CHƯƠNG
Iii.
Ngũ
BÁCH KẾT TẬP
[966a19]
Sau khi đức Thế Tôn bát-niết-bàn giữa rừng Sa-la,[1] trong
khu vườn của người Mạt-la,[2] thành Câu-thi,[3] những người
Mạt-la rửa xá-lợi[4] của Phật xong, dùng kiếp-bối sạch
gói lại, lấy năm trăm trương điệp theo thứ tự quấn lại,
để trong kim quan bằng sắt, rồi đổ đầy dầu thơm vào;
sau đó để xá lợi vào giữa và đậy nắp lại. Rồi lại
làm cái quách bằng gỗ, đặt kim quan vào giữa. Bên dưới
chất một đống củi bằng loại gỗ thơm. Khi ấy, thủ lĩnh
của người Mạt-la cầm lửa đốt. Bấy giờ, chư Thiên liền
làm cho lửa tắt. Các Đại Mạt-la Tử khác lần lượt cầm
cây đuốc lớn để đốt. Chư Thiên cũng đều dập tắt ngọn
lửa. A-na-luật nói với những người Mạt-la rằng:
«Không
cần phải khổ nhọc như vậy. Chư Thiên dập tắt lửa của
các ông.»
Họ
hỏi A-na-luật:
«Thưa
Đại đức, vì sao Chư Thiên lại dập tắt lửa?»
A-na-luật
trả lời:
«Vì
Trưởng lão Ma-ha Ca-diếp cùng đại tỳ-kheo gồm năm trăm
vị hiện trên lộ trình đến đây, còn đang ở giữa hai nước
Ba-bà và Câu-thi. Trưởng lão nghĩ rằng, ‘Ta có thể thấy
được xá-lợi Phật, khi chưa thiêu hay chăng?’ Chư Thiên
biết tâm niệm của Ca-diếp như vậy, cho nên đã dập tắt
lửa.»
Những
người Mạt-la nói:
«Đại
đức A-na-luật, nay tạm đình hoãn, chìu theo ý Chư Thiên vậy.»
Bấy
giờ, Ma-ha Ca-diếp cùng đại tỳ-kheo Tăng gồm năm trăm vị
đang trên đường đi giữa hai nước kia, gặp một người
Ni-kiền[5] cầm cành hoa mạn-đà-la[6] từ chỗ đức Thế Tôn
Niết-bàn ngược chiều đi đến. Ca-diếp thấy, bèn hỏi:
«Ông
từ đâu đến đây?»
Người
ấy trả lời:
«Tôi
từ thành Câu-thi đến.»
Ca-diếp
lại hỏi:
«Có
biết đức Thế Tôn của chúng tôi không?»
Trả
lời:
«Biết.»
Lại
hỏi:
«Nay
Ngài còn tại thế chăng?»
Trả
lời:
«Không
còn tại thế. Nhập Niết-bàn trước đây bảy ngày rồi.
Tôi từ đó cầm nhánh hoa này đến đây.»
Ca-diếp
nghe rồi, không vui. Trong số đó, có những tỳ-kheo chưa ly
dục, nghe đức Thế Tôn đã Niết-bàn, liền gieo mình xuống
đất. Cũng như cây bị chặt gốc ngã xuống; các vị chưa
ly dục này cũng lại như vậy. Khóc than rằng:
«Ôi!
Đức Thiện thệ Niết-bàn sao quá sớm vậy? Ôi! Con mắt sáng
của thế gian sao tắt nhanh vậy? Ôi! Chánh pháp mà chúng ta
tuân thừa sao có thể diệt tận?»
Có
vị lăn tròn dưới đất. Cũng như khúc cây, các tỳ-kheo chưa
ly dục này cũng lại như vậy. Than khóc sầu não rằng:
«Ôi!
Đức Thiện thệ sao Niết-bàn quá sớm vậy?»
Khi
ấy Bạt-nan-đà Thích tử[7] cũng ở trong chúng, nói với các
tỳ-kheo:
«Thôi
đủ rồi! Các Trưởng lão, đừng khóc nữa, đừng quá ưu
sầu. Chúng ta nay đã thoát khỏi vị Ma-ha-la[8] ấy rồi. Lão
ấy khi còn sống thường dạy chúng ta: ‘Cái này nên; cái
này không nên. Phải làm điều này, không được làm điều
này.’ Nay chúng ta được tự do làm theo ý muốn của mình.
Muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi.»
Đại
Ca-diếp nghe như vậy không vui, liền bảo các tỳ-kheo rằng:
«Hãy
đứng lên! Nhanh chóng cầm y bát để kịp thời thấy xá-lợi
của đức Thế Tôn trước khi chưa thiêu.»
Các
tỳ-kheo nghe Ca-diếp nói liền vội vã ôm cầm y bát để đi.
Đại Ca-diếp cùng năm trăm vị đến thành Câu-thi rồi, ra
khỏi thành, vượt qua sông Hê-lan-nhã,[9] đến chùa Thiên quan,[10]
chỗ tôn giả A-nan, nói:
«Này
A-nan, tôi muốn kịp thấy xá-lợi Thế Tôn khi chưa thiêu.»
Tôn
giả A-nan trả lời:
«Muốn
kịp thấy xá-lợi của đức Thế Tôn khi chưa thiêu, thật
là khó. Vì sao vậy? Xá-lợi đức Thế Tôn đã được tắm
rửa, được bọc bằng kiếp-bối mới, rồi dùng năm trăm
trương điệp tuần tự quấn lại, để trong kim quan bằng
sắt, đổ đầy bằng dầu thơm, rồi để vào trong một cái
quách bằng gỗ. Dưới cái quách chất một đống củi bằng
cây thơm. Nay sắp sửa đốt. Cho nên khó có thể thấy được.»
Bấy
giờ, Đại Ca-diếp từ từ bước đến chỗ kim quan đựng
xá-lơi của Phật. Khi ấy cái quan và cái quách liền tự mở
ra, chân đức Thế Tôn hiện ra. Đại Ca-diếp thấy dấu bánh
xe dưới bàn chân Thế Tôn có vết bẩn, liền hỏi tôn giả
A-nan:
«Nhan
dung của đức Thế Tôn đoan chánh, thân thể bằng sắc vàng,
ai làm bẩn dấu bánh xe dưới chân?»
Tôn
giả A-nan trả lời với Đại Ca-diếp:
«Bạch
Đại đức Ca-diếp, tâm người nữ[11] mềm yếu. Khi kính
lễ đức Thế Tôn, người ấy khóc. Nước mắt rớt xuống
đó, rồi lấy tay nắm nên làm bẩn chân đức Thế Tôn.»
Đại
Ca-diếp nghe nói, không vui, rồi kính lễ dưới chân đức
Thế Tôn. Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, chư Thiên,
đại chúng cũng đều kính lễ chân đức Thế Tôn. Bấy giờ,
chân đức Thế Tôn hoàn lại trong kim quan, không còn hiện
nữa. Đại Ca-diếp buồn than, nói kệ, nhiễu quanh kim quan
bảy vòng, rồi lửa không châm mà tự nhiên cháy.
Đại
Ca-diếp, sau khi lễ hỏa thiêu xá-lợi rồi, vì nhân duyên
này tập hợp tỳ-kheo Tăng, kể lại rằng:
«Trên
đường đi về đây, tôi nghe Bạt-nan-đà nói với các tỳ-kheo
như sau: ‘Thôi đủ rồi! Các Trưởng lão, đừng khóc nữa,
đừng quá ưu sầu. Chúng ta nay đã thoát khỏi vị Ma-ha-la
ấy rồi. Lão ấy khi còn sống thường dạy chúng ta: Cái này
nên, cái này không nên; phải làm điều này, không được
làm điều này. Nay chúng ta được tự do làm theo ý muốn của
mình. Muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi.’»
Đại
Ca-diếp nói:
«Nay,
chúng ta hãy cùng nhau luận Pháp, Tỳ ni. Chớ để cho ngoại
đạo nói thêm nhiều điều, biếm nhẽ rằng, ‘Pháp và Luật
của Sa-môn Cù-đàm như khói. Khi Thế Tôn ấy còn sống, mọi
người cùng học giới. Nay người ấy mất rồi, không còn
ai học giới nữa.’ Các Trưởng lão, nay hãy lựa chọn cá
tỳ-kheo đa văn, trí tuệ, là những vị A-la-hán.»
Bấy
giờ, chọn được bốn trăm chín mươi chín vị đều là A-la-hán,
đa văn trí tuệ. Các tỳ-kheo đề nghị:
«Nên
chọn tôn giả A-nan ở trong số này.»
Đại
Ca-diếp nói:
«Chớ
chọn A-nan vào trong số đó.»
Hỏi:
«Vì
sao vậy?»
Đáp:
«Vì
A-nan còn có ái, nhuế, bố, si. Người có ái nhuế bố si thì
không nên chọn vào trong số đó.»
Khi
ấy, các tỳ-kheo lại nói:
«Tôn
giả A-nan là người cúng dường[12] Phật, thường đi theo
Phật, đích thân thọ nhận giáo pháp từ đức Thế Tôn. Đây
đó, những chỗ nghi vấn, chắc chắn tôn giả đã thưa hỏi
đức Thế Tôn. Vậy nên cần được chọn vào trong số đó.»
Rồi
tôn giả được chọn vào trong số.
Các
tỳ-kheo đều nghĩ, «Chúng ta nên chọn chỗ nào mà tập hội
để luận [967a1]Pháp và Tỳ-ni, chỗ mà ẩm thực và ngọa
cụ được đầy đủ không thiếu?» Tất cả đều nói, «Chỉ
có thành Vương-xá là nơi mà phòng xá, ẩm thực và ngọa
cụ được đầy đủ dồi dào. Nay chúng ta nên đến đó tập
hợp để luận Pháp và Tỳ ni.»
Bấy
giờ, Đại Ca-diếp liền tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Các tỳ-kheo này được Tăng sai.
Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận,
nay Tăng đến thành Vương-xá tập hội để luận Pháp và
Tỳ ni. Đây là lời tác bạch.»
Tác
bạch rồi, tất cả đều đến Tỳ-xá-ly.
Khi
ấy, A-nan đang trên đường đi, nơi chỗ thanh vắng, tâm tự
suy nghĩ rằng, «Ví như con trâu nghé mới sanh còn bú sữa,
cùng năm trăm con trâu lớn đồng đi. Nay ta cũng như vậy.
Là hàng hữu học, còn có việc phải làm,[13] mà cùng đi với
năm trăm vị A-la-hán!»
Bấy
giờ, các Trưởng lão đều đến Tỳ-xá-ly. A-nan cũng đang
trụ tại Tỳ-xá-ly. Các tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di,
quốc vương, đại thần, các bà-la-môn, ngoại đạo đều
đến thăm hỏi. Mọi người tụ hội đông đảo.
Bấy
giờ, có tỳ-kheo Bạt-xà Tử[14] có đại thần lực, đã đặng
thiên nhãn, biết được tâm trí của người khác, suy nghĩ:
«Hiện nay, A-nan cũng đang ở tại Tỳ-xá-ly. Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,
ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, quốc vương đại thần, các bà-la-môn
ngoại đạo đều đến thăm hỏi. Mọi người tụ hội đông
đảo. Nay ta nên quán sát xem A-nan là người hữu dục hay vô
dục?» Sau khi quán sát biết A-nan là người hữu dục chứ
chẳng phải vô dục. Tỳ-kheo lại nghĩ, «Nay ta nên khiến
cho A nan sanh tâm yểm ly.» Vì muốn khiến tôn giả A-nan sanh
tâm yểm ly, nên Bạt-xà Tử liền nói bài kệ:
Dưới
gốc cây chỗ khuất,
Tâm
tư hướng Niết-bàn.
Tọa
thiền đừng buông lung.
Nói
nhiều để làm gì?
Tôn
giả A-nan nghe tỳ-kheo Bạt-xà Tử nói pháp yểm ly rồi, liền
ở riêng một mình, tinh tấn không buông lung, tịch nhiên, không
loạn động. Đây là pháp vị tằng hữu[15] của A-nan. Bấy
giờ, tôn giả A-nan ở chỗ đất trống, trải giường giây,
hầu hết suốt đêm đi kinh hành, đến lúc gần sáng, khi tướng
bình minh sắp xuất hiện, thân mỏi mệt, nghĩ rằng, «Nay
ta quá mỏi mệt, cần ngồi một chút.» Nghĩ xong, liền ngồi;
rồi nghiêng mình muốn nằm. Trong khoảnh khắc, khi đầu chưa
đến gối, bỗng nhiên tâm đắc vô lậu giải thoát. Đây
là pháp vị tằng hữu của tôn giả A-nan.
A-nan
đắc A-la-hán rồi, liền nói kệ:
Đa
văn, nói rất nhiều.
Thường
hầu hạ Thế Tôn.
Đã
đoạn sanh tử xong
Nay
Cù-đàm[16] muốn nằm.
Các
tỳ-kheo từ Tỳ-xá-ly đến thành Vương xá, nói:
«Trước
khi luận Pháp và Tỳ-ni, chúng ta cần làm việc gì? Sửa soạn
phòng xá, ngọa cụ trước, hay luận Pháp, Tỳ-ni trước?»
Tất
cả đều nói, tu bổ phòng xá, ngọa cụ trước.
Bấy
giờ, Đại Ca-diếp vì nhân duyên này tập hợp tỳ-kheo Tăng.
Trong số này, Đà-hê-la Ca-diếp làm Thượng tọa. Trưởng
lão Ba-bà-na là Thượng tọa thứ hai.[17] Đại Ca-diếp là
Thượng tọa thứ ba. Trưởng lão Đại Châu-na là Thượng
tọa thứ tư.
Bấy
giờ, Đại Ca-diếp biết Tăng sự liền tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng tập hợp để luận Pháp Tỳ
ni. Đây là lời tác bạch.»
Khi
ấy, tôn giả A-nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, để trống
vai bên hữu, đầu gối bên hữu chấm đất, chắp tay, bạch
Đại Ca-diếp:
«Tôi
trực tiếp nghe từ đức Phật, ghi nhớ lời Phật có dạy
rằng, ‘Từ nay về sau, vì các tỳ-kheo bỏ các giới nhỏ
tiểu tiết.’»[18]
Ca-diếp
hỏi A-nan:
«Ông
có hỏi đức Thế Tôn, giới nào là giới nhỏ tiểu tiết
hay không?»
Tôn
giả A-nan trả lời:
«Lúc
ấy tôi sầu ưu nên quên, không hỏi điều đó.»
Các
tỳ-kheo đều nói:
«Đến
đây. Tôi sẽ nói với ông, trong giới nhỏ tiểu tiết.»
Hoặc
có vị nói, trừ bốn ba-la-di, ngoài ra là giới nhỏ tiểu
tiết. Hoặc nói, trừ bốn ba-la-di và mười ba sự, ngoài ra
là giới nhỏ tiểu tiết. Hoặc nói, trừ bốn ba-la-di, mười
ba việc, và hai bất định, ngoài ra là giới nhỏ tiểu tiết.
Hoặc nói, trừ bốn ba-la-di, mười ba việc, hai bất định,
và ba mươi việc, ngoài ra là giới nhỏ tiểu tiết. Hoặc
nói, trừ bốn ba-la-di, cho đến chín mươi việc, ngoài ra là
giới nhỏ tiểu tiết. Đại Ca-diếp bảo các tỳ-kheo:
«Các
Trưởng lão! Nay, trong chúng mỗi vị nói một cách, không biết
giới nào là giới nhỏ tiểu tiết. Từ nay về sau, nên cùng
nhau lập ước chế: ‘Nếu trước đây, những gì đức Phật
không chế cấm thì nay không nên chế cấm. Trước đây những
gì đức Phật chế cấm thì nay không nên hủy bỏ. Nên tùy
thuận học tập những gì mà đức Phật đã quy định.»
Đại
chúng đều lập chế hạn như vậy.
Đại
Ca-diếp[19] nói với A-nan:
«Ông
là người đầu tiên thỉnh cầu Phật độ người nữ xuất
gia ở trong Phật Pháp, mắc tội đột-kiết-la. Nay nên sám
hối.»
Tôn
giả A-nan trả lời:
«Bạch
Đại đức, điều này tôi không cố ý làm. Ma-ha Ba-xà-ba-đề
có đại ân đối với đức Phật. Phật mẫu qua đời, nuôi
nấng Thế Tôn. Bạch Đại đức, nay tôi đối với việc này,
không tự thấy có tội. Nhưng vì kính tín Đại đức nên
xin sám hối.»
Đại
đức Ca-diếp lại nói:
«Ông
khiến Thế Tôn phải ba lần yêu cầu ông làm thị giả, mà
ông nói không làm, phạm đột-kiết-la tội. Nay ông nên sám
hối.»
Tôn
giả A-nan trả lời với Đại Ca-diếp:
«Điều
này, tôi không cố ý làm. Bởi vì làm thị giả Phật là việc
rất khó, nên tôi nói là tôi không thể. Nay, tôi đối với
việc này, không tự thấy có tội. Nhưng vì kính tín Đại
đức nên xin sám hối.»
Đại
đức Ca-diếp lại nói:
«Ông
vá y Tăng-già-lê cho đức Phật, dùng chân đạp để vá, mắc
tội đột-kiết-la. Nay phải sám hối.»
A-nan
trả lời Đại đức Ca-diếp:
«Điều
này, tôi không cố ý làm. Chẳng phải tôi có tâm khinh mạn
mà làm như vậy. Vì không có ai cầm nên tôi phải làm như
vậy. Nay, tôi đối với việc này, không tự thấy có tội.
Nhưng vì kính tín Đại đức nên xin sám hối.»
Ca-diếp
nói:
«Đức
Thế Tôn muốn Niết-bàn, ba phen nói với ông. Ông không thỉnh
đức Thế Tôn ở lại thế gian một kiếp hay hơn một kiếp,
để cho vô số người được lợi ích, vì thương tưởng
thế gian, vì sự an lạc cho chư thiên, nhân loại. Ông mắc
tội đột-kiết-la. Nay phải sám hối.»
Tôn
giả A-nan thưa:
«Bạch
Đại đức Ca-diếp, điều này không phải tôi cố làm, mà
do ma ám tâm tôi, khiến tôi không thỉnh Phật ở đời thêm
nữa. Trong đây, tôi không tự thấy có tội, nhưng vì kính
tín Đại đức, nên xin sám hối.»
Ca-diếp
lại nói:
«Đức
Thế Tôn bảo ông lấy nước, ông không lấy, mắc tội đột-kiết-la.
Nay phải sám hối.»
A-nan
thưa:
«Điều
nầy không phải tôi cố ý làm. Nhưng vì lúc ấy có năm trăm
chiếc xe đi ngang qua phía trên dòng nước, nên nước bị đục.
Sợ đức Thế Tôn uống bị bệnh, nên tôi không lấy.»
Ca-diếp
nói:
«Khi
ấy ông lấy thì hoặc do oai thần của Phật, hoặc chư Thiên
khiến cho nước được trong.»
A-nan
nói:
«Trong
đây, tôi không tự thấy có tội. Nhưng vì kính tín Đại
đức nên xin sám hối.»
Ca-diếp
lại nói:
«Ông
không thưa hỏi đức Thế Tôn, giới nhỏ tiểu tiết, là những
giới nào, mắc tội đột-kiết-la. Nay nên sám hối.»
Ông
A-nan thưa:
«Điều
này, chẳng phải tôi cố ý làm, mà vì lúc ấy tôi sầu ưu,
không nhớ để thưa hỏi đức Thế Tôn giới nào là giới
nhỏ, tiểu tiết. Trong đây, tôi không tự thấy có tội. Nhưng
vì kính tín Đại đức nên xin sám hối.»
Ca-diếp
lại nói:
«Ông
không ngăn người nữ, để cho họ làm bẩn chân đức Phật.
Mắc tội đột-kiết-la. Nay phải sám hối.»
Tôn
giả A-nan thưa:
«Điều
này chẳng phải tôi cố làm, mà là do người nữ tâm mềm
yếu nên khi kính lễ chân Phật, [968a1] khóc chảy nước mắt,
lấy tay lau, làm bẩn chân đức Phật. Trong đây tôi không
tự thấy có tội. Nhưng vì kính tín Đại đức nên nay xin
sám hối.»
Khi
ấy, Đại Ca-diếp liền tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng hỏi Ưu-ba-ly Pháp Tỳ-ni. Đây
là lời tác bạch.»
Khi
ấy Ưu-ba-ly liền tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng khiến Thượng tọa Ca-diếp
hỏi, tôi đáp. Đây là lời tác bạch.»
Đại
Ca-diếp liền đặt câu hỏi:
«Giới
ba-la-di thứ nhất, duyên khởi tại chỗ nào? Ai là người
phạm đầu tiên?»
Ưu-ba-ly
trả lời:
«Duyên
khởi, đầu tiên tại Tỳ-xá-ly. Tu-đề-na Ca-lan-đà Tử là
người phạm đầu tiên.»
«Giới
thứ hai, duyên khởi đầu tiên ở đâu?»
«Tại
thành Vương-xá. Tỳ-kheo Đà-ni-già,[20] con ông thợ đồ gốm,
phạm đầu tiên.»
Lại
hỏi:
«Giới
thứ ba, duyên khởi đầu tiên ở đâu?»
«Tai
Tỳ-xá-ly. Tỳ-kheo bên sông Bà-cầu phạm đầu tiên.»
Lại
hỏi:
«Giới
thứ tư, duyên khởi đầu tiên ở đâu?»
«Tại
Tỳ-xá-ly. Tỳ-kheo bên sông Bà-cầu phạm đầu tiên.»
Lại
hỏi:
«Giới
thứ nhất của Tăng tàn, duyên khởi đầu tiên ở đâu?»
«Tại
nước Xá-vệ. Ca-lưu-đà-di là người phạm đầu tiên.»
Như
vậy, lần lượt tùy theo chỗ phát khởi đầu tiên như phần
đầu đã nói.
Lại
hỏi:
«Giới
thứ nhất, bất định pháp, duyên khởi đầu tiên ở đâu?»
«Tại
nước Xá-vệ. Người phạm đầu tiên là Ca-lưu-đà-di.»
Giới
thứ hai cũng vậy.
Lại
hỏi:
«Ni-tát-kỳ
ba-dật-đề, duyên khởi đầu tiên ở đâu?»
«Tại
nước Xá-vệ. Nhóm sáu tỳ-kheo phạm đầu tiên.»
Như
vậy, lần lượt, như phần đầu đã nói.
Lại
hỏi:
«Ba-dật-đề,
duyên khởi đầu tiên ở đâu?»
«Tại
Thích-sí-sấu. Tỳ-kheo Tượng Lực Thích tử là người phạm
đầu tiên.»
Như
vậy, lần lượt, như phần đầu đã nói.
Lại
hỏi:
«Ba-la-đề-đề-xá-ni
duyên khởi đầu tiên ở đâu?»
«Tại
nước Xá-vệ. Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc là duyên khởi.»
Thứ
hai, thứ ba, thứ tư, như phần đầu đã nói.
Lại
hỏi:
«Thứ
nhất, chúng học pháp, duyên khởi đầu tiên ở đâu?»
«Tại
nước Xá-vệ. Nhóm sáu tỳ-kheo phạm đầu tiên.»
Như
vậy, lần lượt, như phần đầu đã nói.
Giới
riêng của tỳ-kheo-ni, như luật đã nói.
Lại
hỏi:
«Đầu
tiên cho phép thọ đại giới, duyên khởi ở chỗ nào?»
«Tại
Ba-la-nại, năm tỳ-kheo.»
Lại
hỏi:
«Đầu
tiên cho phép thuyết giới ở đâu?»
«Tại
thành Vương xá, vì các niên thiếu tỳ-kheo.»
Lại
hỏi:
«Đầu
tiên cho phép an cư ở đâu?»
«Tại
nước Xá-vệ. Nhóm sáu tỳ-kheo là duyên khởi.»
Lại
hỏi:
«Ban
đầu duyên khởi tự tứ ở đâu?»
«Tại
nước Xá-vệ. Nhóm sáu tỳ-kheo là duyên khởi.»
Như
vậy, lần lượt hỏi cho đến Tỳ-ni Tăng nhất.
Bấy
giờ, các vị tập hợp tất cả phần việc của tỳ-kheo thành
một nhóm gọi là «Luật tỳ-kheo.» Phần việc của tỳ-kheo-ni
thành một nhóm gọi là «Luật tỳ-kheo-ni.» Tất cả các pháp
liên hệ thọ giới thành một nhóm gọi là «Kiền độ Thọ
giới.» Tất cả các pháp bố-tát thành một nhóm gọi là
«Kiền độ Bố-tát.» Tất cả các pháp an cư thành một nhóm
gọi là «Kiền độ An cư.» Tất cả các pháp tự tứ thành
một nhóm gọi là «Kiền độ Tự tứ.» Tất cả các pháp
liên hệ sử dụng da thuộc thành một nhóm gọi là «Kiền
độ Da thuộc.» Tất cả các pháp liên hệ y phục thành một
nhóm gọi là «Kiền độ Y.» Tất cả các pháp liên hệ sự
dùng thuốc thành một nhóm gọi là «Kiền độ Dược.» Tất
cả các pháp liên hệ Ca-thi-na y thành một nhóm gọi là «Kiền
độ Ca-thi-na y.» Hai bộ luật, tất cả những Kiền độ,
Điều bộ, Tỳ-ni Tăng nhất, tập hợp lại gọi là «Tỳ-ni
tạng.»
Bấy
giờ, Đại Ca-diếp liền tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng hỏi A-nan Pháp Tỳ ni. Đây
là lời tác bạch.»
Khi
ấy, tôn giả A-nan liền tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng khiến Đại Ca-diếp hỏi,
tôi trả lời. Đây là lời tác bạch.»
Đại
đức Ca-diếp liền hỏi A-nan:
«Kinh
Phạm động[21] được nói ở chỗ nào? Tăng nhất,[22] nói
ở đâu? Tăng thập,[23] nói tại chỗ nào? Kinh nói về việc
thế giới thành bại,[24] nói ở đâu? Kinh Tăng-kỳ-đà,[25]
nói ở chỗ nào? Kinh Đại nhơn duyên,[26] nói ở đâu? Kinh
Thiên đế Thích hỏi,[27] nói ở đâu?»
Tôn
giả A-nan đều trả lời như được nói trong Kinh Trường
A-hàm.
Các
vị liền tập hợp tất cả các kinh dài lại gọi là «Trường
A-hàm», tất cả kinh trung gọi là «Trung A-hàm.» Từ một
việc, cho đến mười việc; từ mười việc cho đến mười
một việc gọi là «Tăng nhất.» Nhặt lượm[28] những điều
liên quan đến tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, chư
Thiên, Đế Thích, Ma, Phạm vương, tập lại gọi là «Tạp
A-hàm.»
Như
thị sanh kinh,[29] Bổn kinh,[30] Thiện nhơn duyên kinh,[31] Phương
đẳng kinh,[32] Vị tằng hữu kinh,[33] Thí dụ kinh,[34] Ưu-bà-đề-xá
kinh,[35] Cú nghĩa kinh,[36] Pháp cú kinh,[37] Ba-la-diên kinh,[38]
Tạp nan kinh,[39] Thánh kệ kinh[40]: các kinh như vậy tập hợp
lại thành Tạp tạng. Có nạn không nạn ràng buộc tương
ưng với nhau, tập hợp lại thành A-tỳ-đàm tạng. Bấy giờ,
những lời dạy của đức Phật được tập hợp lại thành
Ba tạng.
Bấy
giờ, Trưởng lão Phú-la-na[41] nghe tại thành Vương-xá, có
năm trăm vị A-la-hán cùng nhau tập hợp Pháp Tỳ-ni, liền
cùng năm trăm vị tỳ-kheo, đến thành Vương-xá, chỗ Đại
Ca-diếp nói:
«Tôi
nghe Đại đức cùng năm trăm vị A-la-hán cùng nhau tập hợp
Pháp Tỳ-ni, tôi cũng muốn dự nghe pháp.»
Đại
Ca-diếp, vì nhân duyên này tập hợp tỳ-kheo Tăng vì số tỳ-kheo
này hỏi lại Ưu-ba-ly, cho đến tập hợp thành Ba Tạng như
trên đã nói.
Phú-la-na
thưa Đại đức Ca-diếp rằng:
«Tôi
nhất trí tất cả, chỉ trừ tám việc.[42] Thưa Đại đức,
chính tôi nghe từ đức Phật và nhớ kỹ không quên, đức
Phật cho phép: ngủ với thức ăn, nấu thức ăn trong giới,
tự mình nấu thức ăn, tự mình lấy thức ăn, thọ thực
lúc sáng sớm, từ người kia mang thức ăn đến, nếu có tạp
quả, hoặc nước trong ao chảy ra mà có vật có thể ăn được
thì được ăn. Tám trường hợp trên Phật đều cho phép không
làm pháp dư thực mà được ăn.»
Đại
Ca-diếp trả lời:
«Thật
đúng như lời Thầy nói. Đức Thế Tôn vì lúc mất mùa, lúc
gạo khan hiếm, nhơn dân đói khổ, khất thực khó, đã từ
mẫn đối với tỳ-kheo nên cho phép tám việc như vậy. Khi
nào được mùa lúa gạo đầy đủ thức ăn nhiều thì Phật
liền chế cấm, không cho phép làm như vậy.»
Phú-la-na
lại nói:
«Thưa
Đại đức Ca-diếp, đức Thế Tôn là bậc Nhất thiết tri
kiến, không bao giờ cấm rồi lại mở; mở rồi lại cấm.»
Đại
Ca-diếp trả lời:
«Vì
đức Thế Tôn là bậc nhất thiết trí kiến nên mới cấm
rồi lại mở, mở rồi lại cấm. Này Phú-la-na, chúng ta nên
lập chế ước như vầy: Những gì đức Phật không cấm thì
không nên cấm. Những gì đức Phật chế cấm thì không nên
hủy bỏ. Nên tùy thuận học tập những chế giới của đức
Phật.»[43]
Tại
thành Vương xá, năm trăm vị A-la-hán, cùng nhau kiết tập
Pháp Tỳ-ni, cho nên gọi là: «Tập Pháp Tỳ ni ngũ bách nhơn.»
[1]
Sa-la lâm 娑羅林. Pali: sālavana. Khu rừng của những cây sa-la,
chỗ Phật nhập niết-bàn. Trương A-hàm 4 (T01n1 tr.24b26): «Bấy
giờ Thế tôn ở tại Câu-thi-na-kiệt, rừng Sa-la, giữa cặp
cây sa-la» Cf. D. ii. 137: iṅgha me tvaṃ antarena yamaka-sālānaṃ
uttara-sīsakaṃ mañcakaṃ paññāpehi, «A-nan, hãy dọn gường
nằm cho Ta giữa cặp cây sa-la, đầu hướng về phía bắc.»
Phiên dịch danh nghĩa 3 (T54n2131, tr.1100b18): Sa-la, đây gọi
là kiên cố 堅固... vì đông cho đến hạ không thay đổi…Hoa
nghiêm âm nghĩa dịch là cao viễn 高遠…» Cây mọc từng
cặp, nên gọi là sa-la song thọ 娑羅雙樹; Pali: yamaka-sālā.
[2]
Mạt-la 末羅. Tên của một bộ tộc lớn thời Phật. Hán
dịch là «lực sĩ.» Bộ tộc này chia làm hai nhánh. Một đóng
thủ phủ ở Pāvā (Ba-hoà hay Ba-bà) và một ở Kusināra (Câu-thi-na).
Trường A-hàm 4, đã dẫn: «Phật bảo A-nan, ngươi hãy vào
Câu-thi-na-kiệt báo cho những người Mạt-la biết, nửa đêm
hôm nay Như lai sẽ nhập niết-bàn giữa cặp cây sa-la trong
vườn Sa-la.»
[3]
Câu-thi thành 拘尸城. Pali: Kusinārā (Skt. Kuśinagara/ Kuśinagarī/Kuśigrāmaka,
拘尸那竭: Câu-thi-na-kiệt). Thủ phủ của người Mạt-la.
[4]
Xá-lợi 舍利; Pali: sarīra, thân thể, nhục thể. Đây nói
nhục thân của Phật trước khi hỏa thiêu; không phải xá-lợi
sau khi hỏa thiêu.
[5]
Cf. Vin. ii (Pañcasatikakkhandaṃ) 184: một người ājīvaka, tà
mạng ngoại đạo.
[6]
Mạn-đà-la hoa 曼陀羅華; Pali: mandārava, loại hoa được coi
là chỉ có ở trên Trời, không có trong thế gian này.
[7]
Bạt-nan-đà Thích tử, người được đề cập rất nhiều
trong các nhân duyên Phật chế giới. Nhưng, Vin.ii. 184 nói:
Subhadda, một tỳ-kheo xuất gia khi tuổi đã già, nói lên điều
này. Đây không phải là Subhadda (Tu-bạt), người Bà-la-môn
được Phật độ cuối cùng, mà nguyên là một người thợ
hớt tóc. Một số điều luật Phật chế do việc làm sai trái
của ông này.
[8]
Ma-ha-la 摩訶羅; Phiên dịch danh nghĩa 5 (T54n2131 tr.1137c16):
«Đây gọi là vô tri 無知.» Phiên âm từ Skt. mahālla: người
già yếu, già lão, vô tri.
[9]
Hê-lan-nhã 醯蘭若. Pali: Hiraññavatī (Skt. Hiraṇyavatī), cũng
nói là Hi-liên-thiền, hay Kim hà. Con sông ở bìa rừng Sa-la,
chỗ Phật nhập niết-bàn.
[10]
Thiên quan tự 天觀寺. Trương A-hàm, đã dẫn: 天冠寺. «Sau
khi qua sông Hi-liên-thiền, đến chùa Thiên quan thì hoả thiêu.»
[11]
Trường A-hàm, dd., «có một lão mẫu.»
[12]
Cúng dường 供養; chỉ (người) phục vụ, hay thị giả. Pali:
upaṭṭhāka; xem Phần iii, Ch.iii, An cư Cht. 3.
[13]
Hữu tác 有作. Vì còn phải tu tập. Khi một vị chứng quả
A-la-hán, vị ấy được nói là «Đã làm những điều cần
làm» (Pali: kataṃ karanīyaṃ: sở tác dĩ biện).
[14]
Bạt-xà Tử 跋闍子; Pali: Vajjiputta. Vị tỳ-kheo này thuộc
Vương tộc Licchavī, dòng họ Vajjī.
[15]
Pháp đặc biệt duy chỉ A-nan có. Xem Trung A-hàm 8, kinh 33 «Thị
giả». Trường A-hàm 4, (T01n1 tr.25c21): Phật nói 4 pháp kỳ
đặc của A-nan. Cf. D.ii. 145: cattārome bhikkhave acchariyā abbhutā
dhammā ānande.
[16]
A-nan thuộc Vương tộc họ Thích, nên tự gọi mình là Cù-đàm.
[17]
Đà-hê-la Ca-diếp 陀醯羅迦葉 , Ba-bà-na 婆婆那, và Đại
Châu-na 大周那. Tăng kỳ 32 (T22n1425, tr.490c21): ba vị Thượng
thủ, thứ tự: Đại Ca-diệp 大迦葉, Na-đầu-lô 那頭盧,
Ưu-ba-na-đầu-lô 優波那頭盧. Thập tụng 60 (tr. 446a4), bốn
vị Thượng thủ của Diêm-phù-đề: đệ nhất Thượng tọa,
trưởng lão A-nhã Kiều-trần-như; đệ nhị Thượng tọa,
trưởng lão Quân-đà; đệ tam Thượng tọa, trưởng lão Thập
Lực Ca-diếp; đệ tứ Thượng tọa, trưởnglão Ma-ha Ca-diếp.
[18]
Tạp toái giới 雜碎戒. Trường A-hàm 4 (tr.26a 29): tiểu tiểu
giới. Pali: khudā-nukhudakāni sikhāpadāni, các học xứ nhỏ,
và không quan trọng.
[19]
Luật Pali, Vin. ii. 189, các tỳ-kheo trưởng lão nêu tội, không
phải chỉ một mình Đại Ca-diếp. Trong đây, chỉ luận 5
tội đột-kiết-la của A-nan. Thập tụng 60, đã dẫn, 6 đột-kiết-la.
[20]
Đà-ni-già 陀尼伽. Trên kia, phiên âm là Đàn-nị-ca.
[21]
Kinh Phạm động 梵動經. Trường A-hàm 14, kinh số 21, Phạm
động, No 1(21). Tương đương Pali, D.1. Brahmajāla-suttanta.
[22]
Kinh Tăng nhất 增一經. Trường A-hàm 9, kinh số 11, Tăng nhất,
No (11). Tương đương Pali, không có. Như kinh Thập thượng,
No 1(10)
[23]
Kinh Tăng thập 增十經. Trường A-hàm 9, kinh số 10, Thập thượng,
No 1(10). Tương đương Pali, D. 34. Dasuttara-suttanta.
[24]
Kinh Thế giới thành bại 世界成敗經. Trường A-hàm 18-22,
kinh số 30, Thế ký, No 1(30). Không có Pali tương đương.
[25]
Kinh Tăng-kỳ-đà 僧祇陀經. Trường A-hàm 8, kinh số 9, Chúng
tập, No 1(9). Tương đương Pali, D. 33. Saṅgīti-suttanta.
[26]
Kinh Đại nhân duyên 大因緣經. Trường A-hàm 10, kinh số 13,
Đại duyên phương tiện, No 1(13). Tương đương Pali, D. 15.
MahāNidāna-suttanta.
[27]
Kinh Thiên đế Thích vấn 天帝釋問經. Trường A-hàm 10, kinh
số 14, Thích Đề-hoàn Nhân vấn, No (14). Tương đương Pali,
D. 21. Sakkapañha-suttanta.
[28]
Tạp 雜; được hiểu là «nhặt lượm những điều tạp toái,
linh tinh», sát nghĩa Skt. saṃykta (Pali: saṃyutta): liên kết
những sự kiện có liên hệ nhau.
[29]
Như thị sanh kinh 如是生經. Skt. itivṛttaka/ ityukta, Pali: itivuttka,
1 trong 9 hay 12 phần giáo; phiên âm là y-đế-mục-đa-già, cũng
dịch là bản sự, gồm những chuyện cổ không thuộc bản
sanh.
[30]
Bổn kinh 本經. Skt. Pali: jātaka, chỉ bản sanh truyện, những
chuyện về tiền thân của Phật.
[31]
Thiện nhơn duyên kinh 善因緣經. Skt. nidāna, tập họp những
giải đáp của Phật do các đệ tử hỏi trong nhiều nhân
duyên khác nhau.
[32]
Phương đẳng kinh 方等經. Skt. vaipulya, âm là tỳ-phật-lược,
dịch là phương đẳng hay phương quảng, xiển dương nghĩa
lý quảng đại bình đẳng, tức diễn rộng nhưng ẩn ý vi
mật trong các lời dạy của Phật.
[33]
Vị tằng hữu kinh 未曾有經. Skt. adbhuta-dharma, âm a-phù-đa-đạt-ma,
tập họp nhưng điều ly kỳ, hiếm có trên đời.
[34]
Thí dụ kinh 譬喻經. Skt. avadāna, âm a-ba-đà-na, gồm những
chuyện ngụ ngôn để răn dạy đạo đức.
[35]
Ưu-bà-đề-xá kinh 優婆提舍經. Skt. upadeśa, dịch là luận
nghị, giải thích và biện luận ý nghĩa lời Phật.
[36]
Cú nghĩa kinh 句義經. Skt. padārtha, không có Hán.
[37]
Pháp cú kinh 法句經. Skt. dharmapada, tuyển tập những bài kệ
của Phật.
[38]
Ba-la-diên kinh 波羅延經. Tương đương Pali: Pārāyana-vagga
(phẩm đáo bỉ ngạn), phẩm thứ năm của Suttanipāta, Tiểu
bộ Pali (Khuddaka-Nikāya).
[39]
Tạp nan kinh 雜難經. Không có Hán.
[40]
Thánh kệ kinh 聖偈經. Tương đương Pali: Theragathā (Trưởng
lão kệ) và Therīgathā (Trưởng lão ni kệ), tuyển tập những
bài kệ của các Thánh đệ tử, thuộc Tiểu bộ Pali (Khuddaka-Nikāya).
[41]
Phú-la-na 富羅那. Vin. ii. 289: bấy giờ, Trưởng lão Purāṇa
cùng với 500 tỳ-kheo từ Nam sơn (Dakkhiṇāgiri) về Vương-xá
để tham dự kết tập. Vị Trưởng lão này không được đồng
nhất với Tôn giả Phú-lâu-na Di-đa-la-ni Tử, cũng gọi là
Mãn Từ Tử (Skt. Pūrṇa-maitrāyani-putra, Pali: Puṇṇa-Mantāni-putta),
1 trong 10 Đại đệ tử.
[42]
Ngũ phần 30 (T22n1421 tr.191c27): bảy điều.
[43]
Ngũ phần, và Cūḷavagga còn kết thêm pháp phạm-đàn (brahmadaṇḍa).