CHƯƠNG
XV.
PHÁ
TĂNG[1]
1.
Đề-bà-đạt-đa
[909b8]
Thế Tôn ở tại thành Vương-xá. Bấy giờ có nhơn duyên,
chúng Tăng tập hợp. Đề-bà-đạt-đa[2] từ chỗ ngồi đứng
dậy, hành xá-la:
«Các
Trưởng lão nào chấp thuận năm việc[3] này là pháp, là tỳ-ni,
là lời dạy của Phật thì rút một thẻ.»
Bấy
giờ có năm trăm vị tỳ-kheo tân học vô trí rút thẻ. Lúc
ấy tôn giả A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy lấy uất-đa-la-tăng
mặc vào một bên, nói như vầy:
«Các
trưởng lão nào chấp thuận năm việc này là phi pháp, phi
tỳ-ni, phi lời Phật dạy, thì lấy uất-đa-la-tăng mặc một
bên.»
Trong
đó có sáu mươi trưởng lão tỳ-kheo lấy uất-đa-la-tăng
mặc một bên. Bấy giờ Đề-bà-đạt-đa nói với các tỳ-kheo
rằng:
«Này
các trưởng lão, chúng ta không cần Phật và chúng Tăng. Chúng
ta cùng nhau tác pháp yết-ma thuyết giới.»
Họ
liền đến trong núi Già-da.[4] Đề-bà-đạt-đa đến trong
núi Già-da, lìa Phật và Tăng, tự tác yết-ma thuyết giới.
Bấy giờ có số đông tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, kính
lễ sát chân rồi ngồi qua một bên, bạch đức Thế Tôn rằng:
«Trong
thành Vương-xá có nhơn duyên, chúng Tăng hội họp. Đề-bà-đạt-đa
từ chỗ ngồi đứng dậy hành trù, nói: ‹Các trưởng lão
nào chấp thuận năm việc này là pháp, là tỳ-ni, là lời
Phật dạy thì rút thẻ.› Trong số đó năm trăm vị tỳ-kheo
tân học vô trí liền rút thẻ. Trưởng lão A-nan liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, lấy uất-đa-la-tăng mặc một bên,
nói: ‹Các trưởng lão nào chấp thuận năm pháp này là phi
pháp, phi tỳ-ni, phi lời Phật dạy, thì xả uất-đa-la-tăng
mặc một bên.› Bấy giờ có sáu mươi Trưởng lão tỳ-kheo
xả uất-đa-la-tăng, mặc một bên. Đề-bà-đạt-đa nói với
các tỳ-kheo: ‹Chúng ta có thể xả Phật và Tăng, tự mình
tác yết-ma thuyết giới.› Rồi liền đến trong núi Già-da,
xả Phật và Tăng tác yết-ma thuyết giới.»
Đức
Phật dạy:
«Kẻ
si phá Tăng này, có tám điều phi chánh pháp[5] trói buộc,
che lấp, tiêu diệt thiện tâm, Đề-bà-đạt-đa đã hướng
đến phi đạo trong nê-lê[6] một kiếp, không thể cứu được.
Tám điều phi chánh pháp ấy là gì? Lợi, không lợi, khen,
không khen, cung kính, không cung kính, ác tri thức, ưa bạn ác.[7]
Có tám điều phi chánh pháp như vậy trói buộc, che lấp, tiêu
diệt thiện tâm, Đề-bà-đạt-đa đã hướng đến phi đạo
trong nê-lê một kiếp, không thể cứu được. Nếu Ta thấy
Đề-bà-đạt-đa có thiện pháp bằng sợi lông, sợi tóc,
thì ta đã không ghi nhận và nói ‹Đề-bà-đạt-đa sẽ ở
trong Nê-lê một kiếp không thể cứu được.› Do ta không
thấy Đề-bà-đạt-đa có được thiện pháp bằng sợi lông,
sợi tóc, nên mới ghi nhận và nói, ‹Đề-bà-đạt-đa sẽ
ở trong Nê-lê một kiếp không thể cứu được.› Thí như
có người chìm trong hố xí. Có người muốn kéo nó ra. Nhưng
không thấy ở nơi nó có chỗ sạch nào bằng sợi lông, hay
sợi tóc để dùng tay nắm nó kéo ra. Nay quán sát Đề-bà-đạt-đa
cũng lại như vậy. Không thấy có một bạch pháp nào bằng
sợi lông, hay sợi tóc. Bởi vậy Ta nói, ‹Đề-bà-đạt-đa
sẽ ở trong Nê-lê một kiếp không thể cứu được.›»
Bấy
giờ tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-liên đi đến trong núi Già-da.
Có tỳ-kheo thấy vậy, than khóc sướt mướt, và đến chỗ
đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi lui qua một bên,
bạch đức Thế Tôn rằng:
«Đệ
tử hạng nhất của đức Thế Tôn cũng đến núi Già-da.»
Đức
Phật bảo:
«Này
tỳ-kheo, ngươi đừng lo sợ. Xá-lợi-phất và Mục-liên đến
trong núi Già-da là vì việc lợi ích.»
Đề-bà-đạt-đa
ở trong núi Già-da cùng vô số chúng vây quanh đang nói pháp,
từ xa thấy Xá-lợi-phất và Mục-liên đến liền nói:
«Thiện
lai! Thầy là đại đệ tử. Tuy trước đây không chấp thuận
mà nay đã chấp thuận. Tuy có muộn nhưng tốt.»
Trưởng
lão Xá-lợi-phất và Mục-liên đến nơi, trải chỗ ngồi
mà ngồi. Bấy giờ, Đề-bà-đạt-đa ở trước đại chúng,
làm như thường pháp của Phật, bảo Xá-lợi-Phất vì chúng
Tăng nói pháp, nay ta đau lưng tạm nghỉ khỏe một chút. Khi
ấy Đề-bà-đạt-đa cũng làm giống như đức Thế Tôn, tự
xếp Tăng-già-lê thành bốn lớp, nằm nghiêng bên hữu như
con sư tử. Bỗng nhiên, nghiêng về phía tả như con dã can,
nằm ngủ ngáy. Trưởng lão Xá-lợi-phất nói với Mục-liên
rằng:
«Nay
có thể thị hiện cho đại chúng, khiến sanh tâm yểm ly.»
Trưởng
lão Mục-liên nghe Xá-lợi-phất nói vậy, rồi dùng thần thông
bay lên hư không, hoặc hiện hình nói pháp, hoặc ẩn hình
mà nói pháp, hoặc hiện nửa hình mà nói pháp, hoặc ẩn nửa
hình mà nói pháp, có lúc tuôn ra khói, có lúc tuôn ra lửa,
có khi [910a] phần dưới thân tuôn ra lửa, phần trên thân
tuôn ra nước, hoặc có khi phần trên thân tuôn ra lửa, phần
dưới thân tuôn ra nước, có khi cả thân thành ngọn lửa
cháy, mà từ lỗ chân lông tuôn ra nước. Trưởng lão Xá-lợi-phất
biết Đại Mục-liên đã thị hiện cho đại chúng này, khiến
sanh tâm yểm ly rồi, liền nói pháp tứ đế Khổ-Tập-Tận-Đạo.
Khi ấy các tỳ-kheo liền từ nơi chỗ ngồi xa lìa trần cấu,
đặng con mắt pháp trong sạch. Bấy giờ trưởng lão Xá-lợi-phất,
Mục-liên bảo các tỳ-kheo:
«Ai
là đệ tử của đức Thế Tôn hãy theo tôi trở về.»
Xá-lợi-phất,
Mục-liên cùng năm trăm tỳ-kheo liền từ chỗ ngồi đứng
dậy ra đi. Trưởng lão Xá-lợi-phất và Mục-liên ra đi chưa
bao lâu, Tam-văn-đạt-đa[8] lay ngón chân của Đề-bà-đạt-đa
và nói với Đề-bà-đạt-đa:
«Thức
dậy! Thức dậy! Xá-lợi-phất và Mục-liên dẫn năm trăm
tỳ-kheo rời chỗ ngồi ra đi rồi.»
Đề-bà
hoảng hốt thức dậy, máu nóng nổi lên, từ mặt và lỗ
chân lông tiết ra. Các tỳ-kheo thấy trưởng lão Xá-lợi-phất
và Mục-liên đã dẫn năm trăm tỳ-kheo trở về, vui mừng
đến chỗ đức Thế Tôn, đầu mặt kính lễ sát chân, ngồi
qua một bên, bạch Phật:
«Xá-lợi-phất
và Mục-liên đã dẫn năm trăm tỳ-kheo trở về rồi!»
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
«Đây
không phải là lần thứ nhất Xá-lợi-phất phá Đề-bà-đạt-đa
mà là lần thứ hai Xá-lợi-phất phá vỡ Đề-bà-đạt-đa.»
Đời
quá khứ thuở xa xưa có niên thiếu bà-la-môn tên là Tán-nhã,[9]
đến chỗ người thầy dạy bắn, thưa: «Tôi muốn học nghệ
thuật bắn.» Ông thầy dạy bắn nói, «Được!» Tán-nhã
theo học bắn bảy năm. Qua bảy năm rồi liền nghĩ: «Nay ta
học bắn, đến khi nào mới xong?» Rồi liền đến chỗ ông
thầy thưa: «Tôi phải học nghệ thuật bắn này với thời
gian bao lâu?» Ông Thầy liền bảo lấy cây cung, kéo dây cung
ra, đặt mũi tên vào và nói:
«Ta
có nhơn duyên vào thôn. Đợi ta trở về sẽ bắn.»
Ông
thầy ra lệnh như vậy rồi đi vào thôn. Khi ấy Tán-nhã nghĩ:
«Tại sao thầy của ta bảo ta kéo dây đặt tên vào, rồi
lại đợi thầy về mới bắn? Nay ta cứ bắn thử xem có việc
gì xảy ra?»
Trước
mặt Tán-nhã có cây sa-la to lớn. Khi mũi tên được bắn ra
xuyên qua cây ấy rồi rơi sâu xuống đất, không thấy. Ông
thầy vào thôn, xong việc trở về, đến chỗ Tán-nhã hỏi:
«Ngươi
chưa bắn chứ?»
Tán-nhã
trả lời:
«Bắn
rồi.»
Vị
thầy nói:
«Ngươi
làm điều không tốt. Nếu ngươi không bắn mũi tên thì sẽ
là bậc đại sư tối thượng trong cõi Diêm-phù-đề. Nay ta
là đại sư bậc nhất. Nếu ta qua đời, thì sẽ có ngươi.»
Vị
thầy liền trang điểm cho đứa con gái của mình và đem năm
trăm cái tên, luôn cả chiếc xe ngựa, cho người học trò.
Tán-nhã nhận rồi, trên đường đi phải trải qua vùng hoang
vu. Tán-nhã liền để vợ trên xe, dùng năm trăm cái tên này
để qua vùng hoang vu. Bấy giờ, có bọn cướp gồm năm trăm
người đang ăn nơi vùng hoang vu. Tán-nhã nói với vợ:
«Em
đến chỗ bọn cướp để xin thức ăn.»
Người
vợ liền đến nói với bọn cướp:
«Tán-nhã
bảo tôi đến đây xin thức ăn.»
Khi
ấy thủ lĩnh của bọn giặc quan sát, rồi nói:
«Xem
người được sai này, biết kia không phải là người tầm
thường. Hãy cho thức ăn.»
Trong
khi đó, một tên giặc có ý nghĩ: «Chúng ta để người này
sống mà chở vợ đi à?» Tán-nhã liền bắn một mũi tên,
tên giặc đó bị trúng tên, chết. Tên giặc khác lại cũng
đứng dậy nói: «Chúng ta để người này sống mà chở vợ
đi à?» Tán-nhã lại cũng bắn một mũi tên. Tên giặc đó
bị trúng tên, chết. Cứ như vậy, từng đứa một đứng
lên, đều bị trúng tên mà chết. Lúc bấy giờ Tán-nhã còn
một mũi tên. Chỉ còn thủ lĩnh của bọn cướp, chưa có
sơ hở để buông tên. Tán-nhã liền nói với vợ.
«Em
hãy cởi áo để xuống đất.»
Người
vợ liền cởi áo. Tên giặc sơ ý. Tức thì mũi tên được
bắn ra, giết chết.
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo.
«Các
ông có biết chăng, năm trăm tên giặc trước kia chính là
năm trăm tỳ-kheo hiện nay. Thủ lĩnh bọn cướp là Đề-bà-đạt-đa.
Tán-nhã bà-la-môn đâu phải ai khác, mà là Xá-lợi-phất.
Như vậy, trước kia Xá-lợi-phất đã phá, nay lại phá lần
thứ hai.»
Khi
ấy Xá-lợi-phất và Mục-liên dẫn năm trăm tỳ-kheo đến
chỗ đức Phật, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một
bên bạch Phật:
«Năm
trăm tỳ-kheo này tùy thuận Đề-bà-đạt-đa tạo thành biệt
chúng. Nay có cần phải thọ đại giới lại?»
Đức
Phật bảo Xá-lợi-phất và Mục-liên:
«Tỳ-kheo
tùy thuận Đề-bà-đạt-đa trước kia đã có giới. Nay chỉ
nên hướng dẫn họ tác pháp sám hối thâu-lan-giá mà thôi.»
Tôn
giả Mục-liên bạch Phật rằng:
«Đức
Thế Tôn khi ở giữa vô số chúng bảo Xá-lợi-phất: ‹Ông
hãy nói pháp. Nay Ta đau lưng cần nghỉ một chút.› Đề-bà-đạt-đa
cũng bắt chước y như vậy. Tự xếp Tăng-già-lê thành bốn
lớp, rồi nằm nghiêng phía bên tả, giống như con dã can,
nằm ngủ và ngáy.»
Đức
Phật bảo Mục-liên:
«Chẳng
phải ngày nay Đề-bà-đạt-đa bắt chước ta để rồi phải
bị khổ. Mà đây là lần thứ hai, vì bắt chước ta mà phải
bị khổ não. Này Mục-liên, đời quá khứ xa xưa về trước,
bên tả của núi chúa Tuyết sơn có một ao nước lớn, một
con voi lớn sống bên ao. Voi lớn kia xuống ao nước tắm rửa,
uống nước, rồi dùng vòi nhổ lấy gốc sen, rửa sạch ăn.
Khí lực dồi dào, hình thể tươi sáng. Một con voi nhỏ thường
đi theo voi lớn. Voi nhỏ bắt chước voi lớn, xuống ao tắm,
rồi nhổ lấy gốc sen, không rửa sạch bùn mà ăn. Do ăn gốc
sen không sạch kia nên khí lực không đầy đủ, hình thể
không tươi sáng, bèn sinh bệnh.»
Thế
Tôn nói kệ:
Chúng
ta không ham muốn.
Ăn
sen rất thanh tịnh.
Voi
nhỏ ăn bùn tạp;
Học
đòi khiến phải bịnh.
Thây
chết có hơi thối.
Ăn
tiêu, ợ tự hết.
Người
nào hành phi pháp,
Đêm
dài khí không dứt,
Tham
dục, sân nhuế, si.
Trượng
phu có ác tâm.
Người
si tự làm hại.
Như
trái nhiều, nhánh gãy.
Cây
chuối, lột bẹ, chết.
Trúc
lau, cũng như vậy.
Người
khốn, lợi dưỡng hại.
Con
lừa mang thai chết.
2.
Truyện thiện hành
Đức
Phật bảo Mục-liên:
«Voi
lớn tức là Ta. Voi nhỏ là Đề-bà-đạt-đa.»
Đức
Phật nói:
«Đây
là lần thứ hai, Đề-bà-đạt-đa bắt chước Ta mà phải
chịu khổ não.»
Các
tỳ-kheo liền nghĩ: ‹Hy hữu thay, Đề-bà-đạt-đa, đệ tử
đức Thế Tôn mà lại bội ân làm việc phi pháp, đem tà giáo
phá hoại năm trăm đệ tử như vậy.›
Đức
Thế Tôn biết tâm các tỳ-kheo nghĩ như thế, liền bảo các
tỳ-kheo:
«Đề-bà-đạt-đa
chẳng phải chỉ ngày nay mới phá hoại đệ tử của Ta.»
Thuở
quá khứ, có hai vua Diêm-phù-đề. Một người tên là Nguyệt.
Người thứ hai tên là Nguyệt Ích. Người sanh ngày mười
bốn đặt tên là Nguyệt. Người sanh ngày mười lăm gọi
là Nguyệt Ích. Hai vị thuận hòa với nhau không có sự hiềm
khích. Trong cõi Diêm-phù-đề có một con sông tên là Tu-la-tra.
Mỗi bên bờ sông đều có bốn mươi hai ngàn thành. Quốc
độ rộng rãi, bằng phẳng, trang nghiêm tốt đẹp. Nhân dân
giàu có, của cải phong phú, thức ăn dồi dào. Khi ấy bên
bờ sông Tu-la-tra của vua Nguyệt Ích có cái thành cũng mang
tên là Tu-la-tra, đông tây mười hai do tuần, nam bắc bảy
do tuần. Hai vua hứa hẹn nhau, ‹Tôi sanh con trai sẽ cưới
con gái của bạn. Bạn sanh con trai sẽ cưới con gái của tôi.›
Bấy giờ, vua Nguyệt Ích không có con cái. Vì muốn cầu [911a1]
có con nên đến các miễu, am thần nước để lễ kính, thờ
cúng chư thiên, như Mãn thiện thiên, Bảo thiện thiên, mặt
trời, mặt trăng, Thích, Phạm, thần đất, thần lửa, thần
gió, Ma-hê-thủ-la thiên, thần vườn, thần rừng, thần đồng
trống, thần chợ, thần quỷ tử mẫu, thần thành quách…
vì các nơi làm phước với hy vọng sẽ có con. Khi ấy bên
kia sông Tu-la-tra có hai vị Tiên nhân đắc ngũ thông. Bấy
giờ, Thần Sông tâu với vua rằng: ‹Bên kia sông Tu-la-tra
có hai vị Tiên nhân đắc ngũ thông. Nếu vị Tiên kia ước
nguyện sanh làm con Vua thì Vua sẽ có con. Vua Nguyệt Ích liền
đến bên bờ sông, tuần tự đi tìm đến chỗ Tiên nhơn,
nói với tiên nhơn rằng: ‹Tiên nhơn biết chăng, nhà tôi
không có con. Nếu các ngài ước nguyện sanh nơi nhà tôi thì
khi mạng chung sẽ được sanh. Nếu sanh vào nhà tôi thì ngũ
dục đầy đủ, tiêu dùng khoái lạc, không khi nào thiếu thốn.›
Tiên nhơn trả lời: ‹Có thể được.› Vua Nguyệt Ích vui
mừng, trở về nhà. Sau bảy ngày, một Tiên nhơn mạng chung.
Liền khi ấy đệ nhất phu nhơn có thai. Người nữ có ba loại
trí: biết khi có thai, biết do đâu mà có, biết đàn ông có
ý ham muốn. Phu nhơn tâu với vua:
«Vua
có biết chăng? Nay thiếp đã có thai.»
Nhà
vua nói:
«Rất
sung sướng.».
Nhà
vua tăng gia việc cúng dường[10] nhiều hơn gấp bội. Khi ấy
Tiên nhơn thứ hai, sau bảy ngày lại mạng chung. Liền khi đó
đệ nhị phu nhơn có thai. Phu nhơn tâu với nhà vua:
«Nhà
vua có biết chăng? Nay thiếp đã có thai.»
Nhà
vua lại tăng thêm sự cung cấp, như trên. Bấy giờ, nhà vua
sai người đến bên bờ sông Tu-la-tra tìm xem có bao nhiêu Tiên
nhơn chết. Sứ giả liền đến xem, thấy hai tiên nhơn đã
chết, trở về tâu với vua: hai Tiên nhơn đã chết. Vua tự
nghĩ: ‹Hai Tiên nhơn kia mạng chung, thọ thai vào hai phu nhơn
của ta.› Sau chín tháng, phu nhơn sanh con trai, tướng mạo
đoan chánh. Đệ nhất phu nhơn của vua sanh con trai, bấy giờ,
những điều tốt lành tự thể hiện đến. Có năm trăm người
khách buôn đến. Năm trăm khách buôn này lấy châu báu từ
biển trở về. Năm trăm mỏ quý đều tự xuất hiện. Năm
trăm người tử tù từ ngục được thả. Khi ấy vua Nguyệt
Ích tự tư duy rằng: ‹Nên đặt hài nhi này tên gì?› Theo
quốc pháp của nước này, khi một nam nhi mới sanh thì hoặc
cha mẹ hay sa-môn, bà-la-môn đặt tên. Nhà vua tự nghĩ: ‹Cần
gì sa-môn, bà-la-môn đặt tên. Ngày sanh hài nhi này có nhiều
điều lành xuất hiện, nên đặt tên là Thiện Hành.› Nhà
vua liền trao cho bốn bà mẹ để chăm sóc: một bà bồng ẳm,
bà thứ hai tắm rửa, bà thứ ba cho bú, bà thứ tư giúp vui,
voi ngựa, xe cộ, làm các kỹ nhạc, các thứ vui chơi, lại
cầm cái đuôi con chim công phía đằng sau, trang nghiêm những
thứ vui chơi như vậy. Vương tử Thiện Hành tuổi lên tám,
chín, được dạy các thứ kỹ nghệ, thư số, ấn họa, hý
tiếu, ca vũ, kỹ nhạc, các môn cỡi ngựa, cỡi voi, xe cộ,
bắn cung, thuộc loại chiến đấu cũng được dạy. Tất cả
các bộ môn vương tử đều được dạy.
Khi
đệ nhị phu nhơn của vua sanh con thì có nhiều việc xấu
ác tự khởi lên. Như con dã can kêu. A-tu-la nắm mặt trời.[11]
Năm trăm người đáng tội chết đến nơi. Theo quốc pháp
của nước này, nếu hài nhi mới sanh nên mời sa-môn, bà-la-môn
đến đặt tên, nhưng nhà vua tự nghĩ: ‹Đâu có phiền sa-môn,
bà-la-môn đặt tên, ngày hài nhi này sanh có nhiều việc xấu
ác xuất hiện thì nên đặt tên là Ác Hành.› Nhà vua cũng
giao cho bốn bà mẹ chăm sóc: một bà bồng ẳm, bà thứ hai
tắm rửa, bà thứ ba cho bú, ba thứ tư giúp các trò vui, voi
ngựa, xe cộ làm các kỹ nhạc, các loại vui chơi, cho đến
dạy các bộ môn chiến đấu.
Bấy
giờ, Thiện Hành được vua rất yêu mến, và các vương tử,
phu nhơn, đại thần thị tùng, tất cả nhơn dân tiểu quốc
khác, không một người nào không ái niệm. Trong khi đó, vương
tử Ác Hành không được nhà vua yêu mến, và tất cả mọi
người cũng không yêu mến. Bấy giờ, vương tử Ác Hành khởi
ý nghĩ: ‹Vương tử Thiện Hành được nhà vua và tất cả
nhơn dân rất yêu mến. Còn ta thì không những chỉ nhà vua
không yêu mến mà bao nhiêu người khác cũng không yêu mến.
Ta phải tìm cách nào để dứt mạng nó?›
Bấy
giờ, đệ nhất phu nhơn của Nguyệt vương lân quốc, sanh
được con gái, liền sai sứ đến chỗ vua Nguyệt Ích thông
báo: ‹Đệ nhất phu nhơn của tôi sanh được con gái, sẽ
làm vợ của Thiện Hành, con của ông bạn.›
Một
hôm, Vương tử Thiện Hành nghĩ: ‹Chúng sanh trong cõi Diêm-phù-đề
đều nhiều nghèo khổ. Ta nên vào trong biển cả tìm lấy
ngọc như ý châu, khiến cho chúng sanh trong Diêm-phù-đề khỏi
phải nghèo khổ.› Thiện Hành liền đến chỗ vua cha thưa:
«Chúng
sanh trong cõi Diêm-phù-đề đều nhiều nghèo khổ. Con muốn
vào trong biển cả tìm lấy ngọc như ý châu để khiến chúng
sanh nơi Diêm-phù-đề thoát khỏi sự nghèo khổ.»
Vua
cha liền nói:
«Cha
có rất nhiều vàng bạc, bảy báu, vô số kho tàng, cái nào
cũng đầy dẫy. Con có thể tùy ý lấy cho.»
Thiện
Hành trả lời:
«Không
thể được! Con muốn vào trong biển cả tìm lấy ngọc như
ý châu, khiến cho chúng sanh nơi Diêm-phù-đề khỏi phải nghèo
khổ.»
Vua
cha nói:
«Tùy
ý con.»
Khi
ấy Vương tử Ác Hành liền có ý nghĩ: «Nay chính là lúc
ta có dịp để dứt mạng nó.»
Ác
Hành liền đến chỗ vua thưa:
«Thiện
Hành là người anh mà con rất trọng. Nay anh con muốn vào trong
biển cả, nếu con không có mặt, sợ anh con có thể táng thân
mất mạng. Nay con muốn cùng anh con đi vào biển cả.»
Vua
cha nói:
«Tùy
ý con.»
Khi
ấy từ biệt vua và phu nhơn, cùng quyến thuộc rồi, Thiện
Hành đến trong thành Tu-ba-la rung chuông rao:
«Ai
có thể xả ly cha mẹ, vợ con, anh em chị em và các thân quyến,
muốn cầu vàng bạc trân bảo vô giá bảo châu, thì theo tôi
vào biển. Tất cả mọi nhu cầu ăn uống, mọi thứ để trang
sức, tôi sẽ cung cấp.»
Bấy
giờ, có năm trăm khách buôn đến tập hợp liền chỗ đó.
Thiện Hành cùng năm trăm khách buôn đều đến thành Tu-ba-la
để mua thuyền và tìm thuyền sư. Thuyền sư cho biết trong
biển có các nạn như: nạn sóng thần, nạn nước xoáy, nạn
đại ngư... Chuẩn bị thuyền xong, rao truyền như trên lần
thứ hai, rồi thả thuyền ra biển. Nhờ phước đức của
Thiện Hành nên thuyền được thuận buồm xuôi gió đến chỗ
bãi thất bảo. Thiện Hành nói với các thương nhơn rằng:
«Nay
đã đến chỗ bãi báu vật. Nên cột thuyền cho chắc. Rồi
tùy ý thu nhặt của báu cho vừa đầy thuyền. Đừng để
bị chìm đắm.»
Các
thương nhơn vâng lời, thu lấy của báu. Thiện Hành dạy bảo
các thương nhơn rồi, lại đến chỗ khác. Bấy giờ, Vương
tử Ác Hành dùng ác ngôn nói với các thương nhơn rằng:
«Nếu
vương tử Thiện Hành mà an ổn trở về, thì sẽ đoạt hết
của báu của các người. Ngay bây giờ chúng ta nên nhận chìm
thuyền của Thiện Hành rồi đi.
Ác
Hành nói với năm trăm thương nhơn như vậy. Họ nhận lời
nên nhận chìm thuyền của Thiện Hành rồi bỏ đi. Do quả
báo bạc phước của họ nên thuyền bị gió đánh vỡ, năm
trăm thương nhơn bị chết chìm. Còn vương tử Ác Hành bám
được một miếng ván của thuyền, nên được gió thổi từ
từ vào trong bờ. Giờ đây, Ác Hành sống trong một xóm nghèo
nàn nơi bờ biển; hằng ngày khất thực từng nhà để sống.
Khi
Thiện Hành trở lại chỗ cũ không thấy các thương nhơn,
cũng không thấy thuyền, liền đấm ngực khóc than áo não
vì sợ các thương nhơn bị ác quỷ la sát hại. Khi ấy vị
thần nơi bãi của báu nói với Thiện Hành rằng:
«Năm
trăm thương nhơn chẳng phải bị ác quỷ la sát hại. Mà do
lời nói ác của vương tử Ác Hành phá hoại. Năm trăm thương
nhơn bị xúi, họ đã nhận chìm thuyền của ông rồi bỏ
đi. Do quả báo bạc phước của họ nên bị gió đập bể
thuyền, năm trăm thương nhơn đều bị chết chìm trong biển.
Còn vương tử Ác Hành thì bám được miếng ván của thuyền
nhờ gió thổi đã trôi đến bờ, đang sống bên bãi biển
bằng cách xin ăn hàng ngày.»
Thiện
Hành tự [912a1] nghĩ: ‹Nay ta hãy đến trước cung của Hải
Long vương xin ngọc như ý châu.› Nghĩ xong, theo lộ trình
tiến đến bãi của La sát. Năm trăm nữ La sát ra tiếp đón.
Vừa thấy từ xa, họ liền nói lên lời chào:
«Thiện
lai, Đồng tử! Người muốn đến đâu?»
Thiện
Hành trả lời:
«Chúng
sanh nơi Diêm-phù-đề bần cùng khổ sở. Tôi muốn đến nơi
cung của Hải long vương để xin ngọc như ý bảo châu, khiến
cho chúng sanh ở Diêm-phù-đề khỏi phải bần cùng khốn khổ.»
La
sát hỏi:
«Muốn
dùng loại xe nào?»
Thiện
Hành nói:
«Tôi
muốn dùng loại xe lớn.»
La
sát nữ nói:
«Lành
thay, nếu ông thành Tối Chánh giác, tôi sẽ xuất gia làm đệ
tử của ông.»
Thiện
Hành nói:
«Có
thể được.»
Thiện
Hành từ xa thấy thành bằng vàng. Trong thành có một cái giường
bằng vàng, rồng đang ngồi trên chiếc giường đó. Vương
tử Thiện Hành liền đến nơi thành bằng vàng, chỗ của
rồng ngồi. Long Vương từ xa thấy liền nói lên lời chào
hỏi:
«Thiện
lai, Đồng tử! Người muốn đến đâu?»
Thiện
Hành trả lời:
«Long
Vương biết chăng, chúng sanh nơi cõi Diêm-phù-đề đều nghèo
khổ khốn cùng. Tôi muốn đến nơi cung của Hải Long vương
lấy ngọc như ý châu, khiến cho người nơi Diêm-phù khỏi
phải nghèo cùng khốn khổ.»
Long
Vương liền nói:
«Cung
của Hải Long vương khó có thể đến được. Bảy ngày lội
nước, thường đến đầu gối. Bảy ngày lội nước đến
rốn. Bảy ngày lội nước đến nách. Bảy ngày bơi qua. Bảy
ngày đi trên bông sen. Bảy ngày đi trên đầu rắn. Sau đó,
mới đến cung của Hải Long vương. Nay người hãy hủy bỏ
chuyến đi. Tôi có bảo châu, có khả năng mưa bảy món báu
xuống phương Đông hai ngàn do tuần. Nay tôi biếu cho người.»
Thiện
Hành trả lời:
«Không
thể được. Dầu sao, tôi phải đến cung Hải Long vương.»
Long
Vương hỏi:
«Người
cần lấy thứ xe nào?»
«Tôi
cần lấy loại xe lớn.»
Long
vương nói:
«Nếu
người thành bậc Tối Chánh giác, tôi sẽ xuất gia, làm người
đệ tử trí tuệ đệ nhất của người.»
Thiện
Hành liền bỏ thành bằng vàng ra đi. Từ xa thấy thành bằng
bạc, trong đó có Long Vương đang ngồi trên giường bằng
bạc. Vương tử Thiện Hành đến thành bạc, chỗ của Long
Vương. Long Vương từ xa thấy liền nói lên lời chào:
«Thiện
lai, Đồng tử! Người muốn đến đâu?»
Thiện
Hành nói:
«Long
Vương biết chăng, chúng sanh cõi Diêm-phù-đề đều bần cùng
khốn khổ. Tôi muốn đến cung Hải Long vương lấy ngọc như
ý châu, để khiến cho người nơi Diêm-phù-đề khỏi phải
bần cùng khốn khổ.»
Long
Vương nói:
«Cung
Hải Long vương khó có thể đến được. Bảy ngày lội nước
thường đến đầu gối. Bảy ngày đến rốn. Bảy ngày đến
nách. Bảy ngày bơi qua. Bảy ngày đi trên hoa sen. Bảy ngày
đi trên đầu rắn. Sau đó, mới đến cung của Hải Long vương.
Nay người hãy hủy bỏ chương trình đi. Tôi có bảo châu
có khả năng mưa bảy món báu xuống phương Nam bốn ngàn do
tuần. Tôi sẽ biếu cho người.»
Thiện
Hành nói:
«Tôi
không lấy. Dầu sao, tôi phải đến cung của Hải Long vương.»
Long
Vương hỏi:
«Người
muốn lấy loại xe nào?»
«Tôi
muốn lấy thứ xe lớn.»
Long
Vương lại nói:
«Nếu
người thành bậc Tối Chánh giác tôi sẽ xuất gia làm đệ
tử thần túc đệ nhất của người.»
Thiện
Hành liền bỏ thành bạc ra đi, lại thấy có thành lưu ly,
và các long vương đang ngồi... như trên... Tôi biếu cho người
như ý châu có khả năng mưa bảy món báu sáu mươi ngàn do
tuần xuống phương Tây.»
Thiện
Hành nói:
«Tôi
không lấy. Chủ yếu tôi phải đến cung của Hải Long vương.»
Long
vương lại hỏi:
«Người
cần lấy loại xe gì?»
«Tôi
cần lấy thứ xe lớn.»
Long
Vương nói:
«Nếu
người thành bậc Tối Chánh giác, tôi sẽ xuất gia làm người
đệ tử đa văn đệ nhất của người.»
Khi
ấy Thiện Hành bắt đầu lội nước bảy ngày đến đầu
gối, cho đến bảy ngày đi trên bông sen, cho đến chỗ rắn
độc, với ý nghĩ: ‹Do làm nhơn gì mà quả báo sanh trong
loài rắn độc? Đâu không phải đây là quả báo do đời
trước sân nhuế. Cần phải dùng pháp gì để hàng phục nó?
Duy chỉ có lòng từ.› Thiện Hành liền tư duy từ tâm tam-muội.
Khi ấy các con rắn độc đều cúi đầu xuống. Thiện Hành
đi qua. Đến chỗ cung của Hải Long vương. Khi ấy Hải Long
vương từ xa thấy liền an ủi hỏi:
«Thiện
lai Đồng tử, người muốn điều gì?»
«Nay
tôi muốn được hạt như ý bảo châu nơi búi tóc của ngài.»
Hải
Long vương nói:
«Các
người đời sống ngắn ngủi. Hạt châu này giá trị rất
lớn. Chẳng phải là ta không cho. Ta sẽ cho ngươi với điều
là khi nào ngươi gần qua đời thì đem hạt châu này trả
lại.»
Nói
vậy xong, Hải Long vương liền cởi hạt châu trao cho Thiện
Hành, và sai hai con rồng sau này sẽ mang hạt châu về lại.
Thiện Hành cầm hạt châu cầu nguyện:
«Nếu
đây là ngọc như ý thì bỗng nhiên đưa tôi về đến thành
Tu-ba-la.»
Thiện
Hành vừa nghĩ trong ý muốn, thì liền trong chốc lát về đến
thành Tu-ba-la.
Bấy
giờ, vương tử Ác Hành nghe vương tử Thiện Hành từ biển
cả an ổn trở về liền đến chỗ Thiện Hành nói:
«Anh
có biết chăng. Nay em ở tại xóm bần cùng. Tìm sự sống
bằng cách xin ăn từng nhà. Anh từ biển cả an ổn trở về,
thu hoạch được gì?»
Thiện
Hành nói:
«Anh
nhận được ngọc như ý bảo châu đem về đây.» Thiện Hành
nói tiếp: «Hiện tại anh đang mệt mỏi. Muốn nghỉ một
chút.»
Thiện
Hành liền gối đầu nơi đầu gối của Ác Hành mà ngủ.
Khi ấy Ác Hành liền lấy gai cây khư-đà-la[12] đâm vào hai
tròng con mắt của Thiện Hành rồi lấy hạt châu đi. Thiện
Hành bị tổn thương hai con mắt, máu chảy ướt cả thân,
sờ soạng sợ hãi đi khắp nơi mà không thấy đường. Bèn
đến trong vườn của Nguyệt vương. Khi ấy bà già giữ vườn
có hai đứa con nhỏ, từ xa thấy một người đi đến, máu
dính đầy người, không thấy đường đi, động lòng thương,
hỏi: ‹Vì lý do gì ông đi tới đi lui trong vườn của vua
Nguyệt, với dáng điệu sờ soạng sợ hãi, không thấy đường
như vậy?›
Thiện
Hành kể lại đầy đủ nhơn duyên cho bà lão nghe. Bà lão
nói:
«Ta
có hai đứa con có thể cùng ngươi vui chơi. Nay ngươi có thể
ở đây như con của ta vậy.»
Bấy
giờ, Ác Hành liền trở lại thành Tu-la-tra, đến chỗ vua
Nguyệt Ích tâu với vua rằng:
«Vua
nên biết, con ở trong biển cả gặp gió lớn đánh bể thuyền.
Năm trăm thương nhơn đều bị chết chìm dưới biển. Chỉ
có một mình con trở về an ổn.»
Nhà
vua nói:
«Con
từ biển cả trở về an ổn. Con có tìm được những thứ
gì không?»
Ác
Hành thưa:
«Con
tìm được như ý bảo châu đây.»
Nhà
Vua liền hỏi:
«Ngọc
châu này có công dụng thế nào?»
Ác
Hành thưa:
«Không
biết.»
Nhà
vua liền lấy ngọc châu giao cho người giữ kho cất. Khi ấy
Ác Hành liền sai sứ nói với Nguyệt Vương lân quốc rằng:
‹Thiện Hành cùng năm trăm thương nhơn vào trong biển cả
để lấy vật báu, bị nước nhận chìm chết rồi. Nay Vua
có thể gả con gái cho tôi.› Nhà vua liền trả lời: ‹Đợi
ta hỏi ý kiến của con gái ta đã.› Nhà vua liền kêu con
mình hỏi:
«Thiện
Hành cùng năm trăm thương nhơn vào trong biển lấy của báu,
bị nước nhận chìm chết rồi. Ác Hành trở về an ổn. Nay
muốn cưới con làm vợ. Ý con thế nào?»
Con
gái của vua Nguyệt trả lời:
«Không
thể được! Con muốn chính con đi tìm chồng của con.»
Nhà
vua liền ra lệnh trong nước, tập trung lại để trang điểm
con gái mình. Cô đi ra ngoài tìm chồng khắp mọi nơi. Bấy
giờ, Thiện Hành đang sử dụng cây đàn với âm điệu du
dương trầm bổng, đang có mặt trong vườn. Người con gái
của vua thưởng thức âm thanh du dương đó. Liền đến tâu
với vua cha rằng:
«Vua
cha biết chăng, con muốn lấy người này làm chồng.»
Vua
cha nói:
«Người
này là người mù kia mà.»
Người
con gái vua nói:
«Điều
đó không can gì.»
Khi
ấy vua Nguyệt liền kêu Thiện Hành nói:
«Này
Đồng tử, ngươi là người ở đâu?»
Thiện
Hành thưa:
«Nhà
vua biết cho, tôi là đệ nhất Thái tử của vua Nguyệt Ích,
tên là Thiện Hành.»
Nhà
vua hỏi:
«Tại
sao hai con mắt bị mù như thế?»
Thiện
Hành liền đem nhơn duyên trên trình bày rõ ràng cho nhà vua.
Nhà vua nói:
«Nếu
ngươi là con của vua Nguyệt Ích thì nay ngươi sẽ phát nguyện
khiến cho con mắt bình phục lại.»
Thiện
Hành liền phát nguyện:
«Tôi
vì chúng sanh cõi Diêm-phù-đề nghèo khổ nguy khốn nên vào
biển cả để tìm cầu ngọc như ý bảo châu. Vì muốn cho
chúng sanh nơi Diêm-phù-đề khỏi phải bần cùng khốn khổ.
Vương tử Ác Hành đã dùng ác ngôn để phá hoại, khiến
năm trăm thương nhơn bỏ tôi đi về, lại dùng gai cây khư-đà-la
đâm vào hai con mắt tôi, lấy ngọc như ý của tôi đi. Tôi
đối với Ác Hành không hề có ác tâm. Nếu lời tôi là chơn
thật [913a1] không hư đối thì xin cho hai con mắt tôi được
bình phục lại.»
Lời
phát nguyện vừa xong, hai con mắt bắt đều bình phục lại.
Nhà vua liền ra lệnh trang điểm cực đẹp cho con gái mình
để gả cho Thiện Hành. Nhà vua sai sứ báo tin cho vua Nguyệt
Ích rằng: ‹Ngài có biết chăng, vương tử Thiện Hành từ
biển trở về an ổn. Nay tôi đã trang điểm cực đẹp con
gái tôi để gả cho Thiện Hành. Giờ ngài nên đến thành
Tu-la-tra.› Vua Nguyệt Ích liền ra lệnh cả nước trang hoàng
các thứ.
Vương
tử Thiện Hành đi đến thành Tu-la-tra, đảnh lễ sát chân
vua rồi, trình bày đầy đủ nhơn duyên cho nhà vua nghe. Nhà
vua liền ra lệnh giết Ác Hành. Thiện Hành tâu với vua cha
rằng:
«Xin
vua cha không nên giết.»
Vua
Nguyệt Ích ra lịnh trục xuất Ác Hành ra khỏi nước. Thiện
Hành thưa vua cha:
«Ác
Hành đem ngọc châu về. Nay ngọc châu để ở đâu?»
Vua
cha nói:
«Hiện
cất trong kho.»
Thiện
Hành yêu cầu vua cha cho đem ngọc châu ra. Thiện Hành liền
tắm rửa sạch sẽ, mặc áo trắng mới, sạch, lấy ngọc
châu cung trí nơi đầu trụ cờ, để trên điện cao đẹp
rồi phát nguyện:
«Nếu
quả đúng đây là ngọc như ý bảo châu thì nên mưa xuống
cơn mưa báu xuống đầy cõi Diêm-phù-đề. Trong cõi Diêm-phù-đề,
có người nào bệnh, hãy khiến cho được lành.»
Thiện
Hành phát lời nguyện vừa xong, trong khoảng khắc liền có
trận mưa bảy món báu đầy cả Diêm-phù-đề. Sau đó một
thời gian vua Nguyệt Ích qua đời. Thiện Hành kế vương vị.
Khi ấy vương tử Ác Hành đến chỗ Thiện Hành thưa:
«Nay
em sống ngoài nước, xin ăn từng nhà để sống.»
Vua
nói:
«Nếu
em có thể bảo vệ cái đầu của anh thì anh sẽ đảm bảo
sự sống của em.»
Ác
Hành trả lời:
«Vâng.»
Sau
đó, khi nhà vua nằm ngủ, Ác Hành nghĩ rằng: ‹Nay ta có thể
dứt mạng nó.› Khi vừa rút dao để chém, tức thì cánh tay
của Ác Hành tự nhiên bị rơi xuống, liền la lên:
«Đại
họa!»
Nhà
vua liền tỉnh dậy, hỏi:
«Tại
sao Đồng tử gọi là đại họa?»
Ác
Hành trả lời:
«Trời
tạo ra nghiệp này.»
Nhà
vua nói:
«Tại
sao vậy?
Ác
Hành đem nhơn duyên này trình bày với vua, vua nói:
«Thật
sự là do ngươi tạo ra nghiệp này.»
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
«Vua
Nguyệt Ích không phải là ai khác mà là Tịnh Phạn vương.
Đệ nhất phu nhơn nay là Ma-da. Vua Nguyệt là Chấp Trượng
Thích chủng. Con gái của vua Nguyệt nay là Cù-di. Bà già giữ
vườn là Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề. Hai đứa nhỏ nay là
Nan-đà và A-nan. Thiện Hành chính là Ta. Ác Hành là Đề-bà-đạt-đa
vậy. Năm trăm thương nhơn tức năm trăm tỳ-kheo hiện nay
đó. Xưa kia Đề-bà dùng lời ác để dạy, phá hoại mọi
người, nay cũng lại dùng lời ác dạy và phá hoại vậy.»
3.
Ưu-ba-ly vấn
Bấy
giờ Ưu-ba-ly liền từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống vai
bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa:
«Kính
bạch đức Thế Tôn, thế nào gọi là phá Tăng? Bao nhiêu người
mới gọi là phá Tăng? Ai là người phá hòa hiệp Tăng?»[13]
Đức
Phật bảo Ưu-ba-ly:
«Có
hai sự việc phá Tăng: Vọng ngữ, tương tợ ngữ. Dùng hai
việc này nên gọi là phá Tăng. Này Ưu-ba-ly, lại có hai sự
việc phá Tăng: tác yết-ma, hành xá-la. Này Ưu-ba-ly, một tỳ-kheo
không thể phá Tăng, tuy cầu phương tiện cũng không thể phá
Tăng. Cũng chẳng phải tỳ-kheo-ni, chẳng phải thức-xoa-ma-na,
sa-di, sa-di-ni phá Tăng, tuy cầu phương tiện phá Tăng cũng
không thể phá Tăng. Này Ưu-ba-ly, chúng này một tỳ-kheo, chúng
kia một tỳ-kheo, họ làm việc phá Tăng, hành xá-la, tác yết-ma
như vậy cũng không thể phá Tăng, chỉ khiến cho Tăng trần
cấu[14] mà thôi; hai người, ba người cũng vậy. Này Ưu-ba-ly,
nếu chúng này bốn người hoặc hơn, chúng kia bốn người
hoặc hơn, làm việc phá Tăng hành xá-la, tác yết-ma. Này Ưu-ba-ly,
với số người như vậy được gọi là phá Tăng. Như vậy
gọi là phá hòa hợp Tăng.
Ưu-ba-ly
lại hỏi:
«Phá
hòa hợp Tăng mắc những tội gì?»
Đức
Phật dạy:
«Phá
hòa hợp Tăng thọ tội trong nê-lê một kiếp không thể cứu
chữa được.»
Ưu-ba-ly
lại hỏi:
«Tăng
bị vỡ rồi, người nào làm cho hòa hợp lại được những
phước gì?»
Đức
Phật dạy:
«Được
nhận sự an lạc nơi cõi Phạm Thiên một kiếp.»
Ngài
nói kệ:
Vui
thay, Tăng hòa hợp!
Hòa
hợp không tranh cãi.
Hòa
hợp thì có pháp,
Thường
được siêng năng tu.
Làm
cho Tăng hòa hợp,
Sống
vui một kiếp trời.
Ưu-ba-ly
lại hỏi:
«Tất
cả người phá Tăng đều đọa địa ngục một kiếp để
thọ khổ phải không?»
Đức
Phật nói với Ưu-ba-ly rằng:
«Tất
cả những người phá Tăng không phải chỉ đọa địa ngục
để thọ khổ một kiếp mà hết đâu.
«Này
Ưu-ba-ly, nếu tỳ-kheo, phi pháp mà nói là pháp, chấp chặt
pháp này phá hòa hợp Tăng. Kẻ kia tự biết, phá Tăng với
tưởng phi pháp,[15] bèn tác với ý tưởng phi pháp mà nói
rằng,: ‹Đây là pháp, đây là tỳ-ni, đây là lời Phật
dạy.› Bằng kiến giải dị biệt, xu hướng dị biệt, mà
hành xá-la[16] để phá Tăng.[17] Này Ưu-ba-ly, kẻ phá Tăng
này một kiếp thọ khổ nơi Nê-lê không thể cứu được.
«Nếu
tỳ-kheo phi pháp nói là pháp, chấp chặt việc này, phương
tiện phá Tăng, biết rằng trong sự phá Tăng là phi pháp, nói
rằng, ‹Đây là pháp, đây là tỳ-ni, đây là lời Phật dạy.›
Rồi hành xá-la phá Tăng, tác yết-ma. Này Ưu-ba-ly, người
phá Tăng như vậy một kiếp thọ khổ nơi nê-lê không thể
cứu được.
«Phá
Tăng với tưởng pháp, bèn với tưởng phi pháp mà nói,[18]
cũng như vậy.
«Này
Ưu-ba-ly, nếu tỳ-kheo phi pháp nói là pháp, chấp chặt việc
này, phá hòa hợp Tăng, có ý tưởng là pháp để phá, tưởng
là pháp nói: ‹Đây là pháp, đây là tỳ-ni, đây là lời
dạy của Phật,› kiến giải không khác, chấp nhận không
khác, hành xá-la, tác yết-ma như vậy để phá Tăng. Này Ưu-ba-ly,
người này không đọa địa ngục một kiếp để thọ khổ.
Nghi, không nghi bốn vế cũng như vậy.[19] Tưởng phi pháp nghi
bốn vế cũng như vậy. Như vậy cho đến thuyết không thuyết
cũng như vậy.[20]
[1]
Tham chiếu Pali, Cūḷavagga 7 Saṅghabheđakakkhandhaṃ. Vin. ii.
179. Ngũ phần 25 «Pháp tăng pháp» (T22n1421 tr.164a); Thập tụng
36, «Tạp tụng, Điều-đạt sự» (T23n1435 tr.257a); Căn bản
phá tăng sự, 20 quyển, (T23n1450 tr.99).
[2]
Xem Phần i, Ch. ii, tăng-già-bà-thi-sa 10, phá Tăng luân.
[3]
Xem Phần i, tr. / & cht. 118.
[4]
Già-da sơn 伽耶山. Vin.ii. 196: Gaya-sīsa.
[5]
Tám phi chánh pháp 八非正法. Cũng gọi là 8 thế gian pháp,
hay 8 ngọn gió. Xem Tập dị môn 18 (tr.442c28). Pali: aṭṭha-lokadhamma,
Cf. Saṅgīti, D. iii. 260.
[6]
Nê-lê 泥犁; tức địa ngục. Pali (Skt.) niraya.
[7]
Xem Tập dị môn, dẫn trên: đắc, bất đắc, hủy, dự, xưng,
cơ, khổ, lạc. Pali, đã dẫn: lābho (đắc), alābho (thất),
yaso (danh dự), ayaso (sỉ nhục), nindā (chê), pasaṃsā (khen),
sukhaṃ (sướng), dukkhaṃ (khổ).
[8]
Đồng bạn của Đề-bà-đạt-đa, xem Phần i, Ch.v Ba-dật-đề
33 & 157.
[9]
Tán-nhã 散若.
[10]
Phần lớn chữ «cúng dường» trong bản Hán, có nghĩa là
«hầu hạ.» Ở đây, Vua tăng gia sự chăm sóc cho bà vợ.
[11]
Hiện tượng nhật thực.
[12]
Khư-đà-la 佉陀羅木刺. Skt. khadira; tên một loại cây, cho
gổ rất cứng.
[13]
Tham chiếu, Vin. ii. 202: «Upāli hỏi, cho đến mức nào, thì
Tăng nứt mà không vỡ? Cho đến mức nào thì Tăng nứt và
vỡ?» (kittāvatā … saṅgharāji hoti, no cva saṅghabhedo? Kittāvatā
ca pana saṅgharāji ceva hoti saṅghabhedo ca?)
[14]
Tăng trần cấu 僧塵垢. Tăng bẩn vì bụi. Bản Hán đọc
là saṅgharaja, thay vì saṅgharāji. Xem cht. 13 trên.
[15]
Phi pháp tưởng phá 非法想破: Phi pháp, biết đó là phi pháp;
và tuyên bố phi pháp với ý tương đó là phi pháp. Tỳ-kheo
phá tăng biết rằng, sự phá tăng này sẽ đưa ra giáo pháp
khác với chánh pháp. Tham chiếu Pali, Vin.ii. 205: tasmi adhammadiṭṭhi,
bhede adhammadiṭṭhi, trong đây có phi pháp. Trong sự phá tăng
này, là phi pháp.
[16]
Bốc thăm, lấy ý kiến.
[17]
Tham chiếu Pali: «Tỳ-kheo thuyết minh phi pháp là pháp, biết
trong đây là phi pháp, trong sự phá Tăng này là phi pháp, mà
kiên trì kiến giải dị biệt, xu hướng dị biệt, sở thích
dị biệt, đề nghị rút thăm, nói rằng, ‹Đây là Pháp,
đây là Luật, đây là giáo thuyết của Đạo sư.» (bhikkhu
dhammaṃ dhammoti dīpeti. tasmiṃ adhammadiṭṭhi, bhede adhammadiṭṭhi,
vinidhāya diṭṭhiṃ, vinidhāya khantiṃ, vinidhāya ruciṃ, vinidhāya
bhāvaṃ, anussāveti, salākaṃ gāheti, ayaṃ dhammo, ayaṃ vinayo,
idaṃ satthusāsanaṃ…)
[18]
Tức là, phi pháp mà tưởng là pháp, rồi tuyên bố với ý
tưởng đó là phi pháp. Xem cht. 14 & 16 trên.
[19]
Tức là, pháp nghi là pháp, phi pháp nghi là phi pháp; pháp không
nghi là pháp, phi pháp không nghi là phi pháp. Tứ cú theo Cūḷavagga
vii: tasmiṃ adhammadiṭṭhi, bhede adhammadiṭṭhi (trong đây thấy
là phi chánh pháp, trong Tăng phá cũng thấy là phi chánh pháp);
tasmiṃ adhammadiṭṭhi, bhede dhammadiṭṭhi (trong đây thấy
là phi chánh pháp, trong Tăng phá thấy là pháp), tasmiṃ adhammadiṭṭhi,
bhede vematiko (trong đây thấy là phi pháp, trong Tăng phá thì
nghi), tasmiṃ dhammadiṭṭhi, bhede adhammadiṭṭhi (trong đây
thấy là pháp, trong Tăng phá thấy là phi pháp).
[20]
Hết quyển 46.