CHƯƠNG
I.
PHÒNG
XÁ[1]
1.
Ca-lan-đà Trúc Viên
[936b25]
Thế Tôn ở tại nước Ba-la-nại.
Bấy
giờ có năm người[1] từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống
vai bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay thưa
đức Thế Tôn:
«Chúng
con nên ở những loại phòng ốc nào, và xử dụng loại ngọa
cụ nào?»
Phật
nói:
«Cho
phép, ở nơi a-lan-nhã hoặc dưới gốc cây hay nơi phòng trống,
nơi hang cốc, trong hốc núi, chỗ đất trống, bên đống cỏ
khô, hay đụn cỏ, trong rừng, bên bãi tha ma, bên mé nước.
Trải cỏ hay lá để ngồi.»
Các
tỳ-kheo nằm không có gối nên bị đau. Đức Phật cho phép,
dùng đá, ngói, cây, cánh tay, hay một trong mười loại y để
gối.
Thế
Tôn ở tại thành Vương xá. Vua Bình-sa nước Ma-kiệt có ý
nghĩ: «Nếu đức Thế Tôn đến đây, trước hết vào khu
vườn nào, ta sẽ dâng cúng khu vườn ấy để làm tăng-già-lam.
Trong thành Vương xá, Ca-lan-đà Trúc viên[2] này là vườn đứng
vào hàng tuyệt hảo.»[3]
Đức
Thế Tôn biết tâm niệm nhà vua như vậy nên đến Ca-lan-đà
Trúc viên trước tiên. Từ xa Vua thấy đức Thế Tôn liền
xuống voi, lấy chiếc nệm trên lưng voi xếp làm bốn lớp
trải ra và cung kính thỉnh đức Thế Tôn ngồi. Đức Thế
Tôn an tọa nơi chỗ ngồi, Vua Bình-sa cầm bình nước rửa
bằng vàng, dâng nước cho đức Phật và bạch:
«Trong
thành Vương xá này, khu Ca-lan-đà trong Trúc viên này là đẹp
hơn tất cả. Nay con xin dâng cúng đức Thế Tôn. Xin Thế Tôn
từ mẫn nạp thọ.»
Đức
Phật bảo Vua:
«Đại
vương nên đem vườn này dâng cúng cho Phật và bốn phương
Tăng. Tại sao vậy? Nếu tăng-già-lam, vườn hay vật trong vườn,
phòng xá hay vật trong phòng xá, y bát, tọa cụ, ống đựng
kim, tất cả sở hữu của Phật thì chư Thiên, người đời,
ma vương, phạm vương, sa-môn, bà-la-môn, đều không thể dùng
được, mà cung kính như bảo tháp.»
Vua
liền bạch Phật:
«Bạch
Đại đức, con xin dâng cúng Ca-lan-đà Trúc viên này lên đức
Phật và bốn phương Tăng. Xin Thế Tôn và bốn phương Tăng
dũ lòng thương vì con mà thâu nhận.»
Đức
Thế Tôn khuyến dụ bằng bài kệ sau đây:
Cúng
vườn và cây trái,
Cầu
đò đưa rước người.
Đường
dài thí giếng nước,
Và
phòng nhà để ở.
Những
người cúng như vậy,
Ngày
đêm phước càng thêm.
Người
trì giới vui pháp,
Sẽ
được sanh đường lành.
Vua
Bình-sa đầu mặt kính lễ sát chân đức Phật rồi ngồi
lui qua một bên. Đức Thế Tôn vì Vua phương tiện nói các
pháp khiến Vua được hoan hỷ. Vua nghe đức Phật nói pháp
được hoan hỷ rồi, từ chỗ ngồi đứng dậy, kính lễ Phật
rồi cáo lui.
2.
Tinh xá
Bấy
giờ, các tỳ-kheo, vào buổi sáng sớm, từ núi Kỳ-xà-quật
đến thành Vương xá. Trong thành có ông Đại trưởng giả
gặp, bèn hỏi:
«Ban
đêm Đại đức nghỉ ở đâu?»
Quý
vị trả lời:
«Nghỉ
trong hang núi, bên mé nước, dưới gốc cây, nghỉ bên hòn
đá, nghỉ trên bãi cỏ.»
Ông
trưởng giả hỏi:
«Không
có phòng xá hay sao?»
«Không
có.»
Ông
trưởng giả hỏi tiếp:
«Nếu
làm phòng xá có được hay không?»
«Đức
Thế Tôn chưa cho phép làm phòng xá.»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Cho
phép, làm phòng xá.»[4]
Ông
trưởng [937a1] giả nghe đức Phật đã cho phép các tỳ-kheo
làm phòng xá, liền làm sáu mươi biệt phòng[5] tại núi Kỳ-xà-quật.
Đầy đủ tất cả những thứ cần dùng. Rồi ông thỉnh Phật
và Tăng sáng ngày mai đến thọ thực và cúng dường phòng
xá. Trong đêm ấy, ông chuẩn bị các thức ăn ngon bổ. Sáng
ngày, đi báo giờ. Đức Thế Tôn, vào lúc tảng sáng, cùng
đại tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, khoác y, bưng
bát, đến nhà ông trưởng giả, an tọa nơi chỗ ngồi. Ông
trưởng giả tự tay châm chước đầy đủ các thức ăn tinh
khiết ngon lành dâng lên Phật và Tăng. Các vị ăn xong, ông
trưởng giả lấy bình bằng vàng đựng nước dâng lên đức
Thế Tôn, rồi thưa:
«Con
cất sáu mươi phòng xá tại núi Kỳ-xà-quật. Đầy đủ tất
cả nhưng thứ cần thiết, vì phước đức, vì đại tế tự,
để sanh đường lành. Nay con xin dâng cúng đức Phật và bốn
phương Tăng. Cúi xin Thế Tôn từ mẫn thâu nhận.»
Đức
Thế Tôn nhận rồi, dùng những lời khuyến dụ sau đây để
khuyến dụ:
Để
ngăn sự lạnh nóng,
Và
các loài ác thú,
Mòng,
muỗi, các độc trùng,
Và
ngăn che mưa nắng,
Bạo
bệnh, cùng ác phong;
Tất
cả đều ngăn che.
Trì
giới không hủy phạm,
Siêng
tu trong Phật pháp,
Bền
chí và an vui,
Thiền
định phân biệt quán.
Cúng
phòng xá cho Tăng
Thế
Tôn nói, bậc nhất.
Bấy
giờ, trưởng giả thành Vương xá lấy cái ghế thấp ngồi
trước đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện
thuyết pháp, khai hóa, khiến trưởng giả được hoan hỷ.
Sau khi nói pháp cho ông trưởng giả, khai hóa, khiến cho hoan
hỷ rồi, đức Thế Tôn từ chỗ ngồi ra về.
Khi
Vua Bình-sa nghe đức Thế Tôn đã cho phép chúng Tăng làm phòng
xá, ông muốn phát nguyện xây cất đại giảng đường tại
Ca-lan-đà Trúc viên, như cung điện của vua ngự, cung cấp
đầy đủ tất cả những vật cần thiết. Đức Phật cho
phép làm.
Có
đàn-việt muốn xây lầu các[6] cho Tăng. Phật cho phép. Có
đàn-việt muốn làm phòng tỳ-ma-na[7] cho Tăng. Phật cho phép.
Có đàn-việt muốn làm phòng hình con voi[8] cho Tăng. Phật
cho phép. Có đàn-việt muốn làm các loại phòng xá cho Tăng.
Phật cho phép.
Các
tỳ-kheo muốn làm phòng, Phật cho phép. Tùy theo phương pháp
làm phòng, tất cả những gì cần cũng đều cho phép. Làm
phòng rồi, nếu đất bị bụi bẩn nên dùng bùn để trét.
Không có đồ trải để nằm nên bệnh, đức Phật Cho phép,
dùng y lê-diên-đà, mạo-la, mạo-mạo-la, mao-lâu,[9] hay một
trong mười loại y để trải dưới đất. Nếu vẫn còn mắc
bệnh, đức Phật cho phép làm giường.
Có
năm loại giường, như trên.[10] Có vị muốn giường bện,
đức Phật cho phép bện nhưng trừ hai loại dây không được
bện là da và tóc. Ngoài ra các loại dây khác được dùng
để bện. Nếu dây không đủ thì xâu xuyên qua lỗ mộng để
bện thưa. Giường của vị kia không có đồ trải để nằm
nên sanh bệnh. Phật cho phép làm nệm để trải nằm. Có vị
không biết dùng vật gì để làm, Phật cho phép dùng rơm,
cỏ, lông, hay kiếp-bối để độn vào trong. Nếu nệm nhỏ
thì trương ra may dính vào bốn phía giường. Nếu đường
viền của nệm bị hỏng thì nên vá lại. Nếu đồ độn
bị dồn một chỗ thì khâu chập lại. Nếu nệm cáu ghét
thì nên may chồng lên một lớp. Nếu may chồng lên mà vẫn
cáu ghét thì nên làm tấm giạ nằm phủ lên trên. Các tỳ-kheo
không có gối, Phật cho phép làm gối. Các vị không biết
làm như thế nào, Phật bảo may vuông hay tròn hoặc ba góc.
3.
Giường nằm
1.
Bấy giờ, tại thành Vương xá, chúng Tăng nhận được nhiều
gai xá-nậu.[11] Các tỳ-kheo nghi không dám nhận. Đức Phật
dạy:
«Cho
phép, thọ dụng để làm giường dây, giường cây hoặc dệt
làm nệm, áo lót, hay làm đồ trải dưới đất, hoặc làm
dây, làm nệm độn.
Các
tỳ-kheo nhận được giường bện bằng dây cỏ bạt-ma,[12]
Phật cho phép dùng.
Rắn,
bò cạp, rít, độc trùng vào trong phòng. Các tỳ-kheo chưa
ly dục, thấy sợ. Phật cho phép làm chân giường. Nhóm sáu
tỳ-kheo làm chân giường cao, đức Phật dạy:
«Không
nên làm chân giường cao. Cao nhất là một thước năm hay một
gang tay.»[13]
2.
Có tỳ-kheo cất y chỗ không bảo đảm. Phật bảo nên để
bên đầu nằm. Hoặc để y sau lưng, nằm nghiêng, trở mình,
đè lên y. Phật cho phép máng trên dây, hoặc trên cọc long
nha, trên cột móc, trên giá y. Có vị để y thường mặc với
y không thường mặc chung một chỗ, khi lấy y thường mặc
để mặc, bị lộn. Đức Phật dạy:
«Không
nên để y thường mặc chung một chỗ với y không thường
mặc.»
4.
Có vị đem bình bát để chung trong đãy với giày dép, ống
đựng kim và dầu. Tỳ-kheo khác thấy, gớm. Đức Phật dạy:
«Đãy
đựng bát, ống đựng kim để một chỗ. Đãy đựng giày
dép, đồ đựng dầu để một chỗ.»
5.
Các tỳ-kheo ở trong phòng bị tối. Đức Phật cho thắp đèn.
Cần dầu thì xin dầu. Cần đèn thì xin đèn. Cần đồ đựng
dầu thì cho xin đồ đựng dầu. Tỳ-kheo không biết để cây
đèn chỗ nào. Đức Phật dạy: Để bên góc của giường
dây, giường cây, hoặc trên cái bình. Nếu để trên khám
nơi vách, sợ kiến uống dầu, thì nên đậy lại. Nếu đèn
không đủ sáng thì kéo tim cho cao lên. Dầu bẩn tay, cho phép,
làm đôi đũa. Đũa cây sợ cháy nên làm bằng sắt.
6.
Phòng của tỳ-kheo kia, không có cánh cửa nên không chắc chắn,
bị kẻ trộm, chăn bò, chăn dê vào lấy bình bát, ống đựng
kim, tọa cụ. Đức Phật cho phép làm cánh cửa. Cần làm khung
cửa. Phật cho phép. Nếu sợ đóng cửa, trong phòng có mùi
hôi. Đức Phật cho phép làm lỗ trên cánh cửa. Rắn, bò cạp
theo lỗ vào phòng. Đức Phật cho phép lấy cái tấm ván rèm
ngăn lại.
Cửa
không có khóa, kẻ trộm, chăn trâu, chăn dê vào lấy y bát,
ống đựng kim, tọa cụ của tỳ-kheo. Đức Phật cho phép
làm khóa. Tỳ-kheo không biết gắn khóa vào chỗ nào. Đức
Phật bảo gắn một bên, hoặc phía trên hay phía dưới. Không
biết mở bằng cách nào. Đức Phật bảo để cái lỗ, làm
một cái lưỡi gà cong, làm một cái móc. Nếu sợ tối, Phật
cho phép trổ cửa sổ. Cửa sổ không được ngăn, bị kẻ
trộm, chăn trâu, chăn dê vào lấy y bát, ống đựng kim, tọa
cụ. Đức Phật cho phép làm cánh cửa sổ bằng ván ngăn lại.
Các vị ấy không biết làm bằng cách nào. Đức Phật dạy
làm hình vuông hay hình tròn, hoặc như lỗ tai voi. Ban đêm
sợ dơi bay vào, ban ngày sợ chim én bay vào. Đức Phật cho
phép bện lưới lồng[14] để ngăn. Hoặc làm song cửa sổ.
Cửa sổ không có chốt, bị kẻ trộm, chăn bò, chăn dê vào
lấy y bát, ống đựng kim, tọa cụ của tỳ-kheo. Đức Phật
bảo cho phép làm chốt cửa. Tỳ-kheo phạm giới kéo cái dây
mở cửa sổ lấy y bát, ống đựng kim, tọa cụ của tỳ-kheo
bỏ đi. Phật nói, cho phép làm cái chốt cài ngang qua.
4.
Chăn màn
1.
Nhóm sáu tỳ-kheo dùng riêng ngọa cụ của chúng Tăng. Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: không nên dùng riêng
ngọa cụ của chúng Tăng. Đức Phật cho phép làm dấu để
biết. Các vị ấy không biết làm dấu như thế nào. Đức
Phật dạy: cho phép làm cái hình ma-hê-đà-la,[15] hay làm hình
cái chén, hay hình dây nho, hay làm ngũ sắc, hay làm bông sen,
hay ghi tên Nhóm sáu tỳ-kheo làm dấu hiệu của Tăng trên vật
dụng riêng của mình. Các tỳ-kheo thấy, nói:
«Trưởng
lão, đức Thế Tôn không nói như vầy sao, vật của chúng
Tăng không nên dùng riêng»
Nhóm
sáu trả lời:
«Đây
không phải là vật của chúng Tăng mà là vật của tôi.»
Các
tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy:
«Không
nên làm dấu hiệu của chúng Tăng trên vật riêng của mình.
Cho phép nhuộm làm dấu riêng của mình.»
Nhóm
sáu tỳ-kheo làm dấu hiệu riêng bằng hình tượng nửa mặt
trăng, hoặc dấu hiệu tròn, làm dấu hiệu tia nắng, làm hình
cây lúa, làm dấu hiệu một miếng gừng, làm dấu hiệu con
bò. Đức Phật [938a1] dạy:
«Không
nên làm như vậy. Cho phép làm như giọt nước rơi trên mặt
đất, hay làm như viên phân trâu, hoặc làm cái bánh xe.»
Có
vị di chuyển ngọa cụ cố định trong phòng đến chỗ khác.
Đức Phật dạy:
«Không
nên di chuyển. Nên ghi rõ ràng ngọa cụ của phòng nào.»
2.
Có tỳ-kheo có sa-di nhỏ muốn trong phòng có bức phên ngăn.
Đức Phật cho phép làm.
Có
Tỳ-kheo muốn mở ngõ tắt qua khúc ngăn trước phòng, đức
Phật cho phép làm. Muốn làm cái phòng trong ở phía sau, Phật
cho phép làm. Cần cánh cửa, Phật cho làm cánh cửa. Cần vách,
Phật cho làm vách. Cần vách phân nửa, Phật cũng cho làm.
Cần làm giường lớn, Phật cho làm. Cần giường dây nhỏ,
Phật cho làm. Cần giường đơn, Phật cho làm. Cần tấm phản,
Phật cho làm. Cần đồ trải dưới đất cũng cho trải đất.
Có
tỳ-kheo muốn làm cái phòng có bốn mái hiên thò ra, trên đó
đặt lan can, Phật cho phép làm.
5.
Sảnh đường
1.
Ngày Bố-tát, chúng tập đông, sảnh đường[16] nhỏ không
thể dung hết. Các tỳ-kheo bạch Phật, Phật cho phép làm lớn
ra. Các vị ấy không biết làm thế nào. Đức Phật dạy:
«Hoặc
vuông, hoăc tròn, hoặc dài, có hai phòng, ba phòng, bốn phòng;
đều cho phép làm. Tất cả những thứ cần để làm nhà lớn,
đều cho phép.»
Bấy
giờ, ở trong sảnh đường, mỗi người đều chiếm một
giường nên không đủ chỗ. Đức Phật dạy:
Nếu
xấp xỉ ba tuổi hạ, ngồi chung một giường.[17] Nếu vẫn
không đủ thì nên làm giường dài, phản dài. Nếu vẫn không
đủ thì bện cỏ làm chỗ ngồi. Bện cỏ làm chỗ ngồi,
y bị rách. Phật dạy: «Nên dùng cỏ mềm quấn mép giưòng.»
Nếu vẫn không đủ dùng thì dùng nước bùn rưới lên đất,
rồi rải cát hay cỏ, lá cây lên trên để ngồi.
Có
vị cùng người nữ ngồi trên cỏ, lá. Phât dạy: «Không
nên ngồi như vậy.» Có vị cùng người nữ trải y. Phật
dạy: «Không nên trải như vậy.» Có vị cùng người nữ
ngồi trên y. Đức Phật dạy: «Không nên ngồi như vậy.»
Có vị cùng người nữ ngồi trên đá. Phật dạy: «Không
nên ngồi như vậy. Nếu một người leo lên mà đá không lung
lay thì cho phép leo lên.» Có vị cùng với người nữ lên
thuyền,[18] nghi. Phật dạy: «cho phép đi đò ngang, hoặc ngồi,
hoặc đứng, hoặc nằm.»
2.
Các tỳ-kheo đi kinh hành nơi đất trống, bị nắng, gió và
mưa nên bệnh. Đức Phật cho phép làm nhà đi kinh hành.[19]
Các vị ấy không biết cách làm. Đức Phật cho phép làm nhà
dài theo đường đi. Những vật cần dùng làm nhà đều được
cho phép.
Có
vị Thượng tọa già bệnh, ốm yếu, khi đi kinh hành bị té
xuống đất. Đức Phật cho phép buộc sợi dây hai đầu đường[20]
để khi đi vịn tay vào đó. Khi nắm để đi, tay mềm nên
bị rách. Phật dạy: Cho phép làm ống tròn như ống trúc rồi
luồn sợi dây vào giữa ống. Khi kinh hành, nắm ống mà đi.
Đi kinh hành mỏi mệt. Đức Phật cho phép đặt giường ở
hai đầu.
3.
Tỳ-kheo rửa chân ngoài trời mưa. Nước mưa làm cho y bị
hư màu. Phật nói, nên làm chỗ rửa chân riêng. Cần bồn
đựng nước thì cho bồn đựng nước. Cần bình đựng nước
thì cho bình đựng nước. Cần đá rửa chân thì cho đá rửa
chân. Cần tọa cụ thì cho tọa cụ. Có vị rửa chân khi trời
mưa, bùn bẩn chân, bẩn y, ngọa cụ. Đức Phật cho phép dùng
hòn đá hoặc gạch hay cây lót đường đi.
4.
Trong núi Kỳ-xà-quật, cách xa chỗ có nước. Phật cho phép
đào mương để đem nước vào. Sợ mương bị sạt lở, Phật
cho phép dùng đá hay gạch hoặc cây chận hai bên bờ. Nếu
trong chùa, nên đào ao. Sợ bờ ao lở, Đức Phật cũng cho
phép dùng đá hay gạch hoặc cây chận xung quanh, bên trên làm
nhà che. Sợ bên bờ ao bị bùn lầy, nên trấn bằng đá, gạch
ván, đá vụn. Sợ con nít rơi xuống nước, Phật cho phép
làm lan can. Nước trong ao bị nóng. Phật cho phép đựng trong
bình, ban ngày đem vô trong nhà, ban đêm đem ra để bên ngoài.
Nếu để trong nhà bị bùn bẩn thì cho phép cất nhà riêng
để nước. Nếu đất bị bùn bẩn chân thì cho phép lót đá
hay gạch hoặc đá dăm. Có vị cần đồ đựng nước, cho
phép sắm. Có vị dùng vật báu làm đồ đựng nước. Phật
nói, không nên dùng vật báu làm đồ đựng nước mà nên
dùng sắt hay đồng hoặc sành để làm. Đồ đựng nước
không có chỗ để, bị vỡ. Phật nói: Trong nhà đựng nước
nên làm cái giá để để.
Chúng
Tăng nhận được vỏ sò.[21] Phật cho phép chứa. Lại không
biết để đâu. Phật cho phép để chung trong nhà để nước.
6.
Cấp Cô Độc
Thế
Tôn ở nơi thành Vương xá.
Tại
nước Xá-vệ, có cư sĩ tên là Tu-đạt-đa,[22] thường ưa
cung cấp bố thí cho những người cùng cực, khổ sở; nhơn
việc làm như vậy nên có cái tên là Cấp Cô Độc Thực.[23]
Cư sĩ có điền nghiệp nơi thành Vương xá. Năm nào cũng từ
nước Xá-vệ đến thành Vương xá để coi ngó điền nghiệp.
Trong thành Vương xá có ông trưởng giả là bạn thân.[24]
Ông trưởng giả này đang tự trang hoàng nhà cửa để thỉnh
Phật và Tăng sáng ngày thọ thực. Nhằm lúc ấy, ông Cấp
Cô Độc Thực đến nhà ông trưởng giả. Theo thường lệ,
ông trưởng giả thấy ông Cấp Cô Độc Thực đến thì liền
ra ngoài nhà nghinh đón, rước vào và mời ngồi. Ngày hôm
ấy không đứng dậy đón, không rước vào và mời ngồi,
mà cứ cặm cụi tự trang hoàng nhà cửa để rước Phật
và Tăng. Ông Cấp Cô Độc Thực đến, thấy vậy, hỏi ông
trưởng giả rằng:
«Ông
bạn trang hoàng nhà cửa để làm việc gì? Muốn cưới hỏi
cho cháu chăng? Muốn thỉnh Vua chăng? Muốn tổ chức đại
tế đàn[25] chăng?»
Ông
trưởng giả trả lời:
«Tôi
không có tổ chức cưới hỏi, cũng không thỉnh Vua. Mà tôi
đang tổ chức đại tế đàn là thỉnh Phật và Tăng gồm
một ngàn hai trăm năm mươi vị. Sa-môn Cù-đàm có đại danh
xưng, hiệu là Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác, Minh
hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều
ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn.»
Ông
Cấp Cô Độc Thực hỏi:
«Có
thật là Phật hay chăng?»
Ông
trưởng giả trả lời:
«Thật
là Phật.»
Ba
lần hỏi cũng ba lần trả lời: «Thật là Phật.» Cấp Cô
Độc Thực hỏi ba lần rồi, lại hỏi:
«Hiện
nay đức Phật ở đâu? Nay tôi nuốn đến thăm hỏi Ngài.»
Ông
trưởng giả trả lời:
«Hiện
nay đức Phật ở trong Ca-lan-đà Trúc viên.»
Bấy
giờ, Cấp Cô Độc Thực xem mặt trời, rồi nghĩ: «Bây giờ
đến gặp đức Thế Tôn là không phải lúc. Sáng ngày ta sẽ
đi.»
Cấp
Cô Độc Thực liền về nhà với tâm niệm hướng về đức
Phật mà ngủ.
Bấy
giờ, có một thiên thần nọ, trước kia là tôn thân của
Cấp Cô Độc Thực, vì lòng từ mẫn muốn điều lợi ích
đối với Cấp Cô Độc Thực nên nghĩ như sau: «Cấp Cô Độc
Thực, Ông muốn gặp đức Thế Tôn thì không nên trì hoản
mà không gặp.» Vị thiên thần nọ liền dùng thần lực diệt
trừ bóng tối, ánh sáng bỗng nhiên xuất hiện. Cấp Cô Độc
Thực thấy ánh sáng, liền thức dậy, tự bảo là trời đã
sáng, liền đến cửa thành Thi-ha.[26] Vị thần giữ cửa từ
xa thấy Cấp Cô Độc Thực muốn diện kiến đức Thế Tôn
liền chứ không trì hoãn, nên mở cửa liền. Cấp Cô Độc
Thực ra khỏi cửa rồi, vị thần liền thu hồi thần lực
nên ánh sáng liền tiêu mất, bỗng nhiên tối trở lại. Cấp
Cô Độc Thực đâm ra sợ sệt, lông trong người dựng ngược,
nghĩ rằng có kẻ oan gia muốn hại mình. Vị thần kia thấy
Cấp Cô Độc Thực hoảng sợ liền an ủi: «Đừng nên sợ!
Đừng nên sợ!» Vị thần nói kệ:
Dầu
dùng trăm con ngựa,
Và
lại trăm kim anh,
Ngựa
xe cả trăm cỗ,
Đồng
nữ có trăm người,
Bảy
báu là anh lạc,
Trăm
voi trắng Tuyết Sơn,
Voi
đều có sáu ngà,
Và
dùng đống lớn vàng,
Cùng
tử ma kim sa,
Vua
và nghi vệ của Vua,
Con
voi thuần của Vua:
Bằng
như trên bố thí,
[939a1]Không
bằng phần mười sáu,
Phước
của một bước đi.
«Trưởng
giả cứ đi tới, cứ đi tới, sẽ có lợi ích!»
Cấp
Cô Độc Thực hỏi:
«Ngươi
là ai?»
Vị
thần trả lời:
«Tôi
là thần Thi-ha.»
Cấp
Cô Độc Thực khởi ý nghĩ: «Thật chưa từng có! Ta được
thiên thần khích lệ.» Cấp Cô Độc Thực liền đến trong
Ca-lan-đà Trúc viên.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn đang đi kinh hành nơi đất trống, từ
xa thấy Cấp Cô Độc Thực đến, ngài trở lại chỗ ngồi,
trải chỗ ngồi mà ngồi. Theo thường pháp của các đức
Phật, có một vầng sáng tròn tỏa khắp thân. Cấp Cô Độc
Thực từ xa thấy đức Thế Tôn tướng mạo đoan chánh, các
căn tịch tịnh, tối thượng điều phục, các căn kiên cố,
như con đại long, như vực nước lóng trong, không có chút
bợn nhơ. Thấy vậy, Cấp Cô Độc Thực phát sinh lòng kính
tín. Với lòng tín kính hướng về đức Phật, ông bạch rằng:
«Ngài
ngủ có ngon không?»
Đức
Phật trả lời:
«Như
người đời đều ngủ yên. Nhưng ta thì khác.» Liền khi ấy
Phật nói kệ:
Tất
cả đều ngủ yên.
Phạm
hạnh đạt Niết bàn.
Nếu
không phạm các dục,
Được
giải thoát các phược.
Tất
cả ái đã đoạn,
Điều
phục các nhiệt não.
Tĩnh
chỉ, nằm nghỉ yên,
Thân
tâm đều tịch diệt.
Bấy
giờ Cấp Cô Độc Thực đến trước đức Phật kính lễ
sát chân, rồi ngồi lui qua một bên. Đức Thế Tôn vì Cấp
Cô Độc Thực phương tiện nói các pháp khai hóa, khiến được
hoan hỷ, liền từ chỗ ngồi đạt được con mắt pháp trong
sạch, thấy pháp đắc pháp, đặng quả tăng thượng, tâm
nhàm chán phát sanh, bạch đức Thế Tôn rằng:
«Nay
con xin quy y Phật, Pháp, Tăng làm người ưu-bà-tắc của đức
Phật. Từ nay về sau trọn đời không sát sanh, cho đến không
uống rượu. Cúi xin đức Thế Tôn cùng chúng Tăng nhận lời
thỉnh mời của con, an cư chín mươi ngày trong mùa hạ này.»
Đức
Phật nói:
«Như
Lai đã nhận sự mời thỉnh của Vua Bình-sa rồi.»
Cấp
Cô Độc Thực lại thưa:
«Cúi
xin nhận sự mời thỉnh vào năm đến.»
Đức
Phật lại nói:
«Năm
đến Như Lai cũng đã nhận sự mời thỉnh của Vua Bình-sa.»
Cấp
Cô Độc Thực lại thưa:
«Xin
Đại đức nhận sự mời thỉnh của con vào năm sau nữa.»
Đức
Phật trả lời:
«Nếu
có trú xứ thanh tịnh như vậy, như vậy, không có ồn ào,
không có ác thú, nơi rừng vắng người, có thể tọa thiền,
thì Như Lai sẽ an trụ nơi như vậy.»[27]
Cấp
Cô Độc Thực liền bạch Phật:
«Kính
bạch đức Thế Tôn, điều đó con đã biết. Con sẽ biết
thời.»
Cấp
Cô Độc Thực thưa tiếp:
«Cúi
xin đức Thế Tôn cùng chúng Tăng nhận sự mời thỉnh thọ
thực của con vào ngày mai.»
Đức
Thế Tôn nhận lời bằng cách im lặng. Cấp Cô Độc Thực
từ chỗ ngồi đứng dậy, kính lễ sát chân Phật, nhiễu
quanh rồi cáo lui.
Vua
Bình-sa nghe Cấp Cô Độc Thực thỉnh Phật và Tăng thọ thực
vào ngày mai liền sai người đến nói: «Ông là khách trọ
ở xứ này. Chúng Tăng thì nhiều đến 1250 người. Ông có
thể khỏi phải dọn lễ. Tôi sẽ thiết lễ giùm ông.» Cấp
Cô Độc Thực liền sai người đến trả lời với Vua rằng:
«Như thế đã là đã giúp tôi rồi. Không cần thiết nữa.
Tôi sẽ tự mình chuẩn bị lấy.»
Bấy
giờ, đại trưởng giả Ma-kiệt nghe Cấp Cô Độc Thực thỉnh
Phật và Tăng thọ thực vào ngày mai, liền đến nói: «Ông
là khách trọ ở xứ này. Chúng Tăng thì nhiều đến 1250 người.
Ông có thể khỏi phải dọn lễ. Tôi sẽ thiết lễ giùm ông.»
Cấp Cô Độc Thực liền trả lời với ông trưởng giả:
«Như thế đã là đã giúp tôi rồi. Không cần thiết nữa.
Tôi sẽ tự mình chuẩn bị lấy.»
Cấp
Cô Độc Thực trở về nhà, trong đêm đó sửa soạn các thức
ăn ngon bổ. Khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, cho người
đến báo giờ. Đức Thế Tôn khoác y, bưng bát, cùng một
ngàn hai trăm năm mươi tỳ-kheo Tăng đến nhà ông Cấp Cô
Độc Thực an tọa nơi chỗ ngồi. Ông Cấp Cô Độc Thực
tự tay châm chước các thức ăn ngon bổ cúng dường Phật
và chúng Tăng một cách đầy đủ. ăn xong, dẹp bát rồi,
ông lấy một chiếc ghế thấp hơn ngồi trước đức Phật.
Đức Phật dùng vô số phương tiện vì Cấp Cô Độc Thực
nói pháp khai hóa khiến được hoan hỷ. Thuyết pháp xong, đức
Phật liền từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
Bấy
giờ, Cấp Cô Độc Thực từ thành Vương xá trở về nước
Xá-vệ. Ông đi đến các thôn xóm, thành ấp, nơi nơi đều
ra lệnh như sau: «Nơi nào đất trống, hãy lập vườn trồng
cây trái, đào ao, bất cầu đò. Đức Phật đã ra đời. Ngài
đã nhận sự mời thỉnh của tôi, hạ an cư tại nước Xá-vệ.
Ngài sẽ đi qua con đường này để đến nước Xá-vệ. Cầu
mong các người được phước vô lượng.»
Khi
đến nước Xá-vệ rồi, Cấp Cô Độc Thực suy nghĩ: «Nơi
đây có khu đất nào không xa lắm, không gần lắm, tiện lui
tới; đất rộng, bằng phẳng, ban ngày không ồn ào, ban đêm
không có tiếng động, không có mòng muỗi, ruồi, ong, loài
có nộc độc, ta sẽ mua, lập Tăng-già-lam cho Phật?» Cấp
Cô Độc Thực lại nghĩ: «Vương tử Kỳ-đà[28] có vườn
rất tốt ở nước Xá-vệ, không gần không xa, tiện lui tới;
đất rộng bằng phẳng, ban ngày không có các sự ồn ào,
ban đêm không có tiếng động, cũng không có mòng muỗi, rắn
độc, nay ta hãy đến chỗ Vương tử Kỳ-đà để hỏi mua.»
Cấp
Cô Độc Thực liền đến chỗ Vương tử nói:
«Đức
Phật đã xuất thế, Ngài có biết chăng? Đức Phật đã nhận
lời mời của tôi an cư mùa hạ tại nước Xá-vệ. Ngôi vườn
này Ngài có thể bán cho tôi với giá trăm ngàn tiền vàng?»
Vương
tử nói:
«Không
bán.»
Cấp
Cô Độc Thực lại trình bày như trên:
«Tôi
xin mua khu vườn với giá hai trăm, ba trăm, bố trăm ngàn tiền
vàng.»
Vương
tử nói:
«Nếu
ông đem tiền vàng trải hết mặt đất, không trống một
chỗ nào, tôi cũng không bán.»
Cấp
Cô Độc Thực liền nói:
«Như
thế là ngài đã quyết giá, xin ngài nhận cho.»
Vương
tử nói:
«Tại
sao nói tôi quyết giá?»
Cấp
Cô Độc Thực thưa:
«Vừa
rồi ngài nói, nếu đem tiền vàng trải khắp mặt đất, không
có khoảng trống, há không phải là quyết giá? Xin Vương tử
xem lại cựu chế của Vua.»[29]
Vương
tử liền xem lại cựu chế của Vua, theo đó, đã nói như
vậy tức là đã quyết định giá. Vương tử liền nói:
«Tùy
ý trưởng giả.»
Bấy
giờ, Cấp Cô Độc Thực trở về nhà, ra lệnh cho gia nhân
xuất tiền vàng đem đến trải hết mặt đất khu vườn ông
Kỳ-đà vương tử; còn một ít đất chưa trải hết. Kỳ
Đà vương tử thấy vậy, liền nghĩ: «Có lẽ đây là một
người phi thường, cũng là phước điền phi thường nên mới
khiến cho Cấp Cô Độc Thực không tiếc trân bảo như vậy.»
Vương tử liền nói với trưởng giả Cấp Cô Độc Thực:
«Thôi,
đừng trải vàng nữa. Khoảnh đất còn lại, tôi muốn dâng
cúng đức Thế Tôn.»
Cấp
Cô Độc Thực nói:
«Điều
đó tùy ý ngài.»
7.
Thứ bậc Tăng trong già-lam
Đức
Thế Tôn từ thành Vương xá cùng với một ngàn hai trăm năm
mươi tỳ-kheo du hành trong nhân gian, đến nước Bạt-xà rồi
mới quay trở lại Tỳ-xá-ly. Bấy giờ, Nhóm sáu tỳ-kheo đi
trước đức Phật, để lấy phòng xá cho Hòa thượng, đồng
Hòa thượng; A-xà-lê, đồng A-xà-lê; cho tri thức thân hậu
của họ. Xá-lợi-phất và Mục-liên đến sau.
Đức
Phật hỏi:
«Phòng
này của ai?»
Nhóm
sáu tỳ-kheo nói:
«Phòng
của Hòa thượng, đồng Hòa thượng, A-xà-lê, đồng A-xà-lê,
tri thức thân tình của con.»
Vì
Xá-lợi-phất và Mục-liên không nhận được phòng để ngủ
nên phải ngủ bên ngoài bờ đất. Sáng ngày, Xá-lợi-phất
và Mục-liên đến chỗ đức Thế Tôn, đầu diện kính lễ
sát chân rồi ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn biết mà vẫn
hỏi Xá-lợi-phật và Mục-liên:
«Trong
đêm ngủ có an lạc không?»
Thưa:
«Bạch
Thế Tôn, an lạc.»
Đức
Thế Tôn hỏi:
«Ngủ
ở chỗ nào?»
Thưa:
«Ngủ
bên ngoài bờ đất.»
Hỏi:
«Tại
sao vậy?»
Hai
tôn giả đem nhơn duyên trên bạch đầy đủ lên đức Phật.
Bấy giờ đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp tỳ-kheo
Tăng và bảo rằng:
«Theo
ý các ngươi, ai xứng đáng ngồi chỗ thứ nhất, nhận nước
trước, thọ thực trước; được đứng dậy nghinh đón, lễ
bái, cung kính, tôn trọng, hỏi chào?»
Có
vị trả lời, người đại tánh xuất gia; có vị trả lời,
người tướng mạo đoan chánh; có vị trả lời, [940a1] người
sống a-lan-nhã; có vị trả lời, vị nào trì khất thực;
có vị trả lời, người trì y phấn tảo; có vị trả lời,
vị làm pháp dư thực không ăn; có vị trả lời, vị nhất
tọa thực; có vị trả lời, vị nhất đoàn thực; có vị
trả lời, người sống nơi bãi tha ma; có vị trả lời, người
ngồi nơi đất trống; có vị trả lời, người sống dưới
gốc cây; có vị trả lời, vị thường ngồi; có vị trả
lời, vị tùy tọa; có vị trả lời, vị trì ba y; có vị
trả lời, vị có khả năng tụng kinh; có vị trả lời, vị
đa văn; có vị trả lời, vị pháp sư; có vị trả lời, vị
trì luật; có vị trả lời vị ngồi thiền... Đức Phật
bảo các tỳ-kheo:
«Các
tỳ-kheo, hãy lắng nghe câu chuyện nên cho hay không nên cho.
«Thuở
quá khứ, có ba con vật bạn: voi, khỉ và con tu hú,[30] cùng
sống trên cây Ni-câu-luật. Một hôm, ba con vật này suy nghĩ:
‘Chúng ta sống chung, sao không cung kính nhau mà lại khinh mạn
nhau? Chúng ta nên tìm hiểu tuổi lớn nhỏ để rồi theo thứ
tự lớn nhỏ mà cung kính lẫn nhau. Nếu ai lớn tuổi, thì
sẽ được tôn trọng cung kính cúng cường. Lập ra phép tắc
như rồi, chúng ta sống chung trong rừng.’ Khỉ và tu hú hỏi
con voi: ‘Bạn nhớ có mặt nơi đây lâu mau rồi?’ Voi nói:
‘Tôi nhớ lúc tôi còn nhỏ, khi tôi đi, cây ni-câu-luật này
mới đụng ngang rốn.’ Voi và tu hú hỏi con khỉ: ‘Bạn
nhớ có mặt nơi đây lâu mau rồi?’ Vượn trả lời: ‘Tôi
nhớ lúc còn nhỏ đưa tay thì cây ni-câu-luật này mới ngang
đầu.’ Voi nói với con khỉ rằng: ‘Như vậy là bạn lớn
hơn tôi.’ Voi và con khỉ hỏi con tu hú: ‘Bạn nhớ có mặt
nơi đây lâu mau rồi?’ Tu hú trả lời: ‘Tôi nhớ ở bên
hữu núi chúa Tuyết sơn có cây ni-câu-luật rất lớn. Tôi
ăn trái nơi cây đó, rồi đến đây đại tiện ra hột nên
mọc lên cây ni-câu-luật này.’ Hai con kia đều nghĩ: ‘Con
chim này lớn tuổi hơn mình.’ Bấy giờ, voi cõng khỉ trên
đầu. Khỉ lại cõng tu hú trên vai. Rồi cùng nhau du hành trong
nhơn gian. Từ thôn này đến thôn kia, từ thành này đến thành
nọ, và tuyên bố: ‘Người nào có sự kính trọng bậc Trưởng
lão thì người ấy có thể an trú nơi pháp này, đời này
có danh dự, đời sau sanh nơi đường lành.’ Bấy giờ, tu
hú nói pháp như vậy, mọi người đều tùy thuận, và sự
giáo huấn này cũng được truyền khắp.
«Các
ngươi là những người xuất gia trong giáo pháp của Ta, cũng
nên cung kính với nhau như vậy thì Phật pháp mới được
truyền khắp. Từ nay về sau cho phép tùy theo lớn nhỏ mà
cung kính lễ bái, nghinh đón hỏi chào bậc thượng tọa.»
Khi
các tỳ-kheo nghe đức Phật dạy là các tỳ-kheo nên tùy theo
lớn nhỏ cùng nhau cung kính bậc thượng tọa, các vị lại
lễ bái người bạch y, và nói rằng: «Ông lớn tuổi hơn
tôi.» Đức Phật dạy:
«Không
nên lễ bái người bạch y. Các ngươi đối với người nào
nên lễ, và không nên lễ như sau: «Không nên lễ là tất
cả những người nữ. Người thọ đại giới trước không
lễ người thọ đại giới sau. Những người nói phạm biên
tội, phạm tỳ-kheo-ni, tặc tâm thọ giới, phá nội ngoại
đạo, huỳnh môn, giết cha mẹ, giết A-la-hán, phá Tăng, ác
tâm làm thân Phật ra máu, phi nhơn, súc sanh, hai căn, bị cử,
diệt tẫn, đáng diệt tẫn, và tất cả những người nói
phi pháp, đều không nên lễ.
«Những
người nào nên lễ? sa-di-ni nhỏ nên lễ sa di ni lớn, lễ
sa-di, thức-xoa-ma-na, tỳ-kheo-ni, tỳ-kheo, và tháp của những
vị, tất cả đều nên lễ. Hoặc sa-di niên thiếu nên lễ
sa-di lớn, lễ sa-di-ni, thức-xoa-ma-na, cho đến tỳ-kheo và
tháp, tất cả đều nên lễ. Thức xoa-ma-na nhỏ nên lễ thức
xoa-ma-na lớn, lễ tỳ-kheo-ni, tỳ-kheo và tháp; thảy đều
nên lễ. Tỳ-kheo-ni tuổi nhỏ nên lễ tỳ-kheo-ni lớn, tỳ-kheo
và tháp; thảy đều nên lễ. Tỳ-kheo nhỏ nên lễ tỳ-kheo
lớn, và tháp của tỳ-kheo, cũng nên lễ. Tất cả chư Thiên,
người đời, chư ma, phạm vương, Sa-môn, bà-la-môn đều nên
kính lễ Như Lai Thế Tôn, và tháp.»
Khi
Đức Thế Tôn dạy kính lễ tháp như vậy, thì các vị lại
lễ tháp miếu của bạch y. Đức Phật dạy:
«Không
nên lễ tháp miếu của bạch y.»
Có
vị đã không lễ tháp miếu của bạch y, lại đi quanh phía
bên tả.[31] Vị thần bảo hộ tháp miếu giận. Đức Phật
dạy:
«Tùy
theo hướng đi đến mà đi. Không nên cố ý đi quanh phía bên
tả.»
Các
tỳ-kheo nghĩ, «sa-di nên lấy tuổi đời làm lớn nhỏ hay
lấy năm xuất gia làm lớn nhỏ?» Đức Phật dạy:
«Nên
lấy tuổi đời làm lớn nhỏ. Nếu tuổi đời bằng nhau thì
nên lấy tuổi xuất gia làm lớn nhỏ.»
Có
vị tỳ-kheo nọ đến trước. Tỳ-kheo đến sau lớn hơn một
đêm.[32] Vị đến sau bèn dời tỳ-kheo đến trước đi. Đức
Phật dạy:
«Không
nên dời, cũng không nên đứng dậy. Cho phép ngồi vào giữa.[33]
Khi ngồi vào giữa, lại có sự xê dịch với nhau khiến cho
chúng bị náo loạn. Đức Phật dạy:
«Cho
phép vị đến sau thì ngồi sau.»
Khi
cho ngồi sau, họ lại ngồi sau bạch y. Đức Phật dạy:
«Không
nên ngồi như vậy.»
Có
vị lại ngồi sau sa-di. Đức Phật dạy:
«Không
nên ngồi như vậy. Nên ngồi dưới đại tỳ-kheo.»
Có
vị không kịp hậu an cư. Lấy số thọ đại giới mà tính
tuổi. Đức Phật dạy:
«Không
nên như vậy.»
Hòa
thượng A-xà-lê nên giáo thọ về thời tiết như sau: Mùa
đông, mùa xuân, mùa hạ, ông được bao nhiêu ngày. Hoặc một
tháng, hoặc nửa tháng, hay một ngày; hoặc bữa ăn trước,
bữa ăn sau, cho đến theo bóng của mặt trời mà tính.
Nhóm
sáu tỳ-kheo ở trong nhà bạch y, thấy Thượng tọa đến,
không đứng dậy chào, lại nói: «Đây không phải là Tăng
địa.»
Phật
nói:
«Không
nên nói như vậy. Nên đứng dậy chào.»
Nơi
mé nước, dưới gốc cây, bên hòn đá, trên bãi cỏ, trên
thuyền, có vị không đứng dậy tránh Thượng tọa, lại nói:
«Đây không phải là Tăng địa.» Đức Phật dạy:
«Nên
đứng dậy.»
8.
Trú trì
Có
cư sĩ làm phòng cho Tăng mà không vị nào đến ở, cư sĩ
kia nói: «Đại phú trưởng giả nhiều của nhiều tiền, làm
phòng cho Tăng, Sa-môn Thích tử đến ở. Còn tôi nghèo khổ,
đâu có vị nào đến ở!» Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy:
Chúng
Tăng nên sai một tỳ-kheo đến ở[34] bằng bạch nhị yết-ma,
theo pháp thức sau: trong chúng nên sai một vị có thể tác
pháp yết-ma, dựa theo sự việc trên tác bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Nay Tăng đem phòng[35]... này cho tỳ-kheo
tên là... liệu lý. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng,
Tăng chấp thuận, đây là lời tác bạch.
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Phòng… này giao cho tỳ-kheo... liệu
lý.[36] Các Trưởng lão nào đồng ý Tăng đem phòng... này
giao cho tỳ-kheo tên... liệu lý thì im lặng. Vị nào không
đồng ý xin nói.
«Tăng
đã chấp thuận giao phòng... này cho tỳ-kheo... liệu lý rồi.
Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này được ghi nhận như
vậy.»
9.
Phòng ốc
Bấy
giờ, các tỳ-kheo muốn làm phòng.[37] Đức Phật cho phép.
Có vị muốn ban đất cho bằng. Phật cho phép. Nếu có đá,
gốc cây, gai, nên dọn dẹp. Nếu có hầm, có kênh, chỗ cao
chỗ thấp thì nên làm cho bằng. Nếu cần đề phòng nạn
nước lũ thì nên đắp bờ ngăn. Nếu sợ đất có chủ, hoặc
nói lôi thôi thì nên giải quyết cho phân minh. Nếu có gốc
cây lớn hoặc đá thì nên bứng đi. Không bứng được thì
nên đốt. Nếu vẫn không đi,[38] thì sau khi đốt, chế nước
hay giấm[39] vào, rồi kê đá mà bẩy đi. Nếu khó phá thì
nên dùng chùy sắt để phá ra. Nếu không thể được thì
đào cái hầm một bên rồi chôn xuống.
Có
vị cần ban đất cho bằng. Sau khi cày, cần ban cho phẳng.
Không biết ai có thể ban. Phật nói, hoặc tỳ-kheo, hoặc sa-di,
hay người coi Tăng-già-lam, hoặc ưu-bà-tắc.
Có
vị cần ngói. Phật cho phép làm, hoặc tự làm hay bảo người
làm đều được. Có vị cần khuôn làm ngói. Phật cho phép
sắm. Có vị lấy bùn trét vào khuôn ngói. Phật dạy nên dùng
vải xấu, nhúng vào nước, lau xung quanh. Chỗ làm ngói có
cỏ. Phật dạy nên làm chỗ không có cỏ. Nếu ngói không
khô thì nên lật lại. Khi lật, bị đứt cỏ, không phạm.
Ngói không [941a1] bằng thì nên gọt cho bằng. Nếu ngói khô
thì nên chất đống lại. Nếu trời mưa thì nên tủ lên trên.
Nếu gió thổi thì nên lấy cây hay đá đè lên trên. Nếu
sợ trâu, dê, hay các loài súc sanh ăn cỏ tủ lên trên, thì
nên lấy bùn bôi lên trên cỏ.
Có
vị cần cánh cửa, cho làm cánh cửa. Có vị làm hình rồng
rắn bên cửa cánh cửa. Phật dạy, không được làm hình
tượng như vậy. Cho phép vẽ hình dây nho hay hình bông sen.
Có vị muốn làm hình lá cây nơi cánh cửa. Phật cho phép
làm. Có vị muốn làm hình binh mã. Đức Phật dạy, không
nên làm như vậy. Nên dùng màu tía hay màu chu, hay năm màu
để làm. Có vị dựa vào, nên màu bị mất. Phật dạy, không
được dựa như vậy. Có vị Thượng tọa kia già bệnh, và
tỳ-kheo từ đường xa mới đến. Tỳ-kheo nếu không dựa
thì thân không an ổn. Đức Phật dạy, cho phép dùng cỏ, lá,
vỏ cây hay một trong mười loại y lót sau lưng để dựa.
Có
tỳ-kheo kia ban ngày, chỗ đông người, nằm sát đất mà ngủ.
Các cư sĩ thấy đều cơ hiềm, nói Sa-môn Thích tử tự xưng
là giác ngộ mà ban ngày nằm sát đất ngủ hay sao? Các tỳ-kheo
bạch Phật. Phật dạy, không được nằm như vậy. Có Thượng
tọa kia già bệnh, và tỳ-kheo từ đường xa đến, vì ban
ngày không ngủ, nên rất mỏi mệt. Đức Phật cho phép vào
trong phòng đóng cửa lại rồi ngủ. Có vị đuổi người
bệnh. Phật dạy, không được đuổi người bệnh. Người
bệnh cũng không nên đi.
Nhóm
sáu tỳ-kheo lấy cớ bệnh không tránh Thượng tọa. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Phật dạy, không được lấy cớ như vậy. Tỳ-kheo
bệnh ở trên lầu gác, nơi phòng lớn, đại tiểu tiện, khạc
nhổ, nhơ bẩn hôi thối, không sạch. Đức Phật dạy tỳ-kheo
bệnh không nên ở trên lầu gác, nơi phòng lớn. Nên ở nơi
phòng nhỏ, hoặc làm nhà riêng biệt.
Tỳ-kheo
bệnh không thể đến chỗ đại tiểu tiện. Đức Phật dạy
cho phép làm nơi đại tiểu tiện gần chỗ ở nhất. Nếu
không thể ra khỏi phòng, cho phép để đồ đại tiểu tiện
trong phòng, hay không thể đứng dậy ra khỏi giường đức
Phật cho phép đục cái lỗ nơi giường, bên dưới để cái
bô. Có bệnh nhân khạc nhổ trong phòng, bẩn đất. Đức Phật
dạy, không nên nhổ như vậy. Có tỳ-kheo già yếu, là bậc
Thượng tọa, dậy nhiều lần, mệt. Đức Phật cho phép làm
đồ để nhổ.
Trú
xứ nọ đông người, vị kia bắt rận bỏ dưới đất. Đức
Phật dạy, không nên bỏ như vậy. Có tỳ-kheo già bệnh, là
bậc Thượng tọa, phải dậy nhiều lần để vất rận, nhọc
mệt. Đức Phật dạy, cho phép bỏ trong đồ đựng, hoặc
lông, hoặc kíp bối, hoặc vật xấu rách hay bông. Nếu rận
bò ra, thì nên dùng cái ống để đựng. Có vị dùng vật
báu làm ống đựng. Phật dạy, không được dùng vật quý
báu làm ống. Cho phép dùng xương, răng, sừng, sắt, đồng,
thiếc, chì, ống tre, trúc cây... để làm ống đựng rận.
Nếu rận bò ra ngoài thì dùng đồ đậy lại. Có vị dùng
vật báu làm đồ đậy. Đức Phật dạy, không nên dùng vật
báu làm đồ đậy. Nên dùng xương, răng, cho đến cây để
làm. Để chỗ không ổn định, Phật bảo nên dùng dây cột
vào trong chân giường.
Bấy
giờ, tỳ-kheo phân phòng. Có tỳ-kheo nhận được phòng hư
đổ. Vị đó nghĩ như vầy: «Chắc muốn khiến ta tu bổ phòng?»
Nên không nhận. Đức Phật dạy nên nhận rồi tùy theo khả
năng mà tu bổ. Có tỳ-kheo muốn tu bổ phòng, đức Phật cho
phép tu bổ. Tất cả vật cần thiết, đều cho phép cung cấp.
10.
Tường rào chùa
Thế
Tôn từ Tỳ-xá-ly du hành trong nhân gian, qua nước Bạt-xà,
đến nước Xá-vệ, cùng với một ngàn hai trăm năm mươi
tỳ-kheo. Bấy giờ Cấp Cô Độc Thực nghe đức Thế Tôn đến
nước Xá-vệ, liền đánh xe đi nghinh đón. Từ xa thấy đức
Phật liền xuống xe, đi bộ đến trước mặt đức Phật,
đầu diện kính lễ sát chân rồi đứng qua một bên. Đức
Thế Tôn dùng vô số phương tiện vì Cấp Cô Độc Thực nói
pháp, khai hóa, khiến được hoan hỷ. Hoan hỷ rồi, Cấp Cô
Độc Thực bạch đức Thế Tôn:
«Cúi
xin Ngài nghỉ nơi Kỳ-hoàn. Sáng mai con thỉnh thọ thực.»
Đức
Thế Tôn im lặng nhận lời. Cấp Cô Độc Thực biết đức
Phật nhận lời rồi, kính lễ cáo lui. Về nhà, trong đêm
Cấp Cô Độc Thực chuẩn bị các thức ăn ngon béo rồi, sáng
ngày đến thỉnh Phật phú trai. Đức Thế Tôn khoác y, bưng
bát, đến nhà ăn, an tọa nơi chỗ ngồi. Cấp Cô Độc Thực
tự tay châm chước các thức ăn ngon bổ cúng dường Phật
và chúng Tăng một cách đầy đủ. Ăn xong, cất bát, ông dùng
bình bằng vàng dâng nước rồi bạch Phật:
«Con
xin dâng cúng ngôi vườn Kỳ-hoàn lên đức Thế Tôn. Cúi xin
Thế Tôn thâu nhận.»
Đức
Phật dạy:
«Này
Cư sĩ, Ông nên đem ngôi vườn này dâng cúng cho Phật và bốn
phương Tăng. Tại sao vậy? Này cư sĩ, nếu là vườn hay vật
trong vườn, phòng hay vật trong phòng, nhà hay vật trong nhà,
y bát, tọa cụ, ống đựng kim, của Thế Tôn, thì tất cả
chư thiên, người đời, sa-môn, bà-la-môn, ma phạm không thể
sử dụng được.»
Theo
lời dạy, cư sĩ liền dâng cúng ngôi vườn lên đức Phật
và bốn phương Tăng. Đức Thế Tôn dũ lòng thương thọ nhận
và nói kệ khuyến dụ:
Trồng
cây trái lập vườn,
Hoặc
lập cầu và đò,
Đào
giếng nơi hoang vắng,
Và
bố thì phòng xá.
Những
hạng người như vậy,
Ngày
đêm phước tăng ích.
Nên
giữ giới như pháp
Sau
được sanh đường lành.
Bấy
giờ, Cấp Cô Độc Thực đầu diện kính lễ sát chân rồi
ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn dùng vô số phương tiện
nói pháp, khai hóa, khiến được hoan hỷ. Cấp Cô Đôc Thực
nghe pháp hoan hỷ rồi, kính lễ sát chân, cáo lui.
Bấy
giờ trong vườn Kỳ-hoàn bò, dê ra vào tự do không có giới
hạn ngăn cấm. Đức Phật bảo đào hào xung quanh cho chúng
khỏi vào. Các tỳ-kheo già bệnh là bậc Thượng tọa không
thể bước qua được. Phật cho phép làm cầu để đi. Các
vị ấy không biết làm thế nào. Phật bảo dùng ván hay gỗ
để làm, hoặc dùng dây cột nối liền. Các tỳ-kheo Thượng
tọa già bệnh khi đi qua cầu, trượt chân bị ngã xuống.
Đức Phật cho phép buộc dây hai bên để vịn. Nếu nắm sợi
dây bị té thì nên làm lan can hai bên. Nếu hào không bảo
đảm thì nên làm hàng rào. Không có cửa ngõ thì cho phép
làm cửa ngõ. Nếu hàng rào không bảo đảm thì nên xây tường.
Khi xây tường, cần thứ gì đều cho phép sắm để xây. Nếu
không bảo đảm thì nên làm cổng có lầu. Vương tử Kỳ-đà
tử muốn làm cổng lầu quý giá tại Kỳ-hoàn[40] được đức
Phật đồng ý.
Cây
nơi vườn Kỳ-hoàn không được tốt. Phật bảo trồng ba
thứ cây, cây bông, cây có trái và cây nhiều lá.
Bấy
giờ, có vị tỳ-kheo Thượng tọa, nổi tiếng nhiều người
biết, thọ thực nơi Xá-vệ rồi trở về Kỳ-hoàn bị bịnh
nhiệt. Đức Phật cho phép dùng cỏ hay lá cây để che, hay
lấy một trong mười loại y để che. Nếu vẫn cứ nóng thì
nên trồng hai bên đường bằng ba thứ cây trên.
Kỳ-hoàn
cách dòng nước xa, Phật cho phép đào mương dẫn nước vào.
Mương sạt lỡ, Phật cho phép dùng cỏ để chận. Nếu cỏ
bị rã nát, thì nên dùng gạch, đá hay cây để chận. Nếu
cần đào giếng thì đào giếng, tất cả những thứ cần
dùng đều cho sắm. Khi xách nước, bị bùn làm vỡ gàu xách,
cho phép dùng cây gỗ lót xung quanh, để gàu vào giữa. Nếu
đồ múc vẫn bị vỡ, cho phép dùng túi bằng lông[41] để
đựng. Nếu vẫn bị vỡ, cho phép dùng da thuộc để làm.
Nếu dây kéo bị đứt thì nên dùng da. Tỳ-kheo không quen xách,
bị đau tay, cho phép dùng bánh xe để quay. Nếu lỗ bánh xe
bị hư thì cho phép dùng sắt để làm. Nếu bị nước chảy
ngược vào trong giếng thì nên dùng đá, gạch hay cây gỗ
ngăn bốn bên. Nếu sợ chỗ rửa, nước đọng lại thành
bùn bẩn, thì dùng gạch, đá để lót. Nếu sợ trẻ nít rơi
xuống giếng thì nên dùng cây hay gạch đá làm lan can ngăn.
Nếu xách nước, gàu bị đứt dây rớt xuống giếng, thì
nên dùng móc để móc lên. Cái gàu không có chỗ để ổn
định. Đức Phật [942a1] cho làm cái giá gần bên giếng để
móc cái gàu lên.
11.
Nhà tắm
Kỳ-hoàn
chưa có nhà tắm. Phật cho phép làm. Các vị ấy không biết
cách làm. Phật bảo làm vuông hay tròn hoặc tám cạnh. Các
vị ấy làm phía trước nhà. Đức Phật nói không nên làm
trước nhà mà nên làm một bên, nơi chỗ khuất. Nhà tắm
bị gió lạnh. Phật cho làm cửa để đóng lại. Bị khói,
cho làm lỗ thông hơi. Bị tối, cho làm cửa sổ. Bị bùn,
cho dùng gạch, đá, cây làm cái ghế ngồi tắm. Bị bùn bẩn
chân, cho dùng đá hay gạch lót nền. Nếu đầu cây trật khớp,
nên đục thành răng chó, ép lại với nhau.
Bấy
giờ, khi Thượng tọa muốn mát, thì nhóm sáu tỳ-kheo đóng
cửa. Khi Thượng tọa muốn ấm, nhóm sáu tỳ-kheo lại mở
cửa. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức Phật dạy: phải theo yêu
cầu của chúng mà đáp ứng.
Nhóm
sáu tỳ-kheo vào nhà tắm trước, chiếm lấy chỗ tốt. Thượng
tọa đến sau không có chỗ. Các tỳ-kheo bạch Phật. Đức
Phật dạy nên tùy theo thứ tự mà ngồi. Vị Thượng tọa
không vào, bỏ chỗ trống. Đức Phật dạy, vị thứ tọa
nên ngồi. Khói xông lên mặt, Phật cho phép dùng vật để
ngăn. Đầu bị nóng, cho phép trùm lại. Lưng nóng, cho phép
che. Thân hôi thối, cho phép dùng bùn để tắm. Có tỳ-kheo
nọ nghi, không dám dùng hương trộn với bùn. Đức Phật cho
phép dùng hương để tắm. Trong nhà tắm, đất bị nóng, cho
phép tưới nước cho mát. Có vị cùng bạch y tắm, xem đuôi
của nhau, rồi nói, «đuôi người này dài,» «cái đuôi người
kia to.» Phật dạy, không được tắm chung với bạch y. Nếu
người nào xưng tán Phật, Pháp, Tăng thì cho phép tắm chung.
Các
tỳ-kheo dùng y trải dưới đất trống, trời mưa ướt. Đức
Phật cho phép xếp lại rồi máng trên vách, trên móc long nha,
trên trụ cột hoặc trên giá y. Có vị lo ngại khói xông bẩn
y. Đức Phật cho phép làm nhà để y riêng. Có vị khỏa thân
chà mình cho người khỏa thân. Phật dạy, không được làm
như vậy. Có vị khỏa thân chà mình cho người không khỏa
thân. Phật dạy, không được làm như vậy. Có vị không khỏa
thân, nghi, e ngại không dám chà mình cho người khỏa thân.
Đức Phật cho phép. Có vị khỏa thân cạo tóc cho người
khỏa thân. Phật dạy, không được làm như vậy. Có vị khỏa
thân cạo tóc cho người không khỏa thân. Phật dạy, không
được làm như vậy. Có vị không khỏa thân cạo tóc cho người
khỏa thân. Phật dạy, không được làm như vậy. Có vị khỏa
thân xỉa răng. Phật dạy, không được làm như vậy. Có vị
khỏa thân rửa tay, rửa chân, rửa mặt. Phật dạy, không
được làm như vậy. Có vị khỏa thân ăn. Phật dạy, không
được làm như vậy. Có vị khỏa thân đại tiểu tiện. Phật
dạy, không được làm như vậy. Có vị lộ hình kính lễ
người lộ hình. Phật dạy, không được làm như vậy. Có
vị khỏa thân kính lễ người không khỏa thân. Phật dạy,
không được làm như vậy. Có vị không khỏa thân kính lễ
người khỏa thân. Phật dạy, không được làm như vậy. Có
vị khỏa thân đi đường. Phật dạy, không được làm như
vậy. Có vị khỏa thân đi kinh hành. Phật dạy, không được
làm như vậy.
12.
Dùng nước
Bấy
giờ, nhà tắm nơi Kỳ-hoàn cách xa nước. Phật cho phép đào
mương hay đào giếng đem nước vào, như trên. Nếu nước
ít thì nên đào mương cho lớn. Có vị xách nước đau tay.
Phật cho phép làm con quay để quay. Không biết chứa nước
chỗ nào. Phật cho phép đựng trong cái ghè. Khi xách nước,
lúc trời mưa, có vị lo y bị ướt. Phật cho phép làm cái
nhà trên cái giếng. Tỳ-kheo khỏa thân xách nước, thấy phụ
nữ đến, hổ thẹn bèn ngồi xuống. Các tỳ-kheo bạch Phật.
Phật dạy, không được làm như vậy. Các tỳ-kheo tắm nơi
suối, nơi kênh, nơi ao, long nữ giận cơ hiềm. Các tỳ-kheo
bạch Phật. Phật dạy, không được tắm như vậy, cho phép
dùng bốn loại tắm được che kín: hoặc chỗ có vách che;
hoặc chỗ có lá cây, cỏ che; hoặc lấy nước che thân; hoặc
dùng y để che thân.[42] Nếu tắm tại ba chỗ trên, cần dùng
thứ gì cho phép được trao đổi lẫn nhau. Dùng y che thân,
tất cả đều như pháp.
Người
xây cất, được phép tắm. Nếu nước ít thì nên mở rộng
chỗ nước. Nếu sợ nước rò rỉ xuống nhiều, thì nên làm
chỗ rò nhỏ ở mé.
Các
tỳ-kheo tắm nơi đất trống, mắc bệnh. Đức Phật dạy
cho phép làm cái nhà tắm nhỏ để tắm. Nếu đất nơi nhà
tắm bị bùn, cho phép dùng gạch đá hay cây hoặc đá dăm,
cát để lót. Nước đọng lại, cho phép mở đường tháo
nước ra ngoài.
13.
Đất trống
1.
Các tỳ-kheo nấu nước nơi đất trống, trời mưa y bị ướt.
Đức Phật cho phép làm nhà để nấu nước. Các tỳ-kheo để
củi tươi nơi chỗ đất trống, trời mưa bị ướt. Đức
Phật cho phép làm nhà để củi. Có tỳ-kheo coi nấu thức
ăn nơi chỗ đất trống, trời mưa y bị ướt làm bẩn vật
đựng thức ăn của tịnh nhơn. Đức Phật dạy cho phép làm
tịnh trù để nấu thức ăn.
Bấy
giờ, các tỳ-kheo được nhà bạch y mời thọ thực, trên
đường đi bị mưa ướt y. Đức Phật dạy cho phép nơi khoảng
không gian xóm làng nên thiết lập Tăng-già-lam.
2.
Tỳ-kheo đại tiểu tiện nơi đất trống, người nữ thấy,
tỳ-kheo vội vàng đứng dậy. Đại tiện chưa xong nên sanh
bệnh. Đức Phật cho phép làm nhà vệ sinh. Kia chỉ làm một
chỗ đại tiện, gặp lúc nhiều người đi phải đứng chờ.
Phật cho phép làm nhiều chỗ, nên làm cửa, nên ngăn đừng
cho thấy nhau. Tỳ-kheo Thượng toạ già bệnh, đại tiểu tiện
xong bị té. Phật cho phép làm lan can hai bên. Có vị đại
tiện xong chùi lung tung, hoặc nơi góc tường hoặc nơi hòn
đá, hoặc trên cỏ. Phật dạy, không được chùi như vậy.
Nên làm chỗ rửa riêng biệt. Có vị tiểu tiện lung tung bẩn
đất. Phật dạy, không được tiểu như vậy. Nên tiểu tiện
một chỗ ở mé. Nếu vẫn lo ngại bị bẩn thì làm riêng
chỗ tiểu tiện. Các vị ấy không biết làm cách nào. Phật
dạy đào một cái hầm, bên dưới để hòn đá, đặt một
cái ghè lên. Chọc thủng đáy ghè để chỗ rút nước, hai
bên lót cây. Nếu sợ hôi thối thì nên đậy lại.
3.
Các tỳ-kheo kinh hành nơi đất trống, có rắn, bò cạp, rít.
Tỳ-kheo chưa ly dục, thấy sợ. Đức Phật cho phép làm chỗ
kinh hành treo. Các thầy không biết cách làm. Đức Phật bảo
đào đất trồng trụ rồi lót ván lên trên để đi. Sợ mưa
gió, thì làm nhà che bên trên.
14.
Lò sưởi
Phật
ở tại Câu-thiểm-di.
Nhóm
sáu tỳ-kheo dùng tơ lụa vẽ vời trang sức trong phòng, đốt
lửa hơ ấm, khói xông bẩn phòng, bẩn ngọa cụ. Phật dạy,
không được làm như vậy.
Các
tỳ-kheo mùa đông bị lạnh. Phật cho phép nhúm lửa nơi đất
trống để hơ cho ấm. Nhúm lửa nơi đất trống ngồi, bị
lạnh sau lưng. Đức Phật cho phép nhen lửa bên ngoài, để
cho hết khói rồi bưng vào trong phòng để hơ. Nếu có nhiều
người không chấp nhận thì làm riêng nhà sưởi ấm.[43] Các
thầy không biết làm sao. Đức Phật cho phép làm vuông, tròn
hoặc dài.
Có
vị nhúm bếp lung tung. Phật dạy, không được làm như vậy,
nên để chính giữa một cái hỏa lò. Các tỳ-kheo nhận được
cái lò hình bánh xe.[44] Đức Phật cho phép chứa dùng. Các
thầy không biết cho ai đẩy đi. Đức Phật dạy nên giao cho
sa-di hoặc tỳ-kheo hay người giữ Tăng-già-lam.
Tỳ-kheo
kia không quen thổi lửa, nên thổi lửa mà sinh bệnh. Đức
Phật cho phép làm cái ống để thổi. Có vị dùng vật báu
để làm ống thổi. Phật dạy, không được dùng vật báu
làm mà nên dùng xương, đồng, thiếc hay cỏ xá la, tre, trúc,
cây để làm. Nếu sợ miệng ống thổi bị cháy thì cho phép
dùng miếng sắt bao ngoài, đừng để củi lửa trong bếp rớt
lên trên. Nếu sợ nóng tay nên làm cái kẹp. Có vị dùng vật
báu làm cái kẹp. Phật dạy, không được dùng như vậy. Nên
dùng xương, răng, đồng, thiếc hay cây để làm. Nếu sợ
cái đầu ống bị cháy, cho dùng miếng sắt để bao lại.
Có vị muốn gom lửa lại, cho làm cái cào để cào. Muốn
giữ lửa lại, cho moi cái hầm cho lửa xuống. Nếu sợ lửa
tắt thì dùng tro phủ lên trên.
Các
tỳ-kheo dùng nước lạnh rửa mặt, rửa tay, rửa chân nên
bị lạnh. Đức Phật [943a1] cho phép nấu nước nóng để
rửa. Các thầy không biết cách nấu. Đức Phật bảo dùng
ghè tắm đựng đầy nước để bên lửa. Nếu ghè nhiều
để bên lửa không đủ chỗ, làm ba cái nạng chống. Đổ
nước đầy cái vò lớn rồi đặt lên đó mà hâm nóng. Nếu
cái vò đun lớn khiến cho lửa bị ngộp, thì nên dùng dây
treo lên. Nếu dây bị cháy thì dùng ống tre bao cái dây. Nếu
ống tre bị cháy thì dùng bùn trét bên ngoài. Khi rót nước,
ống bị gãy. Đức Phật bảo nên lấy vật khác kẹp lấy.
Khi rót nước sợ chảy ra ngoài nên dùng ống để rót. Nếu
cái dây treo bị đứt nên lấy sắt làm cái khâu để móc.
Mùa đông, các tỳ-kheo rửa chân bị lạnh. Đức Phật dạy
nên để thau rửa mặt, nước rửa chân trong nhà mà rửa.
Khi rửa, cần thứ gì nên cung cấp thứ ấy.
Buổi
sáng, tỳ-kheo thức dậy xoa dầu nơi chân, vào xóm khất thực,
người nữ kính lễ sát chân, dầu dấy nơi tay rồi cầm bình
bát tỳ-kheo. Các tỳ-kheo khác thấy gớm. Các tỳ-kheo bạch
Phật. Đức Phật dạy, sáng sớm thức dậy không nên thoa
dầu nơi chân rồi đi vào xóm khất thực. Các tỳ-kheo chân
bị nứt, cho phép thoa dầu từ gót chân cho đến ngón chân.
Bấy giờ, chúng Tăng nhận được phòng một tầng. Đức Phật
cho phép ở.
15.
Thọ nhận phi pháp
Thế
Tôn từ nước Ma-kiệt đến thành Khoáng dã. Bấy giờ, nhóm
sáu tỳ-kheo dùng các thứ có thêu vẽ hình tượng nam nữ
trang hoàng phòng ốc, nhà cửa cho đức Thế Tôn. Phật dạy,
không được làm như vậy. Cho phép dùng hình vằn vện của
cầm thú có nhiều màu để trang hoàng. Chúng Tăng nhận được
hai phòng một cửa. Đức Phật cho phép ở.
Thế
Tôn ở nước Xá-vệ. Bấy giờ tôn giả A-nan nhận được
phòng riêng. Đức Phật cho phép sử dụng.
Bấy
giờ La-hầu-la ở trong rừng Na-lê. Tại đây có cư sĩ không
quyên góp ai mà tự mình làm phòng xá cúng cho La-hầu-la. La-hầu-la
ở phòng này một thời gian, rồi du hành trong nhân gian. Cư
sĩ nghe La-hầu-la du hành nhơn gian lại đem phòng xá cúng cho
chúng Tăng.
Khi
đức Thế Tôn từ Ma-kiệt-đề du hành trong nhân gian, đến
trong rừng Na-lê trải chỗ ngồi an tọa, lúc này La-hầu-la
nghe cư sĩ đã đem phòng cúng cho chúng Tăng, liền đến chỗ
đức Thế Tôn, đầu diện kính lễ sát chân rồi ngồi qua
một bên, bạch Phật:
«Tại
Na-lê, có cư sĩ không quyên góp ai mà tự mình làm phòng cúng
cho con. Con ở nơi phòng đó một thời gian rồi du hành trong
nhân gian. Sau đó, cư sĩ kia lại đem phòng ấy cúng cho chúng
Tăng.»
Đức
Phật bảo La-hầu-la:
«Ngươi
đến chỗ cư sĩ hỏi thế này: Chẳng lẽ ông thấy tôi có
điều gì đáng trách, không thanh tịnh, chẳng phải pháp sa-môn,
hoặc do miệng nói ra, hay do thân làm tà vạy?»
La-hầu-la
vâng lời dạy của đức Thế Tôn, đến chỗ cư sĩ kia nói
như trên.
Cư
sĩ trả lời: «Con không thấy Tôn giả có điều chi đáng
trách, và chẳng phải pháp Sa-môn, hoặc do miệng nói, hay do
thân làm không thanh tịnh cả.»
Bấy
giờ, La-hầu-la đến chỗ đức Thế Tôn, đầu diện kính
lễ sát chân rồi ngồi qua một bên, bạch với đức Thế
Tôn:
«Vừa
rồi theo lời dạy của Như lai, con đến chỗ cư sĩ hỏi,
cư sĩ kia trả lời: con không thấy Tôn giả có điều chi đáng
trách đối với pháp Sa-môn, cũng không có việc chi là không
thanh tịnh, hoặc do miệng nói, hay do thân làm.»
Đức
Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp tỳ-kheo Tăng, bảo rằng: