CHƯƠNG
XIV.
GIÀ
YẾT-MA[1]
1.
Cầu thính
[906a10]
Đức Thế Tôn ở nước Xá-vệ. Bấy giờ nhóm sáu tỳ-kheo
nghĩ rằng đức Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện dạy
các tỳ-kheo phải hỗ tương dạy bảo nhau, nghe lời lẫn nhau,
liền cử tội tỳ-kheo thanh tịnh. Đức Phật dạy: «Không
nên cử tỳ-kheo thanh tịnh vô tội.»
Đức
Phật dạy tiếp: «Cho phép phải cầu thính[2] trước.»
Khi
nhóm sáu tỳ-kheo nghe đức Phật cho phép cầu thính trước,
liền đến tỳ-kheo thanh tịnh mà trước kia đã theo nhóm sáu
tỳ-kheo để cầu thính, bảo vị này cầu thính.[3] Đức Phật
dạy:
«Không
nên như vậy, từ nay về sau cho phép tự mình có năm pháp
mới được nhận cầu thính: 1. Đúng thời chứ chẳng phải
phi thời. 2. Chơn thật chứ chẳng phải không chơn thật. 3.
Lợi ích chứ chẳng phải tổn giảm. 4. Dịu dàng chứ chẳng
phải thô lỗ. 5. Từ tâm chứ chẳng phải sân nhuế.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo tự mình không có năm pháp, tỳ-kheo khác thì tự
thân có năm pháp này. Nhóm sáu tỳ-kheo đến cầu thính, vị
ấy không cho. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
vị nào tự thân có năm pháp mà được cầu thính thì nên
cho.»
Khi
người khác cầu thính, nhóm sáu tỳ-kheo liền bỏ đi. Có
khi hứa cho người khác, rồi cũng bỏ đi. Đức Phật dạy:
«Không
nên như vậy. Cho phép tác tự ngôn.»[4]
Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo đã hứa với người khác cầu tự
ngôn[5] rồi mà vẫn bỏ đi, tự mình tác tự ngôn,[6] tác
rồi lại bỏ đi. Đức Phật dạy: «Không nên như vậy.»
2.
Già thuyết giới
Đức
Phật dạy:
«Cho
phép khi bố-tát thuyết giới, có thể ngăn thuyết giới.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo khi nghe đức Phật cho phép ngăn thuyết giới,
liền ngăn tỳ-kheo thanh tịnh thuyết giới. Đức Phật dạy:
«Không
nên làm như vậy. Các ông lắng nghe. Có trường hợp ngăn
thuyết giới như pháp, có trường hợp ngăn thuyết giới không
như pháp: một phi pháp, một như pháp, hai phi pháp, hai như
pháp, ba phi pháp, ba như pháp, bốn phi pháp, bốn như pháp,
năm phi pháp, năm như pháp, sáu phi pháp, sáu như pháp, bảy
phi pháp, bảy như pháp, tám phi pháp, tám như pháp, chín phi
pháp, chín như pháp, mười phi pháp, mười như pháp.
Thế
nào là một phi pháp? Nếu ngăn với tác nhân[7] vô căn cứ[8]
là một phi pháp.
Thế
nào là một như pháp? Ngăn với tác nhân có căn cứ là một
như pháp.
Thế
nào là hai phi pháp? Ngăn với tác nhân không căn cứ, và không
tác nhân không căn cứ[9] là hai phi pháp.
Thế
nào là hai như pháp? Ngăn với tác nhân có căn cứ, hay không
có tác nhân nhưng có căn cứ, là hai như pháp.
Thế
nào là ba phi pháp? Ngăn bằng sự phá giới, phá kiến, phá
oai nghi, mà không có căn cứ là ba phi pháp.
Thế
nào là ba như pháp? Ngăn bằng sự phá giới, phá kiến, phá
oai nghi, có căn cứ, là ba như pháp.
Thế
nào là bốn phi pháp? Ngăn bằng sự phá giới, phá kiến, phá
oai nghi không căn cứ, và tà mạng không căn cứ, là bốn phi
pháp.
Thế
nào là bốn như pháp? Ngăn bằng phá giới, phá kiến, phá
oai nghi có căn cứ, và tà mạng có căn cứ, là bốn như pháp.
Thế
nào là năm phi pháp? Ngăn bằng ba-la-di, tăng tàn, ba-dật-đề,
ba-la-đề-đề-xá-ni, đột-kiết-la, mà không căn cứ, là năm
phi pháp.
Thế
nào là năm như pháp? Ngăn bằng ba-la-di, tăng tàn, ba-dật-đề,
ba-la-đề-đề-xá-ni, đột-kiết-la, mà có căn cứ, là năm
như pháp.
Thế
nào là sáu phi pháp? Ngăn do có tác nhân, hay không có tác nhân
về sự phá giới mà không có căn cứ; có tác nhân, hay không
có tác nhân về sự phá kiến mà không có căn cứ; có tác
nhân, hay không có tác nhân về sự phá oai nghi mà không có
căn cứ; là sáu phi pháp.
Thế
nào là sáu như pháp? Ngăn do có tác nhân, hay không có tác
nhân về sự phá giới mà có căn cứ; có tác nhân, hay không
có tác nhân về sự phá kiến mà có căn cứ; có tác nhân,
hay không có tác nhân về sự phá oai nghi mà có căn cứ; là
sáu như pháp.
Thế
nào là bảy phi pháp? Ngăn bằng ba-la-di, tăng tàn, ba-dật-đề,
ba-la-để-đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết,
mà không căn cứ, là bảy phi pháp.
Thế
nào là bảy như pháp? Ngăn bằng ba-la-di, tăng tàn, ba-dật-đề,
ba-la-đề-đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết,
mà có căn cứ, là bảy như pháp.
Thế
nào là tám phi pháp? Ngăn do có tác nhân, hay không có tác nhân
về sự phá giới, phá kiến, phá oai nghi, không căn cứ, và
tà mạng, mà không căn cứ là tám phi pháp.
Thế
nào là tám như pháp? Ngăn do có tác nhân, hay không có tác
nhân về sự phá giới, phá kiến, phá oai nghi, không căn cứ,
và tà mạng, mà có căn cứ, là tám như pháp.
Thế
nào là chín phi pháp? Ngăn do có tác nhân, hay không có tác
nhân, hay vừa có vừa không có tác nhân về sự phá giới;
do có tác nhân, hay không có tác nhân, hay vừa có vừa không
có tác nhân về sự phá kiến, do có tác nhân, hay không có
tác nhân, hay vừa có vừa không có tác nhân về sự phá oai
nghi, mà không căn cứ, là chín phi pháp.
Thế
nào là chín như pháp? Ngăn do có tác nhân, hay không có tác
nhân, hay vừa có vừa không có tác nhân về sự phá giới;
do có tác nhân, hay không có tác nhân, hay vừa có vừa không
có tác nhân về sự phá kiến, do có tác nhân, hay không có
tác nhân, hay vừa có vừa không có tác nhân về sự phá oai
nghi, mà có căn cứ, là chín như pháp.
Thế
nào là mười phi pháp? Chẳng phải ba-la-di; không được kể
vào trong ba-la-di;[10] chẳng phải xả giới; không được kể
vào trong xả giới; tùy thuận yêu cầu như pháp của Tăng;[11]
không trái nghịch yêu cầu như pháp của Tăng;[12] không được
kể vào trong sự trái nghịch yêu cầu như pháp của Tăng;
phá giới không được thấy, nghe, nghi phá kiến không được
thấy, nghe, nghi; phá oai nghi không được thấy, nghe, nghi. Đó
gọi là mười phi pháp.
3.
Mười như pháp già
Thế
nào là mười như pháp? Ba-la-di; được kể vào trong ba-la-di;
xả giới; được kể vào trong xả giới; không tùy theo Tăng
yếu như pháp; trái nghịch Tăng yếu như pháp; được kể
vào trong sự trái nghịch Tăng yếu như pháp; phá giới được
thấy, nghe, nghi; phá kiến được thấy, nghe, nghi; phá oai nghi
được thấy, nghe, nghi. Đó gọi là mười như pháp.
Thế
nào là phạm ba-la-di? Như dựa vào tướng phạm ba-la-di. Tỳ-kheo
thấy những tướng trạng này biết là có phạm ba-la-di. Nếu
không thấy tỳ-kheo này phạm ba-la-di, mà nghe tỳ-kheo kia phạm
ba-la-di. Tỳ-kheo, bằng vào sự thấy-nghe-nghi này, với sự
hiện diện của tỳ-kheo kia, khi bố-tát, từ chỗ ngồi đứng
dậy, để trống vai bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất,
chắp tay thưa: «Tỳ-kheo này tên là... phạm ba-la-di. Chúng
Tăng không nên thuyết giới trước tỳ-kheo này. Nay tôi ngăn
tỳ-kheo này thuyết giới.» Như vậy thành ngăn thuyết giới.
Khi
thuyết giới, chúng Tăng gặp phải tám nạn sự khởi lên
như nạn vua, nạn giặc, nạn lửa, nạn nước, nạn bệnh,
nạn người, nạn phi nhơn, nạn trùng độc. Tỳ-kheo đó nếu
muốn sử dụng thấy-nghe-nghi này,[13] khi thuyết giới tại
trú xứ này hay trú xứ kia,[14] thì phải đối trước tỳ-kheo
này, từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống vai bên hữu, đầu
gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa: «Tỳ-kheo tên... được
kể vào trong số ba-la-di, việc này chưa quyết định được.
Nay cần phải quyết định. Không nên ở trước tỳ-kheo này
thuyết giới. Nay tôi ngăn tỳ-kheo này thuyết giới.» Như
vậy thành ngăn thuyết giới.
Thế
nào gọi là xả giới? Như dựa vào những tướng trạng mà
biết là tỳ-kheo xả giới. Tỳ-kheo thấy những biểu hiện
của tỳ-kheo này là tỳ-kheo xả giới. Nếu không thấy tỳ-kheo
này xả giới, mà nghe tỳ-kheo tên... kia đã xả giới tỳ-kheo.
Nếu muốn sử dụng thấy-nghe-nghi này, thì trong khi bố-tát
phải ở trước tỳ-kheo, để trống vai bên hữu, đầu gối
bên hữu chấm đất, chắp tay thưa: «Tỳ-kheo tên... đã xả
giới. Không nên ở trước tỳ-kheo này thuyết giới. Nay tôi
[907a1] ngăn tỳ-kheo này thuyết giới.» Như vậy thành ngăn
thuyết giới.
Khi
ấy có tám nạn sự khởi, như nạn vua, cho đến nạn trùng
độc. Tỳ-kheo kia nếu muốn sử dụng thấy-nghe-nghi này, thì
khi bố-tát, tại trú xứ này hay trú xứ kia, ở trước tỳ-kheo,
từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống vai bên hữu, đầu gối
bên hữu chấm đất, chắp tay thưa: «Tỳ-kheo tên... được
kể vào trong số xả giới, việc này chưa quyết định được.
Nay cần phải quyết định. Không nên ở trước tỳ-kheo này
thuyết giới. Nay tôi ngăn tỳ-kheo này thuyết giới.» Như
vậy thành ngăn.
Thế
nào là không tùy thuận yêu cầu như pháp của Tăng? Như dựa
vào tướng mạo của sự là không tùy thuận yêu cầu như
pháp của Tăng. Tỳ-kheo thấy những biểu hiện này, biết
tỳ-kheo này không tùy thuận yêu cầu như pháp của Tăng. Nếu
không thấy tỳ-kheo này không tùy thuận yêu cầu như pháp
của Tăng, mà chỉ nghe tỳ-kheo tên... kia là tỳ-kheo không
tùy thuận yêu cầu như pháp của Tăng. Nếu muốn sử dụng
thấy-nghe-nghi này, thì khi bố-tát, đối trước tỳ-kheo, để
trống vai bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay
thưa: «Tỳ-kheo tên... không tùy thuận yêu cầu như pháp của
Tăng. Không nên ở trước tỳ-kheo này thuyết giới. Nay tôi
ngăn tỳ-kheo này thuyết giới.» Như vậy thành ngăn.
Thế
nào là trái nghịch yêu cầu như pháp của Tăng? Như dựa vào
tướng mạo của sự trái nghịch yêu cầu như pháp của Tăng.
Tỳ-kheo thấy những biểu hiện này, biết tỳ-kheo này trái
nghịch yêu cầu như pháp của Tăng. Nếu không thấy tỳ-kheo
này như pháp Tăng yếu trái nghịch, mà chỉ nghe tỳ-kheo...
kia là tỳ-kheo trái nghịch yêu cầu như pháp của Tăng. Nếu
muốn sử dụng thấy-nghe-nghi này, thì khi bố-tát, đối trước
tỳ-kheo, từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống vai bên hữu,
đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa: «Tỳ-kheo tên...
trái nghịch yêu cầu như pháp của Tăng. Không nên ở trước
tỳ-kheo này thuyết giới. Nay tôi ngăn tỳ-kheo này thuyết
giới.» Như vậy thành ngăn.
Khi
ngăn thuyết giới mà trong tám nạn sự có bất cứ nạn sự
nào khởi lên, từ nạn vua cho đến nạn trùng độc, thì tỳ-kheo
kia nếu muốn sử dụng kiến-văn-nghi này nơi trú xứ này
hay trú xứ nọ, thì khi bố-tát đối trước tỳ-kheo này,
từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống vai bên hữu, đầu gối
bên hữu chấm đất, chắp tay thưa: «Tỳ-kheo tên... được
kể trong số trái nghịch yêu cầu như pháp của Tăng. Việc
này chưa quyết định được. Nay cần phải quyết định.
Không nên ở trước vị này thuyết giới. Nay tôi ngăn tỳ-kheo
này thuyết giới.» Như vậy thành ngăn.
Thế
nào là phá giới? Như dựa vào tướng mạo là phá giới. Tỳ-kheo
thấy những biểu hiện này biết tỳ-kheo kia phá giới. Nếu
không thấy tỳ-kheo này phá giới, mà chỉ nghe tỳ-kheo tên...
phá giới. Tỳ-kheo này nếu muốn sử dụng kiến-văn-nghi này,
thì khi bố-tát, với dự hiện diện tỳ-kheo này, để trống
vai bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
«Tỳ-kheo tên... phá giới. Không nên ở trước tỳ-kheo này
thuyết giới. Nay tôi ngăn tỳ-kheo này thuyết giới.» Như
vậy thành ngăn.
Phá
kiến, phá oai nghi cũng như vậy. Đó là mười như pháp.
4.
Tỳ-kheo cử tội
«Nếu
tỳ-kheo nào muốn cử tội tỳ-kheo khác, thì chính mình phải
có năm pháp sau đây mới được cử tội người khác: 1. Đúng
lúc chứ chẳng phải không đúng lúc. 2. Chơn thật chứ chẳng
phải là không chơn thật. 3. Có ích chứ chẳng phải là tổn
giảm. 4. Dịu dàng chứ chẳng phải là thô lỗ. 5. Từ tâm
chứ chẳng phải là sân nhuế.
«Tỳ-kheo
có năm pháp này được cử tội người khác. Tại sao vậy?
Ta thấy tỳ-kheo cử tội người khác bằng phi thời chứ chẳng
phải bằng đúng thời, bằng sự không chơn thật chứ không
bằng chơn thật, cốt gây thiệt hại chứ không vì lợi ích,
bằng sự thô lỗ chứ không bằng dịu dàng, bằng sân nhuế
chứ không bằng từ tâm. Các tỳ-kheo khác kia nên nói tỳ-kheo
này rằng: ‹Tội của thầy được cử phi thời chứ chẳng
phải là đúng thời. Đừng vì lời ấy mà khởi sân hận.
Bằng sự không chơn thật chứ chẳng phải là chơn thật;
cốt gây thiệt hại chứ không vì lợi ích, bằng sự thô
lỗ chứ không bằng dịu dàng, bằng sân nhuế chứ không bằng
từ tâm. Đừng nên vì vậy mà sân nhuế.› Nếu tỳ-kheo bị
người khác cử tội không chơn thật, nên đem năm việc này
giải thích và hiểu dụ: ‹Thầy bị cử tội phi thời, không
chơn thật, tổn giảm, thô lỗ, sân hận. Đừng nên vì vậy
mà ưu sầu.› Người bị cử tội không chơn thật nên dùng
năm việc này giải thích và hiểu dụ. Có vị cử tội người
khác bằng sự không chơn thật, cần phải bị khiển trách
bằng năm sự này: ‹Thầy cử tội người khác phi thời chứ
không đúng thời, bằng sự không chơn thật chứ không bằng
sự chơn thật, cố gây thiệt hại chứ không vì lợi ích,
bằng sự thô lỗ chứ không bằng sự dịu dàng, bằng sân
hận chứ không dùng từ tâm. Thật đáng hổ thẹn.› Ai cử
tội người khác bằng sự không chơn thật, cần phải bị
khiển trách bằng năm việc này. Tại sao vậy? Để cho sau
này không cử tội tỳ-kheo thanh tịnh bằng sự không chơn
thật. Khiển trách rồi, nên như pháp trị.
«Tỳ-kheo
bị cử tội chơn thật thì nên bằng vào năm pháp này để
khiển trách như sau: ‹Thầy được cử tội là đúng thời
chứ chẳng phải phi thời. Chớ nên sanh sân hận. Chơn thật
chứ chẳng phải là không chơn thật, lợi ích chứ chẳng
phải là thiệt hại, dịu dàng chứ chẳng phải là thô lỗ,
từ tâm chứ chẳng phải là sân nhuế. Chớ nên sanh sân hận.›
Tỳ-kheo bị cử chơn thật, cần được khiển trách bằng
năm pháp này. Khiển trách rồi, nên như pháp trị.
«Người
cử người khác bằng sự chơn thật, cần được khen ngợi
bằng năm pháp này: ‹Thầy cử tội người khác đúng thời
chứ chẳng phải là phi thời. Chớ nên hối hận. Chơn thật
chứ chẳng phải là không chơn thật, lợi ích chứ chẳng
phải là thiệt hại, dịu dàng chứ chẳng phải là thô lỗ,
từ tâm chứ chẳng phải là sân hận. Chớ nên sanh hối hận.›
Người cử tội người khác chơn thật nên được khen ngợi
bằng năm pháp này. Tại sao vậy? Để sau này vị ấy có cử
tội người khác cũng bằng sự chơn thật mà cử.»
5.
Pháp thức già
Tỳ-kheo
muốn ngăn thuyết giới, đến trước Thượng tọa thưa: «Tôi
muốn ngăn tỳ-kheo... thuyết giới, xin Thượng tọa cho phép.»
Vị Thượng tọa nên hỏi: «Chính thầy bên trong có năm pháp
không?» Nếu nói không thì nên khuyên vị ấy đừng nên ngăn.
Nếu nói có, thì hỏi năm pháp là những gì? Nếu vị ấy
không thể nói được thì nên bảo: «Đừng ngăn.» Nếu vị
ấy có thể nói được thì nên hỏi: «Thầy đã hỏi ý kiến
trung tọa chưa?» Nếu vị ấy nói chưa hỏi thì nên khiến
hỏi ý kiến Trung tọa.
Có
vị đến trước tỳ-kheo trung tọa nói: «Tôi muốn ngăn tỳ-kheo...
thuyết giới. Cúi xin trưởng lão chấp thuận.» Trung tọa
nên hỏi: «Chính thầy bên trong có năm pháp không?» Nếu vị
ấy nói không thì nên khuyên đừng ngăn. Nếu nói có thì nên
hỏi năm pháp ấy là gì? Nếu vị ấy không thể nói được
thì khiến đừng ngăn. Nếu có thể nói được thì hỏi: «Thầy
đã hỏi ý kiến Thượng tọa chưa?» Nếu nói chưa thì nên
bảo nên hỏi ý kiến Thượng tọa. Nếu nói đã hỏi ý kiến
rồi thì nên nói: «Thầy đã hỏi ý kiến hạ tọa chưa?»
Nếu vị ấy nói chưa thì bảo nên hỏi ý kiến Hạ tọa.
Có
vị đến trước tỳ-kheo hạ tọa thưa: «Tôi muốn ngăn tỳ-kheo...
thuyết giới, cúi xin hạ tọa chấp thuận.» Hạ tọa nên
hỏi: «Chính thầy có năm pháp không?» Nếu vị ấy nói không
thì khuyên đừng ngăn. Nếu nói có, thì nên hỏi năm pháp
ấy là gì? Nếu vị ấy không thể nói được thì bảo đừng
ngăn. Nếu có thể nói được thì nên hỏi: «Thầy đã hỏi
ý kiến Thượng tọa chưa?» Nếu vị ấy nói chưa thì nên
khiến hỏi ý kiến Thượng tọa. Nếu nói đã hỏi rồi thì
nên hỏi: «Thầy đã hỏi ý kiến trung tọa chưa?» Nếu nói
chưa thì bảo nên hỏi. Nếu nói đã hỏi rồi thì nên hỏi:
«Thầy đã hỏi tỳ-kheo kia chưa?» Nếu nói chưa hỏi thì
khiến hỏi.
Tỳ-kheo
này nên đến chỗ tỳ-kheo kia nói: «Tôi muốn ngăn trưởng
lão thuyết giới. Xin trưởng lão biết cho.» Có vị hỏi:
«Bản thân thầy có đủ năm pháp không?» Nếu nói không thì
nên khuyên đừng nên ngăn. Nếu nói có thì nên hỏi năm pháp
ấy là gì? Nếu không thể nói được thì khuyên chớ nên
ngăn. Nếu có thể nói được thì nên hỏi: «Thầy đã hỏi
Thượng tọa chưa?» Nếu chưa hỏi thì bảo nên [9081a] hỏi
trung tọa, hạ tọa cũng như vậy.
Tỳ-kheo
ngăn nên tự quán sát: «Ta làm việc này, có tỳ-kheo đồng
bạn hay không?» Nếu không có đồng bạn thì nên nói với
tỳ-kheo ngăn kia rằng: «Đừng ngăn.» Nếu có đồng bạn
thì nên nói: «Cần phải tùy thời.»
6.
Cáo tội
Bấy
giờ có trú xứ nọ, khi bố-tát có tỳ-kheo phạm tăng tàn,
suy nghĩ: «Ta nên làm như thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo.
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
có trú xứ nào, tỳ-kheo phạm tội tăng tàn chúng Tăng nên
trao cho ba-lợi-bà-sa.[15] Cho ba-lợi-bà-sa rồi, nếu cần cho
bổn nhật trị thì cho, nên cho cho ma-na-đỏa thì cho, nên cho
cho xuất tội thì cho cho xuất tội. Tác pháp như vậy rồi
thì thuyết giới.»
Bấy
giờ có trú xứ nọ,[16] có tỳ-kheo phạm ba-dật-đề. Trong
đó, có tỳ-kheo nói phạm ba-dật-đề; có người nói phạm
ba-la-đề-đề-xá-ni. Tỳ-kheo kia nghĩ: «Ta nên thế nào?»
Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Nếu
có trú xứ nào, tỳ-kheo phạm ba-dật-đề, mà có người nói
phạm ba-dật-đề, có người nói phạm ba-la-đề-đề-xá-ni.
Trong trường hợp đó, tỳ-kheo nào thấy là phạm ba-dật-đề
thì nên hướng dẫn tỳ-kheo kia đến chỗ mắt thấy tai không
nghe, bảo như pháp sám hối. Sám hối rồi đến chỗ tỳ-kheo
kia nói: «Tỳ-kheo này đã như pháp sám hối tác pháp như vậy
rồi thuyết giới.»
Có
trú xứ nọ, có tỳ-kheo phạm thâu-lan-giá, trong khi đó có
tỳ-kheo nói phạm thâu-lan-giá, có tỳ-kheo nói phạm ba-la-di.
Những vị nói phạm thâu-lan-giá đều là đa văn, học A-hàm
trì pháp trì luật trì ma-di, được tán trọ bởi tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương, đại thần,
các ngoại đạo sa-môn, bà-la-môn. Còn những vị nói phạm
ba-la-di thì cũng đều là đa văn, học A-hàm trì pháp trì luật
trì ma-di, được tán trợ bởi tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di, quốc vương đại thần, các ngoại đạo sa-môn bà-la-môn.
Có vị khởi ý nghĩ: «Nếu nay thuyết giới, Tăng sẽ tranh
cãi, phỉ báng nhau, khiến cho Tăng bị vỡ, khiến cho Tăng
bị trần cấu, khiến cho Tăng chia rẽ. Ta nên làm thế nào?»
Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Nếu
có trú xứ nào, tỳ-kheo phạm thâu-lan-giá, có vị nói phạm
thâu-lan-giá, có vị nói phạm ba-la-di. Các vị nói phạm thâu-lan-giá
đều là đa văn, cho đến trì ma-di, được tán trợ bởi tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni, cho đến sa-môn ngoại đạo bà-la-môn. Còn những
vị nói phạm ba-la-di cũng đều là đa văn, cho đến trì ma-di,
được tán trợ bởi tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, cho đến sa-môn ngoại
đạo bà-la-môn. Có vị khởi ý nghĩ: ‹Nếu thuyết giới
hôm nay, Tăng sẽ tranh cãi, phỉ báng nhau, khiến Tăng bị vỡ,
khiến Tăng bị trần cấu, khiến Tăng chia rẽ. Nếu tỳ-kheo
coi vấn đề phá Tăng này là quan trọng thì không nên thuyết
giới hôm nay.›»
Đức
Phật dạy: «Cho phép ngăn thuyết giới.»
7.
Tỳ-kheo ngăn
1.
Khi nhóm sáu tỳ-kheo nghe đức Phật cho phép ngăn thuyết giới,
thì liền ngăn tỳ-kheo thanh tịnh thuyết giới. Đức Phật
dạy:
«Không
nên ngăn tỳ-kheo thanh tịnh thuyết giới. Các ông nên lắng
nghe, tuy ngăn thuyết giới nhưng không thành ngăn. Ngăn có tác
nhân nhưng không căn cứ,[17] không thành ngăn. Nếu ngăn có
tác nhân có căn cứ mới thành ngăn. Ngăn mà không có tác
nhân không căn cứ, không thành ngăn. Ngăn mà không có tác
nhân nhưng có căn cứ, cũng thành ngăn. Ngăn mà vừa có tác
nhân vừa không tác nhân, đều không căn cứ, không thành ngăn.
Ngăn mà vừa có tác nhân vừa không có tác nhân, thảy đều
có căn cứ, thành ngăn. Ngăn mà vừa có tác nhân vừa không
có tác nhân đều không đầy đủ, và không có căn cứ, cũng
vậy. Ngăn mà vừa có tác nhân vừa không có tác nhân, đều
đầy đủ, nhưng có căn cứ, cũng vậy.
2.
Trong năm cách thuyết giới, khi chưa thuyết giới mà ngăn thuyết
giới, không thành ngăn. Thuyết giới rồi mới ngăn thuyết
giới, không thành ngăn. Khi đang thuyết giới mà ngăn thuyết
giới, thành ngăn.
Nếu
tỳ-kheo ngăn thuyết giới có thân hành không thanh tịnh, khẩu
hành không thạnh tịnh, tà mạng, si, không khả năng nói, không
khả năng biết phương tiện, không hiểu rõ vấn đáp, thì
tỳ-kheo khác nên nói: «Trưởng lão, thôi đi. Không cần gây
nên sự tranh cãi này.» Nói như vậy rồi thuyết giới. Tỳ-kheo
ngăn thuyết giới tuy có thân hành thanh tịnh, nhưng khẩu hành
không thanh tịnh, tà mạng, si, không khả năng nói, không biết
phương tiện, không hiểu cách vấn đáp, thì tỳ-kheo khác
nên nói: «Trưởng lão, thôi đi. Không cần gây nên sự tranh
cãi này.» Nói như vậy rồi thuyết giới.
Tỳ-kheo
ngăn thuyết giới tuy thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh
tịnh, nhưng tà mạng, si, không khả năng nói, không biết phương
tiện, không hiểu cách vấn đáp, thì tỳ-kheo khác nên nói:
«Trưởng lão, thôi đi. Không cần gây nên sự tranh cãi này.»
Nói như vậy rồi thuyết giới. Tỳ-kheo ngăn thuyết giới,
thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, không tà mạng,
có trí tuệ, có khả năng nói, biết phương tiện, rành việc
vấn đáp, thì tỳ-kheo khác nên nói: «Trưởng lão ngăn tỳ-kheo
này thuyết giới vì lý do gì? Vì phá giới chăng? Vì phá kiến
chăng? Vì phá oai nghi chăng?» Nếu vị đó nói, ‹vì phá giới›
thì nên hỏi phá những giới nào? Nếu nói, ‹phá ba-la-di›
hay nói ‹phá tăng tàn›, hay ‹phá thâu-lan-giá›, như vậy
mới gọi là phá giới. Nếu nói không phá giới mà phá kiến
cho nên ngăn, thì nên hỏi: ‹Phá những kiến nào?› Nếu
nói ‹sáu mươi hai kiến› thì đây là phá kiến. Nếu nói
không phá kiến mà phá oai nghi cho nên ngăn, thì nên hỏi: ‹Phá
những oai nghi nào?› Nếu nói, ‹phá ba-dật-đề, ba-la-đề-đề-xá-ni,
đột-kiết-la, ác thuyết›, như vậy mới gọi là phá oai
nghi. Hỏi tiếp: ‹Do bởi đâu mà ngăn tỳ-kheo này thuyết
giới? Do thấy chăng, vì nghe, nghi chăng?› Nếu nói do bởi
thấy, thì nên hỏi: ‹Thấy việc gì? Thấy thế nào? Thầy
ở chỗ nào? Vị ấy ở chỗ nào? Thấy những gì của ba-la-di,
hay là tăng tàn, hay là ba-dật-đề, hay là ba-la-đề-đề-xá-ni,
thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết?› Nếu nói không thấy
mà nghe, thì nên hỏi: ‹Nghe những gì? Nghe từ ai? Người
ấy là tỳ-kheo hay tỳ-kheo-ni? Là ưu-bà-tắc, ưu-bà-di? Nghe
chỗ nào? Tỳ-kheo này phạm ba-la-di, tăng tàn, ba-dật-đề,
ba-la-đề-đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết?›
Nếu nói không nghe, mà là nghi, thì nên hỏi: ‹Nghi việc gì?
Tại sao nghi? Nghe từ ai mà nghi? là tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di? Nghi phạm việc gì? là ba-la-di, là tăng tàng, ba-dật-đề,
ba-la-đề-đề-xá-ni, thâu-lan-giá, đột-kiết-la, ác thuyết?»
Tỳ-kheo ngăn thuyết giới không thể trả lời tỳ-kheo có
trí tuệ trì giới nên khiến cho hoan hỷ; thì nếu vị ấy
ngăn bằng pháp ba-la-di thì nên kết cho vị ấy pháp tăng tàn;[18]
rồi thuyết giới. Nếu ngăn bằng pháp tăng tàn thì kết cho
ba-dật-đề; rồi thuyết giới. Nếu ngăn bằng ba-dật-đề,
thì nên dùng các pháp sám hối; rồi thuyết giới. Tỳ-kheo
ngăn thuyết giới có thể trả lời tỳ-kheo có trí tuệ trì
giới khiến hoan hỷ; thì nếu ngăn bằng ba-la-di thì phải
diệt tẫn người bị ngăn; rồi thuyết giới. Nếu ngăn bằng
tăng tàn, nên buộc cho phú tàng; rồi thuyết giới. Nếu cần
cho hành bổn nhật trị thì cho hành bổn nhật trị; rồi thuyết
giới. Nếu cần cho hành ma-na-đỏa thì cho hành ma-na-đỏa;
rồi thuyết giới. Nếu cần cho yết-ma xuất tội thì cho xuất
tội; rồi thuyết giới. Nếu ngăn bằng ba-dật-đề, thì bảo
người bị ngăn như pháp sám hối; rồi thuyết giới. Nếu
vì các việc khác [909a1] để ngăn, thì sám hối như pháp rồi
thuyết giới.
3.
Bấy giờ có trú xứ nọ khi thuyết giới, tỳ-kheo bệnh ngăn
tỳ-kheo bệnh thuyết giới. Tỳ-kheo bệnh suy nghĩ: «Ta nên
làm thế nào?» Rồi bạch các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo bệnh nào ngăn tỳ-kheo bệnh thuyết giới, thì các
tỳ-kheo khác nên nói rằng, ‹Đức Thế Tôn có dạy như vầy:
‘Không nên ngăn tỳ-kheo bệnh, cần phải chờ cho bệnh của
Trưởng lão lành, và tỳ-kheo bệnh kia cũng lành đã. Trưởng
lão nên nói như pháp.’ Tỳ-kheo kia cũng nên nói như pháp.›
Nên nói như vậy rồi thuyết giới.»
Có
trú xứ nọ, khi thuyết giới, tỳ-kheo bệnh ngăn tỳ-kheo không
bệnh thuyết giới. Các tỳ-kheo khác nên nói, ‹Đức Thế
Tôn có dạy như vầy: ‘Người bệnh không nên ngăn thuyết
giới. Cần chờ cho bệnh lành rồi sẽ nói như pháp.’ Vị
kia cũng nên như pháp nói.› Nên nói như vậy rồi thuyết
giới.»
Có
trú xứ nọ, khi thuyết giới, tỳ-kheo không bệnh ngăn tỳ-kheo
bệnh thuyết giới. Các tỳ-kheo khác nên nói: ‹Này Trưởng
lão, đức Thế Tôn có dạy như vầy: ‘Không nên ngăn tỳ-kheo
bệnh. Cần phải chờ bệnh lành rồi hỏi như pháp. Tỳ-kheo
kia cũng nói như pháp.’ Nên nói như vậy rồi thuyết giới.›
4.
Có trú xứ nọ số đông tỳ-kheo, ngày thuyết giới nghe có
tỳ-kheo trú xứ kia ưa đấu tranh mạ lỵ, phỉ báng nhau, miệng
tuôn ra lời như gươm giáo, muốn đến đây thuyết giới:
«Chúng ta nên làm thế nào?» Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
«Nếu
có việc như vậy khởi lên thì nên làm hai, ba cách bố-tát
bằng như: Nếu thường xuyên thuyết ngày mười lăm thì nên
thuyết ngày mười bốn. Nếu thường thuyết ngày mười bốn
thì nên thuyết ngày mười ba. Nếu nghe ngày nay họ đến thì
nên nhanh chóng tập hợp lại một chỗ để bố-tát. Nếu
nghe họ đã đến trong giới thì nên ra ngoài giới để bố-tát.
Nếu họ đã vào trong Tăng-già-lam thì nên quét, lau sửa soạn
nhà tắm, ghế ngồi tắm, bình nước tắm, dao cạo mồ hôi,
bình nước, đồ đựng bùn, vỏ cây, thuốc bột mịn, bùn,
hỏi Thượng tọa rồi nhen lửa. Khi khách tỳ-kheo vào trong
nhà tắm để tắm thì tất cả tìm cách ra ngoài giới để
thuyết giới. Nếu khách tỳ-kheo gọi cựu tỳ-kheo cùng thuyết
giới thì nên nói là ‹Chúng tôi đã thuyết giới rồi.›
Nếu cựu tỳ-kheo đã thuyết giới, khách tỳ-kheo ngăn thuyết
giới, không thành ngăn. Nếu khách tỳ-kheo đang thuyết giới,
cựu tỳ-kheo ngăn thuyết giới, thành ngăn. Nếu có thể làm
như vậy được thì tốt. Bằng không, tác bạch hoãn ngày
thuyết giới. Văn bạch như sau:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Hôm nay không thuyết giới, đến tháng
tối trăng sẽ thuyết giới. Đây là lời tác bạch.»
Nên
bạch như vậy để hoãn ngày thuyết giới. Nếu tỳ-kheo khách
đợi chứ không đi, thì tỳ-kheo nên tác bạch lần thứ hai
để hoãn ngày thuyết giới. Văn bạch như sau:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! nay Tăng không thuyết giới, đến
tháng có trăng sẽ thuyết giới. Đây là lời tác bạch.»
Nên
bạch lần thứ hai như vậy để hoãn ngày thuyết giới. Nếu
khách tỳ-kheo không đi, đến tháng có trăng thì nên như pháp
cưỡng khách tỳ-kheo cùng vấn đáp.[19]
[1]
Tham chiếu, Thập tụng 33 , «Già pháp» (T23n1435 tr.239b); Ngũ
phần 28, «Già bố-tát pháp» (T22n1421 tr.180c).
[2]
Cầu thính, xem Phần iii. Ch. iv. Tự tứ, mục 2. Cầu thính
& cht. 2. Pali okāsakata, dành cho cơ hội, hay cho phép. Cf.
Mahāvagga ii (Vin.i. 114): okāsaṃ kārāpetvā āpattiṃ codetuṃ,
sau khi xin phép (yêu cầu cho cơ hội) rồi cử tội.
[3]
Pali, ibid., karotu āyasmā okāsaṃ, ahaṃ taṃ vattukāmo, (trước
khi cử tội, phải nói) «Mong Trưởng lão cho tôi cơ hội nói
chuyện với ngài.»
[4]
Tác tự ngôn 作自言; có lẽ Pali: paṭiññātakaraṇa, đồng
nhất với tự ngôn trị trong 7 diệt tránh. paṭiññā (tự
ngôn, hay tự xưng), cũng có nghĩa là sự hứa hẹn.
[5]
Nhận lời hứa của người sẽ nhận cầu thính. Xem Ch. Tự
tứ, đã dẫn.
[6]
Tự mình hứa với người sẽ đến cầu thính. Xem Ch. Tự
tứ, đã dẫn.
[7]
Tác 作; ở đây được hiểu là nguyên nhân hay lý do. Pali:
kāraṇa.
[8]
Vô căn 無根, Pali: avatthu (không cơ sở) Cf. Thập tụng 33:
vô căn già thuyết giới 無根遮說戒. Trong năm thiên tội,
không dẫn được bằng chứng nào cho một tội để ngăn thuyết
giới. Ở đây, thuyết giới bị ngăn, vì cho rằng trong chúng
có tỳ-kheo phạm tội mà chưa sám hối. Nhưng người ngăn
không nêu được bằng chứng phạm tội.
[9]
Vô căn tác bất tác 無根作不作.
[10]
Thập tụng 33: Tỳ-kheo phạm ba-la-di, nhưng chưa được Tăng
nêu tội. Nghĩa là, chưa bị buộc tội là phạm ba-la-di.
[11]
Thập tụng 33: Tùy thuận Tăng sự như pháp.
[12]
Thập tụng 33: Không khinh Tăng, tức không chối đối các quyết
định như pháp của Tăng.
[13]
Đoạn văn này bị gãy. Nên dẫn Thập tụng để thêm vào:
«Tăng chuẩn bị đề xuất ba-la-di sự đối với một tỳ-kheo.
Trong lúc đang kiểm hiệu, một trong tám nạn sau đây xảy
ra… Sự việc chưa được quyết đoán, Tăng phải rời chỗ
mà đi. Về sau, khi Tăng bố-tát, trước hết phải quyết đoán
sự việc của tỳ-kheo này…»
[14]
Tăng đang phân xử tại trú xứ này trước khi thuyết giới,
gặp nạn sự dời qua trú xứ khác bố-tát, tại đó, tiếp
tục phân xử.
[15]
Xem cht. 4 trên.
[16]
Xem mục Già Tự tứ, Chương Tự tứ.
[17]
Vô căn tác; ngăn có lý do nhưng không có cơ sở. Xem cht. 7
& 8 trên.
[18]
Tăng-già-bà-thi-sa 8, «Vu khống bằng ba-la-di không căn cứ.»
[19]
Đại bộ phận đoạn ngăn thuyết giới nầy tương tự với
ngăn tự tứ. Xem Chương Tự tứ, mục «Già tự tứ.»