ anh lạc trang sức của các nữ nhơn.»
Vua
liền ra lệnh đem tất cả những đồ trang sức anh lạc ra,
và tập trung những con khỉ cái lại, mang cho chúng các anh
lạc, để chúng ở trong cung. Lúc ấy, con khỉ cái trước
kia ở trong nhà phu nhân, thấy những con khỉ cái kia mang anh
lạc. Nó cũng liền lấy viên ngọc đã lấy trộm của phu
nhân đem ra tự trang sức cho mình. Bấy giờ Bạch Tặc liền
bao vây xung quanh và bắt con khỉ cái tâu với Vua rằng:
«Vua
nay có biết không? Tôi đã lấy lại được viên ngọc ma ni
rồi.»
Khi
ấy, Vua Phạm Thí liền kêu Trường Ma-nạp đến hỏi rằng:
«Ngươi
không lấy ngọc châu; tại sao nhận là có lấy?»
Ma-nạp
liền thưa:
«Vì
con nghĩ như vầy: Phòng của Phu nhân ở không ai được vào.
Chỉ có Phu nhân và con mà thôi. Nếu con nói không lấy, thì
sợ Vua trị tội, tra tấn, làm con đau khổ. Nhưng con thì không
thể chịu được đau khổ, nên con nói có lấy.»
«Tại
sao ngươi lại khai cho thái tử?»
«Con
nghĩ rằng, thái tử rất được vua yêu quí, không lẽ vì
hạt châu mà nhà vua đọan mạng thát tử. Nên con khai cho thái
tử.»
«Tại
sao ngươi khai cho đại thần?»
«Con
khai cho vị đại thần vì con nghĩ: Vị đại thần có nhiều
trí tuệ, có khả năng tạo phương tiện tìm lại được viên
ngọc. Cho nên con khai cho vị đại thần.»
«Tại
sao ngươi lại khai cho đại trưởng giả?»
«Đại
trưởng giả là người đại phú gia, nhiều của cải châu
báu, có thể bồi hoàn lại viên ngọc cho Vua. Nên con khai cho
đại trưởng giả.»
«Tại
sao ngươi lại khai cho dâm nữ?»
«Con
nghĩ như sau nên khai cho dâm nữ: Người trong nước cũng như
các nơi nhiều kẻ để tâm cô ta, nhưng chưa đạt được
cô ta. Họ có thể vì dâm nữ mà tìm được viên ngọc. Nên
con khai cho đệ nhất dâm nữ.»
Nhà
Vua nói:
«Chưa
từng có người nào nhiều trí tuệ như Trường Ma-nạp.»
Vua
liền dùng Trường Ma-nạp để làm tất cả các nơi quan trọng.
Sau đó một thời gian, vua Phạm Thí nghiêm giá bốn bộ binh
để đi săn bắn. Bấy giờ Vua cũng như bốn bộ binh [882a1]
đều ham mê đuổi theo những con nai, gặp lúc trời nóng bức
nên mỏi mệt. Trường Ma-nạp liền hướng dẫn xe Vua đến
chỗ khuất kín để nghĩ ngơi. Vua xuống xe, vào dưới bóng
mát của xe, gối đầu trên đầu gối của Trường Ma-nạp
ngủ. Bấy giờ, Trường Ma-nạp nghĩ như vầy: «Nhà Vua này
là oán cừu của ông nội của cha ta, đã phá hoại quốc độ
ta, đã đoạt bốn bộ binh chúng của ông nội của cha ta,
cùng kho tàng bảo vật tất cả đều thu hết; đã giết cha
mẹ ta, đã tàn sát giòng họ Vua Câu-tát-la.» Nghĩ đến mối
thù xưa, Trường Ma-nạp liền rút gươm muốn chém đầu nhà
Vua. Nhưng lại nghĩ đến lời dạy của cha: «Oán thù lớn
nhỏ, đều không nên báo. Lấy oán trả oán, oán không thể
trừ. Chỉ không thù oán, oán thù mới dứt.» Bèn bỏ gươm
vào bao trở lại.
Bấy
giờ, Vua Phạm Thí kinh sợ, tỉnh dậy. Trường Ma-nạp hỏi:
«Sao
Vua thức dậy?»
Nhà
Vua nói:
«Vua
nước Câu-tát-la có người con tên là Trường Ma-nạp rút
gươm muốn chém ta.»
Ma-nạp
thưa Vua rằng:
«Nay
đây, chỗ nào có Trường Ma-nạp, con của vua Trường Sanh?
Chỉ có Nhà Vua và con mà thôi. Xin Ngài cứ yên tâm nghĩ.»
Nhà
Vua ngủ lần thứ hai, lại cũng như vậy. Cho đến ngủ lần
thứ ba, Trường Ma-nạp cũng suy nghĩ như trước, lại rút
gươm ra. Vua liền kinh sợ thức dậy. Bấy giờ Trường Ma-nạp
liền nắm đầu Vua. Vua hỏi:
«Ngươi
muốn giết ta sao?»
Trường
Ma-nạp trả lời:
«Vâng.»
Nhà
Vua hỏi:
«Vì
lí do gì?»
Trường
Ma-nạp trả lời:
«Tôi
là Trường Ma-nạp, con của Vua Trường Sanh. Vua có oán cừu
với ông nội của cha tôi. Vua đã phá tan quốc độ của tôi,
đã chiếm đoạt hết tất cả binh chúng kho tàng bảo vật;
đã giết cha mẹ tôi, đã tàn sát giòng họ Vua Câu-tát-la.
Nghĩ đến cừu oán này cho nên tôi muốn giết Vua!»
Vua
Phạm Thí liền nói:
«Nay
ta sẽ trả lại binh chúng, quốc độ cùng tất cả trân bảo
của cụ cố của ông. Ông đừng giết tôi!»
Trường
Ma-nạp nói:
«Tôi
sẽ để mạng sống cho nhà Vua. Nhà Vua cũng đừng giết tôi.»
Vua
Phạm Thí trả lời:
«Ta
sẽ tha mạng sống cho nhà ngươi.»
Bấy
giờ, hai bên đồng xóa hết oán cừu tổ phụ, cùng nhau hòa
hợp như cha với con, cùng đi một xe trở về nước Ba-la-nại.
Bấy
giờ, Vua Phạm Thí tập hợp các đại thần và bảo như vầy:
«Nếu
bắt gặp Trường Ma-nạp con Vua Trường Sanh thì giải quyết
như thế nào?»
Có
người nói phải xử trị thế này; có người nói phải dùng
dao giết nó; có người nói phải dùng xe nghiền nát nó; có
người nói phải treo đầu nó lên; có người nói phải đốt
nó như cây đuốc; có người nói phải lấy dầu nấu nó;
có người nói phải chẻ thân nó ra; có người nói phải dùng
móc câu câu vào thịt của nó; có người nói phải lấy mật
nấu nó; có người nói phải trói nó quăng trong lửa; có người
nói phải lấy vải quấn nói rồi đốt; có người nói phải
chặt tay, chặt chân, xẻo mũi, xẻo tai nó; có người nói
phải xâu nó rồi bêu nó trên đầu cây nhọn; có người nói
phải chặt đầu nó. Nhà Vua liền chỉ cho các vị đại thần
mà nói:
«Người
này là con Vua Trường Sanh tên là Trường Ma-nạp. Từ nay về
sau tất cả mọi người không được bàn luận đến việc
đó nữa. Tại sao vậy? Vì người này đã cho ta mạng sống
và ta cũng đã cho người này mạng sống.»
Bấy
giờ, Nhà Vua công bố hoàn trả lại tất cả binh chúng và
quốc độ cũng như kho tàng trân bảo của Vua Trường Sanh
lại cho Trường Ma-nạp, và sửa soạn trang sức con để gã
cho Trường Ma-nạp.
«Nầy
các tỳ-kheo! Trường Ma-nạp kia, vốn là kẻ chấp nhận gươm
đao,[19] có oán cừu của tổ phụ của cha, mà còn trở lại
hòa hợp như cha với con. Huống chi các người đã xuất gia
làm đạo, đồng học một thầy, như sữa hòa với nước
thì ở trong Phật pháp mới có lợi ích, và an lạc.
«Thôi,
hãy dừng lại, các tỳ-kheo, chớ đấu tranh nhau nữa. Chớ
mạ nhục phỉ báng nhau; moi móc sở trường, sở đoản của
nhau. Tất cả các ngươi phải nên hòa hợp, cùng tập họp
một chỗ, đồng một thầy học, hòa hợp như nước với
sữa, mới có lợi ích, sống an lạc trong chánh pháp của Phật.»
Trong
khi đức Phật dạy như thế, các tỳ-kheo bạch Phật rằng:
«Bạch
đức Thế Tôn, Thế Tôn hãy tự yên nghỉ. Như Lai là đấng
Pháp chủ. Các tỳ-kheo tự biết rõ sự đấu tranh này.»
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn đã phải hai ba lần ngăn chận các
tỳ-kheo ở Câu-thiểm-di, đừng cùng nhau đấu tranh, mạ nhục
phỉ báng lẫn nhau, moi móc tội lỗi nhau, mà nên hòa hợp
chung sống, đồng một thầy học, như nước hòa với sữa,
thì ở trong Phật pháp mới có lợi ích, và an lạc. Tỳ-kheo
kia lại nói với đức Thế Tôn như vầy:
«Bạch
đức Thế Tôn, Thế Tôn hãy tự yên nghỉ. Như Lai là đấng
Pháp chủ. Các tỳ-kheo tự biết rõ sự đấu tranh này.»
Bấy
giờ, đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo nơi Câu-thiểm-di nói bài
kệ:
Đám
đông dậy tiếng xấu,
Chẳng
cần pháp Thượng tôn[20]
Khi
phá vỡ Chúng Tăng,
Còn
biết lẽ gì khác?[21]
Chẻ
xương, hại sanh mạng,
Cướp
bò, ngựa, tài bảo;
Đất
nước loạn, đấu tranh,
Còn
trở lại hòa hợp.
Các
ngươi đáng lẽ không
Bao
giờ nhục mạ nhau.
Nếu
có sự như thế,
Oán
kia không thể trừ.
Đối
các mạ lỵ ác,
Không
bao giờ đáp trả.
Người
hay im lặng nhẫn,
Oán
kia tự nhiên hết.
Lấy
oán trừ oán cừu;
Oán
cừu không hết được.
Không
oán, oán tự tiêu.
Pháp
kia vui dõng mãnh.[22]
Không
bảo người khác làm,
Chính
mình cũng không làm.
Người
thật hành như vậy,
Như
mưa dập bụi trần.
Không
thật, nói chắc thật;
Chắc
thật, nói không thật.
Nó
không rõ cái thật,
Rơi
vào ức niệm tà.
Chắc
thật, biết chắc thật.
Không
thật, biết không thật.
Ai
hiểu pháp chắc thật,
Vào
trong chỗ chánh niệm.[23]
Cũng
như người cầm tên
Cầm
lỏng, hại tay mình.
Sa-môn
không khôn khéo,
Tăng
thêm số địa ngục.
Người
biết khéo cầm tên,
Cầm
chặt, không hại tay.
Sa-môn
biết khôn khéo,
Liền
được sanh đường lành.
Tuy
mặc áo cà-sa,
Ôm
chặt các kết sử,
Không
thể trừ oán hại,
Không
xứng mặc cà-sa.
Kết
sử đã trừ diệt,
Tự
trang nghiêm bằng giới,
Chế
ngự các oán cừu,
Người
ấy xứng cà-sa.
Tìm
kiếm bạn khắp nơi,
Không
có người hợp ý;
Thà
một mình bền lòng,
Không
đồng hành kẻ ngu.
Nếu
khắp nơi tìm bạn,
Không
được người như mình;
Thà
một mình làm lành,
Không
bạn kẻ ngu ác.
Độc
hành, không làm ác;
Như
voi rừng núi cao.
Nếu
tìm được bạn lành,
Cùng
chung sống, dũng mãnh.[24]
Đi,
ở, giữa các chúng,
Tâm
họ thường hoan hỷ.
Nếu
không có bạn lành,
Độc
hành, thường dũng mãnh;
Xa
lánh nơi đô hội,
Vô
sự như voi rừng.
Lúc
bấy giờ, vì các tỳ-kheo tại Câu-thiểm-di đấu tranh, phỉ
báng mạ nhục, chúng Tăng bị rối loạn, đức Thế Tôn không
vui. Thế Tôn không nói với chúng Tăng và người thị giả,
mà tự xếp ngọa cụ để lại chỗ cũ. Mang y cầm bát, dùng
sức thần túc rời Câu-thiểm-di [883a1] trở về nước Xá-vệ.[25]
Bấy
giờ, các vị ưu-bà-tắc ở Câu-thểm-di nghe nói, vì các tỳ-kheo
tại Câu-thiểm-di đấu tranh, phỉ báng mạ nhục, chúng Tăng
bị rối loạn, đức Thế Tôn không vui. Thế Tôn không nói
với chúng Tăng và người thị giả, mà tự xếp ngọa cụ
để lại chỗ cũ. Mang y cầm bát, dùng sức thần túc rời
Câu-thiểm-di trở về nước Xá-vệ. Bấy giờ, các ưu-bà-tắc
cùng nhau tự lập ra quy chế: «Tất cả chúng ta, khi gặp các
tỳ-kheo ở Câu-thiểm-di, không được đứng dậy nghinh đón,
cung kính lễ bái, hỏi chào, nói năng và cúng dường y phục
ẩm thực, thuốc men chữa bệnh.»
5.
Tăng hoà hợp
Các
tỳ-kheo kia giống như người bị cử tội, nên tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,
ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương đại thần, các hàng sa-môn
ngoại đạo đều tránh xa không giao tiếp. Các tỳ-kheo đấu
tranh kia, do vậy không có sự lợi dưỡng nên nghĩ như vầy:
«Chúng ta cần phải đến chỗ đức Thế Tôn để chấm dứt
việc đấu tranh này.» Họ liền đến nước Xá-vệ.
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lợi-phất nghe các tỳ-kheo đấu tranh nơi
Câu-thiểm-di, phỉ báng mạ nhục nhau, miệng tuôn ra những
lời như đao như kiếm, từ Câu-thểm-di đến nước Xá-vệ.
Tôn giả liền cùng năm trăm vị tỳ-kheo đến chỗ đức Thế
Tôn đảnh lễ sát chân, rồi đứng qua một bên, bạch đức
Thế Tôn rằng:
«Các
tỳ-kheo nơi Câu-thiểm-di, cùng nhau đấu tranh, phỉ báng mạ
nhục, miệng tuôn ra những lời như gươm như đao. Nay họ
từ Câu-thiểm-di đến nước Xá-vệ, chúng con nên làm thế
nào?»
Đức
Phật bảo tôn giả Xá-lợi-phất:
«Hãy
cho phép hai bộ nói. Nếu tỳ-kheo nào nói như pháp thì nên
chấp nhận lời nói ấy, khen ngợi trưởng dưỡng, cùng làm
người bạn.»
Tôn
giả Xá-lợi-phất lại bạch Phật:
«Làm
thế nào để biết tỳ-kheo kia nói đúng pháp hay phi pháp?»
Đức
Phật bảo Xá-lợi-phất:
«Có
mười tám sự việc khiến Tăng bị vỡ: pháp, phi pháp, tỳ-ni,
phi tỳ-ni, phạm, không phạm, nhẹ, nặng, hữu dư, vô dư,
thô ác, không thô ác, nên làm, không nên làm, chế, không chế,
thuyết, không thuyết.»[26]
Đức
Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
«Ông
nên xem xét việc này thời sẽ biết lời nói của tỳ-kheo
kia là như pháp hay phi pháp.»
Tôn
giả lại bạch Phật rằng:
«Phân
phối phòng xá ngọa cụ cho các tỳ-kheo nơi Câu-thiểm-di như
thế nào?»
Đức
Phật dạy:
«Nên
cho họ phòng xá ngọa cụ ở chỗ khuất kín[27]. Nếu không
có chỗ khuất kín thì hãy lập ra chỗ khuất kín cho họ,
cũng như cách thức phân phối ngọa cụ cho chúng Tăng.»
Tôn
giả Xá-lợi-phất bạch Phật rằng:
«Chia
y vật của chúng Tăng cho tỳ-kheo Câu-thiểm-di như thế nao?»
Đức
Phật dạy:
«Tùy
theo thứ bậc mà chia.»[28]
Tôn
giả Xá-lợi-phất bạch Phật rằng:
«Đối
với tỳ-kheo Câu-thiểm-di, nên sắp xếp chỗ ngồi như thế
nào để chia cháo trong bữa tiểu thực?»
Phật
bảo tôn giả Xá-lợi-phất:
«Trước
kia Ta há đã không nói điều này? Khi Tăng bị vỡ, phi pháp
hoà hợp, ngồi sao cho không phát sanh sự dữ của thân và
miệng. Chúng Tăng bị vỡ, nhưng như pháp hòa hợp, sự việc
đã chấm dứt, nên ngồi chỗ ngồi cách khoảng một người.»[29]
Lúc
bấy giờ, tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề, nghe các tỳ-kheo đấu
tranh nơi Câu-thiểm-di, phỉ báng mạ nhục nhau, miệng tuôn
ra những lời như đao như kiếm, từ Câu-thiểm-Di đến nước
Xá-vệ, liền cùng với năm trăm tỳ-kheo-ni đến chỗ đức
Thế Tôn, đảnh lễ sát chân rồi đứng lui qua một bên, bạch
Phật rằng:
«Đại
đức Thế Tôn, tỳ-kheo nơi Câu-thiểm-di này cùng nhau đấu
tranh, cùng nhau mạ nhục phỉ báng, soi bói tốt xấu nhau, từ
Câu-thiểm-di đến Xá-vệ. Chúng con nên đối với họ như
thế nào?»
Đức
Phật bảo Cù-đàm Di:
«Hãy
nghe cả hai bên nói. Nếu tỳ-kheo nào nói như pháp thì chấp
nhận lời nói ấy, khen ngợi trưởng dưỡng, coi đó là bạn
hữu.»
Cù-đàm
Di bạch Phật:
«Làm
sao biết lời nói của tỳ-kheo kia là pháp hay phi pháp?»
Phật
dạy:
«Có
mười tám việc phá Tăng: Pháp phi pháp... cho đến thuyết
không thuyết.» (như trên)
«Nên
xem xét việc này để biết lời nói tỳ-kheo kia là pháp hay
phi pháp. Tỳ-kheo-ni Cù-đàm Di, nên đến cầu giáo thọ trong
bộ chúng tỳ-kheo như pháp.»
Lúc
bấy giờ, trưởng giả A-nan-bân-đê[30] nghe các tỳ-kheo nơi
Câu-thiểm-di đấu tranh nhau, mạ nhục phỉ báng nhau, moi móc
tội lỗi nhau, từ Câu-thiểm-di đến Xá-vệ, liền cùng năm
trăm ưu-bà-tắc đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân,
rồi ngồi lui qua một bên bạch Phật:
«Các
tỳ-kheo nơi Câu-thiểm-di, đấu tranh nhau, mạ nhục phỉ báng
nhau, moi móc tội lỗi nhau, từ Câu-thiểm-di đến Xá-vệ.
Bạch đức Thế Tôn, chúng con nên đối xử thế nào?»
Thế
Tôn dạy:
«Nên
nghe cả hai bên nói, như trên. Nếu có đàn-việt cúng dường
nên chia hai phần, đây cũng là Tăng, kia cũng là Tăng. Nầy
các cư sĩ, như thỏi vàng chia làm hai phần, cả hai đều là
vàng. Do vậy, nầy các cư sĩ, vật bố thí cúng dường nên
chia làm hai phần. Vì đây là Tăng, kia cũng là Tăng.»
Bấy
giờ, Tỳ-xá-khư Vô-di-la Mẫu nghe các tỳ-kheo nơi Câu-thiểm-di
đấu tranh nhau, mạ nhục phỉ báng nhau, moi móc tội lỗi nhau,
từ Câu-thiểm-di đến Xá-vệ, liền cùng năm trăm ưu-bà-di
đến chỗ đức Thế Tôn đầu mặt đảnh lễ sát chân, rồi
đứng qua một bên bạch Phật:
«Các
tỳ-kheo Câu-thiểm-di đấu tranh phỉ báng mạ nhục xoi bói
tốt xấu nhau, miệng tuôn ra những lời như đao như kiếm,
nay từ Câu-thiểm-di đến Xá-vệ, kính bạch đức Thế Tôn,
chúng con nên đối xử thế nào?»
Đức
Phật dạy:
«Nên
nghe cả hai bên nói, như trên. Nếu có đàn-việt cúng dường
nên chia hai phần, đây cũng là Tăng, kia cũng là Tăng. Nầy
các cư sĩ, như thỏi vàng chia làm hai phần, cả hai đều là
vàng. Do vậy, nầy các cư sĩ, vật bố thí cúng dường nên
chia làm hai phần. Vì đây là Tăng, kia cũng là Tăng.»
6.
Giải yết-ma
Lúc
bấy giờ, tỳ-kheo bị cử, trên đường đi, nơi chỗ vắng,
tâm tự suy nghĩ rằng: «Tránh sự này của ta cần phải dẫn
chứng Tu-đa-la, Tỳ-ni, A-tỳ-đàm, kiểm hiệu Phật pháp, xét
duyệt xem cử đúng hay cử sai, là cử như pháp, yết-ma thành
tựu hay là không cử như pháp, yết-ma không thành tựu.» Bấy
giờ vị ấy liền xem xét Tu-đa-la, Tỳ-ni, A-tỳ-đàm, theo
pháp của đức Phật xét duyệt, rồi nghĩ như vầy: «Sự
thật là phạm chứ không phải không phạm; cử tội đúng
chứ chẳng phải là không đúng; như pháp cử yết-ma thành
tựu, chứ không phải là không như pháp cử yết-ma không thành
tựu.» Vị ấy liền đến chỗ các tỳ-kheo tùy cử nói như
vầy: «Tôi trên đường đi, nơi chỗ vắng, tâm tự suy nghĩ
rằng: ‹Tránh sự này của ta cần phải dẫn chứng Tu-đa-la,
Tỳ-ni, A-tỳ-đàm, kiểm hiệu Phật pháp, xét duyệt xem cử
đúng hay cử sai, là cử như pháp yết-ma thành tựu hay là
không cử như pháp, yết-ma không thành tựu.› Bấy giờ tôi
liền xem xét Tu-đa-la, Tỳ-ni, A-tỳ-đàm, theo pháp của đức
Phật xét duyệt, rồi nghĩ như vầy: ‹Sự thật là phạm
chứ không phải không phạm; cử tội đúng chứ chẳng phải
là không đúng; như pháp cử yết-ma thành tựu, chứ không
phải là không như pháp cử yết-ma không thành tựu.›»
Bấy
giờ các tỳ-kheo tùy cử dẫn tỳ-kheo bị cử đến chỗ tỳ-kheo
tác cử bạch rằng:
«Tỳ-kheo
bị cử này nói với tôi như vầy: ‹Trên đường đi nơi
chỗ vắng, tôi tư duy (nói đầy đủ như trên).› »
Lúc
bấy giờ, tỳ-kheo cử tội dẫn tỳ-kheo tùy cử, tỳ-kheo
bị cử đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi
ngồi lui qua một bên, bạch Phật rằng:
«Tỳ-kheo
tùy cử này dẫn tỳ-kheo bị cử đến chỗ con, đem nhơn duyên
của tỳ-kheo bị cử trình bày đầy đủ. Nay con cũng đem
nhơn duyên này bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ.»
Đức
Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
«Đó
là phạm chứ chẳng phải không phạm. Cử tội đúng chứ
chẳng phải không đúng; như pháp cử tỳ-kheo này, yết-ma
thành tựu. Nếu tỳ-kheo kia thuận tùng chúng Tăng để sám
hối, hoán cải tội lỗi, thì yêu cầu giải yết-ma bất kiến
cử.»
Nên
bạch tứ yết-ma để giải, cách giải như vầy:
Tỳ-kheo
kia đến giữa Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày
dép, kính lễ sát chân Tăng, đầu gối bên hữu chấm đất,
chấp tay bạch Phật:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là... đã bị Tăng
cử tội, yết-ma bất kiến cử. Nay tôi thuận tùng chúng Tăng,
cải hoán tội lỗi, sám hối, cầu xin giải yết-ma bất kiến
cử. Nguyện Tăng từ mẫn, vì tôi giải cho.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy.
Trong
đây, [884a1]Tăng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma,
hoặc Thượng tọa hay thứ tọa, tụng luật hay không tụng
luật được, miễn là có thể tác pháp yết-ma, bạch như
vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... Tăng đã tác
pháp yết-ma bất kiến cử. Nay thuận tùng chúng Tăng, hoán
cải tội lỗi sám hối, cầu xin giải yết-ma bất kiến cử.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận,
Tăng giải yết-ma bất kiến cử cho Tỳ-kheo tên là... Đây
là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là... Tăng đã tác pháp
yết-ma bất kiến cử, vị kia đã thuận tùng chúng Tăng cải
hoán tội lỗi sám hối, nay cần cầu Tăng giải yết-ma bất
kiến cử. Trưởng lão nào đồng ý Tăng giải yết-ma bất
kiến cử cho Tỳ-kheo tên là... thì im lặng. Vị nào không
đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.»
(Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy).
«Tăng
đã đồng ý giải yết-ma bất kiến cử cho Tỳ-kheo... rồi.
Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Đức
Phật dạy tiếp: cho phép tác bạch yết-ma hòa hợp, nên bạch
như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Sự việc khiến Tăng đấu tranh, phỉ
báng nhục mạ lẫn nhau, xoi bói sở trường sở đoản nhau.
Người phạm sự bị cử kia nay đã được giải rồi, trần
cấu của Tăng được diệt sạch. Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, Tăng tác pháp hòa hợp. Đây là lời tác bạch.»
Nên
tác bạch như vậy để hòa hợp.
Bấy
giờ, Ưu-ba-ly từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống vai bên
hữu, cởi bỏ giày dép, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp
tay bạch đức Thế Tôn rằng:
«Kính
bạch đức Thế Tôn, sự việc khiến Tăng đấu tranh, phỉ
báng nhục mạ, xoi bói sở trường, sở đoản nhau, khiến
cho Tăng bị phá, khiến Tăng chia rẽ, khiến Tăng bị trần
cấu. Việc kia chưa liệu lý, chưa phân xử, Tăng chưa diệt
trần cấu, như vậy có được hòa hợp như pháp hay không?»
Phật
dạy:
«Không
được như pháp hòa hợp. Nầy Ưu-ba-ly! Nhân bởi tránh sự[31]
kia, khiến Tăng đấu tranh, phỉ báng nhục mạ nhau, xoi bói
sở trường, sở đoản nhau, khiến Tăng bị phá, khiến Tăng
chia rẽ, khiến cho Tăng bị trần cấu. Khi tránh sự ấy đã
được liệu lý, đã được giải quyết. Tăng đã diệt trần
cấu, bấy giờ được hòa hợp như pháp.»
Đức
Phật dạy:
Từ
nay về sau cho phép tác bạch yết-ma hòa hợp Bố-tát. Nên
bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Nhân bởi tránh sự kia đã khiến
Tăng đấu tranh, phỉ báng nhục mạ, xoi bói sở trường, sở
đoản nhau, khiến cho Tăng bị phá, khiến Tăng chia rẽ, khiến
Tăng bị trần cấu. Người ấy đã được Tăng tác cử, và
đã được giải rồi, Tăng đã được diệt trần cấu. Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, Tăng
tác pháp hòa hợp bố-tát. Đây là lời tác bạch.»
Nên
bạch như vậy rồi hòa hợp bố-tát.
Lúc
bấy giờ, Đức Phật nói với Ưu-ba-ly:
«Có
năm hạng người phạm tội. Những gì là năm?
«Tỳ-kheo
phạm tội như vậy. Các tỳ-kheo khác bảo rằng, ‹Thầy phạm
tội, có thấy hay không?› Vị kia trả lời, ‹Không thấy.›
Vị kia nói với vị tỳ-kheo này rằng: ‹Nếu thấy tội này
thì nên sám hối.› Đây là người phạm tội thứ nhất.
«Tỳ-kheo
phạm tội như vậy. tỳ-kheo khác bảo rằng, ‹Thầy phạm
tội, có thấy hay không?› Vị kia trả lời: ‹Không thấy.›
Tỳ-kheo kia nói: ‹Thầy nếu thấy tội nên đến trong Tăng
sám hối.› Đây là người phạm tội thứ hai.
«Tỳ-kheo
phạm tội như vậy. Tỳ-kheo khác bảo rằng, ‹Thầy phạm
tội, có thấy hay không?› Vị kia trả lời: ‹Không thấy.›
Tỳ-kheo kia nói: ‹Thầy nếu thấy tội nên ở trong Tăng này
mà sám hối.› Đây là người phạm tội thứ ba.
«Tỳ-kheo
phạm tội như vậy. Tỳ-kheo khác bảo rằng, ‹Thầy phạm
tội, có thấy hay không?› Vị kia trả lời: ‹Không thấy.›
Chúng Tăng nên xả trí, không hỏi nữa, mà nói như vầy, ‹Nay
thầy không thấy tội. Nơi nào mà thầy đến, nơi đó cũng
sẽ cử tội thầy. Đối với thầy, họ sẽ tác pháp tự
ngôn, không cho thầy tác pháp a-nậu-bà-đà,[32] không cho phép
bố-tát, tự tứ. Như người điều khiển ngựa, đối với
con ngựa chứng khó điều khiển, họ phải buộc nó vào cây
nọc, bỏ mặc nó nơi đó. Thầy là tỳ-kheo không tự thấy
tội cũng lại như vậy. Tất cả mọi người đều phải bỏ
mặc thầy. Nơi nào mà thầy đến, nơi đó, cho đến, sẽ
không cho phép thầy bố-tát, tự tứ. Người như vậy, không
được đến họ để cầu thính.[33] Ở đây như vậy tức
là thính. Đây là người phạm tội thứ tư.
«Tỳ-kheo
phạm tội như vậy, tỳ-kheo khác bảo rằng, ‹Thầy phạm
tội, có thấy hay không?› Vị kia trả lời, ‹Không thấy.›
Đối với vị ấy chúng Tăng nên tác pháp yết-ma, bằng pháp
bạch tứ bất kiến cử, đây là người phạm tội thứ năm.
Bấy
giờ, Trưởng lão Ưu-ba-ly từ chỗ ngồi đứng dậy, để
trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, quỳ gối bên hữu chấm
đất, chấp tay bạch Phật rằng:
«Có
bao nhiêu pháp để thành người liệu lý sự vụ?»
Đức
Phật dạy:
«Có
năm pháp để thành người liệu lý sự vụ:
«Muốn
thành tỳ-kheo tác sự, nên quan sát việc này thật hay không
thật. Hoặc giả có việc không thật. Tỳ-kheo kia, nếu biết
việc này không thật thì không được làm.
«Nếu
tỳ-kheo kia biết việc này là thật, thì lại phải quan sát
việc này có lợi ích hay không có lợi ích. Hoặc giả có
việc không lợi ích. Tỳ-kheo kia, nếu biết được việc này
không lợi ích thì không được làm.
«Nếu
tỳ-kheo kia biết việc này có lợi ích, thì lại phải quan
sát việc này là đúng thời hay không đúng thời. Hoặc giả
có việc làm phi thời. Tỳ-kheo kia nếu biết việc này là
làm phi thời thì không được làm.
«Nếu
tỳ-kheo kia biết việc này là đúng thời, thì lại phải xem
xét, là làm việc này hoặc sẽ khiến Tăng đấu tranh, phỉ
báng mạ nhục nhau, sẽ khiến Tăng bị phá, sẽ khiến Tăng
chia rẽ, sẽ khiến Tăng bị trần cấu; hoặc sẽ không khiến
Tăng đấu tranh, cho đến sẽ không khiến Tăng bị trần cấu.
Tỳ-kheo kia, nếu biết làm việc này, khiến Tăng đấu tranh,
cho đến khiến Tăng trần cấu, thì không được làm.
«Nếu
tỳ-kheo biết làm việc này sẽ không khiến Tăng đấu tranh,
cho đến không khiến Tăng trần cấu, thì tỳ-kheo kia lại
phải quan sát, nếu tỳ-kheo làm việc này có được bạn hữu
hay không được bạn hữu. Hoặc giả làm việc này, không
có được tỳ-kheo bạn hữu. Nếu tỳ-kheo kia biết được
làm việc này không có được tỳ-kheo bạn hữu thì không
được làm. Nếu tỳ-kheo kia biết có tỳ-kheo bạn hữu thì
nên làm đúng thời, với hảo tâm thiện niệm.
«Nầy
Ưu-ba-ly! Tỳ-kheo nào biết được năm pháp này thì sẽ được
làm người liệu lí sự vụ.»
Bấy
giờ, tôn giả Ưu-ba-ly liền từ chỗ ngồi đứng dậy, để
trống vai bên hữu, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay
hướng về đức Phật nói bài kệ rằng:
Vì
Tăng nói điều này,
Nghĩa
lợi quyết định vậy.
Thế
nào biết là hơn?
Tỳ-kheo
được kiên trì?
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn trả lời Ưu-ba-ly bằng bài kệ sau:
Đệ
nhất trì giới không hủy hoại,
Tỳ-kheo
oai nghi tự trang nghiêm;
Oan
gia không thể như pháp trách.
Người
kia được vậy khỏi ai chê.
Người
kia trụ nơi thanh tịnh giới,
Nói
không sợ và không nghi nan,
Giữa
chúng không đổi dời, không sợ,
Hỏi
đâu đáp đó không mất nghĩa.
Trong
chúng dù hỏi nghĩa lý gì,
Liền
đáp, khỏi nghĩ, không ưu lự.
Lúc
nào hỏi nghĩa cũng đáp được.
Ứng
đáp nhiều câu, lòng không đổi.
Cung
kính các tỳ-kheo Trưởng lão,
Thượng
tọa, trung tọa và hạ tọa.
Nói
được nguồn gốc, khéo phân biệt,
Hiểu
các oan gia lời dối trá.
Oan
gia không thể hơn vị ấy.
Cũng
lại điều phục được nhiều người.
Thường
làm thầy dạy, k