CHƯƠNG
XVII.
TỲ-KHEO-NI[1]
I.
KIỀU-ĐÀM-DI
[922c7]
Thế Tôn ở vườn Ni-câu-luật[2] tại Thích-sí-sấu,[3] thì
bấy giờ, Ma-ha Ba-xà-ba-đề[4] cùng năm trăm người nữ Xá-di,[5]
đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi đứng
lui qua một bên, bạch Phật:
«Lành
thay, cúi xin đức Thế Tôn cho phép người nữ được xuất
gia vì đạo ở trong pháp của đức Phật.»[6]
Đức
Phật dạy:
«Thôi
đi, Cù-đàm-di,[7] đừng nói lời ấy nữa. Tôi chưa muốn
cho người nữ xuất gia vì đạo. Tại sao vậy? Cù-đàm-di,
nếu người nữ xuất gia vì đạo trong giáo pháp của Phật
thì sẽ khiến cho pháp Phật không lâu dài.»[8]
Ma-ha
Ba-xà-ba-đề nghe đức Thế Tôn dạy như vậy rồi, đến trước
Ngài kính lễ sát chân rồi nhiễu quanh, cáo lui.
Rồi
Thế Tôn từ Thích-sí-sấu cùng với một ngàn hai trăm năm
mươi đệ tử du hành trong nhân gian đến nước Câu-tát-la;
từ nước Câu-tát-la trở về lại tinh xá Kỳ-hoàn nước
Xá-vệ.
Ma-ha
Ba-xà-ba-đề nghe Phật đang ở tại tinh xá Kỳ-hoàn, bèn
cùng năm trăm người nữ Xá-di cạo tóc, mặc áo ca-sa, đến
tinh xá Kỳ-hoàn, nước Xá-vệ, đứng bên ngoài cửa. Vì đi
bộ nên chân bị lở, bụi đất bẩn cả thân, nước mắt
chảy đầm đìa. Tôn giả A-nan thấy vậy, liền ra hỏi Cù-đàm-di:
«Vì
sao Bà cùng năm trăm người nữ Xá-di cạo tóc, mặc áo ca-sa,
đi bộ, gót chân bị lở, bụi đất dính cả người, đứng
nơi đây than khóc thế này?»
Cù-đàm-di
trả lời:
«Chúng
tôi là người nữ không được đức Phật cho phép xuất gia
thọ đại giới trong giáo pháp của Ngài.»
Tôn
giả A-nan nói:
«Thôi
đừng khóc nữa, tôi vì các Bà đến chỗ đức Phật cầu
xin điều này.»
Tôn
giả A-nan liền đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân,
đứng lui qua một bên, bạch Phật:
«Lành
thay, đức Thế Tôn, nguyện xin cho phép người nữ được
xuất gia thọ đại giới trong giáo pháp của đức Phật.»
Đức
Phật bảo tôn giả A-nan:
«Thôi
đi, đừng có ý muốn cho người nữ xuất gia thọ đại giới
trong giáo pháp của Phật. Vì sao vậy? Nếu người nữ xuất
gia thọ đại giới [923a1] trong giáo pháp của Phật thì sẽ
khiến cho Phật pháp không lâu dài.
«Này
A-nan! Giống như có nhà ông trưởng giả con trai ít, con gái
nhiều, thì nhà ông trưởng giả kia sẽ bị suy vi.[9] Cũng
như vậy, này A-nan, nếu người nữ xuất gia thọ đại giới
trong giáo pháp của Phật thì sẽ khiến cho Phật Pháp không
lâu dài.
«Lại
cũng như ruộng lúa đang tốt mà bị sương móc,[10] tức thời
phải hư hoại. Cũng như vậy, này A-nan, nếu cho người nữ
xuất gia thọ đại giới trong giáo pháp của Phật, thì sẽ
khiến cho Phật pháp không lâu dài ngay.»
Tôn
giả A-nan bạch Phật:
«Ma-ha
Ba-xà-ba-đề đối với Phật có ân lớn. Phật mẫu qua đời,
Người đã nuôi dưỡng đức Thế Tôn khôn lớn.»
Đức
Phật bảo tôn giả A-nan:
«Đúng
vậy! Đúng vậy! Cù-đàm-di đối với Ta có ân lớn. Mẹ ta
qua đời, Cù-đàm-di đã nuôi dưỡng ta, khiến ta khôn lớn.
Ta đối với Ma-ha Ba-xà-ba-đề cũng có ân lớn. Nếu người
nào nhờ kẻ khác để biết được Phật Pháp Tăng, thì ân
này khó trả; chẳng phải dùng áo mặc, cơm ăn, giường nằm,
ngọa cụ, thuốc men, mà có thể trả được. Ta ra đời cũng
lại như vậy; đã khiến cho Ma-ha Ba-xà-ba-đề biết được
Phật Pháp Tăng.»
Đức
Phật bảo Tôn giả A-nan:
«Nếu
có người nào nhờ kẻ khác mà tin Phật Pháp Tăng thì ân
này khó trả, chẳng phải dùng cơm ăn áo mặc, giường nằm
ngọa cụ, thuốc men mà có thể trả được. Ta ra đời khiến
cho Ma-ha Ba-xà-ba-đề tin ưa Phật Pháp Tăng cũng lại như vậy.»
Đức
Phật bảo tôn giả A-nan:
«Nếu
có người nào nhờ kẻ khác được quy y Phật Pháp Tăng, thọ
trì năm giới, biết Khổ, biết Tập, biết Tận, biết Đạo.
Đối với Khổ, Tập, Tận, Đạo không có hồ nghi, đắc quả
Tu-đà-hoàn, đoạn các ác thú, quyết định được vào chánh
đạo, ra vào bảy phen sanh tử liền hết gốc khổ.
«Này
A-nan, ân đối với người như vậy khó có thể trả được.
Chẳng phải dùng cơm ăn, áo mặc, giường nằm ngọa cụ,
thuốc men mà có thể trả được. Ta ra đời khiến cho Ma-ha
Ba-xà-ba-đề thọ ba quy y, cho đến quyết định được vào
chánh đạo cũng như vậy.»
Tôn
giả A-nan bạch Phật:
«Người
nữ ở trong Phật pháp xuất gia thọ giới có thể đạt được
quả Tu-đà-hoàn cho đến quả A-la-hán hay chăng?»
Đức
Phật bảo tôn giả A-nan rằng:
«Có
thể chứng được.»
Tôn
giả A-nan bạch Phật:
«Nếu
người nữ ở trong Phật pháp xuất gia thọ đại giới mà
chứng được quả Tu-đà-hoàn, cho đến A-la-hán, thì cúi xin
Phật cho phép người nữ xuất gia thọ đại giới.»
Đức
Phật bảo tôn giả A-nan:
«Nay
Ta sẽ vì người nữ mà chế tám pháp suốt đời không được
vượt qua.[11] Nếu nữ nhơn có thể phụng hành tức là thọ
giới. Tám pháp ấy là:
«1.
Tỳ-kheo-ni tuy một trăm tuổi, nhưng thấy tỳ-kheo mới thọ
giới, phải đứng dậy đón chào, lễ bái, trải chỗ ngồi
mời ngồi.[12] Pháp này phải được tôn trọng, cung kính,
tán thán, trọn đời không được vượt qua.
«2.
Này, A-nan! Tỳ-kheo-ni không được mạ lỵ, ha trách tỳ-kheo,
không được phỉ báng nói: phá giới, phá kiến, phá oai nghi.[13]
Pháp này phải được tôn trọng, cung kính, tán thán, trọn
đời không được vượt qua.
«3.
Này, A-nan! Tỳ-kheo-ni không được tác cử, tác ức niệm,
tác tự ngôn đối với tỳ-kheo; không được ngăn người
khác tìm tội, ngăn thuyết giới, ngăn tự tứ.[14] Tỳ-kheo-ni
không được quở tỳ-kheo, mà tỳ-kheo được quyền quở tỳ-kheo-ni.
Pháp này phải được tôn trọng, cung kính, tan thán, trọn
đời không được vượt qua.
«4.
Thức xoa-ma-na học giới rồi đến Tăng tỳ-kheo xin thọ đại
giới.[15] Pháp này phải được tôn trọng, cung kính, tan thán,
trọn đời không được vượt qua.
«5.
Tỳ-kheo-ni phạm tội tăng tàn phải ở trước hai bộ Tăng
nửa tháng hành ma-na-đỏa. Pháp này phải được tôn trọng,
cung kính, tan thán, trọn đời không được vượt qua.
«6.
Tỳ-kheo-ni nửa tháng đến Tăng xin cầu giáo thọ.[16] Pháp
này phải được tôn trọng, cung kính, tan thán, trọn đời
không được vượt qua.
«7.
Tỳ-kheo-ni không được hạ an cư chỗ không có tỳ-kheo.[17]
Pháp này phải được tôn trọng, cung kính, tan thán, trọn
đời không được vượt qua.
«8.
Tỳ-kheo-ni, Tăng an cư rồi, nên đến trong Tăng tỳ-kheo cầu
ba việc tự tứ, kiến văn nghi.[18] Pháp này phải được tôn
trọng, cung kính, tan thán, trọn đời không được vượt qua.
«Này
A-nan, nay ta nói tám pháp không được vượt qua này, nếu người
nữ nào có thể phụng hành tức là thọ giới.
«Thí
như có người bắt cầu trên dòng nước lớn để đi qua.
Này A-nan, cũng như vậy, nay Ta vì người nữ nói tám pháp
không được vượt qua này, nếu người nữ nào có thể phụng
hành được tức là thọ giới.»
Tôn
giả A-nan nghe đức Thế Tôn dạy như vậy rồi liền đến
chỗ Ma-ha Ba-xà-ba-đề nói:
«Người
nữ đã được phép xuất gia thọ đại giới trong giáo pháp
của Phật. Đức Thế Tôn vì nữ nhơn chế tám pháp không
thể vượt qua, nếu người nữ nào có thể phụng hành tức
là thọ giới.»
Tôn
giả A-nan vì những người nữ nói lại tám pháp như trên.
Ma-ha Ba-xà-ba-đề nói:
«Nếu
đức Thế Tôn đã vì những người nữ nói tám pháp không
thể vượt qua này rồi, thì tôi và năm trăm nữ Xá-di sẽ
cùng nhau cúi đầu thọ nhận. Thưa tôn giả A-nan, giống như
những thiếu niên nam hay nữ, thanh khiết, trang sức đẹp đẽ.
Có người tắm rửa xong rồi, đứng trên lầu cao, cầm tràng
hoa ưu-bát-la, hoa a-hy-vật-đa, tràng hoa chiêm-bà, tràng hoa
tô-man-na, tràng hoa bà-sư[19] trao cho người kia. Người kia
liền nhận, và quàng ngay lên đỉnh đầu. Cũng như vậy, này
A-nan, đức Thế Tôn vì những người nữ nói tám pháp không
thể vượt qua, tôi và năm trăm người nữ Xá-di sẽ cùng
nhau cúi đầu nhận lãnh.»
Tôn
giả A-nan liền đến chỗ đức Thế Tôn đảnh lễ sát chân
rồi đứng lui qua một bên, bạch Phật:
«Đức
Thế Tôn đã vì những người nữ nói tám pháp không thể
vượt qua. Ma-ha Ba-xà-ba-đề v.v... nghe rồi, đã cúi đầu
thọ lãnh. Giống như những thiếu niên nam hay nữ, thanh khiết,
trang sức đẹp đẽ. Có người tắm rửa xong rồi, đứng
trên lầu cao, cầm tràng hoa ưu-bát-la, hoa a-hy-vật-đa, tràng
hoa chiêm-bà, tràng hoa tô-man-na, tràng hoa bà-sư trao cho người
kia. Người kia liền nhận, và quàng ngay lên đỉnh đầu. Như
vậy, này A-nan,[20] Ma-ha Ba-xà-ba-đề và năm trăm người nữ
đã được thọ giới.»
Đức
Phật bảo tôn giả A-nan:
«Nếu
người nữ không xuất gia ở trong Phật pháp thì Phật pháp
sẽ được lâu dài năm trăm năm.»[21]
Tôn
giả A-nan nghe vậy, lòng rất không vui, ôm sự hối hận, buồn
rầu khóc kể, nước mắt dầm dề, đến trước đức Phật
đảnh lễ sát chân, nhiễu quanh, rồi cáo lui.
II.
NI THỌ GIỚI
1.
Sa-di-ni[22]
Bấy
giờ, có những người nữ khác muốn thọ giới, tỳ-kheo-ni
kia dẫn đến chỗ đức Phật, nửa đường gặp giặc. Giặc
toan hủy nhục, trêu ghẹo. Các tỳ-kheo-ni thưa với các tỳ-kheo
các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Từ
nay về sau, cho phép Tỳ-kheo-ni cho người nữ khác xuất gia
thọ đại giới, theo thể thức sau đây:
«Nếu
muốn cạo tóc trong chùa tỳ-kheo-ni thì phải bạch Tăng, hoặc
thưa từng vị một được biết, sau đó mới cạo tóc. Văn
bạch như sau:
«Đại
tỷ Tăng, xin lắng nghe! Người này tên là... muốn cầu tỳ-kheo-ni...
cạo tóc. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận vì người tên... cạo tóc. Đây là lời tác bạch.»
Nên
tác bạch như vậy rồi, sau đó mới cạo tóc.
Nếu
muốn xuất gia trong chùa tỳ-kheo-ni thì nên bạch Tăng hoặc
thưa từng vị một để biết. Văn bạch như sau:
«Đại
tỷ Tăng, xin lắng nghe! Người này tên là... cầu tỳ-kheo-ni...
xuất gia. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp
thuận cho người tên... xuất gia. Đây là lời tác bạch.»
Nên
tác bạch như vậy rồi cho xuất gia. Bạch như vậy cho xuất
gia rồi, nên dạy người cầu xuất gia, mặc áo ca-sa, đầu
gối bên hữu chấm đất, chắp tay, hướng dẫn cho họ thưa:
«Thưa
A-di![23] Con tên là... quy y Phật, Pháp, Tăng. Nay con theo Phật
xuất gia. Hòa thượng hiệu là... Đức Như Lai, Vô sở trước,
Đẳng chánh giác là Thế Tôn của con.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng thưa như vậy.
«Thưa
A-di! Con tên là... đã quy y Phật, Pháp, Tăng rồi. Nay con đã
theo [924a1] Phật xuất gia. Hòa thượng hiệu là... Đức Như
Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác là Thế Tôn của con.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng thưa như vậy, rồi trao giới.
1.
Trọn đời không sát sanh là giới của sa-di-ni. Nếu có thể
giữ được thì trả lời là giữ được.
2.
Trọn đời không được ăn trộm là giới của sa-di-ni. Nếu
có thể giữ được thì trả lời là giữ được.
3.
Trọn đời không được dâm dục là giới của sa-di-ni. Nếu
có thể giữ được thì trả lời là giữ được.
4.
Trọn đời không được nói dối là giới của sa-di-ni. Nếu
có thể giữ được thì trả lời là giữ được.
5.
Trọn đời không được uống rượu là giới của sa-di-ni.
Nếu có thể giữ được thì trả lời là giữ được.
6.
Trọn đời không được đeo tràng hoa, thoa hương thơm vào
mình là giới của sa-di-ni. Nếu có thể giữ được thì trả
lời là giữ được .
7.
Trọn đời không được ca múa xướng hát, cũng không được
cố ý nghe-xem là giới của sa-di-ni. Nếu giữ được thì trả
lời là giữ được.
8.
Trọn đời không được ngồi nằm trên giường cao rộng lớn
là giới của sa-di-ni. Nếu có thể giữ được thì trả lời
là giữ được.
9.
Trọn đời không được ăn phi thời là giới của sa-di-ni.
Nếu có thể giữ được thì trả lời là giữ được.
10.
Trọn đời không được cầm nắm sanh tượng vàng bạc vật
báu là giới của sa-di-ni. Nếu có thể giữ được thì trả
lời là giữ được.
Mười
giới sa-di-ni như vậy trọn đời thọ trì không được phạm.
2.
Thức-xoa-ma-na
Cho
phép đồng nữ mười tám tuổi, học giới hai năm, tuổi đủ
hai mươi, thọ đại giới trong tỳ-kheo-ni Tăng. Nếu mười
tuổi đã từng có chồng, cho hai năm học giới, tuổi đủ
mười hai cho thọ giới.[24] Cho thọ hai năm học giới theo
thể thức sau[25]:
Sa-di-ni
nên đến trong tỳ-kheo-ni Tăng để trống vai bên hữu, cởi
bỏ giày dép, kính lễ sát chân Tăng, đầu gối bên hữu chấm
đất, chắp tay thưa:
«Đại
tỷ Tăng, xin lắng nghe! Con là sa-di-ni tên... đến xin Tăng
hai năm học giới, Hòa thượng ni hiệu là... Cúi xin Tăng từ
mẫn, cho con hai năm học giới.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng thưa xin như vậy. Nên bảo sa-di-ni
đến chỗ mắt thấy mà tai không nghe. Trong chúng nên sai một
vị có khả năng tác yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
«Đại
tỷ Tăng, xin lắng nghe! Sa-di-ni này tên là... nay đến Tăng
xin hai năm học giới, Hòa thượng ni hiệu là... Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận cho sa-di-ni
tên là... này hai năm học giới, Hòa thượng ni hiệu... Đây
là lời tác bạch.
«Đại
tỷ Tăng xin lắng nghe! Sa-di-ni tên là... này nay đến Tăng
xin hai năm học giới, Hòa thượng ni hiệu là... Nay Tăng trao
sa-di-ni tên... hai năm học giới, Hòa thượng ni hiệu là...
Các đại tỷ nào chấp thuận Tăng cho sa-di-ni tên... hai năm
học giới, Hòa thượng ni hiệu là... thì im lặng. Vị nào
không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần đầu.»
Lần
thứ hai, thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận cho sa-di-ni tên là... hai năm học giới, Hòa
thượng ni hiệu... rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc
này được ghi nhận như vậy.»
Tiếp
theo trao cho sa-di-ni sáu pháp như vầy:
«Nay
sa-di-ni lắng nghe! Đức Như lai, Vô sở trước, Đẳng chánh
giác đã nói sáu pháp không được phạm.
1/
Bất tịnh hạnh, hành pháp dâm dục. Nếu thức-xoa-ma-na nào
hành pháp dâm dục, thì chẳng phải thức-xoa-ma-na, chẳng phải
Thích chủng nữ. Cùng nam tử có tâm nhiễm ô, hai thân xúc
chạm nhau là phạm giới, cần phải thọ giới lại.[26] Trong
đây, trọn đời không được phạm. Nếu có thể giữ được
thì trả lời là được.
2/
Không được trộm cắp, cho đến một cọng cỏ, một lá cây.
Nếu thức-xoa-ma-na nào lấy của người năm tiền hoặc hơn
năm tiền, hoặc tự mình lấy, hoặc dạy người lấy, hoặc
tự mình đoạn hoặc dạy người đoạn, hoặc tự mình phá
hoặc dạy người phá, hoặc đốt, hoặc chôn, hoặc làm cho
hoại sắc, thì chẳng phải thức-xoa-ma-na, chẳng phải Thích
chủng nữ. Nếu lấy dưới năm tiền thì phạm giới, phải
thọ lại.[27] Trong đây, trọn đời không được phạm. Nếu
có thể giữ được thì trả lời là được.
3/
Không được cố tâm đoạn mạng chúng sanh, cho đến loài
kiến. Nếu thức-xoa-ma-na nào cố ý tự tay mình đoạn mạng
người, tìm dao trao cho người, bảo chết, khuyên chết, khen
chết, hoặc cho người uống thuốc độc, hoặc làm đọa thai,
rủa nộp chú thuật, tự mình làm dạy người làm, thì chẳng
phải thức-xoa-ma-na, chẳng phải Thích chủng nữ. Nếu đoạn
mạng loài súc sanh không thể biến hóa thì phạm giới, phải
thọ lại. Trong đây, trọn đời không được phạm. Nếu có
thể giữ được thì trả lời là được.
4/
Không được nói dối, cho đến nói vui chơi. Nếu thức-xoa-ma-na
nào không chơn thật, thật sự mình không có mà tự xưng là
tôi được pháp thượng nhơn, đắc thiền, đắc giải thoát,
đắc định, đắc chánh thọ, đắc Tu-đà-hoàn, cho đến A-la-hán,
trời đến, rồng đến, quỷ thần đến cúng dường tôi,
thì không phải là thức-xoa-ma-na, không phải là Thích chủng
nữ. Nếu ở trong chúng cố ý nói vọng là phạm giới, phải
thọ lại. Trong đây, trọn đời không được phạm. Nếu có
thể giữ được thì trả lời là được.
5/
Không được ăn phi thời. Nếu thức-xoa-ma-na nào ăn phi thời
tức là phạm giới phải thọ lại. Trong đây, trọn đời
không được phạm. Nếu có thể giữ được thì trả lời
là được.
6/
Không được uống rượu. Nếu thức-xoa-ma-na nào uống rượu
là phạm giới phải thọ lại. Trong đây, trọn đời không
được phạm. Nếu có thể giữ được thì trả lời là được.
Thức-xoa-ma-na
nên học tất cả giới của tỳ-kheo-ni, trừ vì tỳ-kheo-ni
quá thực,[28] tự lấy thức ăn để ăn.[29]
Nên
cầu Hòa thượng, với văn cầu thỉnh như sau:
«Đại
tỷ nhất tâm niệm! Con tên là... nay cầu A-di làm Hòa thượng,
cúi xin A-di vì con làm Hòa thượng. Con nương nơi A-di để
được thọ đại giới.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng cầu thỉnh như vậy.
Vị
Hòa thượng nên trả lời: «Được.»
3.
Thọ cụ túc[30]
i.
Bản bộ yết-ma
Thức-xoa-ma-na
nào đã có học giới rồi, tuổi đủ hai mươi, hoặc đủ
mười hai nên cho thọ đại giới bằng pháp bạch tứ yết-ma,
theo diễn tiến sau đây:
Dẫn
người thọ giới đến đứng chỗ mắt thấy mà tai không
nghe. Trong khi ấy giới sư nên sai một vị giáo thọ, bạch
như sau:
«Đại
tỷ Tăng, xin lắng nghe! Người này tên là... đến Hòa thượng
ni hiệu là... cầu thọ đại giới. Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, Tăng chấp thuận tỳ-kheo-ni... làm giáo thọ
sư. Đây là lời tác bạch.»
Vị
giáo thọ nên đến chỗ người thọ giới nói:
«Này
cô, đây có phải là an-đà-hội, uất-đa-la-tăng, tăng-già-lê;
đây có phải là tăng-yết-chi, Phú kiên y; đây có phải là
bình bát; đây có phải là y bát của cô không? Cô lắng nghe,
nay chính là lúc cần nói đúng sự thật. Nay tôi hỏi cô,
có cô nói có, không cô nói không. Cô tên gì? Hòa thượng
cô hiệu gì? Cô đã đủ hai mươi tuổi chưa? Y bát có đủ
không? Cha mẹ hoặc phu chủ có cho phép cô không? Cô không
mắc nợ của ai chăng? Cô không phải là tôi tớ chăng? Cô
có phải là người nữ không? Người nữ có các bệnh hủi
trắng, ung thư, càn tiêu, điên cuồng, hai căn, hai đường
hiệp lại, đại tiểu tiện thường rỉ chảy, đàm dãi thường
tiết ra. Cô có các chứng bệnh như vậy không?»
Nếu
người thọ giới trả lời đúng cách thì nên nói:
«Như
tôi vừa hỏi, chút nữa trong Tăng cũng sẽ hỏi như vậy,
cô cũng trả lời đúng như vậy.»
Vị
giáo thọ sư hỏi xong, trở lại trong Tăng với oai nghi bình
thường, chỗ có thể đưa tay đụng các tỳ-kheo-ni, đứng
nơi đó tác bạch:
«Đại
tỷ Tăng, xin lắng nghe! Người này tên là... cầu Hòa thượng
ni hiệu... để thọ đại giới. Nếu thời gian thích hợp
đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi đã giáo thọ xong, cho
phép kêu vào. Đây là lời tác bạch. »
Vị
kia nên bảo kêu vào, vào rồi để y bát xuống dạy kính lễ
sát chân tỳ-kheo-ni Tăng, rồi quỳ trước mặt giới sư chấp
tay bạch:
«Đại
tỷ Tăng xin lắng nghe! Con tên là... theo Hòa thượng ni hiệu...
cầu [925a1]thọ đại giới. Nay, con tên là... đến Tăng xin
thọ đại giới, Hòa thượng ni hiệu... Cúi xin chúng Tăng
tế độ con. Từ mẫn cố.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng xin như vậy. Khi ấy, giới sư nên
tác bạch:
«Đại
tỷ Tăng xin lắng nghe! Người này tên là... cầu Hòa thượng
ni hiệu là... thọ đại giới. Nay người này tên là... đến
Tăng xin thọ đại giới, Hòa thượng ni hiệu... Nếu thời
gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, cho phép tôi
hỏi các nạn sự. Đây là lời tác bạch.»
Giới
sư nói:
«Cô
lắng nghe, nay chính là lúc cần nói đúng sự thật. Nay tôi
hỏi cô, có thì nói có, không nói không. Cô tên gì? Hòa thượng
cô hiệu gì? Cô đã đủ hai mươi tuổi chưa? Y bát có đủ
không? Cha mẹ hoặc phu chủ có cho phép cô không? Cô không
phải là người mắc nợ chăng? Cô không phải là tôi tớ?
Cô là người nữ phải không? Người nữ có các chứng bệnh
hủi trắng, ung thư, càn tiêu, điên cuồng, hai căn, hai đường
hiệp lại, đại tiểu tiện thường rỉ chảy, đàm dãi thường
tiết ra. Cô có các chứng bệnh như vậy không?»
Nếu
trả lời đúng cách thì nên tác bạch:
«Đại
tỷ Tăng, xin lắng nghe! Người này tên là... cầu Hòa thượng
ni hiệu... thọ đại giới. Nay người này tên là... đến
Tăng xin thọ đại giới, Hòa thượng ni hiệu... Người này
nói thanh tịnh, không có các nạn sự, tuổi đủ hai mươi,
y bát đủ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng
chấp thuận cho người tên là... thọ đại giới, Hòa thượng
ni hiệu... Đây là lời tác bạch.
«Đại
tỷ Tăng, xin lắng nghe! Người này tên là... cầu Hoà thượng
ni hiệu... thọ đại giới. Nay người này tên là... đến
Tăng xin thọ đại giới, Hòa thượng ni hiệu... Người này
nói thanh tịnh, không có các nạn sự, tuổi đã đủ hai mươi,
y bát có đủ. Nay Tăng trao cho người này tên là... đại giới,
Hòa thượng ni hiệu... Các đại tỷ nào chấp thuận Tăng
trao cho người tên... đại giới, Hòa thượng ni hiệu... thì
im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần
đầu.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã đồng ý trao đại giới cho người có tên... Hòa thượng
ni hiệu... rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
ii.
Chánh pháp yết-ma
Người
thọ giới cùng tỳ-kheo-ni Tăng đến trong Tăng tỳ-kheo kính
lễ sát chân, đầu gối bên hữu sát đất chấp tay bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Con tên là... nay đến Tăng xin thọ
đại giới, Hòa thượng ni hiệu... Cúi xin Tăng tế độ con.
Từ mẫn cố.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng bạch như vậy (giới sư nơi đây
cũng hỏi như cách hỏi trên) Hỏi rồi, nên hỏi tiếp:
«Cô
đã học giới chưa? Cô có thanh tịnh không?»
Nếu
nói đã học giới thanh tịnh thì nên hỏi các tỳ-kheo-ni khác
rằng:
«Cô
này đã học giới chưa? Có thanh tịnh không?»
Nếu
trả lời: ‹Đã học giới và thanh tịnh.› Thì nên tác bạch
liền:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Người này tên là... cầu Hòa thượng
ni hiệu... thọ đại giới. Nay, người này tên là... đến
Tăng xin thọ đại giới, Hòa thượng ni hiệu... Người này
tên là... nói thanh tịnh, không có các nạn sự, tuổi đời
đã đủ, y bát đã có, và đã học giới thanh tịnh. Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, nay
Tăng cho người tên là... thọ đại giới, Hòa thượng ni hiệu...
Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! người này tên là... cầu Hoà thượng
ni hiệu... thọ đại giới. Nay người này tên là... đến
Tăng xin thọ đại giới, Hòa thượng ni hiệu... Người này
tên là... nói thanh tịnh, không có các nạn sự, tuổi đời
đã đủ, y bát đã có, và đã học giới thanh tịnh. Nay Tăng
vì người tên là... này cho thọ đại giới, Hoà thượng ni
hiệu... Các trưởng lão nào chấp thuận, Tăng trao đại giới
cho người có tên... Hòa thượng ni hiệu là... thì im lặng.
Vị nào không đồng ý xin nói. Đây là yết-ma lần đầu.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã chấp thuận trao đại giới cho người có tên... Hòa thượng
ni tên... rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
Giới
sư gọi:
«Thiện
nữ nhơn lắng nghe: Đức Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh
giác, nói tám pháp ba-la-di, nếu tỳ-kheo-ni phạm thì chẳng
phải là tỳ-kheo-ni nữa, chẳng phải là người con gái của
dòng họ Thích.
«1.
Không được làm bất tịnh hạnh, hành pháp dâm dục. Tỳ-kheo-ni
nào làm bất tịnh hạnh, hành pháp dâm dục, cho đến cùng
loài súc sanh, thì vị ấy chẳng phải là tỳ-kheo-ni, chẳng
phải là người nữ dòng họ Thích. Trong đây, trọn đời
không được phạm. Cô có thể giữ được không? Trả lời
là: Có thể.
«2.
Không được trộm cắp, cho đến cọng cỏ, lá cây. Tỳ-kheo-ni
nào lấy của người năm tiền hoặc hơn năm tiền, hoặc tự
mình lấy hoặc dạy người khác lấy, hoặc tự đoạn hoặc
dạy người khác đoạn, hoặc tự phá hoặc dạy người khác
phá, hoặc đốt hoặc chôn, hoặc làm hoại sắc, thì chẳng
phải tỳ-kheo-ni, chẳng phải người nữ dòng họ Thích. Trong
đây, trọn đời không được phạm. Cô có thể giữ được
không? Trả lời là: Có thể.
«3.
Không được đoạn mạng chúng sanh, cho đến loài kiến. Tỳ-kheo-ni
nào tự tay đoạn mạng người, cầm dao đưa cho người, hướng
dẫn cách chết, khen sự chết, khuyên cho chết, cho uống thuốc
độc, làm đọa thai, nguyền rủa ếm thư chú thuật, hoặc
tự làm, phương tiện dạy người làm, thì vị ấy chẳng
phải là tỳ-kheo-ni, chẳng phải là người nữ của dòng họ
Thích. Trong đây, trọn đời không được phạm. Cô có thể
giữ được không? Trả lời là: Có thể.
«4.
Không được nói dối, cho đến nói giỡn. Tỳ-kheo-ni nào không
chơn thật, chẳng phải tự mình có mà nói: ‘Tôi đắc pháp
thượng nhơn, đắc thiền, đắc giải thoát, tam muội chánh
thọ, đắc quả Tu-đà-hoàn, cho đến quả A-la-hán, trời đến,
rồng đến, quỷ thần đến cúng dường tôi’, thì vị ấy
chẳng phải là tỳ-kheo-ni, chẳng phải là người nữ dòng
họ Thích. Trong đây, trọn đời không được phạm. Cô có
thể giữ được không? Trả lời là: Có thể.
«5.
Không được hai thân xúc chạm nhau, cho đến cùng với loài
súc sanh Tỳ-kheo-ni nào với tâm nhiễm ô cùng nam tử có tâm
nhiễm ô, hai thân xúc chạm nhau, từ nách trở xuống từ đầu
gối trở lên, hoặc xoa hoặc đẩy, rờ xuôi rờ ngược, hoặc
kéo hoặc xô, hoặc bồng lên hoặc để xuống, hoặc nắm
gấp hay hoãn, thì vị ấy không phải tỳ-kheo-ni, chẳng phải
là người nữ dòng họ Thích. Trong đây, trọn đời không
được phạm. Cô có thể giữ được không? Trả lời là:
Có thể.
«6.
Không được phạm tám việc, cho đến cùng với loài súc sanh.
Tỳ-kheo-ni nào có tâm nhiễm ô chấp nhận tâm nhiễm ô của
nam tử, nhận sự nắm tay, nắm y, đứng nơi chỗ vắng, cùng
đứng, nói chuyện nơi chỗ vắng, cùng đi, hai thân kề nhau,
cùng hẹn, phạm tám việc này, thì chẳng phải là tỳ-kheo-ni,
chẳng phải là người nữ dòng họ Thích. Trong đây, trọn
đời không được phạm. Cô có thể giữ được không? Trả
lời là: Có thể.
«7.
Không nên che dấu trọng tội của người, cho đến đột-kiết-la,
ác thuyết. Tỳ-kheo-ni nào biết tỳ-kheo-ni phạm ba-la-di, không
tự cử cũng không bạch Tăng, không nói với ai, sau đó vào
một thời gian khác tỳ-kheo-ni này thôi tu, hoặc bị diệt
tẫn, hoặc bị ngăn không cùng làm Tăng sự, hoặc vào ngoại
đạo. Vị ấy nói như vầy: ‹Trước đây tôi biết người
này phạm tội như vậy như vậy,› thì vị ấy chẳng phải
tỳ-kheo-ni, chẳng phải người nữ dòng họ Thích, vì che dấu
trong tội của người khác vậy. Trong đây, trọn đời không
được phạm. Cô có thể giữ được không? Trả lời là:
Có thể.
«8.
Không được nói theo tỳ-kheo bị cử, cho đến sa-di. Tỳ-kheo-ni
nào biết tỳ-kheo bị Tăng cử tội như pháp, như tỳ-ni, như
lời Phật dạy, phạm oai nghi chưa sám hối, không tác pháp
cọng trú, mà tùy thuận theo tỳ-kheo kia để nói chuyện. Các
tỳ-kheo-ni can gián tỳ-kheo-ni này rằng: ‹Đại tỷ, tỳ-kheo
kia bị Tăng cử tội như pháp, như tỳ-ni, như lời Phật dạy,
phạm oai nghi chưa sám hối, [926a1] không tác pháp cọng trú,
cô đừng tùy thuận theo tỳ-kheo kia để nói chuyện.› Khi
các tỳ-kheo-ni can gián tỳ-kheo-ni này kiên trì không bỏ. Các
tỳ-kheo-ni nên can gián cho đến ba lần để bỏ việc này.
Cho đến ba lần can gián bỏ thì tốt, không bỏ thì vị này
không phải tỳ-kheo-ni, không phải người nữ dòng thọ Thích
vì đã tùy thuận kẻ bị cử. Trong đây, trọn đời không
được phạm. Cô có thể giữ được không? Trả lời là:
Được.
«Này,
Thiện nữ nhơn hãy lắng nghe! Đức Như lai, bậc Vô sở trước,
Đẳng chánh giác nói pháp tứ y. Tỳ-kheo-ni y nơi đây xuất
gia thọ đại giới. Đó là pháp của tỳ-kheo-ni:
«1.
Y nơi áo phấn tảo xuất gia thọ đại giới là pháp của
tỳ-kheo-ni. Trong đây, trọn đời cô có thể giữ được không?»
Trả lời là: Được.
«Nếu
được của lợi đàn-việt cúng y cắt rọc may thành thì nên
nhận.»
«2.
Y nơi khất thực xuất gia thọ đại giới là pháp của tỳ-kheo-ni.
Trong đây, trọn đời cô có thể giữ được không?» Trả
lời là: Được.
«Nếu
được của lợi hoặc Tăng sai thọ thực, hay đàn-việt dâng
thức ăn vào những ngày chay, mồng tám, mười lăm, mồng một,
hoặc thường thực của chúng Tăng, hay đàn-việt mời thì
nên nhận.»
«3.
Y nơi dưới gốc cây để ngồi, xuất gia thọ đại giới
là pháp của tỳ-kheo-ni. Trong đây, trọn đời cô có thể
giữ được không? Trả lời là: Được.
«Nếu
được của lợi người cho phòng riêng, nhà có nóc nhọn,
phòng nhỏ, hang đá, hai phòng có một cửa thông thì không
nên nhận.»
«4.
Y nơi hủ lạn dược, xuất gia thọ đại giới, là pháp của
tỳ-kheo-ni. Trong đây, trọn đời cô có thể giữ được không?
Trả lời là: Được.
«Nếu
được của lợi như tô, dầu, sanh tô, mật, thạch mật thì
nên nhận.»
«Cô
đã thọ giới rồi. Bạch tứ yết-ma như pháp thành tựu,
đúng cách. Hòa thượng như pháp. A-xà-lê như pháp. Hai bộ
Tăng đầy đủ. Cô nên khéo thọ giáo pháp, nên siêng năng
giáo hóa, làm việc phước đức, tu bổ tháp, cúng dường
Phật, Pháp, Tăng. Hòa thượng A-xà-lê dạy bảo những điều
như pháp cô không được chống trái. Nên học vấn tụng kinh,
cố gắng cầu phương tiện ở trong Phật Pháp để đạt được
quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán,
thì sơ tâm xuất gia của cô mới không bị uổng phí... Những
gì chưa biết cô nên hỏi Hoà thượng A-xà-lê.»
Khi
giải tán, bảo người thọ giới đi trước.
Bấy
giờ, những người thọ giới bằng bạch tứ yết-ma nêu[31]
lên với các tỳ-kheo-ni Xá-di Câu-lê rằng:
«Đức
Thế Tôn có nói như vầy, ‹Thọ đại giới phải bạch tứ
yết-ma.› Chúng tôi đắc giới, còn các bà không đắc giới.»
Tỳ-kheo-ni
Ma-ha Ba-xà-ba-đề nghe vậy, khởi lòng nghi, bạch các Tỳ-kheo.
Các Tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Tỳ-kheo-ni
Ma-ha Ba-xà-ba-đề và các Tỳ-kheo-ni Xá-di cũng đều đắc
giới.»
Bấy
giờ, có người đứng cầu xin giới. Cư sĩ bạch y thấy nói:
‹Cô ấy đứng ở đây là muốn chờ đàn ông đấy.› Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được đứng cầu xin giới. Nên quỳ thẳng gối để xin giới.»
Có
người ngồi xổm[32] để xin giới nên bị té, lộ hình, hổ
thẹn, không thể xin giới. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Tỳ-kheo-ni
khác nên thay thế để bạch.»
iii.
Đại diện thọ giới
Các
tỳ-kheo-ni Xá-di Câu-lê dẫn người muốn thọ đại giới
đến Tăng-già-lam. Trên đường đi gặp cướp, hủy phạm
tỳ-kheo-ni. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép nhờ người thay thế đến thọ giới. Cho phép nhờ một
tỳ-kheo-ni thanh tịnh không có chướng nạn. Tăng bạch nhị
yết-ma để sai.»[33]
Trong
chúng nên sai một vị có khả năng yết-ma, dựa theo sự việc
trên tác bạch:
«Đại
tỷ Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng sai tỳ-kheo-ni tên là... làm
sứ giả vì tỳ-kheo-ni tên... đến Tăng tỳ-kheo xin thọ đại
giới. Đây là lời tác bạch.
«Đại
tỷ Tăng, xin lắng nghe! Nay Tăng sai tỳ-kheo-ni tên... làm sứ
giả, vì tỳ-kheo-ni tên... đến Tăng tỳ-kheo cầu thọ đại
giới. Các đại tỷ nào đồng ý, Tăng sai tỳ-kheo-ni tên...
làm sứ giả, vì tỳ-kheo-ni... đến trong Tăng tỳ-kheo cầu
thọ đại giới thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
«Tăng
đã đồng ý sai tỳ-kheo-ni... làm sứ giả rồi. Tăng đồng
ý nên im lặng. Việc này được ghi nhận như vậy.»
Trường
hợp nếu đi một mình không bảo đảm thì nên sai hai, ba tỳ-kheo-ni
cùng đi. Tỳ-kheo-ni sứ giả nên đến trong Tăng tỳ-kheo, kính
lễ sát chân, đầu gối bên hữu chấm đất, chấp tay thưa:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Người nữ tên là... theo tỳ-kheo-ni
hiệu...[34] cầu thọ đại giới. Nay người nữ kia tên...,
từ Tăng xin cầu thọ đại giới, Hòa thượng ni hiệu...[35]
Cúi xin Tăng từ mẫn cứu vớt.»[36] Lần thứ hai, lần thứ
ba cũng xin như vậy.
Tăng
tỳ-kheo nên hỏi «Người nữ kia tên gì? Hòa thượng ni là
vị nào? Đã học giới chưa? Có thanh tịnh không?» Nếu trả
lời: «Đã học giới thanh tịnh rồi», thì nên hỏi tỳ-kheo-ni
bạn rằng: «Vị ấy đã học giới thanh tịnh chưa?» Nếu
trả lời «đã học giới và thanh tịnh», trong chúng nên sai
một vị có khả năng yết-ma dựa theo sự việc trên tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! (Tỳ-kheo-ni)[37] tên là... này, theo
(Hòa thượng ni) hiệu... thọ đại giới. Nay vị này tên là...
từ Tăng xin thọ đại giới, Hòa thượng ni hiệu... Vị này
tên là... đã học giới thanh tịnh, tuổi đã đủ, y bát có.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận,
Tăng cho người có tên... thọ đại giới, Hòa thượng ni hiệu...
Đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe ! Người này tên là... theo tỳ-kheo-ni
hiệu... cầu thọ đại giới. Nay người này tên là... đến
Tăng tỳ-kheo xin thọ đại giới, Hòa thượng ni hiệu... vị
này tên là... nói là thanh tịnh, không có các nạn sự, tuổi
đã đủ, y bát có, đã học giới thanh tịnh. Nay Tăng cho vị
này tên là... thọ đại giới, Hòa thượng ni hiệu... các
Trưởng lão nào chấp thuận cho vị này tên là... thọ đại
giới, Hòa thượng ni hiệu... thì im lặng. Vị nào không đồng
ý xin nói. Đây là yết-ma lần đầu.»
Lần
thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
«Tăng
đã đồng ý cho người tên là... thọ đại giới, Hòa thượng
ni hiệu... rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này được
ghi nhận như vậy.»
Vị
sứ giả kia trở về lại trong chùa của tỳ-kheo-ni nói:
«Đại
tỷ, cô thọ đại giới rồi.»[38]
Đức
Thế Tôn cho phép nhờ người thọ đại giới. Vị kia chỉ
có chút ít nhan sắc cũng nhờ người thọ giới. Đức Phật
dạy:
«Người
nữ có chút ít nhan sắc không nên nhờ người thọ đại giới.»
Có
vị trao đại giới cho người thường rỉ máu,[39] bẩn cả
thân cả y cả ngọa cụ. Đức Phật dạy:
«Không
nên trao đại giới cho người thường rỉ máu.»
Đức
Thế Tôn dạy không nên trao đại giới cho người nữ thường
rỉ máu. Có vị liền trao đại giới cho người không có nguyệt
kỳ. Người thọ giới kia buông lung tình dục. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
nên trao đại giới cho người không có nguyệt kỳ (thủy).»
Có
vị trao đại giới cho người nữ không có vú. Đức Phật
dạy:
«Không
nên trao đại giới cho người không có vú.»
Có
vị trao đại giới cho người chỉ có một vú. Đức Phật
dạy:
«Không
nên trao đại giới cho người nữ chỉ có một vú.»
Có
vị trao đại giới cho người hai đường bị lở lói. Đức
Phật dạy:
«Không
nên trao đại giới cho người hai đường bị lở lói.»
Có
vị trao đại giới cho người hai đường bị lở thối. Đức
Phật dạy:
«Không
nên trao đại giới cho người hai đường bị lở thối.»
Có
vị trao đại giới cho người hai căn. Đức Phật dạy:
«Không
nên trao đại giới cho người hai căn.»[40]
III.
NI THƯỜNG HÀNH
1.
Bấy giờ, các tỳ-kheo tụ hợp lại một chỗ, cùng nhau tụng
pháp tỳ-ni. Các Tỳ-kheo-ni khởi ý nghĩ: Chúng ta có nên tụng
pháp tỳ-ni hay không?
Đức
Phật dạy: «Nên tụng.»
Các
vị không biết thọ trì giữa ai để tụng. Đức Phật dạy:
«Nên thọ trì giữa tỳ-kheo để tụng.»
Các
tỳ-kheo nghĩ: «Chúng ta được phép cùng [927a1] tỳ-kheo-ni
tụng các câu kệ hay chăng?»[41]
Đức
Phật dạy: «Cho phép tụng.»
Tỳ-kheo
ngồi ngay trước mặt dạy học tụng, ni hổ thẹn. Phật dạy:
«Nên
trải chỗ ngồi ở sau lưng tỳ-kheo mà học tụng. Hoặc dùng
một trong mười thứ y làm màn ngăn để học tụng.»
2.
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni vì nhân duyên nhỏ mọn nổi
sân không vui, xả Phật Pháp Tăng và nói:
«Đâu
phải chỉ có sa-môn Thích tử mới có thể tu phạm hạnh,
các sa-môn, bà-la-môn khác cũng có. Nay tôi cũng có thể đến
đó để tu phạm hạnh.»[42]
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
tỳ-kheo-ni khi nổi giận mà nói xả giới, không thành xả
giới.»
3.
Nhóm sáu tỳ-kheo-ni làm việc mê hoặc và dạy người làm.[43]
Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy.»
4.
Nhóm sáu tỳ-kheo tác yết-ma chống nhóm sáu tỳ-kheo-ni. Tỳ-kheo-ni
kia tùy thuận ngôn giáo, không dám trái nghịch, xin giải yết-ma.
Các tỳ-kheo ấy không chịu giải. Các cư sĩ thấy nói:
«Tại
vì các cô không chìu ý nên mới làm như vậy.»
Các
tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy:
«Tỳ-kheo
không nên tác yết-ma đối với tỳ-kheo-ni.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo-ni tác yết-ma trao cho tỳ-kheo-ni. Phật nói:
«Cho
phép, tỳ-kheo-ni tác yết-ma trao cho tỳ-kheo-ni. Nếu tỳ-kheo-ni
không biết thì cho phép đến bên tỳ-kheo tụng yết-ma cho,
rồi sau đó tác yết-ma.»[44]
5.
Khi ấy có tỳ-kheo muốn thôi tu, tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề
biết mà sợ không dám đến can ngăn vì đức Thế Tôn có
dạy: «Tỳ-kheo-ni không được ha trách tỳ-kheo.»
Khi
ấy tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề, đến chỗ đức Thế Tôn,
đảnh lễ sát chân, rồi đứng lui qua một bên, bạch Phật:
«Phải
chăng tất cả các trường hợp tỳ-kheo-ni không được ha
trách tỳ-kheo?»
Đức
Phật dạy:
«Tỳ-kheo-ni
nhất thiết không được ha trách tỳ-kheo. Tỳ-kheo-ni không
được mắng tỳ-kheo, không được ha trách tỳ-kheo, không
được phỉ báng tỳ-kheo. Nếu tỳ-kheo phá giới phá kiến
phá oai nghi, cũng không nên ha trách như vậy. Nhưng này Cù-đàm
di, nếu nhằm mục đích giúp tỳ-kheo trì Tăng thượng giới,
Tăng thượng tâm, Tăng thượng trí, học vấn tụng kinh; vì
những việc như vậy thì nên làm.»
6.
Các tỳ-kheo-ni tóc đã dài. Đức Phật dạy:
«Cho
phép nhờ cạo, hay tự cạo.»
Bấy
giờ, có người thợ cạo trẻ tuổi cạo tóc cho tỳ-kheo-ni
trẻ tuổi. Khi tiếp xúc với làn da mịn màng, dục ý khởi,
muốn phạm đến tỳ-kheo-ni. Tỳ-kheo-ni lớn tiếng kêu la:
«Đừng
làm vậy! Đừng làm vậy!»
Tỳ-kheo-ni
khác nghe, hỏi:
«Sao
lớn tiếng kêu la, đừng làm vậy, đừng làm vậy?»
Cô
ấy trình bày lại đầy đủ mọi việc. Các tỳ-kheo bạch
Phật. Đức Phật dạy:
«Khi
cạo tóc cần phải có bạn. Biết người có dục ý thì không
nên nhờ họ cạo.»
Có
cô nhờ đàn ông hớt lông mũi, đức Phật dạy:
«Không
được nhờ đàn ông hớt lông mũi.»
Cô
kia nhờ đàn ông cắt móng tay. Đức Phật dạy:
«Không
được nhờ đàn ông căt móng tay.»
7.
Bấy giờ, tỳ-kheo-ni đang ở trong nhà bạch y. Có tỳ-kheo
đến khất thực, tỳ-kheo-ni kia không dám nói, tại sao vậy?
Sợ tỳ-kheo nói là tỳ-kheo-ni giáo hóa để có thức ăn.[45]
Các Tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép nói để chủ nhà biết, chứ không nên khen ngợi.»
Tỳ-kheo-ni
đang ở trong nhà bạch y. Có tỳ-kheo đến, cô không đứng
dậy.[46] Bạch Phật. Phật dạy:
«Nên
đứng dậy. Nếu tỳ-kheo-ni hành nhất tọa thực, hoặc không
ăn lại dù tác pháp dư thực, hoặc bệnh, hoặc ăn đủ rồi,
thì cho phép nói, «Thưa đại đức, tôi có nhơn duyên như
vậy, nên không đứng dậy được.›»
Có
tỳ-kheo-ni, tại nhà bạch y, không xin phép tỳ-kheo bèn ngồi.[47]
Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Tỳ-kheo-ni,
tại nhà bạch y không được ngồi không xin phép tỳ-kheo.»
Bấy
giờ, nhóm sáu tỳ-kheo sáng sớm khoác y, bưng bát, đến nhà
bạch y. Trong nhà này, có tỳ-kheo-ni thường đến giáo hóa.
Tỳ-kheo-ni thấy tỳ-kheo đến, liền đứng dậy thưa hỏi:
«Thưa
đại đức, tôi được phép ngồi không?»
Tỳ-kheo
nói:
«Đừng
ngồi.»
Tỳ-kheo-ni
kia đã quen sung sướng, không đứng lâu nổi, nên bị té
xuống và bệnh. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nên
nhường nhau. Người phía trước nếu ngồi được thì ngồi.
8.
Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni và tỳ-kheo cùng đi chung một tuyến
đường. Hoặc đi trước, hoặc vừa nói vừa đi, hoặc khi
đi trước khi đi sau, hoặc lật ngược y, hoặc quấn cổ,
hoặc phủ đầu, hoặc choàng hai vai, hoặc mang giày dép. Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
được như vậy. Nên trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép,
đi sau tỳ-kheo.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo-ni có việc Phật Pháp Tăng, hoặc có tỳ-kheo-ni
bệnh cần sự chăm sóc, mà không dám đi trước tỳ-kheo. Đức
Phật dạy:
«Cho
phép bạch tỳ-kheo rồi mới đi.»
Có
vị bị mạng nạn, phạm hạnh nạn, cẩn thận không dám không
thưa để đi (trước tỳ-kheo). Đức Phật dạy:
«Nếu
có các nạn sự như vậy, thưa hỏi hay không thưa hỏi vẫn
được phép đi.»
Có
tỳ-kheo-ni, trên đường đi thấy tỳ-kheo không tránh đường.
Đức Phật dạy:
«Nên
tránh đường,»
Có
tỳ-kheo-ni, trên đường đi, thấy tỳ-kheo, bèn tránh đường.
Trời mưa, cô trượt chân té xuống đất, mắc bệnh. Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Có
nhơn duyên như vậy, tỳ-kheo-ni nên nghiêng mình một chút,
chắp tay thưa: ‹Đại đức thứ lỗi cho, vì đường hẹp.›»
9.
Bấy giờ, có đàn-việt thỉnh hai bộ Tăng. Mời tỳ-kheo-ni
ăn trước, tỳ-kheo ăn sau, bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
nên mời Tăng tỳ-kheo-ni ăn trước mà nên mời Tăng tỳ-kheo
dùng trước rồi sau đó mới mời tỳ-kheo-ni Tăng.
Có
đàn-việt mời hai bộ Tăng, nghĩ như vầy: «Đức Phật có
dạy nên mời Tăng tỳ-kheo trước rồi sau đó mới mời Tăng
tỳ-kheo-ni.» Người ấy mời Tăng tỳ-kheo ăn xong thì quá
ngọ, bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Nếu
thì giờ gần quá ngọ thì nên mời một lượt.»
Có
cư sĩ mời Tăng tỳ-kheo-ni sáng sớm thọ thực. Nửa đêm,
cư sĩ chuẩn bị các thức ăn ngon bổ xong, sáng ngày đến
mời. Các tỳ-kheo-ni khoác y, bưng bát, đến nhà kia. Các vị
hỏi nhau về tuổi tác để ngồi theo thứ tự, nên quá ngọ.
Các tỳ-kheo bạch Phật. Phật dạy:
«Nếu
gần quá ngọ, cho phép tám tỳ-kheo-ni thượng tọa theo thứ
tự ngồi, còn bao nhiêu vị khác thì tùy tiện cứ ngồi.»
10.
Bấy giờ, các tỳ-kheo-ni đến trong Tăng-già-lam của tỳ-kheo,
đức Phật cho phép cho họ ngồi trên giường. Tỳ-kheo-ni có
nguyệt thủy, rỉ chảy bẩn nệm, giường giây, giường cây,
ngọa cụ, rồi đứng dậy đi về. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Đức Phật dạy:
«Tỳ-kheo-ni
không nên ngồi trên nệm, giường giây, giường cây.»
Trường
hợp đến trong Tăng-già-lam cầu giáo thọ, hoặc thọ thỉnh,
hoặc nghe pháp, không có chỗ ngồi. Đức Phật dạy:
«Cho
phép ngồi trên đá, trên ngói, trên gạch, trên đầu cây,
trên cỏ, trên lá, trên bục đất cứng.»
Tỳ-kheo-ni
không đủ sức chịu khó khổ nên sanh bệnh. Đức Phật dạy:
«Nên
nói với tỳ-kheo-ni rằng, nếu họ có thể giữ gìn tốt tọa
cụ thì nên cho ngồi.»[48]
11.
[928a7] Thế Tôn ở tại Ba-la-nại. Bấy giờ gặp lúc mất
mùa, lúa gạo khan hiếm, nhân dân đói khát, khất cầu khó
được. Các tỳ-kheo-ni thọ thực rồi, thức ăn còn dư, các
vị liền nghĩ, «Thức ăn còn dư này của chúng ta có được
phép cho tỳ-kheo hay không?» Đức Phật dạy:
«Được
phép cho.»
Các
vị lại nghĩ, «Chúng ta có được phép trao thức ăn cho tỳ-kheo
hay không?» Đức Phật dạy:
«Được
phép trao.»
«Thức
ăn cách đêm của chúng ta, trao cho tỳ-kheo có được tịnh
hay không?» Đức Phật dạy:
«Được
tịnh.»
Bấy
giờ, các tỳ-kheo thọ thực rồi, còn thức ăn dư, suy nghĩ,
«Thức ăn này của chúng ta được phép cho tỳ-kheo-ni hay không?»
Đức Phật dạy:
«Được
phép cho.»
«Được
phép trao thức ăn cho tỳ-kheo-ni hay không?» Đức Phật dạy:
«Được
phép trao.»
Bấy
giờ, có thức ăn cách đêm; các tỳ-kheo nghĩ, «Đem cho tỳ-kheo-ni,
có được tịnh hay không?» Đức Phật dạy:
«Được
tịnh.»
12.
Bấy giờ, tỳ-kheo-ni ở nơi a-luyện-nhã, sau đó tại a-luyện-nhã
có sự việc xảy ra.[49] Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật
dạy:
«Tỳ-kheo-ni
không nên ở nơi a luyện nhã.»[50]
Tỳ-kheo-ni
sống trong nhà bạch y,[51] thấy phu chủ của người, cùng
vợ hôn hít, âu yếm, sờ mó nơi thân thể, bóp vú. Tỳ-kheo-ni
niên thiếu thấy vậy sanh tâm nhàm chán Phật pháp. Các tỳ-kheo-ni
bạch với các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo bạch lên đức Phật.
Đức Phật dạy:
«Cho
phép vì tỳ-kheo-ni làm trú xứ riêng biệt.»
Có
tỳ-kheo-ni nọ ở trú xứ riêng biệt thực hành kỹ thuật,
dạy người kỹ thuât.[52] Đức Phật dạy:
«Tỳ-kheo-ni
không nên ở trú xứ riêng biệt thực hành kỹ thuật.»
Có
tỳ-kheo-ni nọ ở trú xứ riêng biệt bán rượu.[53] Đức
Phật dạy:
«Không
nên ở trú xứ riêng biệt bán rượu.»
Có
tỳ-kheo-ni nọ cho dâm nữ ở trong trú xứ. Đức Phật dạy:
«Không
được làm như vậy.»
13.
Có vị cất chứa hương hoa, đồ trang sức.[54] Đức Phật
dạy:
«Không
nên làm như vậy.»
14.
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni đứng nơi đường hẻm, ngã
tư, đường cái, trong chợ, đứng bên các đống rác. Các
cư sĩ thấy cơ hiềm, chê trách mắng nói:
«Tỳ-kheo-ni
này không biết hổ thẹn, không có tịnh hạnh. Bên ngoài tự
xưng là tôi biết chánh pháp, mà đứng những chỗ như vậy,
giống như dâm nữ, có gì là chánh pháp?»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Tỳ-kheo-ni
không nên đứng những chỗ như vậy.»
15.
Bấy giờ, nhóm sáu tỳ-kheo-ni dùng ngà voi xương xoa chà thân
cho tươi sáng. Tỳ-kheo bạch Phật.[55] Phật dạy:
«Không
được làm như vậy.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo-ni dùng bột mịn xoa chà thân cho tươi sáng.[56]
Đức Phật dạy:
«Không
được làm như vậy.»
Có
vị xoa chà lông nơi thân cho nó quắn lại. Đức Phật dạy:
«Không
được làm như vậy.»
Có
vị cắt lông nơi thân. Đức Phật dạy:
«Không
được làm như vậy.»
Có
tỳ-kheo-ni nọ lấy y quấn nơi eo lưng, muốn làm thon đẹp.
Đức Phật dạy:
«Không
được làm như vậy.»
Có
tỳ-kheo-ni nọ mặc áo của người nữ. Đức Phật dạy:
«Không
được làm như vậy.»
Có
tỳ-kheo-ni nọ mặc áo đàn ông. Đức Phật dạy:
«Không
được làm như vậy. Cho phép tỳ-kheo-ni mặc y của tỳ-kheo-ni.»
Có
tỳ-kheo-ni dùng nhiều y quấn nơi ngực[57] cho lớn ra. Đức
Phật dạy:
«Không
được làm như vậy.»
Có
vị quấn y không kỹ, khiến cho hở hang. Đức Phật dạy:
«Không
được làm như vậy.»
Có
vị thắt tai con chim nơi đầu sợi giây lưng. Đức Phật dạy:
«Không
được làm như vậy.»
Có
vị làm sợi giây lưng bằng mạn-đà-la. Đức Phật dạy:
«Không
được làm như vậy.»
Có
vị cất chứa giây lưng bề-lâu.[58] Đức Phật dạy:
«Không
được làm như vậy.»
Có
vị cất chứa giây lưng sa.[59] Đức Phật dạy:
«Không
được làm như vậy.»
Có
vị dùng chỉ rời làm giây lưng để buộc. Đức Phật dạy:
«Cho
phép tỳ-kheo-ni bện hay dệt thành giây lưng quấn quanh lưng
một vòng. Nếu dệt tròn thì cho phép hai vòng.»
16.
Tỳ-kheo-ni đến chỗ có người nữ tắm.[60] Khi tắm, tặc
nữ, dâm nữ nói với tỳ-kheo-ni rằng:
«Các
cô tuổi còn nhỏ, nách mới mọc lông, làm sao tu phạm hạnh
được? Nay cô phải kịp thời hành dục lạc, đừng để
sau này hối hận, khi già có thể tu phạm hạnh. Như vậy cả
hai đều không mất.»
Khi
ấy tỳ-kheo-ni niên thiếu nghe bèn sanh tâm nhàm chán Phật
pháp. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Tỳ-kheo-ni
không nên tắm ở chỗ của người nữ.»
Tỳ-kheo-ni
khi tắm chỗ gần bạch y nam tử. Các cư sĩ thấy cơ hiềm:
«Tỳ-kheo-ni
này không biết hổ thẹn, không tu phạm hạnh, bên ngoài tự
xưng là tôi biết chánh pháp. Như vậy có gì là chánh pháp?
Sao lại tắm bên cạnh bạch y nam tử, như tặc nữ dâm nữ
không khác?»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Tỳ-kheo-ni
không được tắm bên bạch y nam tử.»
Bấy
giờ, có người phụ nữ, chồng đi vắng, gian dâm với người
khác, có thai. Người ấy tự phá thai rồi, đến nói với
vị tỳ-kheo-ni thường giáo hóa rằng: «Chồng con đi vắng.
Con có thai với người khác. Con đã phá thai. Cô có thể đem
vất giùm cho?»