CHƯƠNG
XII.
NGƯỜI[1]
1.
Phú tàng
i.
Hành ba-lợi-bà-sa
[896b26]
Thế Tôn ở tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có tỳ-kheo phạm
tăng tàn mà che dấu. Vị kia nghĩ như vầy: ‹Ta nên như thế
nào?› Rồi bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng tùy theo ngày che dấu, trao cho tỳ-kheo kia, pháp trị
tội phú tàng[2] bằng bạch tứ yết-ma.
Nên
làm như vầy: Tỳ-kheo kia nên đến giữa Tăng, để trống
vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ
gối chấp tay, bạch những lời như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên... đã phạm tội
tăng tàn[3] mà che dấu. Tôi tỳ-kheo tên... phạm tội tăng
tàn, tùy theo số ngày che dấu,[4] nay đến giữa Tăng xin yết-ma
phú tàng.[5] Cúi xin Tăng cho tôi yết-ma phú tàng tùy theo số
ngày, từ mẫn cố.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Trong chúng nên sai
một vị có khả năng yết-ma, theo sự việc trên tác bạch
như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên... đã phạm tội tăng
tàn mà che dấu. Tỳ-kheo tên... kia đã phạm tội tăng tàn
mà che dấu, tùy theo ngày che dấu đến giữa Tăng xin yết-ma
phú tàng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, Tăng trao cho Tỳ-kheo... yết-ma phú tàng tùy theo số
ngày. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là... đã phạm tội tăng
tàn. Tỳ-kheo tên là... kia đã phạm tội tăng tàn, tùy theo
ngày che dấu đến Tăng xin yết-ma phú tàng. Nay Tăng trao cho
Tỳ-kheo tên là... yết-ma phú tàng tùy theo số ngày. Các trưởng
lão nào đồng ý Tăng trao cho tỳ-kheo tên... yết-ma phú tàng
tùy theo số ngày thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Đây là yết-ma lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã đồng ý trao cho tỳ-kheo tên... yết-ma phú tàng tùy theo
số ngày rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
ii.
Bản nhật trị
Tỳ-kheo
kia khi hành phú tàng lại phạm tội chồng.[6][7] Vị kia nghĩ
như vầy: «Ta nên như thế nào?» rồi bạch các tỳ-kheo. Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng vì Tỳ-kheo kia tác pháp bổn nhật trị[8] bằng bạch
tứ yết-ma.»
Nên
bạch như vầy: Tỳ-kheo kia nên đến giữa Tăng để trống
vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ sát chân Tăng, đầu
gối bên hữu chấm đất, chấp tay bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là... phạm tội tăng
tàn mà che dấu. Tôi tỳ-kheo tên... phạm tội tăng tàn, đã
đến Tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che dấu. Tăng
đã trao cho tôi yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che dấu.
Tôi tỳ-kheo tên là... trong khi hành phú tàng, tái phạm tội
cũ.[9] Tôi tỳ-kheo tên là... nay đến trước Tăng xin yết-ma
bổn nhật trị của pháp phú tàng. Cúi xin Tăng cho tôi tỳ-kheo
tên là... yết-ma bổn nhật trị của pháp phú tàng. Từ mẫn
cố.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng thưa xin như vậy.
Trong
chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma theo sự việc
trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là... đã phạm tội tăng
tàn mà che dấu. Tỳ-kheo tên là... phạm tội tăng tàn [897a1]
đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che dấu.
Tăng đã trao cho tôi yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che dấu.
Vị kia khi hành pháp phú tàng, lại tái phạm tội cũ. Nay đến
giữa Tăng xin yết-ma bổn nhật trị của pháp phú tàng. Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận trao
cho tỳ-kheo tên là... yết-ma bổn nhật trị của pháp phú
tàng. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên là... đã phạm tội tăng
tàn mà che dấu. Tỳ-kheo này đã phạm tội tăng tàn, tùy theo
ngày che dấu, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo số
ngày che dấu. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... yết-ma phú tàng tùy
theo số ngày che dấu. Tỳ-kheo kia khi hành pháp phú tàng lại
tái phạm tội cũ. Tỳ-kheo kia đến Tăng xin yết-ma bổn nhật
trị của pháp phú tàng. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma
bổn nhật trị của pháp phú tàng. Các Trưởng lão nào đồng
ý Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma bổn nhật trị của pháp
phú tàng thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây
là yết-ma lần đầu.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã đồng ý trao cho tỳ-kheo... yết-ma bổn nhật trị của
pháp phú tàng rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
iii.
Ma-na-đỏa
Tỳ-kheo
kia hành pháp phú tàng rồi, bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng tác pháp sáu đêm ma-na-đỏa[10] cho tỳ-kheo kia bằng
bạch tứ yết-ma.»
Nên
trao cho như vầy: Tỳ-kheo kia đến giữa Tăng để trống vai
bên hữu, cởi bỏ giày dép kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối
bên hữu chấm đất, chấp tay bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là... phạm tội tăng
tàn mà che dấu. Tôi tỳ-kheo tên... phạm tội tăng tàn, đã
đến Tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che dấu. Tăng
đã trao cho tôi yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che dấu.
Tôi trong khi hành phú tàng, tái phạm tội cũ, đến trước
Tăng xin yết-ma bổn nhật trị của pháp phú tàng. Tăng đã
cho tôi yết-ma bổn nhật trị của pháp phú tàng. Tôi là Tỳ-kheo
tên... đã hành pháp bổn nhật trị của pháp phú tàng xong,
nay đến giữa Tăng xin yết-ma sáu đêm ma-na-đỏa. Cúi xin
Tăng cho tôi yết-ma sáu đêm ma-na-đỏa. Từ mẫn cố.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy.
Trong
chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma theo sự việc
như trên tác bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên... này, đã phạm tội
tăng tàn mà che dấu. Tỳ-kheo tên... đã phạm tội tăng tàn,
tùy theo ngày che dấu, đã đến tăng xin yết-ma phú tàng theo
số ngày che dấu. Tăng đã trao cho Tỳ-kheo... yết-ma phú tàng
theo số ngày che dấu. Trong khi vị kia hành pháp phú tàng tái
phạm tội cũ. Tỳ-kheo... này, đến Tăng xin yết-ma bổn nhật
trị của pháp phú tàng. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... pháp yết-ma
bổn nhật trị của pháp phú tàng. Tỳ-kheo... này đã hành
pháp bổn nhật trị của pháp phú tàng rồi, nay đến trước
Tăng xin yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm. Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, nay Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma ma-na-đỏa
sáu đêm . Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên... này, đã phạm tội
tăng tàn mà che dấu. Tỳ-kheo tên... đã phạm tội tăng tàn,
tùy theo ngày che dấu, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng theo
số ngày che dấu. Tăng đã trao cho Tỳ-kheo... yết-ma phú tàng
theo số ngày che dấu. Trong khi vị kia hành pháp phú tàng tái
phạm tội cũ. Tỳ-kheo... này, đến Tăng xin yết-ma bổn nhật
trị của pháp phú tàng. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... pháp yết-ma
bổn nhật trị của pháp phú tàng. Tỳ-kheo... này đã hành
pháp bổn nhật trị của pháp phú tàng rồi, nay đến trước
Tăng xin yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo...
yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm. Các trưởng lão nào chấp thuận
Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm thì im lặng.
Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần đầu.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận trao cho Tỳ-kheo... yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm
nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
iv.
Xuất tội
Vị
kia đã hành ma-na-đỏa rồi, bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng cho tỳ-kheo kia pháp xuất tội[11] bằng bạch tứ
yết-ma.»
Nên
xuất tội như vầy: Tỳ-kheo kia nên đến trong Tăng, để trống
vai bên hữu, cởi bỏ giày dép kính lễ sát chân Tăng, quỳ
gối bên hữu chấm đất, chấp tay bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là... phạm tội tăng
tàn mà che dấu. Tôi tỳ-kheo tên... phạm tội tăng tàn, đã
đến tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che dấu. Tăng
đã trao cho tôi yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che dấu.
Tôi trong khi hành phú tàng, tái phạm tội cũ, đến trước
Tăng xin yết-ma bổn nhật trị của pháp phú tàng. Tăng đã
cho tôi yết-ma bổn nhật trị của phú tàng. Tôi là tỳ-kheo...
đã hành bổn nhật trị của phú tàng rồi, đến Tăng xin
yết-ma ma-na-đỏa. Tăng đã cho tôi yết-ma sáu đêm ma-na-đỏa.
Tôi là tỳ-kheo tên... hành sáu đêm ma-na-đỏa rồi. Nay đến
Tăng xin yết-ma xuất tội. Từ mẫn cố.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy.
Trong
chúng nên sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, theo sự
việc trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên... này, đã phạm tội
tăng tàn mà che dấu. Tỳ-kheo tên... đã phạm tội tăng tàn,
tùy theo ngày che dấu, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng theo
số ngày che dấu. Tăng đã trao cho Tỳ-kheo... yết-ma phú tàng
theo số ngày che dấu. Trong khi vị kia hành pháp phú tàng tái
phạm tội cũ. Tỳ-kheo... này đến Tăng xin yết-ma bổn nhật
trị của phú tàng. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... pháp yết-ma
bổn nhật trị của pháp phú tàng. Tỳ-kheo... này đã hành
pháp bổn nhật trị của pháp phú tàng rồi, đến trước
Tăng xin yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm. Tăng đã trao cho Tỳ-kheo...
yết-ma sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo này đã hành sáu đêm
ma-na-đỏa rồi. Nay đến trong Tăng xin yết ma xuất tội. Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay
Tăng vì Tỳ-kheo... tác pháp yết-ma xuất tội. Đây là lời
tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo tên... này, đã phạm tội
tăng tàn mà che dấu. Tỳ-kheo tên... đã phạm tội tăng tàn,
tùy theo ngày che dấu, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng theo
số ngày che dấu. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... yết-ma phú tàng
theo số ngày che dấu. Trong khi vị kia hành pháp phú tàng tái
phạm tội cũ. Tỳ-kheo... này, đến Tăng xin yết-ma bổn nhật
trị của pháp phú tàng. Tăng đã trao cho tỳ-kheo... pháp yết-ma
bổn nhật trị của pháp phú tàng. Tỳ-kheo... này đã hành
pháp bổn nhật trị của pháp phú tàng rồi, đến trước
Tăng xin yết-ma ma-na-đỏa sáu đêm. Tăng đã trao cho tỳ-kheo...
yết-ma sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo này đã hành sáu đêm
ma-na-đỏa rồi. Nay đến trong Tăng xin yết-ma xuất tội. Nay
Tăng vì tỳ-kheo tác pháp yết-ma xuất tội. Các trưởng lão
nào đồng ý Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma xuất tội thì
im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần
đầu.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận vì tỳ-kheo... tác pháp yết-ma xuất tội rồi.
Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như
vậy.»
2.
Không phú tàng
Lúc
bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn mà không che dấu,
suy nghĩ: «Ta nên như thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo. Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa bằng pháp
bạch tứ yết-ma.»
Cách
trao như sau: Tỳ-kheo kia đến giữa Tăng, để trống vai bên
hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối
bên hữu chấm đất, chấp tay thưa:
«Đại
[898a1] đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là... đã phạm
tội tăng tàn mà không che dấu. Nay đến giữa Tăng xin sáu
đêm ma-na-đỏa. Cúi xin Tăng cho tôi sáu đêm ma-na-đỏa. Từ
mẫn cố.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy.
Trong
chúng nên sai một vị có thể tác yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng
tàn mà không che dấu. Nay đến trước Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận,
nay Tăng trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma-na-đỏa. Đây là lời
tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... đã phạm tội tăng tàn
không che dấu. Nay đến trước Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa.
Nay Tăng trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma-na-đỏa. Các Trưởng
lão nào chấp thuận Tăng trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma-na-đỏa
thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma
lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma-na-đỏa rồi.
Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như
vậy.»
Vị
kia trong thời gian hành pháp ma-na-đỏa lại tái phạm tội
cũ. Tỳ-kheo kia nghĩ như vầy: ‹Ta nên làm sao đây?› Rồi
bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia pháp bổn nhật trị của ma-na-đỏa
bằng bạch tứ yết-ma.»
Cách
trao như sau: Tỳ-kheo kia nên đến trước Tăng để trống vai
bên hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối
bên hữu chấm đất, chấp tay bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên là... đã phạm tội
tăng tàn không che dấu, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa,
Tăng đã trao tội sáu đêm ma-na-đỏa. Trong khi hành pháp ma-na-đỏa
lại tái phạm tội cũ, nay đến Tăng xin pháp yết-ma bổn
nhật trị ma-ma-na đỏa. Cúi xin Tăng cho tôi yết-ma-ma-na đỏa
của bổn nhật trị. Từ mẫn cố.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy. Trong chúng nên sai một
vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch
như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng
tàn không che dấu, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, Tăng
đã cho sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo kia khi hành pháp ma-na-đỏa
lại tái phạm tội cũ, đến Tăng xin yết-ma bổn nhật trị
của ma-na đỏa. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng,
Tăng chấp thuận trao cho tỳ-kheo... yết-ma bổn nhật trị
của ma-na đỏa. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng
tàn không che dấu, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, Tăng
đã cho sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo này khi hành pháp ma-na-đỏa
lại tái phạm tội cũ, đến Tăng cầu xin yết-ma bổn nhật
trị của ma-na đỏa. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma-ma-na
đỏa của bổn nhật trị. Các Trưởng lão nào chấp thuận
Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma bổn nhật trị của ma-na đỏa
thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma
lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo... yết-ma bổn nhật trị của
ma-na đỏa rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này ghi
nhận như vậy.»
Vị
kia hành ma-na-đỏa rồi, bạch các tỳ-kheo, các tỳ-kheo bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng vì tỳ-kheo kia xuất tội bằng pháp bạch tứ yết-ma.»
Nên
xuất như sau: Tỳ-kheo kia phải đến trước Tăng để trống
vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ
gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo... đã phạm tội tăng
tàn không che dấu, đã đến trong Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa.
Khi tôi hành pháp ma-na-đỏa lại tái phạm tội cũ, đã đến
trước Tăng xin bổn nhật trị của ma-na đỏa. Tăng đã cho
tôi yết-ma bổn nhật trị của ma-na đỏa. Tôi là tỳ-kheo
tên... đã hành bổn nhật trị của ma-na đỏa rồi, nay đến
Tăng xin yết-ma xuất tội, cúi xin Tăng cho tôi yết-ma xuất
tội. Từ mẫn cố.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy. Trong chúng nên sai một
vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch
như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng
tàn không che dấu, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, Tăng
đã cho sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo kia khi hành pháp sáu đêm
ma-na-đỏa lại tái phạm tội cũ, đã đến Tăng xin yết-ma
bổn nhật trị của ma-na-đỏa. Tăng đã cho tỳ-kheo kia yết-ma
bổn nhật trị của ma-na-đỏa. Vị kia đã hành ma-na-đỏa
rồi, nay đến Tăng xin yết-ma xuất tội. Nếu thời gian thích
hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng vì tỳ-kheo...
xuất tội, đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng
tàn không che dấu, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Tăng
đã cho sáu đêm ma-na-đỏa. Vị kia khi hành pháp ma-na-đỏa
lại phạm trọng tội, đã đến Tăng xin yết-ma bổn nhật
trị của ma-na-đỏa. Tăng đã cho yết-ma bổn nhật trị của
ma-na-đỏa. Tỳ-kheo này đã hành pháp bổn nhật trị của
ma-na-đỏa rồi, nay đến Tăng xin yết-ma xuất tội. Nay Tăng
cho tỳ-kheo... yết-ma xuất tội. Các Trưởng lão nào đồng
ý nay Tăng cho tỳ-kheo... yết-ma xuất tội thì im lặng. Vị
nào không đồng ý xin nói.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
chấp thuận cho tỳ-kheo... yết-ma xuất tội rồi, Tăng chấp
thuận nên im lặng. Việc này ghi nhận như vậy.»
3.
Tổng hợp tăng tàn
1.
Bấy giờ, có một tỳ-kheo phạm nhiều tội tăng tàn, hoặc
phạm rồi che dấu một đêm, hoặc phạm rồi che dấu hai đêm,
như vậy cho đến che dấu mười đêm. Tỳ-kheo kia nghĩ như
vầy: «Ta làm thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia, gộp lại làm mười ngày phú
tàng cho nhiều tội tăng tàn đã phạm,[12] bằng pháp bạch
tứ yết-ma.»
Cách
trao cho như sau: Tỳ-kheo kia đến trong Tăng để trống vai bên
hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối
bên hữu chấm đất, chấp tay bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo... đã phạm nhiều tội
tăng tàn, hoặc đã che dấu một đêm, hoặc đã che dấu hai
đêm cho đến che dấu mười đêm. Nay đến trước Tăng xin
yết-ma phú tàng một đêm cho đến mười đêm. Cúi xin Tăng
cho tôi yết-ma phú tàng một đêm cho đến mười đêm, từ
mẫn cố.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng thưa xin như vậy. Trong chúng nên
sai một vị có khả năng tác pháp yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này đã phạm nhiều tội
tăng tàn, hoặc đã che dấu một đêm cho đến mười đêm.
Nay đến trong Tăng xin yết-ma phú tàng một đêm cho đến mười
đêm. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo... pháp yết-ma phú tàng một
đêm cho đến mười đêm. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này đã phạm nhiều tội
tăng tàn, hoặc đã che dấu một đêm cho đến mười đêm.
Nay đến trước Tăng xin yết-ma phú tàng một đêm cho đến
mười đêm. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma phú tàng một
đêm cho đến mười đêm. Trưởng lão nào đồng ý Tăng trao
cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng một đêm cho đến mười đêm
thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận cho tỳ-kheo... yết-ma phú tàng từ một đêm
cho đến mười đêm rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc
này [899a1] được ghi nhận như vậy.»
Tỳ-kheo
kia hành phú tàng rồi, bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa bằng pháp
bạch tứ yết-ma.»
Tỳ-kheo
kia nên đến trước Tăng để trống vai bên hữu, cởi bỏ
giày dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bên hữu chấm
đất, chấp tay thưa:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo... đã phạm nhiều tội
tăng tàn, đã che dấu một đêm hoặc hai đêm, cho đến mười
đêm, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng một đêm cho đến
mười đêm, Tăng đã cho tôi yết-ma phú tàng. Tôi tỳ-kheo...
hành phú tàng rồi, nay đến xin Tăng sáu đêm ma-na-đỏa. Cúi
xin Tăng cho tôi sáu đêm ma-na-đỏa. Từ mẫn cố.» Lần thứ
hai, lần thứ ba cũng xin như vậy.
Trong
chúng nên sai một vị có khả năng tác yết-ma, theo sự việc
trên tác bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này, đã phạm nhiều tội
tăng tàn, đã che dấu một đêm, hoặc hai đêm cho đến mười
đêm, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng mười đêm, và Tăng
đã cho Tỳ-kheo... này yết-ma phú tàng mười đêm. Tỳ-kheo
này đã hành phú tàng rồi, nay đến xin Tăng sáu đêm ma-na-đỏa.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận,
nay Tăng trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma-na-đỏa. Đây là lời
tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này đã phạm nhiều tội
tăng tàn, đã che dấu một đêm, hoặc hai đêm cho đến mười
đêm, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng mười đêm, và Tăng
đã cho yết-ma phú tàng mười đêm. Tỳ-kheo kia đã hành mười
đêm phú tàng xong, nay đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Nay
Tăng cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa. Các Trưởng lão nào
chấp thuận Tăng cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa thì im
lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần
thứ nhất.»
Lần
thư hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa rồi.
Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như
vậy.»
Vị
kia thi hành ma-na-đỏa rồi, bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia pháp xuất tội bằng bạch tứ
yết-ma. »
Tỳ-kheo
kia nên đến trong Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày
dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối bên hữu chấm đất,
bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo... đã phạm nhiều tội
tăng tàn, che dấu một đêm hoặc hai đêm cho đến mười đêm,
đã đến trong Tăng xin yết-ma phú tàng mười đêm, Tăng đã
cho tôi yết-ma phú tàng mười đêm. Tôi đã hành phú tăng
tàn xong, đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, và Tăng đã cho
tôi sáu đêm ma-na-đỏa. Tôi đã hành sáu đêm ma-na-đỏa rồi,
nay đến Tăng xin yết-ma xuất tội. Nguyện Tăng cho tôi yết-ma
xuất tội. Từ mẫn cố.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Trong chúng nên sai
một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác
bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này đã phạm nhiều tội
tăng tàn, hoặc che dấu một đêm hoặc hai đêm cho đến mười
đêm, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng mười đêm, Tăng đã
cho vị kia yết-ma phú tàng mười đêm. Tỳ-kheo... kia đã hành
pháp mười đêm che dấu rồi, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa,
và Tăng đã cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo đã
hành pháp sáu đêm ma-na-đỏa rồi, nay đến trước Tăng xin
yết-ma xuất tội. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng,
Tăng chấp thuận nay Tăng trao cho tỳ-kheo... yết-ma xuất tội.
Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này, đã phạm nhiều tội
tăng tàn, hoặc che dấu một đêm, hoặc hai đêm cho đến mười
đêm, đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng mười đêm, Tăng đã
cho yết-ma phú tàng mười đêm. Tỳ-kheo... kia đã hành pháp
mười đêm phú tàng rồi. Đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa,
và Tăng đã cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo kia
hành pháp ma-na-đỏa rồi, nay đến Tăng xin yết-ma xuất tội.
Nay Tăng cho tỳ-kheo... kia yết-ma xuất tội. Các Trưởng lão
nào đồng ý Tăng trao cho tỳ-kheo kia yết-ma xuất tội thì
im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần
thứ nhất»
Lần
thứ hai, lần thư ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận trao cho tỳ-kheo... kia yết-ma xuất tội rồi.
Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như
vậy.»
2.
Bấy giờ, có một tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, cả hai
đều che dấu, chỉ nhớ một tội, không nhớ một tội. Tỳ-kheo
kia tùy theo chỗ nhớ được, tùy theo ngày che dấu, đến trước
Tăng xin yết-ma theo ngày che dấu, và Tăng đã cho tỳ-kheo kia
yết-ma tùy theo chỗ nhớ, tùy theo ngày che dấu. Tỳ-kheo kia
khi thi hành pháp phú tàng nhớ tội thứ hai, không biết nên
làm thế nào? Bạch các tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Cho
phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng tùy theo số ngày
che dấu của tội thứ hai đã nhớ.»
Bấy
giờ có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn đều che dấu cả hai,
một tội không nghi ngờ. Vị kia đối với tội không nghi
ngờ, tùy theo ngày che dấu, đến trong Tăng xin yết-ma ngày
che dấu, và Tăng đã cho tỳ-kheo kia yết-ma tùy theo ngày che
dấu. Khi tỳ-kheo kia hành pháp phú tàng, đối với tội có
nghi ngờ kia không còn nghi ngờ nữa, tự nghĩ: «Ta nên làm
thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng cho yết-ma phú tàng tùy theo ngày che dấu.»
Bấy
giờ có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn cả hai đều che dấu;
biết một tội, không biết một tội. Vị kia đối với tội
đã biết đến Tăng xin yết-ma phú tàng, và Tăng đã cho yết-ma
phú tàng tùy theo ngày che dấu. Vị kia khi hành pháp phú tàng
liền biết trở lại tội thứ hai, tự nghĩ: «Ta nên làm thế
nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Cho
phép Tăng vì tỳ-kheo kia tùy theo chỗ biết tội thứ hai, với
số ngày che dấu cho yết-ma phú tàng.»
Bấy
giờ có Tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn cả hai đều che dấu.
Khi vị kia xin tội che dấu, chỉ nói một tội, che dấu một
tội. Vị kia tùy theo tội được nói đến Tăng xin yết-ma
phú tàng, và Tăng đã cho yết-ma phú tàng. Vị kia thi hành
pháp phú tàng, đối với tội phạm thứ hai, tâm tàm quý sanh,
tự nghĩ: «Ta nên làm thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo. Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Tăng
nên cho yết-ma phú tàng tùy theo số ngày che dấu của tội
phạm thứ hai.
Đức
Phật bảo tiếp:
«Các
ông hãy lắng tai nghe cho kỹ, trường hợp nếu tỳ-kheo nào
phạm hai tăng tàn, cả hai đều che dấu. Chỉ nhớ một tội,
không nhớ một tội. Tỳ-kheo kia đối với tội nhớ và tội
không nhớ, đem cả hai đến Tăng xin yết-ma phú tàng, và Tăng
cũng cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng cho cả hai tội. Khi vị
kia hành pháp phú tàng, có khách tỳ-kheo đến, biết pháp,
biết luật, biết Ma-di. Khách tỳ-kheo kia hỏi cựu tỳ-kheo:
«Này
Trưởng lão, tỳ-kheo này phạm tội gì? Tại sao hành pháp
phú tàng?
«Cựu
tỳ-kheo trả lời:
«Thưa
Trưởng lão, tỳ-kheo này phạm hai tội tăng tàn, cả hai đều
che dấu. Chỉ nhớ một tội, không nhớ một tội. Đem cả
hai đến Tăng xin yết-ma phú tàng. Tăng cho tỳ-kheo kia yết-ma
phú tàng cho cả hai tội. Cho nên, tỳ-kheo kia hành pháp phú
tàng.
«Tỳ-kheo
khách kia nói:
«Này
Trưởng lão, yết-ma phú tàng cho tỳ-kheo kia là bất thành.
Tại sao vậy? Yết-ma phú tàng cho tội mà tỳ-kheo kia nhớ
thì đúng. Yết-ma phú tàng đối với tội mà tỳ-kheo kia không
nhớ là không đúng, phi pháp; yết-ma bất thành. Chúng Tăng
nên tác sám đột-kiết-la. Vị kia nên trao cho ma-na-đỏa.»
[900a1]
Nghi,
không nghi; biết, không biết; cũng như vậy.
3.
Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn mà che dấu hai tháng.
Vị kia chỉ nhớ một tháng, một tháng không nhớ. Vị kia
theo chỗ nhớ một tháng, đến Tăng xin yết-ma phú tàng; Tăng
cho yết-ma phú tàng một tháng. Vị kia khi hành pháp phú tàng,
nhớ lại tháng thứ hai, tự nghĩ: «Ta nên thế nào?» Rồi
bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng tùy the chỗ nhớ
tháng thứ hai.»
Nghi,
không nghi, cũng như vậy. Biết, không biết, cũng như vậy.
Khi xin pháp phú tàng, che dấu một tháng phát lồ một tháng
cũng như vậy.
Đức
Phật nói:
«Các
tỳ-kheo, hãy lắng nghe! Trường hợp nếu có tỳ-kheo phạm
tội tăng tàn che dấu hai tháng. Chỉ nhớ một tháng, không
nhớ một tháng. Đem cả hai đến Tăng xin yết-ma phú tàng.
Tăng cũng cho vị kia yết-ma phú tàng hai tháng. Khi vị kia hành
pháp phú tàng, có khách tỳ-kheo đến, biết pháp, biết luật,
biết Ma-di. Tỳ-kheo khách hỏi cựu tỳ-kheo:
«Này
Trưởng lão, vị kia phạm tội gì? Tại sao hành phú tàng?
«Cựu
tỳ-kheo đáp:
«Tỳ-kheo
này phạm tội tăng tàn che dấu hai tháng. Nhớ một tháng,
không nhớ một tháng. Vị kia đem cả hai, nhớ và không nhớ,
đến Tăng xin yết-ma hai tháng che dấu. Tăng cũng tùy theo vị
kia cho yết-ma hai tháng che dấu, cho nên tỳ-kheo kia hành pháp
phú tàng.
«Tỳ-kheo
khách kia nói với cựu tỳ-kheo rằng:
«Cho
phép phú tàng không đúng. Tại sao vậy? Tỳ-kheo kia nhớ một
tháng thì cho pháp phú tàng là đúng. Còn một tháng không nhớ
mà cho pháp phú tàng là không đúng, phi pháp; yết-ma không
thành tựu. Tăng nên tác pháp sám đột-kiết-la. Nên trao ma-na-đỏa
cho tỳ-kheo kia.»
Nghi,
không nghi; biết, không biết; cũng vậy.
4.
Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn. Cả hai đều
che dấu. Vị kia thôi tu. Sau đó, trở lại thọ đại giới.
Thọ đại giới rồi, đối với hai tội đã che dấu (trước
kia), tự nghĩ: «Ta nên làm như thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo.
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, che dấu cả hai. Vị kia thôi
tu. Sau đó trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi,
đối với hai tội đã che dấu, Tăng nên tùy theo số ngày
che dấu đã phạm trước kia, và số ngày che dấu sau, trao
cho yết-ma phú tàng. Cho yết-ma phú tàng xong, cho ma-na-đỏa.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, cả hai đều che dấu.
Vị kia thôi tu. Sau đó, trở lại thọ đại giới. Thọ đại
giới rồi phát lồ hai tội. Tăng nên tùy theo số ngày che
dấu đã phạm trước kia của tỳ-kheo mà trao cho yết-ma phú
tàng. Trao cho yết-ma phú tàng rồi, trao cho ma-na-đỏa.
Lúc
bấy giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, cả hai đều
không che dấu. Vị kia thôi tu. Sau đó, trở lại thọ đại
giới. Thọ đại giới rồi, che dấu hai tội. Vị kia tự nghĩ:
«Ta nên làm thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
Tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, cả hai đều không che dấu.
Vị kia thôi tu. Sau đó trở lại thọ đại giới. Thọ đại
giới rồi che dấu hai tội. Tăng nên tùy theo số ngày che dấu
sau của tỳ-kheo kia trao cho yết-ma phú tàng. Sau đó mới trao
cho pháp ma-na-đỏa.»
Lúc
bấy giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, cả hai đều
không che dấu. Vị kia thôi tu. Sau đó trở lại thọ đại
giới. Thọ đại giới rồi phát lồ hai tội. Tăng nên trao
cho hai tội ma-na-đỏa.
Lúc
bấy giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, che dấu một
tội, không che dấu một tội. Vị kia thôi tu. Sau đó trở
lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, trước kia chỉ
phát lồ một tội, sau lại che dấu cả hai. Vị kia nghĩ: «Ta
nên như thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, che dấu một tội, không che
dấu một tội. Vị kia thôi tu. Sau đó trở lại thọ đại
giới. Thọ đại giới rồi, trước kia chỉ phát lồ một
tội, sau lại che dấu cả hai. Cho phép Tăng trao cho tỳ-kheo
kia yết-ma tùy theo ngày, một tội đã phạm mà trước sau
đều che dấu; và một tội sau mới che dấu.»
Lúc
bấy giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, che dấu một
tội, phát lồ một tội. Vị kia thôi tu. Sau đó, trở lại
thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, tội trước kia che
dấu, sau cũng che dấu. Tội trước kia phát lồ, sau cũng phát
lồ. Tăng nên tùy theo tội mà trước sau đều che dấu trao
cho yết-ma phú tàng, tội thứ hai không che dấu nên trao cho
pháp ma-na-đỏa.
Có
tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, che dấu một tội, phát lồ
một tội. Vị kia thôi tu. Sau đó, trở lại thọ đại giới.
Thọ đại giới rồi, tội trước kia che dấu, sau lại phát
lồ. Tội trước kia phát lồ, sau lại che dấu. Tăng nên trao
cho vị kia tùy theo một tội trước kia che dấu trao cho yết-ma
phú tàng, và theo tội thứ hai mà sau che dấu, trao cho yết-ma
phú tàng.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo phạm hai tội tăng tàn, che dấu một tội,
phát lồ một tội. Vị kia thôi tu, rồi trở lại thọ đại
giới. Thọ đại giới rồi, cùng với tội trước kia che dấu,
sau cả hai đều phát lồ. Tăng nên trao cho yết-ma phú tàng
cho tỳ-kheo kia tùy số ngày của một tội phạm mà trước
kia che dấu. Cho pháp ma-na-đỏa cho cả hai, kể luôn tội thứ
hai.
Nhớ
một tội, không nhớ một tội, tạo thành bốn vế; cũng như
vậy.
Nghi
một tội, không nghi một tội, tạo thành bốn vế; cũng lại
như vậy.
Biết
một tội, không biết một tội, tạo thành bốn vế; cũng
lại như vậy.
Khi
xin tội phú tàng, che dấu một tội, phát lồ một tội, tạo
thành bốn vế; cũng lại như vậy.
(Trong
đây, từ che dấu của một tội, không che dấu một tội,
cho đến đây, có tất cả năm nhóm. Mỗi nhóm đều có bốn
vế, như che một không che một thành bốn vế. Tổng cộng
thành hai mươi vế).
Khi
hành pháp phú tàng, hai mươi vế; cũng lại như vậy. Hành
pháp phú tàng rồi, hai mươi vế; cũng lại như vậy. Khi hành
pháp ma-na-đỏa, hai mươi vế; cũng như vậy. Hành pháp ma-na-đỏa
rồi, hai mươi vế; cũng lại như vậy.
Làm
sa-di rồi trở lại thọ đại giới, một trăm vế; cũng lại
như vậy. Điên cuồng, một trăm vế; cũng lại như vậy. Thống
não, một trăm vế; cũng lại như vậy. Tăng trao cho pháp bất
kiến tội cử, một trăm vế; cũng lại như vậy. Không sám
hối tội cử, một trăm vế cũng lại như vậy. Ác kiến bất
xả tội cử, một trăm vế cũng lại như vậy.
5.
Bấy giờ, có tỳ-kheo đang hành phú tàng thì bãi đạo. Sau
đó, trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, vị
kia tự nghĩ: «Ta nên như thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo.
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Tỳ-kheo
đang hành phú tàng, bãi đạo, rồi trở lại thọ đại giới.
Thọ đại giới rồi, nên nối lại số ngày đã hành trước
kia, rồi tiếp tục hành phú tàng số ngày còn lại.»
Lúc
bấy giờ, có tỳ-kheo đáng cho bổn nhật trị. Tỳ-kheo kia
bãi đạo rồi trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới
rồi, Tăng nên tác pháp bổn nhật trị cho tỳ-kheo kia, bằng
pháp bạch tứ yết-ma.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo hành phú tàng xong rồi, bãi đạo. Sau đó
trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, Tăng nên
trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa bằng pháp bạch tứ
yết-ma.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo đang hành ma-na-đỏa, bãi đạo. Sau đó trở
lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, tỳ-kheo kia đã
hành bao nhiêu ngày ma-na-đỏa rồi mới nghỉ, còn số ngày
chưa hành nên tiếp tục hành.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo hành ma-na-đỏa xong rồi, bãi đạo. Sau đó
trở lại thọ đại giới. Thọ đại giới rồi, Tăng nên
trao cho vị kia pháp xuất tội bằng pháp bạch tứ yết-ma.
Trường
hợp trở lại làm Sa-di, năm vế cũng như vậy. Điên cuồng,
năm vế cũng như vậy. Loạn tâm, năm vế cũng [901a1] như vậy.
Thống não, năm vế cũng như vậy. Tăng trao cho các pháp yết-ma
bất kiến tội cử, bất sám hối tội cử, ác kiến bất
xả cử, mỗi tội cử năm vế cũng như vậy.
6.
Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo khi hành pháp phú tàng, trung gian
phạm tội, biết số ngày mà che dấu. Vị kia tự nghĩ rằng:
«Ta nên như thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
khi hành phú tàng, trung gian lại phạm tội, biết số ngày
mà che dấu. Tăng nên tùy theo trung gian phạm tội mà trao cho
yết-ma phú tàng. Cho yết-ma phú tàng rồi trao cho bổn nhật
trị. Hành bổn nhật trị của phú tàng rồi, trao cho ma-na-đỏa.
Trao cho ma-na-đỏa rồi, nên xuất tội cho người đó.»
Không
biết số ngày che dấu cũng như vậy. Biết số ngày che dấu,
không biết số ngày che dấu cũng như vậy. Hành phú tàng rồi,
cũng như vậy.
Lúc
bấy giờ, có tỳ-kheo đang hành ma-na-đỏa, trung gian phạm
tội, biết số ngày, không che dấu. Vị kia nghĩ như vầy:
«Ta nên làm thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo trong khi hành ma-na-đỏa, trung gian lại phạm chồng,
biết số ngày, không che dấu. Tăng nên trao cho pháp ma-na-đỏa.
Trao ma-na-đỏa rồi, nên trao cho pháp bổn nhật trị của ma-na-đỏa.
Hành bổn nhật trị ma-na-đỏa rồi, nên trao cho yết-ma xuất
tội.»
Không
biết số ngày, không che dấu; cũng như vậy. Biết số ngày,
không biết số ngày, không che dấu; cũng như vậy. Hành ma-na-đỏa
rồi, biết số ngày, không che dấu; cũng như vậy. Biết số
ngày, không biết số ngày, không che dấu; cũng như vậy.
7.
Lúc bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, biết số ngày,
không biết số ngày, che dấu, không che dấu, che dấu hoàn
toàn, không che dấu hoàn toàn, một tội danh, nhiều chủng
loại, tự tánh, phi tự tánh; chỗ trú khác nhau. Vị kia nghĩ
như vầy: «Ta nên làm thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo. Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép Tăng trao yết-ma phú tàng cho tỳ-kheo kia tùy theo ngày
che dấu.»
Nên
trao như vầy: Tỳ-kheo kia nên đến giữa Tăng, để trống
vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ
gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa rằng:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên... đã phạm tội
tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, che dấu, không
che dấu, che dấu hoàn toàn, không che dấu hoàn toàn, một tội
danh, nhiều chủng loại, tự tánh, phi tự tánh; chỗ trú khác
nhau. Tùy theo ngày che dấu đến bên Chúng Tăng xin yết-ma phú
tàng. Cúi xin Tăng cho tôi yết-ma phú tàng tùy theo ngày che
dấu. Từ mẫn cố!»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Trong chúng nên sai
một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác
bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên... đã phạm tội
tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, che dấu, không
che dấu, che dấu hoàn toàn, không che dấu hoàn toàn, một tội
danh, nhiều chủng loại, tự tánh, phi tự tánh; chỗ trú khác
nhau. Vị kia tùy theo ngày che dấu đến bên Tăng xin yết-ma
phú tàng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng tùy theo
ngày che dấu. Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo kia tên... đã phạm tội tăng
tàn, biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ
khác nhau. Vị kia tùy theo ngày che dấu đến bên Tăng xin yết-ma
phú tàng. Nay Tăng cho tỳ-kheo tên... yết-ma phú tàng tùy theo
ngày che dấu. Các Trưởng lão nào chấp thuận Tăng trao cho
tỳ-kheo... kia yết-ma tùy phú tàng theo ngày che dấu thì im
lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
Tăng
đã chấp thuận trao cho Tỳ-kheo... yết-ma phú tàng tùy theo
ngày che dấu rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.
Vị
kia đang hành pháp phú tàng, trung gian lại tái phạm tội, biết
số ngày che dấu, vị kia nghĩ như vầy: «Ta nên làm thế nào?»
Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Cho
phép Tăng trao cho tỳ-kheo kia bạch tứ yết-ma bổn nhật trị
đối với trung gian phú tàng của tội trước.»
Nên
trao như vầy: Tỳ-kheo kia nên đến giữa Tăng, để trống
vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ
gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi tỳ-kheo tên... đã phạm tội
tăng tàn, biết số ngày không biết số ngày, cho đến chỗ
trụ khác nhau. Tôi tùy theo số ngày che dấu đã đến Tăng
xin yết-ma phú tàng; Tăng đã cho tôi yết-ma phú tàng. Tôi
tỳ-kheo... khi hành pháp phú tàng phạm tội trở lại, biết
số ngày che dấu, đến bên Tăng xin yết-ma bổn nhật trị
của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm
trước. Cúi xin Tăng trao cho tôi yết-ma bổn nhật trị của
phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước.
Từ mẫn cố.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Trong chúng nên sai
một vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên
tác bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... đã phạm tội
tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ
trụ khác nhau. Tỳ-kheo này đến bên Tăng xin yết-ma phú tàng
tùy theo ngày che dấu. Tỳ-kheo này khi hành pháp phú tàng, trung
gian phạm tội, lại biết số ngày che dấu, nay đến Tăng
xin yết-ma bổn nhật trị của phú tàng đối với trung gian
trùng phạm của tội phạm trước. Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, Tăng chấp thuận trao cho tỳ-kheo này yết-ma
tội phạm trước, trung gian tái phạm phú tàng bổn nhật trị.
Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là... đã phạm tội
tăng tàn, biết số ngày không biết số ngày, cho đến chỗ
trụ khác nhau. Tỳ-kheo này tùy theo ngày che dấu đã đến
bên Tăng xin yết-ma phú tàng, Tăng đã trao cho tỳ-kheo này
yết-ma tùy theo ngày che dấu. Tỳ-kheo này khi hành pháp phú
tàng, trung gian lại tái phạm biết số ngày che dấu, nay đến
Tăng xin yết bổn nhật trị của phú tàng đối với trung
gian trùng phạm của tội phạm trước. Nay Tăng trao cho tỳ-kheo
này yết-ma bổn nhật trị của phú tàng đối với trung gian
trùng phạm của tội phạm trước. Các Trưởng lão nào đồng
ý Tăng trao cho tỳ-kheo tên... yết-ma bổn nhật trị của phú
tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước,
thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma
lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã đồng ý trao cho Tỳ-kheo tên là... yết-ma bổn nhật trị
của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm
trước rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được ghi
nhận như vậy.»
Tỳ-kheo
hành pháp phú tàng, trung gian lần thứ hai tái phạm, cũng như
vậy. Tỳ-kheo kia hành pháp phú tàng rồi bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Cho
phép Tăng trao cho tỳ-kheo này sáu đêm ma-na-đỏa bằng bạch
tứ yết-ma.»
Nên
trao cho như vầy: Tỳ-kheo kia nên đến giữa Tăng, để trống
vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ sát chân Tăng, quỳ
gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là... đã phạm tội
tăng tàn, biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ
trụ khác nhau. Tùy theo ngày che dấu, đến bên Tăng xin yết-ma
phú tàng tùy theo ngày che dấu. Tăng đã cho tôi yết-ma phú
tàng tùy theo ngày che dấu. Khi tôi hành pháp phú tàng, trung
gian tái phạm, biết số ngày che dấu, đến Tăng xin yết-ma
bổn nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm
của tội phạm trước. Tăng đã trao cho tôi yết-ma bổn nhật
trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội
phạm trước. Nhưng khi tôi hành pháp phú tàng, trung gian tái
phạm lần thứ hai, biết số ngày che dấu, đến bên Tăng
xin yết bổn nhật trị của phú tàng của trung gian tái phạm
lần thứ hai của tội phạm trước. Tăng đã trao cho tôi yết-ma
bổn nhật trị của phú tàng của trung gian tái phạm lần
thứ hai của tội phạm trước. Tôi tỳ-kheo tên là... đã
hành pháp phú tàng rồi, nay đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa,
từ mẫn cố.» [902a1]
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy. Trong chúng nên sai
một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc trên tác
bạch như vầy:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng
tàn biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ
khác nhau. Tỳ-kheo này tùy theo ngày che dấu, đã đến bên
Tăng xin yết-ma phú tàng. Tăng đã cho tỳ-kheo này yết-ma phú
tàng. Tỳ-kheo này khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm,
biết số ngày che dấu, đã đến Tăng xin yết-ma bổn nhật
trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội
phạm trước. Tăng đã trao cho tỳ-kheo này yết-ma bổn nhật
trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội
phạm trước. Nhưng tỳ-kheo này khi hành pháp phú tàng lại
trung gian tái phạm lần thứ hai, biết số ngày che dấu, đã
đến bên Tăng xin yết-ma bổn nhật trị của phú tàng của
trung gian tái phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tăng
đã trao cho Tỳ-kheo này yết-ma bổn nhật trị của phú tàng
của trung gian tái phạm lần thứ hai của tội phạm trước.
Tỳ-kheo kia hành pháp phú tàng rồi, nay đến Tăng xin sáu đêm
ma-na-đỏa. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma-na-đỏa.
Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo... này đã phạm tội tăng
tàn, biết số ngày, không biết số ngày, cho đến chỗ trụ
khác nhau. Tùy theo ngày che dấu, đến bên Tăng xin yết-ma phú
tàng. Tăng đã cho tỳ-kheo này yết-ma phú tàng tùy theo ngày
che dấu. Khi tỳ-kheo này hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm,
biết số ngày che dấu, đã đến Tăng xin yết-ma bổn nhật
trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội
phạm trước. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia yết-ma bổn nhật
trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội
phạm trước. Nhưng tỳ-kheo kia khi hành pháp phú tàng trung
gian tái phạm lần thứ hai, biết số ngày che dấu, đã đến
Tăng xin yết-ma bổn nhật trị của phú tàng của trung gian
tái phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tăng đã trao
cho tỳ-kheo kia yết-ma bổn nhật trị của phú tàng của trung
gian tái phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tỳ-kheo
kia hành pháp phú tàng rồi, nay đến xin sáu đêm ma-na-đỏa.
Nay Tăng trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa, các trưởng
lão nào chấp thuận, nay Tăng trao cho tỳ-kheo... sáu đêm ma-na-đỏa
thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma
lần thứ nhất.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
Tăng
đã đồng ý trao cho Tỳ-kheo.... sáu đêm ma-na-đỏa rồi. Tăng
đồng ý nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.
Bấy
giờ, tỳ-kheo kia hành ma-na-đỏa rồi, bạch các tỳ-kheo. Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Tăng
nên trao cho tỳ-kheo kia pháp xuất tội bằng bạch tứ yết-ma,
như trên.»
Nên
xuất tội như vầy: Khi Chúng Tăng xuất tội cho tỳ-kheo kia
mà không như pháp, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Lắng
nghe cho kỹ: Nếu tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, biết số ngày,
không biết số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tỳ-kheo
kia đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng tùy theo ngày che dấu,
Tăng trao cho yết-ma phú tàng tùy theo ngày che dấu. Vị kia
khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm, biết số ngày che
dấu. Vị kia đến bên Tăng xin yết-ma bổn nhật trị của
phú tàng đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước.
Tăng đã trao cho tỳ-kheo yết-ma bổn nhật trị của phú tàng
đối với trung gian trùng phạm của tội phạm trước. Nhưng
tỳ-kheo kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm lần
thứ hai, biết số ngày che dấu, đã đến Tăng xin yết-ma
bổn nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm
lần thứ hai của tội phạm trước. Tăng đã cho tỳ-kheo kia
yết-ma bổn nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng
phạm lần thứ hai của tội phạm trước. Tỳ-kheo kia tưởng
là đúng, hành pháp phú tàng rồi đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa.
Tăng cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa phi pháp. Tỳ-kheo kia
tưởng là đúng, hành ma-na-đỏa xong, đến Tăng xin yết-ma
xuất tội. Tăng cho tỳ-kheo kia xuất tội phi pháp, Ta nói tỳ-kheo
này không thanh tịnh, tội không khỏi.
«Trường
hợp có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn biết số ngày, không biết
số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tỳ-kheo kia tùy theo
ngày che dấu đã đến bên Tăng xin yết-ma phú tàng. Tăng đã
trao cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng tùy theo ngày che dấu. Tỳ-kheo
kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm, biết số ngày
che dấu, đã đến Tăng xin yết-ma bổn nhật trị của phú
tàng trung gian trùng phạm. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia yết-ma
bổn nhật trị của phú tàng trung gian trùng phạm. Nhưng tỳ-kheo
kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm lần thứ hai,
biết số ngày che dấu, đã đến Tăng xin yết-ma bổn nhật
trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm lần thứ
hai của tội phạm trước. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia yết-ma
bổn nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm
lần thứ hai của tội phạm trước như pháp. Nhưng tỳ-kheo
kia hành pháp phú tàng rồi, đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa,
Tăng trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa không như pháp.
Tỳ-kheo kia tưởng là như pháp, hành ma-na-đỏa rồi, đến
Tăng xin yết-ma xuất tội. Tăng trao cho tỳ-kheo kia xuất tội
phi pháp. Ta nói tỳ-kheo kia không thanh tịnh, tội không khỏi.
«Trường
hợp có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn biết số ngày, không biết
số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tỳ-kheo kia tùy theo
ngày che dấu đã đến bên Tăng xin yết-ma phú tàng. Tăng đã
trao cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng tùy theo ngày che dấu. Tỳ-kheo
kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm, biết số ngày
che dấu, đã đến Tăng xin yết-ma bổn nhật trị của phú
tàng trung gian trùng phạm. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia yết-ma
bổn nhật trị của phú tàng trung gian trùng phạm. Nhưng tỳ-kheo
kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm lần thứ hai,
biết số ngày che dấu, đã đến Tăng xin yết-ma bổn nhật
trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm lần thứ
hai của tội phạm trước. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia yết-ma
bổn nhật trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm
lần thứ hai của tội phạm trước như pháp. Tỳ-kheo kia hành
phú tàng xong, đã đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa. Tăng đã
trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa như pháp. Tỳ-kheo kia
hành ma-na-đỏa rồi, đến tăng xin yết-ma xuất tội. Tăng
trao cho tỳ-kheo kia xuất tội phi pháp. Ta nói người này không
thanh tịnh, tội không khỏi.
«Trong
đây, biết số ngày, không che dấu, ba vế; cũng như vậy.
Biết số che dấu, không che dấu, ba vế; cũng như vậy. Không
biết số ngày, che dấu, ba vế; cũng như vậy. Không biết
số ngày, không che dấu, ba vế; cũng như vậy. Không biết
số ngày, che dấu, không che dấu; ba câu cũng như vậy. Biết
số ngày, không biết số ngày, che dấu, ba vế; cũng như vậy.
Biết số ngày, không biết số ngày, không che dấu, ba vế;
cũng như vậy. Biết số ngày, không biết số ngày, che dấu,
không che dấu, ba vế; cũng như vậy.
«Trong
đây, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không
biết số ngày, cho đến chỗ trụ khác nhau. Tỳ-kheo kia tùy
theo ngày che dấu đã đến Tăng xin yết-ma phú tàng, Tăng đã
trao cho tỳ-kheo kia yết-ma phú tàng tùy theo ngày che dấu. Tỳ-kheo
kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm, biết số ngày
che dấu, đã đến Tăng xin yết-ma bổn nhật trị của phú
tàng đối với trung gian trùng phạm lần thứ hai của tội
phạm trước. Tăng đã trao cho tỳ-kheo này yết-ma bổn nhật
trị của phú tàng đối với trung gian trùng phạm. Nhưng tỳ-kheo
kia khi hành pháp phú tàng, trung gian tái phạm lần thứ hai,
biết số ngày che dấu, đến Tăng xin yết-ma bổn nhật trị
của phú tàng đối với trung gian trùng phạm lần thứ hai.
Tăng trao cho Tỳ-kheo kia [903a1] yết-ma bổn nhật trị của
phú tàng đối với trung gian trùng phạm lần thứ hai của
tội phạm trước. Tỳ-kheo kia hành phú tàng xong, đến Tăng
xin sáu đêm ma-na-đỏa. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm
ma-na-đỏa như pháp. Tỳ-kheo kia hành ma-na-đỏa rồi, đến
Tăng xin yết-ma xuất tội. Tăng đã trao cho tỳ-kheo kia xuất
tội như pháp. Ta nói tỳ-kheo này thanh tịnh không phạm, tội
được khỏi.
«Biết
số, không che dấu, ba vế; cũng như vậy. Biết số, che dấu,
không che dấu, ba vế; cũng như vậy. Không biết số, che dấu,
ba vế; cũng như vậy. Không biết số, không che dấu, ba vế;
cũng như vậy. Không biết số, che dấu, không che dấu, ba vế;
cũng như vậy. Biết số, không biết số, che dấu, ba vế;
cũng như vậy. Biết số, không biết số, không che dấu, ba
vế; cũng như vậy. Biết số, không biết số, che dấu, không
che dấu, ba vế cũng như vậy.»
8.
Lúc bấy giờ, trú xứ nọ có hai tỳ-kheo phạm tội tăng tàn.
Tỳ-kheo kia trong ngày, từ trú xứ ra đi và nói: «Nếu gặp
được tỳ-kheo thanh tịnh tôi sẽ sám hối.» Tỳ-kheo thứ
nhất khi bắt đầu đi, lại che dấu. Tỳ-kheo thứ hai khi thấy
tỳ-kheo khác bèn che dấu; như vậy cả hai đều che dấu. Vị
thứ nhất nhớ tội. Vị thứ hai không nhớ tội. Vị kia nhớ
mà che dấu là phú tàng. Vị không nhớ, chẳng phải phú tàng.
Vị thứ nhất nghi, vị thứ hai không nghi. Vị nghi mà che dấu
tức là không phú tàng. Vị không nghi mà che dấu tức là phú
tàng. Vị thứ nhất biết, vị thứ hai không biết. Vị biết
mà che dấu tức là phú tàng. Vị không biết mà che dấu tức
là không phú tàng.
9.
Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, mà bảo là phạm
ba-la-di che dấu. Vị kia nghĩ rằng: «Ta nên làm thế nào?»
Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Nếu
tỳ-kheo phạm tội tăng tàn bảo là ba-la-di che dấu, nên trao
cho pháp sám đột-kiết-la, sau đó trao cho ma-na-đỏa.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, mà bảo là phạm ba-dật-đề,
ba-la-đề-đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết
che dấu, vị kia nghĩ như vầy: «Ta nên làm thế nào?» Rồi
bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo phạm tội tăng tàn mà gọi là ba-dật-đề cho đến
ác thuyết che dấu, dạy họ tác pháp sám hối đột-kiết-la
rồi trao cho ma-na-đỏa.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo phạm ba-dật-đề mà bảo là ba-la-di che dấu.
Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo phạm ba-dật-đề mà bảo là ba-la-di che dấu, nên
dạy họ sám đột-kiết-la rồi sau như pháp sám.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo phạm ba-dật-đề mà bảo là phạm tăng tàn,
cho đến ác thuyết che dấu. Đức Phật dạy:
«Nên
dạy họ sám đột-kiết-la rồi sau như pháp sám. ba-dật-đề,
ba-la-đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết cũng
như vậy.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, nếu tác ý tăng tàn
phú tàng, thì nên dạy họ sám đột-kiết-la, sám rồi trao
cho phú tàng. Phạm ba-dật-đề cho đến ác thuyết cũng như
vậy.
10.
Bấy giờ, nơi trú xứ nọ có tỳ-kheo phạm nhiều tội tăng
tàn. Tỳ-kheo kia không nhớ số tội phạm, không nhớ số ngày.
Vị kia nghĩ như vầy: «Ta nên làm thế nào?» Rồi bạch các
tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, không nhớ số tội phạm, không
nhớ số ngày, thì nên kể từ lúc thanh tịnh về sau là phú
tàng. Nếu nhớ số tội phạm mà không nhớ ngày cũng nên
kể từ lúc thanh tịnh về sau là phú tàng. Nếu nhớ số ngày
mà không nhớ tội phạm nên tính theo ngày mà trao cho tội
phú tàng.
«Nghi,
không nghi; cũng như vậy. Biết, không biết; cũng như vậy.»
Tỳ-kheo
kia hoặc nhớ số lượng một tội, hoặc không nhớ số lượng
một tội, hoặc nhớ số ngày một tội, hoặc không nhớ số
ngày một tội, nên kể từ ngày thanh tịnh về sau là che dấu.
Nếu nhớ số lượng phạm hoặc nhớ số ngày phạm một tội,
không nhớ số ngày phạm một tội, nên kể từ thanh tịnh
về sau là che dấu. Nếu nhớ số ngày hoặc nhớ số tội
phạm, hoặc không nhớ số tội phạm, nên tính ngày trao cho
tội che dấu. Nghi, không nghi; cũng như vậy. Biết, không biết;
cũng như vậy.»
11.
Bấy giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn biết số lượng,
không che dấu. Vị kia đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, Tăng
trao cho vị kia sáu đêm ma-na-đỏa. Liền trong ngày ấy tái
phạm, biết số lượng che dấu, vị kia nghĩ như vầy: «Ta
nên làm thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo phạm tội tăng tàn biết số lượng, không che dấu,
đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, Tăng trao cho sáu đêm ma-na-đỏa,
liền trong ngày ấy tái phạm, biết số lượng che dấu, Tăng
nên trao cho tỳ-kheo kia ma-na-đỏa và nói: ‹Này tỳ-kheo, thầy
nên hành lại pháp ma-na-đỏa.› Nếu hành pháp ma-na-đỏa
một đêm, cho đến sáu đêm, trong thời gian ấy tái phạm,
biết số lượng che dấu, Tăng nên trao cho tỳ-kheo này ma-na-đỏa.
Trao cho ma-na-đỏa rồi, nên trao cho bổn nhật trị của ma-na-đỏa.
Hành bổn nhật trị ma-na-đỏa rồi, nên cho pháp xuất tội.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, biết số lượng không
che dấu, đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, Tăng trao cho vị
kia sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo kia liền trong ngày ấy, trung
gian tái phạm, không biết số lượng che dấu. Tăng nên trao
cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa và nói: «Này tỳ-kheo, thầy
nên hành ma-na-đỏa lại. Nếu hành một đêm, cho đến sáu
đêm, trong thời gian ấy tái phạm, không biết số lượng
che dấu. Tăng nên trao cho tỳ-kheo kia ma-na đỏa. Trao cho họ
ma-na-đỏa rồi, nên trao cho ma-na-đỏa bổn nhật trị, trao
cho ma-na-đỏa bổn nhật trị rồi, nên trao cho pháp xuất tội.»
Bấy
giờ, có tỳ-kheo phạm tội tăng tàn, biết số ngày, không
che dấu, đến Tăng xin sáu đêm ma-na-đỏa, Tăng trao cho vị
kia sáu đêm ma-na-đỏa. Tỳ-kheo kia liền trong ngày ấy tái
phạm, biết số lượng, không biết số lượng che dấu. Tăng
nên trao cho tỳ-kheo kia sáu đêm ma-na-đỏa và nói: «Này Tỳ-kheo,
thầy nên hành ma-na-đỏa lại.» Nếu hành một đêm, cho đến
sáu đêm, trong thời gian ấy tái phạm, biết số lượng, không
biết số lượng, che dấu. Tăng nên trao cho tỳ-kheo kia sáu
đêm ma-na-đỏa. Vị kia hành ma-na-đỏa rồi, nên trao cho bổn
nhật trị ma-na-đỏa, trao cho bổn nhật trị ma-na-đỏa rồi,
nên trao cho pháp xuất tội.
Không
biết số lượng, không che dấu; cũng như vậy. Biết số lượng,
không biết số lượng, không che dấu; cũng như vậy.[13]
[1]
Tham chiếu Pali, Cullavagga ii. Pārivāsikakkhandhakaṃ, Vin. ii. 31.
Ngũ phần 23, phần iv. Ch.ii. Pháp yết ma (T22n1421 tr.156b); Tăng
kỳ 26, Tạp tụng bạt cừ (T22n1425 tr.435a); Thập tụng 32,
Tăng tàn sám hối pháp (T23n1435 tr.228b).
[2]
Tùy theo số ngày phú tàng mà cho số ngày biệt trụ tương
ứng. Xem Thập tụng 32 (T23n1435 tr.232c08); Cūḷavag. iii (Vin.ii.
40); Ngũ phần 32 (tr.136c29).
[3]
Thập tụng, nói rõ tội danh: «Tôi tỳ-kheo Ca-lưu-đà-di, cố
ý xuất tinh, phạm tăng-già-bà-thi-sa này một tội phú tàng.»
[4]
Trong văn thỉnh của Pali, có nói rõ số ngày che dấu để
xin. Nếu một ngày che dấu (Vin. ii. 40): (…) Sohaṃ, bhante,
saṅghaṃ ekisā āpattiyā sañcetanikāya sukkavisaṭṭhiyā ekāhappaṭic-channāya
ekāhaparivāsaṃ yācāmi, «…Vì vậy, thưa các Đại đức,
tôi xin Tăng một ngày biệt trụ cho một tội cố ý xuất
tinh một ngày phú tàng.» Nếu năm ngày che dấu (Vin.ii. 42):
… pañcāhappaṭic-channāya pañcāhaparivāsaṃ yācāmi, «tôi
xin năm ngày biệt trú cho năm ngày phú tàng.» Thập tụng 32
(T23n1435 tr.233a09): «… tuỳ theo số ngày phú tàng, xin Tăng
pháp biệt trụ.» Ngũ phần 32 (tr.137a 12): «… một đêm phú
tàng, nay xin Tăng một đêm pháp biệt trụ.»
[5]
Các luật đều nói: «xin biệt trú.» Tức xin thi hành ba-lợi-bà-sa
波利婆沙. Hành sự sao 8: «Ba-lợi-bà-sa, hoặc dịch là phú
tàng.» Không đúng. Ba-lợi-bà-sa là phiên âm từ Skt. (Pali):
parivāsa. Từ này cũng áp dụng cho ngoại đạo xuất gia, gọi
là «bốn tháng biệt trú» (Pali: cattaro māse parivāso), không
liên hệ gì đến ý nghĩa «phú tàng.»
[6]
Trùng phạm 重犯, phạm lại tội cũ. Tham chiếu Pali, Vin.ii.
43: Udāyī đang hành biệt trụ vì 5 ngày phú tàng tội cố
ý xuất tinh, lại tái phạm tội cũ mà không phú tàng. Tăng
cho hành bản nhật trị không phú tàng. Sau đó (Vin.ii. 48),
phạm tội cố ý xuất tinh, nửa tháng hành biệt trụ vì 15
ngày phú tàng. Trong khi hành biệt trụ, lại tái phạm, lại
phú tàng 5 ngày. Tăng hiệp cả hai lần phú tàng trước sau
thành pháp hiệp nhất biệt trụ (samodhānaparivāsa).
[7]
Thập tụng, đã dẫn: tái phạm tội cũ, một ngày không phú
tàng, cho bản nhật trị.
[8]
Bản nhật trị 本日治. Pali: mūlāyapaṭikissanā, kéo trở
lại gốc.
[9]
Cf. Vin.ii. 43: Tỳ-kheo đang hành biệt trụ về tội cố ý xuất
tinh, tái phạm tội cũ, khi xin yết-ma, nói rõ tội cũ: (…)
sohaṃ parivasanto antarā ekaṃ āpattiṃ āpajjiṃ sañcetanikaṃ
sukkavissaṭṭhiṃ appaṭicchanaṃ. Sohaṃ, bhante, saṅghaṃ antarā
ekissā āpattiyā sañcetanikāya sukkavissaṭṭhiyā appaṭicchannāya
mūlāya paṭikassanaṃ yācāmi’ti. «Tôi trong khi đang hành biệt
trụ, trung gian phạm một tội có ý xuất tinh, không che dấu.
Nay tôi, thưa các Đại đức, xin Tăng cho tôi bản nhật trị
cho trung gian một tội cố ý xuất tinh không che dấu.»
[10]
Ma-na-đỏa 摩那埵. Pali: mānatta; PTS Dict. nói, từ nguyên không
rõ. Giả thiết do māna «đo lường,» nên có thể có nghĩa
«thi hành biện pháp.» Từ nguyên, theo BSK: mānāpya, «làm cho
hài lòng.» Hán dịch thông dụng là ý hỷ.
[11]
Xuất tội 出罪. Pali: abbhāna, sự phục hồi.
[12]
Thập tụng 32 (T23n1435 tr.236b22): «Lần thứ nhất, cố ý xuất
tinh, phạm một tăng-già-bà-thi-sa, một đêm phú tàng. Thứ
hai, xúc nữ, hai đêm phú tàng, thứ ba… cho đến, lần thứ
13, lệ ngữ, 13 đêm phú tàng. Cho người đó 13 đêm biệt
trụ.» Nghĩa là, chọn ngày phú tàng lớn nhất cho tất cả
các tội phú tàng, chứ không phải làm phép toán cộng. Tăng
kỳ 26 (T22n1425 tr.436c26): phạm tội thứ nhất 10 đêm phú tàng,
tội thứ hai 10 đêm, cho đến tội thứ mười 10 đêm phú
tàng. Họp lại làm thành 10 đêm biệt trụ. Ngũ phần 22 (T22n1421
tr.157c04): «Phạm 1 đến nhiều tội tăng-già-bà-thi-sa, phú
tàng từ 2 đến nhiều đêm; chỉ tính số đêm phú tàng lâu
nhất. Theo số đó mà cho biệt trụ.»
[13]
Hết quyển 45.