CHƯƠNG
XI.
KHIỂN
TRÁCH[1]
1.
Khiển trách
[889a14]
Phật ở tại nước Xá-vệ. Có hai tỳ-kheo, một vị tên là
Trí Tuệ, một vị tên là Lô-hê-na,[2] thích tranh tụng, mạ
lỵ nhau, miệng tuôn ra những lời như đao như kiếm, tìm tòi
sở trường, sở đoản của nhau. Các vị ấy tự mình gây
gổ, mạ lỵ nhau. Nhưng nếu có các tỳ-kheo khác nào tranh
tụng nhau, thì liền đến chỗ họ để khuyến khích rằng:
«Các Thầy hãy cố gắng cho tốt lên, chớ để thua họ. Các
thầy đa văn trí tuệ, của cải cũng hơn, được nhiều người
biết đến. Chúng tôi đứng về phía các thầy.» Do đó, trong
Chúng nếu chưa có sự đấu tranh liền phát sanh sự đấu
tranh; đã có sự đấu tranh rồi thì không thể nào diệt trừ
được.
Các
tỳ-kheo nghĩ như vầy: «Vì lí do gì trong Chúng nếu chưa có
sự đấu tranh liền phát sanh sự đấu tranh; đã có sự đấu
tranh rồi thì không thể nào diệt trừ được?» Các tỳ-kheo
tìm hiểu, biết do hai tỳ-kheo Trí Tuệ và Lô-hê-na thích gây
gổ, mạ lỵ nhau, miệng tuôn ra những lời như đao như kiếm,
tìm tòi sở trường, sở đoản của nhau. Các vị ấy tự
mình gây gổ, mạ lỵ nhau. Nhưng nếu có các tỳ-kheo khác
nào gây gổ nhau, thì liền đến chỗ họ để khuyến khích
rằng: ‹Các Thầy hãy cố gắng cho tốt lên, chớ để thua
họ. Các thầy đa văn trí tuệ, của cải cũng hơn, được
nhiều người biết đến. Chúng tôi đứng về phía các thầy.›
Do đó, trong Chúng nếu chưa có sự đấu tranh liền phát sanh
sự đấu tranh; đã có sự đấu tranh rồi thì không thể nào
diệt trừ được.»
Bấy
giờ trong chúng có tỳ-kheo nghe biết, là vị thiểu dục tri
túc, tu hạnh đầu-đà, ưa học giới, có tàm quý, hiềm trách
hai tỳ-kheo kia rằng: «Sao các thầy thích gây gổ, mạ lỵ
nhau, miệng tuôn ra những lời như đao như kiếm, khiến cho
Tăng xảy ra sự tranh cãi không thể nào diệt trừ được?»
Bấy
giờ các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát
chân, ngồi lui qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức
Phật một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn đem nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, ha trách hai tỳ-kheo kia:
«Các
ông làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm việc không được làm. Này Trí Tuệ và Lô-hê-na, sao các
ông thích gây gổ, mạ lỵ nhau, miệng tuôn ra những lời như
đao như kiếm, khiến cho Tăng xảy ra sự tranh cãi không thể
nào diệt trừ được?»
Đức
Thế Tôn dùng vô số phương tiện ha trách, rồi bảo các tỳ-kheo:
«Cho
phép các tỳ-kheo trao cho Trí Tuệ và Lô-hê-na pháp ha trách[3]
bằng bạch tứ yết-ma. Nên họp Tăng, họp Tăng xong, đối
với Trí Tuệ... tác cử, tác cử rồi vì họ tác ức niệm,
tác ức niệm rồi cho tội.[4] Trong Chúng nên sai một vị có
khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch như
vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Hai tỳ-kheo Trí Tuệ và Lô-hê-na này
thích tranh tụng, mạ lỵ nhau, miệng tuôn ra những lời như
đao như kiếm, tìm tòi sở trường, sở đoản của nhau. Các
vị ấy tự mình gây gổ, mạ lỵ nhau. Nhưng nếu có các tỳ-kheo
khác nào tranh tụng nhau, thì liền đến chỗ họ để khuyến
khích rằng: ‹Các thầy hãy cố gắng cho tốt lên, chớ để
thua họ. Các thầy đa văn trí tuệ, của cải cũng hơn, được
nhiều người biết đến. Chúng tôi đứng về phía các thầy.›
Do đó, trong Chúng nếu chưa có sự đấu tranh liền phát sanh
sự đấu tranh; đã có sự đấu tranh rồi thì không thể nào
diệt trừ được. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng,
Tăng chấp thuận, Tăng đối với hai tỳ-kheo Trí Tuệ và Lô-hê-na
tác yết-ma ha trách. Nếu sau này còn đấu tranh, mạ lỵ nữa,
thì chúng Tăng sẽ tăng thêm tội để trị. Đây là lời tác
bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Hai tỳ-kheo Trí Tuệ và Lô-hê-na này
thích tranh tụng, mạ lỵ nhau, miệng tuôn ra những lời như
đao như kiếm, tìm tòi sở trường, sở đoản của nhau. Các
vị ấy tự mình gây gổ, mạ lỵ nhau. Nhưng nếu có các tỳ-kheo
khác nào tranh tụng nhau, thì liền đến chỗ họ để khuyến
khích rằng: ‹Các thầy hãy cố gắng cho tốt lên, chớ để
thua họ. Các thầy đa văn trí tuệ, của cải cũng hơn, được
nhiều người biết đến. Chúng tôi đứng về phía các thầy.›
Do đó, trong Chúng nếu chưa có sự đấu tranh liền phát sanh
sự đấu tranh; đã có sự đấu tranh rồi thì không thể nào
diệt trừ được. Tăng đối với hai tỳ-kheo Trí Tuệ và
Lô-hê-na tác pháp yết-ma ha trách. Các Trưởng lão nào chấp
thuận Tăng trao cho hai tỳ-kheo Trí Tuệ và Lô-hê-na pháp yết-ma
ha trách, nếu sau này đấu tranh lại, mạ lỵ nhau nữa, chúng
Tăng sẽ tăng thêm tội để trị, thì im lặng. Vị nào không
đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận đối với Trí Tuệ và Lô-hê-na tác pháp yết-ma
ha trách rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
Người
bị tác yết-ma ha trách rồi, có năm việc không được làm:
1. Không được trao đại giới cho người. 2. Không được
nhận người y chỉ. 3. Không được nuôi sa-di. 4. Không được
nhận Tăng sai giáo thọ tỳ-kheo-ni. 5. Nếu Tăng đã sai rồi,
không được giáo thọ. Đó là năm việc không được làm
khi yết-ma ha trách rồi.
Lại
có năm việc không được làm nữa: 1. Không được thuyết
giới. 2. Chúng Tăng hỏi nghĩa tỳ-ni, không được đáp. 3.
Chúng Tăng sai làm yết-ma, không được làm. 4. Chúng Tăng chọn
người trí tuệ họp để bình luận việc của Chúng, không
được dự. 5. Chúng Tăng sai người làm tín mạng, không được
làm. Đó là năm việc không được làm sau khi yết-ma ha trách
rồi.
Lại
có năm việc không được làm nữa: 1. Không được vào tụ
lạc quá sớm. 2. Không được về quá muộn. 3. Phải gần
gũi tỳ-kheo, không được gần gũi người ngoại đạo. 4.
Phải khéo thuận tùng lời dạy của các tỳ-kheo. 5. Không
được nói quanh co.[5] Đó là năm việc không được làm khi
ha trách rồi.
Lại
có năm việc không được làm nữa: 1. Chúng Tăng tùy theo việc
phạm giới đã tác yết-ma ha trách rồi thì không được phạm
lại tội đó. 2. Cũng không được phạm các tội khác. 3.
Hoặc tương tợ hoặc từ giới này mà sanh. 4. Hoặc nặng
hơn tội này. 5. Không được chỉ trích yết-ma và người
tác yết-ma. Đó là năm việc không được làm khi bị ha trách
rồi.
Lại
có năm việc không được làm nữa: 1. Thiện tỳ-kheo trải
chỗ ngồi cúng dường, không được nhận. 2. Không được
nhận người khác rửa chân cho. 3. Không được nhận người
khác đặt đồ rửa chân cho. 4. Không được nhận người
khác lau giày dép cho. 5. Không được nhận người khác xoa
chà thân thể cho. Khi đã tác yết-ma ha trách rồi, không được
làm những việc trên.
Lại
có năm việc không được làm nữa: 1. Không được nhận thiện
tỳ-kheo lễ bái. 2. Không được nhận thiện tỳ-kheo chấp
tay. 3. Không được nhận thiện tỳ-kheo chào hỏi. 4. Không
được nhận thiện tỳ-kheo nghinh đón. 5. Không được nhận
thiện tỳ-kheo cầm y bát cho. Khi đã yết-ma ha trách rồi,
không được làm năm việc trên.
Lại
có năm việc không được làm: 1. Không được cử tội thiện
tỳ-kheo. 2. Không được tác ức niệm, tác tự ngôn[6] đối
với thiện Tỳ-kheo. 3. Không được làm chứng việc người
khác. 4. Không được ngăn bố-tát, tự tứ. 5. Không được
cùng thiện tỳ-kheo tranh tụng. Đó là năm việc người bị
ha trách rồi không được làm.
Phải
chấp hành như vậy.
Chúng
Tăng đối với Trí Tuệ và Lô-hê-na tác pháp ha trách bằng
bạch tứ yết-ma rồi, các Tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật
dạy [890a1]:
«Có
ba pháp tác yết-ma ha trách phi pháp phi tỳ-ni, yết-ma không
thành tựu: Không nêu tội, không tác ức niệm, không phục
thủ tội.[7]
«Lại
có ba việc: không phạm tội, không thuộc tội cần sám hối,[8]
hoặc phạm tội nhưng đã sám hối rồi.
«Lại
có ba việc: không tác cử, phi pháp, biệt chúng.
«Lại
có ba việc: không tác ức niệm, phi pháp, biệt chúng.
«Lại
có ba việc: không phục tội,[9] phi pháp, biệt chúng.
«Lại
có ba việc: không phạm, phi pháp, biệt chúng.
«Lại
có ba việc: phạm tội không cần sám hối, phi pháp, biệt
chúng.
«Lại
có ba việc: phạm tội nhưng đã sám hối rồi, phi pháp, biệt
chúng.
«Lại
có ba việc: không hiện tiền,[10] phi pháp, biệt chúng. Ba pháp
như vậy, tác yết-ma ha trách, phi pháp, phi tỳ-ni, yết-ma không
thành tựu.
«Có
ba việc tác yết-ma ha trách, như pháp như tỳ-ni, yết-ma thành
tựu. Ba việc ấy là gì? Tác cử, tác ức niệm, tác tự ngôn.
«Lại
có ba việc: phạm tội, thuộc tội phải sám tội, phạm chưa
sám tội.
«Lại
có ba việc: Tác cử, như pháp, hòa hợp. Tác ức niệm, như
pháp, hòa hợp.[11] Tác tự ngôn, như pháp, hòa hợp. Phạm
tội, như pháp, hòa hợp. Thuộc tội phải sám hối, như pháp,
hòa hợp. Có phạm mà chưa sám hối, như pháp hòa hợp. Có
hiện tiền, như pháp, hòa hợp. Đó là (những) ba pháp tác
yết-ma ha trách như pháp như tỳ-ni, yết-ma thành tựu.
«Có
năm pháp tác yết-ma ha trách phi pháp phi tỳ-ni, yết-ma không
thành tựu: Không hiện tiền, không tự ngôn, nhắm người
thanh tịnh, biệt chúng. Đó là năm việc tác yết-ma ha trách,
phi pháp phi tỳ-ni, yết-ma không thành tựu.
«Có
năm pháp tác pháp ha trách như pháp như tỳ-ni, yết-ma thành
tựu. Năm pháp ấy là gì? Hiện tiền, tự ngôn, nhắm người
không thanh tịnh, pháp hòa hợp. Đó là năm pháp tác yết-ma
ha trách như pháp như tỳ-ni, yết-ma thành tựu.»
Khi
chúng Tăng đang bữa tiểu thực hay bữa ăn chính, hoặc nói
pháp, hoặc bố-tát, người bị yết-ma ha trách sửa y phục
ngay thẳng, cởi bỏ giày dép, đứng qua một bên, quỳ gối,
chấp tay bạch như sau:
«Xin
đại đức nhận sự sám hối của tôi.»
«Từ
nay về sau, tự trách tâm mình. Thôi, không tái phạm nữa.»
Bấy
giờ, tỳ-kheo Trí Tuệ và Lô-hê-na tùy thuận chúng Tăng, không
chống trái, cần cầu giải yết-ma ha trách. Các tỳ-kheo bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
đã tùy thuận chúng Tăng, không chống trái, mà cần cầu giải
yết-ma, thì cho phép giải bằng pháp bạch tứ yết-ma.»
«Có
năm pháp không được giải yết-ma ha trách: vì trao đại giới
cho người, cho đến cùng thiện tỳ-kheo đấu tranh. Người
bị ha trách có năm việc như vậy không được vì họ giải
yết-ma ha trách.[12]
«Có
năm pháp nên giải: Không trao đại giới cho người, cho đến
không cùng thiện tỳ-kheo đấu tranh. Người bị yết-ma ha
trách có năm pháp như vậy thì nên giải.»
Nên
giải như vầy: Người bị yết-ma ha trách nên đến giữa
chúng Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, quỳ
gối bên hữu chấm đất, chấp tay bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi là tỳ-kheo tên... Tăng trao cho
pháp yết-ma ha trách. Nay tôi thuận tùng chúng Tăng, không chống
trái, cầu xin chúng Tăng giải yết-ma ha trách. Cúi xin Tăng
dũ lòng thương, vì tôi giải yết-ma ha trách.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng bạch như vậy.
Trong
Chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo
sự việc trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên... đã bị Tăng yết-ma
ha trách. Tỳ-kheo kia tùy thuận chúng Tăng, không chống trái,
cần cầu chúng Tăng giải yết-ma ha trách. Nếu thời gian thích
hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận giải yết-ma ha trách,
cho tỳ-kheo... Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên... đã bị Tăng tác
yết-ma ha trách, tỳ-kheo kia tùy thuận chúng Tăng không chống
trái. Nay đến trước Tăng cầu xin giải yết-ma ha trách. Nay
Tăng vì tỳ-kheo tên... giải yết-ma ha trách. Trưởng lão nào
đồng ý Tăng vì tỳ-kheo... giải yết-ma ha trách, thì im lặng.
Vị nào không đồng ý hãy nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng như vậy.
«Tăng
đã đồng ý giải yết-ma ha trách cho tỳ-kheo... rồi. Tăng
đã chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như
vậy.»
2.
Tẫn xuất
Thế
Tôn ở tại nước Xá-vệ. Bấy giờ ở nước Ky-ly-na[13] có
hai cựu tỳ-kheo, một vị tên A-thấp-tỳ, vị thứ hai tên
Phú-na-bà-sa.[14] Tại nước Kỳ-ly-na họ đã có hành vi xấu,
làm hoen ố nhà người. Hành vi xấu mọi người đều thấy,
mọi người đều nghe. Sự làm hoen ố nhà người, mọi người
đều thấy, mọi người đều nghe. Họ làm những hành vi xấu
như sau: tự mình trồng bông, trồng cây, bảo người trồng;
tự mình tưới nước, bảo người tưới nước; tự mình
hái hoa, bảo người hái hoa; tự mình làm tràng hoa, bảo người
làm tràng hoa; tự mình mang các loại hoa đi, bảo người mang
các loại hoa đi. Đến nhà bạch y có con trai, con gái, đồng
ngồi trên một giường, đồng ăn trong một bát, đồng uống
một ly; ca múa, vui đùa, làm các trò kỹ nhạc. Nếu có người
khác làm thì liền xướng họa theo; hoặc thổi bằng miệng,
hoặc đánh đàn, đánh trống, thổi sáo, hoặc thổi ống bối,
hoặc làm tiếng chim khổng tước, hoặc làm tiếng con hạc,
hoặc chạy hoặc đi nhót chân, hoặc huýt gió, hoặc hát chèo,
hoặc làm tiếng chim đùa giỡn.
Bấy
giờ, có một số đông tỳ-kheo từ nước Già-thi du hành trong
nhân gian, đến nước Kỳ-ly-na. Sáng sớm khoác y, bưng bát,
vào thành khất thực, bước đi khi tiến, khi dừng, oai nghi
rõ nét, mắt nhìn ngay thẳng, cúi ngước, co duỗi thong thả;
khoác y, bưng bát, nhìn thẳng trước bước đi, các căn không
loạn; khất thực tại nước Kỳ-ly-na. Các cư sĩ thấy vậy
nói như vầy: «Đây là những người nào, mà nhìn ngay, không
giỡn cười, không liếc ngó hai bên, không gần gũi vui đùa,
cũng không chào hỏi nhau? Chúng ta không nên cho những người
này ăn. Họ không như sa-môn của chúng ta là A-thấp-tỳ và
Phú-na-bà-ta, không cần nhìn ngay thẳng, nói đùa cười giỡn,
nhìn ngó bên này bên kia, cùng nhau vui nhộn, hỏi chào an ủi
nhau. Người như vậy chúng ta sẽ cho đồ ăn.» Bấy giờ các
tỳ-kheo ở nước Kỳ-ly-na khất thực khó được no đủ.
Tỳ-kheo kia nghĩ như vầy: «Nơi đây có cựu trú tỳ-kheo xấu.
Tỳ-kheo xấu ở, nên tỳ-kheo tốt bị xa lánh. Họ làm các
hành vi xấu như trồng các loại cây bông, cho đến nhận làm
các sứ giả cho người.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo từ nước Kỳ-ly-na du trong hành nhân gian
trở về nước Xá-vệ, đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ
sát chân, rồi ngồi lui qua một bên. Bấy giờ, đức Thế
Tôn an ủi các tỳ-kheo:
«Các
thầy sống có được hòa hợp an lạc không? Không vì vấn
đề ăn uống mà vất vả chăng?»
Các
tỳ-kheo bạch Phật rằng:
«Chúng
Tăng sống được hòa hợp an lạc. Chúng con từ nước Già-thi
du hành nhân gian, đến nước Kỳ-ly-na.» Trình bày đầy đủ
nhơn duyên lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn lúc bấy giờ
dùng vô số phương tiện quở trách rằng:
«Các
ông đó làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm việc không nên làm. A-thấp-tỳ và Phú-na-bà-ta,
tại sao các ông đó làm ô uế nhà người, có hành vi xấu?
Sự làm hoen ố nhà người, ai cũng thấy, ai cũng nghe; hành
vi xấu, ai cũng thấy ai cũng nghe. Các ông đó làm các hành
vi xấu như trồng các loại hoa, các loài cây tạp, cho đến
nhận làm sứ giả của người.»
Lúc
bấy giờ, Thế Tôn ha trách A-thấp-tỳ và Phú-na-bà-ta, rồi
bảo các Tỳ-kheo:
«Cho
phép Tăng vì A-thấp-tỳ và Phú-na-bà-ta tác pháp tẫn[15] bằng
bạch tứ yết-ma.»
Nên
làm như vầy: Tập tăng rồi, vì A-thấp-tỳ và Phú-na-bà-ta
tác cử [891a1], tác cử rồi tác ức niệm, tác ức niệm rồi
trao cho tội trạng. Trong chúng nên sai một vị có khả năng
tác yết-ma theo sự việc trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo A-thấp-tỳ và Phú-na-bà-ta
này ở tại nước Kỳ-ly-na làm hoen ố nhà người, có hành
vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe.
Hành vi xấu ai cũng thấy ai cũng nghe. Nếu thời gian thích
hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận đối với A-thấp-tỳ
và Phú-na-bà-ta tác yết-ma tẫn. Nói rằng, ‹Các ngươi làm
hoen ố nhà người, làm hành vi xấu. Các ngươi làm hoen ố
nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi xấu ai cũng thấy
ai cũng nghe. Các ngươi nên rời khỏi trú xứ này, không được
ở đây nữa.› Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo A-thấp-tỳ và Phú-na-bà-ta
này ở tại nước Kỳ-ly-na làm hoan ố nhà người, có hành
vi xấu. Sự làm hoen ố nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe.
Hành vi xấu ai cũng thấy ai cũng nghe. Nếu thời gian thích
hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận đối với A-thấp-tỳ
và Phú-na-bà-ta tác yết-ma tẫn. Nói rằng, ‹Các ngươi làm
hoen ố nhà người, làm hành vi xấu. Các ngươi làm hoen ố
nhà người ai cũng thấy, ai cũng nghe. Hành vi xấu ai cũng thấy
ai cũng nghe. Các ngươi nên rời khỏi trú xứ này, không được
ở đây nữa.› Các Trưởng lão nào đồng ý Tăng đối với
hai Tỳ-kheo A-thấp-tỳ và Phú-na-bà-ta tác pháp yết-ma tẫn
thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma
lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận vì A-thấp-tỳ và Phú-na-bà-ta tác pháp yết-ma
tẫn rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
Người
bị tác yết-ma tẫn có năm pháp không được làm: Không được
trao giới cụ túc cho người, cho đến không được cùng thiện
tỳ-kheo đấu tranh.[16] Nên tác pháp như pháp yết-ma ha trách
trên, chỉ trừ ở chỗ ‹trong chúng khác thuyết giới.›[17]
Chúng
Tăng đã tác pháp tẫn bằng bạch tứ yết-ma cho hai tỳ-kheo
A-thấp-tỳ và Phú-na-bà-ta rồi. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật
dạy:
«Có
ba pháp và năm pháp tác yết-ma tẫn phi pháp phi tỳ-ni, yết-ma
không thành tựu như trên.[18] Có ba pháp và năm pháp tác yết-ma
tẫn như pháp như tỳ-ni, yết-ma thành tựu như trên.
Tỳ-kheo
bị tẫn kia không được gọi mà tự đến trong cương giới.
Các Tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được tự đến trong cương giới. Cho phép ở ngoài cương
giới khi chưa được gọi, sai người đáng tin cậy đến trong
Tăng, bạch Đại đức Tăng xin sám hối, từ nay về sau tự
trách lòng mình không để tái phạm.»
Tỳ-kheo
A-thấp-tỳ kia đã tùy thuận chúng Tăng không dám chống trái,
đến Tăng cầu xin giải yết-ma tẫn. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Nếu
đã tùy thuận chúng Tăng, không còn chống trái nữa, thì nên
đến Tăng cầu xin giải yết-ma tẫn. Nên bạch tứ yết-ma
giải.»
«Có
năm pháp không nên giải yết-ma tẫn: Trao đại giới cho người,
cho đến cùng thiện tỳ-kheo đấu tranh.
«Lại
có năm pháp nên giải yết-ma tẫn: Không trao đại giới cho
người cho đến không cùng thiện tỳ-kheo đấu tranh.»
Giải
như vầy: Tỳ-kheo bị tẫn kia đến giữa Tăng, để trống
vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, quỳ gối bên hữu chấm đất,
chấp tay bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Con là tỳ-kheo tên... Tăng đã trao
cho con pháp yết-ma tẫn, nay con đã tùy thuận chúng Tăng không
dám trái nghịch nữa, đến Tăng cầu xin giải yết-ma tẫn,
cúi xin Tăng dũ lòng thương xót, vì con mà giải yết-ma tẫn.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
Trong
chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma theo sự việc
trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên... này, Tăng đã trao pháp
yết-ma tẫn, nay tùy thuận chúng Tăng không dám trái nghịch
nữa, đến Tăng cầu xin giải yết-ma tẫn. Nếu thời gian
thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng vì tỳ-kheo
tên... giải yết-ma tẫn. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên... Tăng đã được
tác yết-ma tẫn, nay tùy thuận chúng Tăng không dám chống
trái nữa, đến giữa Tăng cầu xin tăng giải yết-ma tẫn.
Nay Tăng vì tỳ-kheo tên... giải yết-ma tẫn. Các trưởng lão
nào đồng ý Tăng vì tỳ-kheo... giải yết-ma tẫn, thì im lặng.
Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như trên.
«Tăng
đã vì tỳ-kheo... giải yết-ma tẫn rồi. Tăng chấp thuận
nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
3.
Y chỉ
Thế
Tôn ở nưóc Xá-vệ. Bấy giờ có Tỳ-kheo tên là Tăng-sô,[19]
ngu si không hiểu biết, phạm rất nhiều tội; sống lẫn lộn
với các bạch y, gần gũi chung chạ, không hợp với Phật
pháp. Các tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc,
sống khổ hạnh, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách
tỳ-kheo Tăng-sô: «Thầy ngu si không hiểu biết, phạm rất
nhiều tội. Sao lại sống lẫn lộn với các bạch y, gần
gũi chung chạ, không hợp với Phật pháp?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi
qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế Tôn một
cách đầy đủ. Bấy giờ, đức Thế Tôn tập họp Tăng tỳ-kheo,
dùng vô số phương tiện ha trách tỳ-kheo Tăng-sô:
«Ông
đã làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm việc không nên làm. Sao lại sống lẫn lộn với các bạch
y, gần gũi chung chạ, không hợp với Phật pháp?»
Quở
trách rồi đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Cho
phép Tăng vì tỳ-kheo Tăng-sô tác pháp y chỉ[20] bằng pháp
bạch tứ yết-ma.»
Tác
pháp như vầy: Họp Tăng. Tăng họp rồi tác cử. Tác cử rồi
tác ức niệm. Tác ức niệm rồi cho tội. Trong chúng nên sai
một vị có khả năng tác yết-ma theo sự việc trên tác bạch
như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Tăng-sô này ngu si không hiểu
biết, phạm rất nhiều tội; sống lẫn lộn với các bạch
y, gần gũi chung chạ, không hợp với Phật pháp. Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận cho tỳ-kheo
Tăng-sô pháp yết-ma y chỉ. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Tăng-sô ngu si không hiểu
biết, phạm rất nhiều tội; sống lẫn lộn với các bạch
y, gần gũi chung chạ, không hợp với Phật pháp. Nay Tăng vì
tỳ-kheo Tăng-sô tác pháp yết-ma y chỉ. Các Trưởng lão nào
chấp thuận vì tỳ-kheo Tăng-sô này tác pháp yết-ma y chỉ
thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma
lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận vì tỳ-kheo Tăng-sô tác yết-ma y chỉ rồi.
Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Tác
yết-ma y chỉ, năm việc không được làm: Không được trao
đại giới cho người, cho đến không cùng với thiện tỳ-kheo
đấu tranh.[21] Nên làm như vậy. Chúng Tăng đã trao cho tỳ-kheo
Tăng-sô tác yết-ma y chỉ bằng pháp bạch tứ yết-ma rồi.
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Có
ba pháp và năm pháp được tác yết-ma y chỉ, không được
tác yết-ma y chỉ, như trên.»
Vị
kia xưng địa phương tác yết-ma y chỉ. Địa phương kia bị
phá hoại, nhân dân phản loạn. Đức Phật dạy:
«Không
được xưng địa phương tác yết-ma y chỉ.»
Vị
kia xưng quốc độ tác yết-ma y chỉ. Quốc độ kia bị phá
hoại, nhân dân tán loạn. Đức Phật dạy:
«Không
được xưng quốc độ tác yết-ma y chỉ.»
Vị
kia xưng trú xứ tác yết-ma y chỉ. Trú xứ kia nhân dân phá
hoại. Đức Phật dạy:
«Không
được xưng trú xứ tác yết-ma y chỉ.»
Vị
kia xưng người tác yết-ma y chỉ. Người kia hoặc bị phá
giới, hoặc bị phá kiến, hoặc phá oai nghi, hoặc bị cử,
hoặc bị diệt tẫn, hoặc bị nên diệt tẫn, không thể tăng
ích cho pháp Sa-môn, Phật [892a1] dạy:
«Không
được xưng người tác yết-ma y chỉ.»
Vị
kia xưng an cư tác yết-ma y chỉ. Người bị yết-ma kia trong
an cư đắc trí tuệ. Đức Phật dạy:
«Không
được xưng an cư tác yết-ma y chỉ, mà cho phép nói rằng:
‹Ngươi hãy thọ y chỉ, nương theo mà sống.›»
Lúc
bấy giờ, tỳ-kheo Tăng-sô đến chỗ tỳ-kheo thân hậu đa
văn trí tuệ, giỏi về việc ăn nói, ở trong tụ lạc xin
học phép tỳ-ni. Trong khi an cư đặng trí tuệ, tùy thuận
chúng Tăng không dám trái nghịch, đến trước Tăng xin giải
yết-ma y chỉ. Các Tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo Tăng-sô tùy thuận Chúng Tăng, không dám trái nghịch,
đến trước Chúng Tăng, cầu xin giải yết-ma y chỉ thì nên
cho giải bằng pháp bạch tứ yết-ma.
«Có
năm pháp không được giải yết-ma y chỉ: Trao đại giới
cho người, cho đến cùng thiện tỳ-kheo đấu tranh.
«Có
năm pháp cho giải yết-ma y chỉ: Không trao đại giới cho người
cho đến không cùng thiện tỳ-kheo đấu tranh. Năm pháp như
vậy nên cho giải yết-ma y chỉ.»
Nên
giải như vầy: Vị bị tác pháp yết-ma y chỉ nên đến giữa
Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, quỳ gối
bên hữu chấm đất, chấp tay bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Con tỳ-kheo tên là... Tăng đã trao
cho con pháp yết-ma y chỉ. Nay con tùy thuận Chúng Tăng đến
trước Tăng cầu xin giải yết-ma y chỉ. Cúi xin Tăng dũ lòng
thương vì con giải yết-ma y chỉ.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng thưa như vậy.
Trong
chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự
việc trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là... đã được Tăng
trao cho pháp yết-ma y chỉ. Tỳ-kheo kia đã tùy thuận Chúng,
không dám trái phạm nữa, (nay) đến trước Tăng cầu xin giải
yết-ma y chỉ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận, nay Tăng vì tỳ-kheo tên... giải yết-ma y chỉ.
Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là... đã được Tăng
trao cho yết-ma y chỉ, nay tùy thuận Chúng Tăng, không dám trái
phạm nữa, đến trước Tăng cầu xin giải yết-ma y chỉ.
Nay Tăng trao cho tỳ-kheo tên... pháp yết-ma giải y chỉ. Các
Trưởng lão nào chấp thuận Tăng trao cho tỳ-kheo... pháp yết-ma
giải y chỉ thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây
là yết-ma lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng vậy.
«Tăng
đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo tên... pháp yết-ma giải y
chỉ rồi, Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được ghi
nhận như vậy.»
4.
Hạ ý
Đức
Thế Tôn ở nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất,
Mục-liên cùng năm trăm tỳ-kheo ở nước Già-thi du hành trong
nhơn gian đến nơi Mật lâm.[22] Lúc đó Tôn giả Xá-lợi-phất
và Mục-liên ở trong vườn A-ma-lê.[23] Cư sĩ Chất-đa-la[24]
nghe hai Tôn giả du hành nhơn gian đến nơi Mật lâm hiện đang
ở trong vườn A-ma-lê. Người cư sĩ kia đến chỗ Tôn giả
Xá-lợi-phất và Mục-liên, đảnh lễ sát chân rồi ngồi
lui qua một bên. Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-liên vì cư sĩ
nói các pháp khai hóa, khiến được hoan hỷ. Khi cư sĩ nghe
Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-liên nói pháp mở bày hoan hỷ
rồi, bạch rằng: «Xin Đại đức cùng Chúng Tăng nhận lời
mời thọ thực của con vào ngày mai.» Tôn giả Xá-lợi-phất
và Mục-liên nhận lời bằng cách im lặng. Cư sĩ biết Tôn
giả Xá-lợi-phất và Mục-liên đã hứa khả rồi, liền từ
chỗ ngồi đứng dậy kính lễ rồi cáo lui.
Về
đến nhà, cư sĩ sắm sửa đủ các loại đồ ăn thức uống
ngon bổ nhất trong thế gian, không thiếu một thứ gì.
Bấy
giờ, trong vườn A-ma-lê, tỳ-kheo cựu trú tên là Thiện Pháp[25]
nghĩ như vầy: «Ta hãy đến nhà cư sĩ Chất-đa-la xem coi ông
ta sửa soạn đồ ăn thức uống, làm thức ăn cho tỳ-kheo
khách như thế nào; làm thức ăn cho tỳ-kheo cựu trú như thế
nào?»
Lúc
bấy giờ, tỳ-kheo cựu trú Thiện Pháp liền đến nhà cư
sĩ, đến chỗ làm thức ăn để xem coi thì thấy họ sửa
soạn đầy đủ các đồ ăn thức uống tối thượng trong
thế gian, không thiếu một thứ gì. Thấy rồi, ông nói như
vầy: «Cư sĩ làm các thứ đồ ăn thức uống cho tỳ-kheo
khách và làm các thứ đồ ăn thức uống vì cựu trú tỳ-kheo
khác nhau.»
Rồi
ông khởi tâm ganh tị, sân hận, liền nói những lời ác như
vầy:
«Trong
các thứ đồ ăn thức uống mà cư sĩ sắm sửa, có đủ những
thứ đồ ăn thức uống tối thượng trong thế gian, không
thiếu một thứ gì. Chỉ thiếu một thứ, đó là kẹo mè
(vừng)[26].»
Cư
sĩ Chất-đa-la liền nói rằng:
«Thưa
Trưởng lão Thiện Pháp, ngài ôm trong lòng nhiều bảo vật
như căn, lực, giác ý, thiền định, chánh thọ, mà nói những
lời thô ác như vậy! Ngài Thiện Pháp, tôi sắm sửa các thứ
đồ ăn thức uống ngon bổ như vậy thì dùng cặn bã cây
vừng để làm gì?»
Cư
sĩ nói tiếp:
«Nay
tôi xin nói một thí dụ. Người có trí nhờ thí dụ mà hiểu
rõ. Thí như có một quốc độ không có giống gà, trong khi
đó có một người khách buôn đem đến một con gà mái. Con
gà mái kia, vì không có gà trống, cùng với con quạ giao nhau.
Con gà đẻ trứng ấp thành con, không gáy tiếng gà, lại cũng
không kêu tiếng của quạ, nên gọi là gà quạ.[27] Cũng vậy,
ngài Thiện Pháp, ngài ôm trong lòng nhiều bảo vật như căn,
lực, giác ý, thiền định, chánh thọ, mà nói những lời
thô ác như vậy! Ngài Thiện Pháp, tôi sắm sửa các thứ đồ
ăn thức uống ngon bổ như vậy thì dùng cặn bã cây vừng
để làm gì?»
Tỳ-kheo
Thiện Pháp nói như vầy:
«Cư
sĩ mạ nhục tôi. Nay tôi muốn đi!»
Cư
sĩ nói:
«Thưa
đại đức Thiện Pháp, tôi không ác ngôn cũng không mạ nhục
Đại đức. Ngài nên vui vẻ an trụ nơi Mật lâm này, chúng
tôi sẽ cung cấp y phục, chăn màn, ngọa cụ, ẩm thực, thuốc
men chữa bệnh.»
Thiện
Pháp lại nói như vầy:
«Cư
sĩ mạ nhục tôi. Tôi sẽ đi!»
Cư
sĩ nói rằng:
«Đại
đức muốn đi đâu?»
Tỳ-kheo
Thiện Pháp nói:
«Tôi
muốn đến chỗ đức Thế Tôn, nơi nước Xá-vệ.»
Cư
sĩ nói:
«Như
những lời giữa tôi và ngài, Ngài cứ trình bày đúng sự
thật với đức Thế Tôn. Chứ đừng thêm bớt. Tại sao vậy?
Vì ngài sẽ còn trở lại chỗ này.»
Lúc
bấy giờ, tỳ-kheo Thiện Pháp mang y bát đến chỗ đức Thế
Tôn, đảnh lễ sát chân rồi ngồi qua một bên. Bấy giờ,
đức Thế Tôn an ủi bằng cách hỏi thăm:
«Các
tỳ-kheo trụ chỉ có được an lạc không? Không bị vất vả
vì thức ăn chăng?»
Thiện
Pháp thưa:
«Trụ
chỉ được an lạc. Không vì sự ăn uống mà phải khổ.»
Rồi
đem những sự việc cùng lời nói của cư sĩ bạch lên đức
Thế Tôn đầy đủ, không thêm bớt. Đức Thế Tôn dùng vô
số phương tiện quở trách tỳ-kheo Thiện Pháp rằng:
«Ông
làm điều phi pháp, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp sa-môn,
chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, làm
điều không nên làm. Này Thiện Pháp, sao cư sĩ kia là người
đàn-việt có tâm tin tưởng, làm nhiều việc lợi ích, cung
cấp chúng Tăng, mà ông dùng những lời hạ tiện mạ nhục?»
Khi
đức Thế Tôn ha trách Thiện Pháp rồi, bảo các tỳ-kheo:
«Cho
phép các tỳ-kheo vì tỳ-kheo Thiện Pháp tác pháp bạch tứ
yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y.[28]
«Đối
với tỳ-kheo có năm pháp, không được tác yết-ma ngăn không
cho đến nhà bạch y: Không cung kính cha mẹ, không kính sa-môn,
bà-la-môn, điều nên trì mà không kiên trì. Năm pháp như vậy
Tăng không được trao pháp yết-ma ngăn không cho đến nhà
bạch y.[29]
«Có
năm pháp nên tác pháp yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch
y: Cung kính cha mẹ, sa-môn, bà-la-môn, điều nên trì kiên trì
không bỏ. Năm pháp như vậy Tăng nên tác pháp yết-ma ngăn
không cho đến nhà bạch y.
«Tỳ-kheo
có mười pháp nên tác pháp yết-ma ngăn không cho đến nhà
bạch y: Ác khẩu mạ lỵ bạch y gia; phương tiện khiến nhà
bạch y tổn giảm; làm điều không lợi; làm cho không có trú
xứ; đấu loạn bạch y;[30] trước bạch y hủy báng Phật;
báng Pháp; báng Tăng; trước bạch y [893a1] mắng chửi hạ
tiện; như pháp hứa bạch y mà không thật hiện.[31] Tỳ-kheo
có mười pháp như vậy nên trao cho pháp yết-ma ngăn không
cho đến nhà bạch y.
«Có
chín pháp, tám pháp, cho đến một pháp ác khẩu mạ lỵ bạch
y gia, nên tác pháp yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y.»
Nên
làm như vầy: Họp Tăng. Tăng họp rồi tác cử. Tác cử rồi
tác ức niệm. Tác ức niệm rồi trao tội. Trong chúng nên
sai một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên
tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Thiện Pháp này đối với
cư sĩ Chất-đa-la là người đàn-việt có tâm tín mộ, thường
hay cung cấp bố thí cúng dường cho Chúng Tăng, mà lại dùng
lời hạ tiện xấu xa để mạ lỵ. Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, nay Tăng vì tỳ-kheo Thiện Pháp tác pháp yết-ma
ngăn không cho đến nhà bạch y. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Thiện Pháp đối với cư
sĩ Chất-đa-la là người đàn-việt có tâm tín mộ, thường
hay cung cấp bố thí cúng dường cho Chúng Tăng, mà tỳ-kheo
Thiện Pháp dùng lời hạ tiện để mạ lỵ. Nay Tăng vì tỳ-kheo
Thiện Pháp tác yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y. Trưởng
lão nào đồng ý, Tăng vì tỳ-kheo Thiện Pháp tác yết-ma ngăn
không cho đến nhà bạch y thì im lặng. Vị nào không đồng
ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.» Lần thứ hai,
lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo Thiện Pháp yết-ma ngăn không
cho đến nhà bạch y rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc
này được ghi nhận như vậy.»
Vị
kia đã được tác yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y rồi,
thì có năm pháp không được làm: Không được trao đại giới
cho người, cho đến không được cùng thiện tỳ-kheo đấu
tranh. Nên làm như vậy.
Tăng
đã vì tỳ-kheo Thiện Pháp tác yết-ma ngăn không cho đến
nhà bạch y bằng pháp bạch tứ rồi. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Có
ba pháp, có năm pháp tác yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch
y là phi pháp phi tỳ-ni, yết-ma không thành tựu, như trên.[32]
«Có
ba pháp, có năm pháp tác yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch
y là như pháp như tỳ-ni, yết-ma thành tựu, như trên.»
Đức
Phật cho phép sai một sứ giả đến nhà cư sĩ Chất-đa-la
vì tỳ-kheo Thiện Pháp sám hối cư sĩ Chất-đa-la. Sai bằng
pháp bạch nhị yết-ma. Sứ giả có tám pháp nên sai: 1. Nghe
nhiều. 2. Khéo nói. 3. Đã tự biết rõ. 4. Hiểu được ý
người. 5. Chấp nhận lời của người. 6. Có khả năng ghi
nhớ. 7. Không sơ sót. 8. Rõ được nghĩa của lời nói thiện
ác. Người có tám pháp như vậy thì nên sai làm sứ giả.
Ngài liền nói kệ rằng:
Trước
mặt những người trí,
Nói
không hề nhầm lẫn,
Cũng
không hề thêm bớt,
Không
quên lời đã dạy,
Lời
nói không thể hoại,
Nghe
không bị khuynh động:
Tỳ-kheo
được như vậy,
Có
thể làm sứ giả.
A-nan
là người có đủ khả năng thực hiện tám pháp như vậy:
Khéo nghe, khéo nói, tự mình hiểu rõ, hiểu được ý người,
chấp nhận lời của người, đủ khả năng ghi nhớ, không
sơ sót, rõ được nghĩa của lời nói thiện ác. Đức Phật
cho phép Tăng sai A-nan làm người sứ giả, vì tỳ-kheo Thiện
Pháp sám hối cư sĩ Chất-đa-la, sai bằng pháp bạch nhị yết-ma
như sau: Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma,
dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận sai A-nan làm người sứ giả, vì tỳ-kheo
Thiện Pháp sám hối cư sĩ Chất-đa-la. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Nay Tăng sai A-nan làm sứ giả, vì
tỳ-kheo Thiện Pháp sám hối cư sĩ Chất-đa-la. Các Trưởng
lão nào đồng ý Tăng sai A-nan làm sứ giả, vì tỳ-kheo Thiện
Pháp sám hối cư sĩ Chất-đa-la thì im lặng, vị nào không
đồng ý xin nói.
«Tăng
chấp thuận sai A-nan làm sứ giả, vì tỳ-kheo Thiện Pháp sám
hối cư sĩ Chất-đa-la rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc
này được ghi nhận như vậy.
Tăng
đã sai sứ giả. Vị được sai đến nhà cư sĩ nói lời sám
hối như vầy: «Tăng đã vì tỳ-kheo Thiện Pháp tác pháp khiển
trách phạt vị ấy.»[33] Nếu cư sĩ nhận sự sám hối thì
tốt. Bằng không, thì nên đưa cư sĩ đến chỗ mắt thấy,
tai không nghe.[34] Rồi để tỳ-kheo bị yết-ma ở chỗ mắt
thấy, tai không nghe, khiến như pháp sám hối. Sau đó, đến
nói với cư sĩ đó rằng: «Tỳ-kheo kia trước phạm tội.
Nay đã sám hối. Tội đã trừ.» Nếu cư sĩ nhận sự sám
hối thì tốt, bằng không thì tỳ-kheo phạm tội tự mình
đến để sám hối.[35]
Tôn
giả A-nan nghe đức Thế Tôn dạy như vậy rồi, dẫn tỳ-kheo
Thiện Pháp đến nhà cư sĩ Chất-đa-la nói lên lời sám hối
cư sĩ: «Tỳ-kheo kia Tăng đã làm pháp khiển phạt.» Cư sĩ
Chất-đa-la liền chịu nhận cho sám hối.
Bấy
giờ tỳ-kheo Thiện Pháp thuận tùng Chúng Tăng không dám trái
nghịch, đến giữa Tăng cầu xin giải yết-ma ngăn không cho
đến nhà bạch y. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo Thiện Pháp đã thuận tùng Chúng Tăng không dám trái
nghịch, mà cầu xin giải yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch
y thì nên giải bằng pháp bạch tứ yết-ma.
«Có
năm pháp không được giải yết-ma ngăn không cho đến nhà
bạch y: Trao đại giới cho người, cho đến cùng thiện tỳ-kheo
đấu tranh.
«Có
năm pháp nên giải yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y:
Không trao đại giới cho người, cho đến không cùng thiện
tỳ-kheo đấu tranh. Năm pháp như vậy thì nên giải yết-ma
ngăn không cho đến nhà bạch y.»
Nên
giải như vầy: Người bị yết-ma nên đến giữa Tăng, để
trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, quỳ gối bên hữu chấm
đất, chấp tay thưa:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là... Tăng đã trao
cho pháp yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y. Nay tôi đã
thuận tùng Chúng Tăng không dám trái nghịch, nên đến giữa
Tăng cầu xin giải yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y.
Cúi xin Tăng dũ lòng thương vì tôi giải yết-ma ngăn không
cho đến nhà bạch y.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng cầu xin như vậy. Trong chúng nên
sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là... Tăng đã vì ông
tác pháp yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y. Tỳ-kheo kia
tùy thuận Chúng Tăng không dám trái nghịch, (nay) đến giữa
Chúng Tăng cầu xin giải pháp yết-ma ngăn không cho đến nhà
bạch y. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, nay Tăng vì ông mà giải yết-ma ngăn không cho đến
nhà bạch y. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo kia tên là... Tăng đã tác
pháp yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y, tỳ-kheo kia đã
tùy thuận Chúng Tăng không dám trái nghịch, đến trước Tăng
cầu xin giải pháp yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y.
Nay Tăng vì tỳ-kheo tên... giải pháp yết-ma ngăn không cho
đến nhà bạch y. Trưởng lão nào chấp thuận Tăng vì tỳ-kheo...
giải yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y thì im lặng. Vị
nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận vì tỳ-kheo... giải yết-ma ngăn không cho đến
nhà bạch y rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc nầy được
ghi nhận như vậy.»[36]
5.
Xả trí
[894a8]1.
Thế Tôn ở tại Câu-thiểm-di. Bấy giờ tỳ-kheo Xiển-đà[37]
phạm tội, tỳ-kheo khác bảo rằng: «Thầy phạm tội có thấy
không?» Xiển-đà trả lời: «Không thấy.»
Các
tỳ-kheo nghe biết, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống
khổ hạnh, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách tỳ-kheo
Xiển-đà rằng: «Thầy phạm tội, các tỳ-kheo nói, ‹Thầy
phạm tội có thấy không?› Sao Thầy lại nói ‹Không thấy›?»
Các
tỳ-kheo liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân
rồi ngồi qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức
Phật một cách đầy đủ. Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập
hợp Tăng tỳ-kheo, quở trách tỳ-kheo Xiển-đà:
«Nầy
tỳ-kheo Xiển-đà, ông phạm tội, các tỳ-kheo nói, ‹Thầy
phạm tội có thấy không?› Sao ông lại nói ‹Không thấy›?»
Đức
Thế Tôn dùng vô số phương tiện quở trách tỳ-kheo Xiển-đà,
rồi bảo các tỳ-kheo:
«Cho
phép Chúng Tăng trao cho tỳ-kheo Xiển-đà yết-ma bị cử vì
không thấy tội,[38] bằng pháp bạch tứ yết-ma.»
Nên
làm như vầy: Tập họp Tăng. Tăng họp rồi tác cử. Tác cử
rồi tác ức niệm. Tác niệm rồi trao tội. Trong chúng nên
sai một vị có khả năng tác yết-ma, theo sự việc trên tác
bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Xiển-đà này phạm tội.
Tỳ-kheo khác hỏi rằng: ‹Thầy phạm tội; có thấy không?›
Xiển-đà đáp: ‹Không thấy.› Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng vì Xiển-đà tỳ-kheo
tác yết-ma bất kiến tội cử. Đây là lời tác bạch .
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Xiển-đà phạm tội, tỳ-kheo
Xiển-đà này phạm tội. Tỳ-kheo khác hỏi rằng: ‹Thầy
phạm tội; có thấy không?› Xiển-đà đáp: ‹Không thấy.›
Nay Tăng vì Xiển-đà tác yết-ma bất kiến tội cử. Các trưởng
lão nào chấp thuận Tăng vì tỳ-kheo Xiển-đà tác yết-ma
bất kiến tội cử thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin
nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận vì tỳ-kheo Xiển-đà tác yết-ma bất kiến
cử rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi
nhận như vậy.»
«Đã
tác yết-ma bất kiến tội cử rồi, thì có năm pháp không
được làm: Không được trao đại giới cho người, cho đến
không được cùng thiện tỳ-kheo đấu tranh. Nên làm như vậy.»
Chúng
Tăng đã vì tỳ-kheo Xiển-đà tác pháp bất kiến tội cử
bằng bạch tứ yết-ma rồi, các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Có
ba pháp, năm pháp tác yết-ma bất kiến tội cử là phi pháp
phi tỳ-ni không thành tựu, như trên.
«Lại
có ba pháp, năm pháp tác yết-ma bất kiến tội cử thì như
pháp như tỳ-ni yết-ma thành tựu như trên.»
Tỳ-kheo
bị cử bất kiến tội kia, khi Chúng Tăng khi tiểu thực hay
đại thực, lúc nói pháp, lúc bố-tát, nên đến giữa Tăng,
đứng qua một bên, để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày
dép, quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa: «Xin Đại
đức nhận sự sám hối tự trách tâm của tôi, từ đây về
sau không dám trái phạm nữa.»
Tỳ-kheo
Xiển-đà đã tùy thuận Chúng Tăng, không dám trái nghịch,
đến trước Tăng cầu xin giải yết-ma bất kiến tội cử.
Các tỳ-kheo bạch Phật. Phật dạy:
«Nếu
Xiển-đà đã tùy thuận Chúng Tăng, không dám trái nghịch,
đến trước Tăng cầu xin giải yết-ma bất kiến tội cử
thì nên trao cho pháp yết-ma giải, bằng pháp bạch tứ.
«Có
năm pháp không được giải yết-ma bất kiến tội cử: Trao
đại giới cho người, cho đến cùng thiện tỳ-kheo đấu tranh.
«Có
năm pháp nên giải yết-ma bất kiến tội cử: Không trao đại
giới cho người, cho đến không cùng thiện tỳ-kheo đấu tranh.»
Nên
giải như vầy: Trong chúng nên sai một vị có khả năng tác
yết-ma, theo sự việc trên tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo kia tên là... Tăng đã trao
cho pháp yết-ma bất kiến tội cử, đã tùy thuận chúng Tăng
không dám trái nghịch, nay đến trước Tăng cầu xin giải
yết-ma bất kiến tội cử. Nếu thời gian thích hợp đối
với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng vì tỳ-kheo tên là...
giải yết-ma bất kiến tội cử. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là... đã được Tăng
tác yết-ma bất kiến tội cử, đã tùy thuận chúng Tăng,
không dám trái phạm, nay đến trước Tăng cầu xin giải yết-ma
bất kiến tội cử. Nay Tăng vì tỳ-kheo... giải yết-ma bất
kiến tội cử. Các Trưởng lão nào đồng ý Tăng vì tỳ-kheo...
giải yết-ma bất kiến tội cử thì im lặng. Vị nào không
đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận giải yết-ma bất kiến tội cử cho tỳ-kheo...
rồi, Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được ghi nhận
như vậy.»
2.
Thế Tôn ở tại Câu-thiểm-di. Tỳ-kheo Xiển-đà phạm tội,
các tỳ-kheo hỏi rằng: «Thầy có tội, cần sám hối.» Xiển-đà
trả lời: «Không sám hối.»
Các
tỳ-kheo nghe, trong đó có vị thiểu dục tri túc, sống khổ
hạnh, ưa học giới, biết hổ thẹn, hiềm trách tỳ-kheo Xiển-đà
rằng:
«Thầy
phạm tội, tỳ-kheo khác bảo: ‹Thầy phạm tội, cần sám
hối.› Sao Thầy lại trả lời: ‹Không sám hối›?»
Các
tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân rồi
ngồi lui qua một bên, đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế
Tôn một cách đầy đủ. Đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này
tập hợp Tăng tỳ-kheo, dùng vô số phương tiện ha trách tỳ-kheo
Xiển-đà:
«Ông
làm điều sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp
sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận,
làm điều không nên làm. Ông phạm tội, tỳ-kheo khác bảo:
‹Thầy phạm tội, cần sám hối.› Sao Ông lại trả lời:
‹Không sám hối›?»
Đức
Phật ha trách rồi bảo các tỳ-kheo:
«Cho
phép Chúng Tăng trao cho tỳ-kheo Xiển-đà pháp bị cử vì không
chịu sám hối[39] bằng pháp bạch tứ yết-ma. Nên làm như
vầy: Tập họp Tăng, Tăng họp rồi tác cử, tác cử rồi
tác ức niệm, tác ức niệm rồi trao tội. Trong chúng nên
sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, theo sự việc trên
tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Xiển-đà này phạm tội.
Tỳ-kheo khác bảo: ‹Thầy phạm tội, cần sám hối.› Xiển-đà
đáp: ‹Không sám hối.› Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng trao cho Xiển-đà pháp yết-ma
bất sám hối tội cử. Đây là lời tác bạch .
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Xiển-đà này phạm tội.
Tỳ-kheo khác bảo: ‹Thầy phạm tội, cần sám hối.› Xiển-đà
đáp: ‹Không sám hối.› Nay trao cho Xiển-đà pháp yết-ma
bất sám hối tội cử. Các Trưởng lão nào đồng ý Tăng
trao cho Xiển-đà yết-ma bất sám hối tội cử, thì im lặng.
Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận vì Xiển-đà tác yết-ma bất sám hối tội
cử rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi
nhận như vậy.»
Vị
kia đã được tác pháp bất sám hối tội cử rồi, thì có
năm pháp không được làm: Không được trao đại giới cho
người, cho đến không được cùng thiện tỳ-kheo đấu tranh.
Nên làm như vậy.
Chúng
Tăng vì Xiển-đà tác yết-ma bất sám hối tội cử bằng
pháp bạch tứ yết-ma rồi, các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Có
ba pháp, có năm pháp tác yết-ma bất sám hối tội cử là
phi pháp phi tỳ-ni [895a1], yết-ma không thành tựu, như trên.
[40]
«Có
ba pháp, có năm pháp tác yết-ma bất sám hối tội cử thì
như pháp như tỳ-ni, yết-ma thành tựu như trên.
Vị
đã bị tác yết-ma bất sám hối tội cử kia, khi Chúng Tăng,
hoặc vào bữa tiểu thực, hay đại thực, hoặc khi thuyết
pháp, bố-tát, nên đến trong Tăng, đứng qua một bên, để
trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, quỳ gối bên hữu chấm
đất, chấp tay bạch: «Xin Đại đức nhận sự sám hối tự
trách tâm mình của tôi, từ nay về sau không dám tái phạm.»
Tỳ-kheo
Xiển-đà đã tùy thuận Chúng Tăng không dám trái nghịch,
đến trước Tăng xin giải yết-ma bất sám hối tội cử,
các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo Xiển-đà đã tùy thuận Chúng Tăng không dám trái
phạm, cầu xin giải yết-ma bất sám hối tội cử thì Tăng
nên giải bằng pháp bạch tứ yết-ma.
«Có
năm pháp không được giải yết-ma bất sám hối tội cử:
Trao đại giới cho người cho đến cùng thiện tỳ-kheo đấu
tranh.
«Có
năm pháp nên giải yết-ma bất sám hối tội cử: Không trao
đại giới cho người cho đến không cùng thiện tỳ-kheo đấu
tranh.»
Nên
giải như vầy: Vị tỳ-kheo không sám hối tội cử kia nên
đến trong Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép,
quỳ gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là... Tăng đã tác
yết-ma bất sám hối tội cử, đã tùy thuận Chúng Tăng, không
dám trái phạm. Nay đến trước Tăng cầu xin giải yết-ma
bất sám hối tội cử. Cúi xin Tăng dũ lòng thương vì tôi
mà giải yết-ma bất sám hối tội cử.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy.
Trong
chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, theo sự
việc trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... Tăng đã trao
cho pháp yết-ma bất sám hối tội cử. Vị kia đã tùy thuận
Tăng chúng, không dám trái nghịch. Nay đến trước Tăng xin
giải yết-ma bất sám hối tội cử. Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng vì tỳ-kheo giải
yết-ma bất sám hối tội cử. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là... Tăng đã trao cho
pháp yết-ma bất sám hối tội cử, đã tùy thuận chúng Tăng
không dám trái nghịch, đến Tăng xin giải yết-ma bất sám
hối tội cử. Nay Tăng vì tỳ-kheo tên... giải yết-ma bất
sám hối tội cử. Các Trưởng lão nào đồng ý Tăng vì tỳ-kheo...
giải yết-ma bất sám hối tội cử, thì im lặng. Vị nào
không đồng ý xin nói. Đây là lời yết-ma lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã đồng ý trao cho tỳ-kheo... pháp giải yết-ma bất sám
hối tội cử rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này
được ghi nhận như vậy.»
4.
Thế Tôn ở tại nước Xá-vệ. Tỳ-kheo tự là A-lợi-tra,[41]
đã sanh ác kiến như vầy: «Tôi hiểu pháp nghĩa do đức Phật
nói, theo đó, phạm dâm dục chẳng phải là pháp chướng đạo.»
Các tỳ-kheo nghe tỳ-kheo tự là A-lợi-tra, đã sanh ra ác kiến
nói: «Tôi biết pháp nghĩa do đức Phật nói, theo đó, phạm
dâm dục chẳng phải là pháp chướng đạo.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo nghe, muốn trừ khử ác kiến đã sanh ra
nơi tỳ-kheo A-lợi-tra, nên liền đến chỗ tỳ-kheo A-lợi-tra,
cung kính chào hỏi rồi ngồi qua một bên. Các tỳ-kheo nói
với A-lợi-tra, rằng:
«Thật
sự ông hiểu pháp do đức Phật nói ra, theo đó, phạm dâm
dục chẳng phải là pháp chướng đạo?»
A-lợi-tra,
trả lời:
«Thật
sự tôi hiểu pháp do đức Phật nói ra, theo đó, phạm dâm
dục chẳng phải là pháp chướng đạo.»
Các
tỳ-kheo muốn trừ khử ác kiến đã sanh ra nơi A-lợi-tra,
nên liền ân cần khuyên bảo:
«Này
A-lợi-tra, chớ nói như vậy, chớ hủy báng đức Thế Tôn,
hủy báng đức Thế Tôn không tốt, đức Thế Tôn không bao
giờ nói như vậy. Này A-lợi-tra, đức Thế Tôn đã dùng vô
số phương tiện nói pháp để đoạn dục, đoạn dục tưởng,
diệt dục niệm, trừ bỏ lửa dục, vượt qua ái kết. Đức
Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện nói dục như hầm lửa
lớn, dục như đuốc cỏ khô, dục như trái chín muồi, như
vật tạm mượn, như xương khô, như miếng thịt, dục như
cảnh trong mộng, dục như mũi kiếm nhọn, dục như đồ gốm
mới làm mà đựng nước để giữa nắng, dục như đầu con
rắn độc, dục như nắm lưỡi gươm bén, dục như cây kích
nhọn bén. Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Này A-lợi-tra,
đức Như Lai đã khéo léo nói pháp đoạn dục, không dục,
loại bỏ cấu uế, không uế, diệt trừ khát ái, diệt trừ
hang ổ;[42] thoát ly tất cả các sự ràng buộc, Niết-bàn
với sự diệt tận của ái. Đức Phật nói như vậy đó.
Sao lại nói dâm dục chẳng phải là chướng đạo?»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo ân cần hỏi tỳ-kheo A-lợi-tra như vậy,
nhưng tỳ-kheo A-lợi-tra, vẫn kiên trì ác kiến, quả quyết
nói:
«Điều
đó là chân thật, ngoài ra là hư vọng.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo vì không thể loại trừ được ác kiến
của A-lợi-tra, nên liền đến chỗ đức Thế Tôn, rồi ngồi
qua một bên đem nhơn duyên này bạch lên đức Thế Tôn một
cách đầy đủ. Đức Thế Tôn lúc bấy giờ bảo một tỳ-kheo
khác rằng:
«Ông
nhân danh Ta, gọi tỳ-kheo A-lợi-tra đến đây.»
Bấy
giờ, tỳ-kheo kia vâng lời đức Thế Tôn, đến chỗ tỳ-kheo
A-lợi-tra bảo rằng:
«Đức
Thế Tôn gọi thầy.»
A-lợi-tra
nghe đức Thế Tôn kêu, liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh
lễ sát chân rồi ngồi qua một bên, đức Thế Tôn bảo:
«Này
A-lợi-tra, thật sự ông có nói ‹Tôi hiểu pháp do đức Thế
Tôn nói, dâm dục chẳng phải là pháp chướng đạo›, phải
không?»
A-lợi-tra
thưa:
«Bạch
Đại đức, thật sự con có nói như vậy.»
Đức
Phật hỏi:
«Sao
ngươi biết điều Ta nói như vậy? Ta đã từng dùng vô số
phương tiện để đoạn ái dục, như trên đã nói hay sao?»
Lúc
bấy giờ, đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện ha trách
tỳ-kheo A-lợi-tra rồi bảo các tỳ-kheo:
«Cho
phép Tăng vì tỳ-kheo A-lợi-tra tác pháp ha gián cho bỏ việc
này, bằng bạch tứ yết-ma.»
Nên
can gián như vầy: Trong chúng nên sai một vị có khả năng
tác pháp yết-ma dựa theo sự việc trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo A-lợi-tra này đã nói như
vầy, ‹Hành dâm dục chẳng phải là pháp chướng đạo.›
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận,
nay Tăng trao cho tỳ-kheo A-lợi-tra pháp can gián cho bỏ việc
này. Tăng nói: ‹A-lợi-tra, đừng nói như vậy. Đừng hủy
báng đức Thế Tôn, hủy báng đức Thế Tôn không tốt. Đức
Thế Tôn không nói như vậy. Đức Thế Tôn đã dùng vô số
phương tiện nói, Hành dâm dục là pháp chướng đạo. Nếu
phạm dâm dục tức là chướng đạo.› Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo A-lợi-tra đã nói như vầy:
‹Tôi đã biết pháp do Phật nói ra, hành dâm dục chẳng phải
là pháp chướng đạo. Nay Tăng tác pháp can gián cho bỏ việc
này. Tăng nói: ‹A-lợi-tra, đừng nói như vậy. Đừng hủy
báng đức Thế Tôn, hủy báng đức Thế Tôn không tốt. Đức
Thế Tôn không nói như vậy. Đức Thế Tôn đã dùng vô số
phương tiện nói. Hành dâm dục là pháp chướng đạo. Nếu
phạm dâm dục tức là chướng đạo.› Các Trưởng lão nào
chấp thuận Tăng vì tỳ-kheo A-lợi-tra tác pháp can gián cho
bỏ việc này, thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
vì tỳ-kheo A-lợi-tra tác pháp can gián ha trách rồi. Tăng chấp
thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Tỳ-kheo
A-lợi-tra đã được Tăng trao cho pháp can gián ha trách rồi
mà cố ý không bỏ ác kiến. Bấy giờ các tỳ-kheo nghe, trong
số đó có vị thiểu dục tri túc, sống khổ hạnh, ưa học
giới, biết hổ thẹn, ha trách tỳ-kheo A-lợi-tra: «Tăng trao
cho pháp can gián mà sao thầy cố ý không bỏ ác kiến?»
Lúc
ấy các tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân,
ngồi qua một bên, đem nơn duyên này bạch đầy đủ lên đức
Phật. Đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp Tăng tỳ-kheo,
ha trách tỳ-kheo A-lợi-tra rằng:
«Ông
làm điều [896a1] sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
pháp sa-môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy
thuận, làm điều không nên làm. Tăng trao cho pháp can gián
mà sao thầy cố ý không bỏ ác kiến?»
Dùng
vô số phương tiện ha trách, rồi đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Cho
phép các tỳ-kheo trao cho tỳ-kheo A-lợi-tra pháp bất xả ác
kiến cử[43] bằng pháp bạch tứ yết-ma.»
Nên
tác pháp như vầy: Tập họp Tăng. Tăng họp rồi tác cử,
tác cử rồi tác ức niệm, tác ức niệm rồi trao tội. Trong
chúng nên sai một vị có thể tác yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo A-lợi-tra đã sanh ra ác kiến.
Tăng đã trao cho pháp can gián mà cố tâm không chịu bỏ ác
kiến. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo A-lợi-tra yết-ma ác kiến bất
xả cử. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo A-lợi-tra không bỏ ác kiến,
Tăng đã trao cho pháp can gián ha trách mà cố tâm không xả
ác kiến. Nay Tăng vì tỳ-kheo A-lợi-tra tác yết-ma bất xả
ác kiến cử. Các Trưởng lão nào đồng ý nay Tăng trao cho
tỳ-kheo A-lợi-tra yết-ma bất xả ác kiến cử thì im lặng.
Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo A-lợi-tra yết-ma bất xả
ác kiến cử rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
«Người
đã được tác pháp ác kiến bất xả rồi, thì có năm việc
không được làm: Không được trao đại giới cho người,
cho đến không cùng thiện tỳ-kheo đấu tranh. Nên làm như
vậy.»
Tăng
đã vì tỳ-kheo A-lợi-tra tác pháp ác kiến bất xả bằng
pháp bạch tứ yết-ma rồi, các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Có
ba pháp, có năm pháp tác ác kiến bất xả cử yết-ma thì
phi pháp phi tỳ-ni, yết-ma không thành tựu, như trên.[44]
«Có
ba pháp, năm pháp tác ác kiến bất xả cử yết-ma thì như
pháp, như tỳ-ni, yết-ma thành tựu như trên.»
Vị
đã bị cử ác kiến bất xả yết-ma kia, vào lúc Tăng tiểu
thực, đại thực, hay lúc nói pháp, lúc bố-tát, nên đến
trước Tăng, đứng qua một bên, để trống vai bên hữu, cởi
bỏ giày dép, quỳ gối bên hữu chấm đất chấp tay bạch:
«Xin Đại đức nhận sự sám hối, tự trách tâm tôi, từ
nay về sau không dám tái phạm.»