CHƯƠNG
IV.
THẤT
BÁCH KẾT TẬP
[968c19]
Sau khi đức Thế Tôn Bát-niết bàn một trăm năm, tại Tỳ-xá-ly,
các tỳ-kheo người Bạt-xà[1] thi hành mười việc, nói là
pháp thanh tịnh, được đức Phật cho phép: được phép hai
ngón tay lấy thức ăn, được phép giữa xóm làng, được
phép trong chùa, được phép về sau hứa khả, được phép
thường pháp, được hòa, được phép muối ngủ chung, được
phép uống rượu xà-lâu-la, được phép chứa ngọa cụ không
cắt rọc, được nhận vàng bạc.[2] Ngày bố-tát, đàn-việt
cúng vàng bạc, họ chia cho nhau.
Bấy
giờ, có Da-xá Già-na Tử[3] nghe tỳ-kheo Tỳ-xá-ly làm việc
như vậy, liền đến chỗ tỳ-kheo người Bạt-xà, thì thấy
họ khuyên đàn-việt khi bố-tát cúng dường vàng bạc cho
chúng Tăng. Giữa Tăng, họ xướng, chia phần cho tỳ-kheo Già-na
Tử. Tỳ-kheo liền nói:
«Tôi
không nhận.»
«Tai
sao vậy?»
«Sa-môn
Thích tử không được thọ nhận và cất giữ vàng bạc. Sa-môn
Thích tử xả bỏ châu báu, không đắm nơi sự trang sức đẹp.»
Vào
một ngày khác, họ phân chia xong, mang đến cho tỳ-kheo [969a1]
Già-na Tử. Già-na Tử nói:
«Tôi
không cần. Trước đây tôi đã nói Sa-môn Thích tử xả bỏ
châu báu, không đắm vào sự trang sức đẹp đẽ.»
Họ
liền nói:
«Ưu-bà-tắc
nơi Tỳ-xá-ly giận. Thầy đến giáo hóa khiến cho họ hoan
hỷ.»
Rồi
sai người cùng đi. Tỳ-kheo Da-xá Già-na Tử đến Tỳ-xá-ly,
chỗ ưu-bà-tắc, nói:
«Thật
sự các người giận lời nói của tôi phải không? Tôi nói:
Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc, xả bỏ
trân bảo, không đắm vào việc trang sức đẹp đẽ. Này,
ưu-bà-tắc, khi đức Thế Tôn ở tại thành Vương-xá, bấy
giờ trong cung, quần thần của Vua, tập họp nói Sa-môn Thích
tử được nhận vàng bạc, không xả bỏ châu báu, say đắm
vào việc trang sức cho đẹp. Bấy giờ, trong nhóm quần thần
kia có đại trưởng giả Châu Kế[4] nói với các đại thần
rằng: ‘Không được nói Sa-môn Thích tử được nhận lấy
vàng bạc, không xả bỏ châu báu, đắm say vào việc trang
sức cho đẹp. Tại sao vậy? Vì Sa-môn Thích tử không những
không được phép nhận vàng bạc, mà còn xả bỏ châu báu,
không đắm say vào việc trang sức đẹp.’ Bấy giờ, trưởng
giả Châu Kế vì các đại thần giải thích nói rõ ràng, khiến
họ hiểu và hoan hỷ. Sau đó, một thời gian Trưởng giả
Châu Kế đến chỗ đức Thế Tôn, đầu mặt kính lễ sát
chân, rồi ngồi lui qua một bên, đem nhân duyên trước kia
bạch lên đức Thế Tôn một cách đầy đủ, rồi thưa: ‘Con
giải thích rõ ràng, khiến họ hoan hỷ. Bạch đức Thế Tôn,
con nói như vậy có trái với Thánh chỉ, không như pháp đã
dạy sao?’ Đức Phật dạy ông trưởng giả: ‘Như lời ông
nói là đúng pháp, đúng sự thật, không trái với giáo pháp
đức Thế Tôn. Tại sao vậy? Vì Sa-môn Thích tử không được
phép nhận lấy vàng bạc; xả bỏ châu báu, không đắm vào
việc trang sức cho đẹp. Người nào nhận lấy vàng bạc tức
là thụ hưởng ngũ dục. Thọ ngũ dục thì không phải Sa-môn
Thích tử. Này ông Trưởng giả! Nếu thấy Sa-môn Thích tử
nào cầm nắm vàng bạc, quyết định người ấy không phải
là sa-môn Thích tử. Ta có nói, cho phép, ai cần tre, lau, cỏ,
cây, được phép cầu xin; nhưng không bao giờ được phép
tự mình nhận lấy vàng bạc.’[5] Này Lê-xa, vì nhân duyên
trên nên sa-môn Thích tử không được phép nhận lấy vàng
bạc, xả bỏ châu báu, không đắm say vào việc trang sức
cho đẹp.
«Này
Lê-xa, lại có một hôm, khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ-hoàn.
Ngài bảo các tỳ-kheo, có bốn trường hợp khiến cho mặt
trời, mặt trăng không sáng tỏ, đó là A-tu-la, khói mây, sương
và bụi. Bốn trường hợp này khiến cho mặt trời mặt trăng
không sáng tỏ. Sa-môn Bà-la-môn cũng có bốn việc ô nhiễm
bụi bẩn khiến cho sa-môn bà-la-môn không chói sáng. Đó là,
nếu sa-môn bà-la-môn nào không thể trừ bỏ việc uống rượu,
thì đây là bụi bẩn thứ nhất; hoặc có sa-môn bà-la-môn
nào làm pháp ái dục, không thể xả ly, thì đây là bụi bẩn
thứ hai; hoặc có sa-môn bà-la-môn nào nhận lấy vàng bạc,
không xả bỏ sự trang sức cho tốt đẹp, thì đây là bụi
bẩn thứ ba; hay có sa-môn, bà-la-môn nào dùng tà mạng để
nuôi sống, không thể đoạn trừ, thì đây là bụi bẩn thứ
tư, đó gọi là bốn việc. Vì bốn việc này cho nên khiến
sa-môn bà-la-môn ô uế không sáng tỏ, không có sự sáng chói.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Sa-môn,
bà-la-môn
Bị
bẩn bởi tham dục,
Bị
ngu si che lấp
Ái
trước nơi sắc đẹp.
Uống
rượu, tâm tán loạn;
Rồi
làm pháp ái dục;
Nhận
lấy vật quý báu;
Đây
là kẻ vô trí.
Sa-môn
bà-la-môn
Nuôi
sống bằng tà mạng.
Phật
nói đây là xấu.
Như
mặt trời bị che,
Ánh
sáng không chiếu soi,
Ô
uế không tinh sạch.
Bị
che bởi bóng tối,
Người
bị ái dục sai,
Tạo
ác, không thiện nghiệp,
Người
si đâu hành đạo?
Oán
tắng lại càng thêm
Lại
thọ thân đời sau.
«Này
Ly-xa, vì những nhân duyên như vậy, các ông nên biết, Sa-môn
Thích tử không được thọ nhận vàng bạc, trừ bỏ sự trang
sức. Các ông không tin lời nói của tôi hay sao?»
Ly-xa
nói:
«Không
phải tôi không tin. Tôi rất kính tín đối với Ngài. Ngài
có thể cư trú tại Tỳ-xá-ly này. Chúng tôi sẽ cung cấp
y phục ẩm thực y dược, và tất cả thứ cần dùng.»
Bấy
giờ, tỳ-kheo Già-na tử vì các Ly-xa giải bày khiến họ được
hoan hỷ rồi, cùng tỳ-kheo sứ giả kia trở về chỗ tỳ-kheo
Bà-xà Tử.[6] Từ xa thấy tỳ-kheo Già-na Tử đến, Bà-xà
Tử liền hỏi tỳ-kheo sứ giả rằng:
«Tỳ-kheo
Già-na Tử đã giải thích khuyến dụ các Ly-xa khiến họ tin
tưởng rồi phải không?»
Tỳ-kheo
sứ giả trả lời:
«Vâng.
Họ đã kính tín Già-na Tử. Chúng ta chẳng phải Sa-môn Thích
tử.»
Tỳ-kheo
Bà-xà Tử hỏi:
«Tại
sao vậy?»
Sứ
giả liền đem nhân duyên trước trình bày đầy đủ. Tỳ-kheo
Tỳ-xá-ly nói với tỳ-kheo Già-na tử rằng:
«Trước
đây Thầy mắng chửi chúng Tăng. Thầy có thấy tội hay chăng?»
Già-na
Tử trả lời:
«Tôi
không mắng chửi chúng Tăng.»
Vị
kia liền tập chúng để cử tội.
Tỳ-kheo
Già-na Tử liền nghĩ: «Tránh sự này nếu được Trưởng
lão Ly-bà-đa[7] trợ bạn ta thì có thể chấm dứt như pháp.»
Già-na
tử liền hỏi thăm người khác để biết Ly-bà-đa hiện ở
đâu. Người được hỏi trả lời: «Nghe nói ở bên bờ sông
Bà-kha.»[8] Già-na Tử liền đến bên Sông Bà-kha. Ly-bà-đa
lúc ấy không có ở đó. Già-na Tử hỏi: «Ly-bà-đa hiện
ở đâu?» Người ở tại đó trả lời: «Nghe nói hiện ở
nước Già-na-ủy-xà.[9] Già-na Tử liền đến nước đó, nhưng
cũng không gặp Ly-bà-đa. Hỏi, được biết Ly-bà-đa hiện
ở tại nước A-già-lâu-la.[10] Già-na Tử đến nước đó,
lại cũng không có Ly-bà-đa, và hỏi tiếp được biết Ly-bà-đa
hiện ở nước Tăng-già-xa.[11] Già-na tử liền đến đó,
gặp được Ly-bà-đa hiện đang ở tại đó.
Bấy
giờ, chúng đang tập hợp, Già-na Tử hỏi vị đệ tử thị
giả của Ly-bà-đa rằng:
«Đại
đức Trưởng lão Ly-bà-đa của Thầy có đến trong chúng không?»
Vị
thị giả trả lời:
«Ngài
sẽ đến.»
Khi
ấy, Ly-bà-đa đến thuyết pháp cho chúng nghe xong, quá nữa
đêm, cầm ni-sư-đàn trở về lại thất.
Khi
ấy, Da-xá Già-na Tử cũng ở trong chúng nghe pháp rồi, quá
nửa đêm cầm ni-sư-đàn đến chỗ Ly-bà-đa, nghĩ rằng: «Bây
giờ là thời gian thích hợp. Ta sẽ trình bày đầy đủ nhân
duyên để Ly-bà-đa nghe.»
Già-na
tử liền hỏi Ly-bà-đa:
«Kính
thưa Đại đức Thượng tọa, được phép hai ngón tay lấy
thức ăn[12] hay không?»
Ly-bà-đa
hỏi lại:
«Hai
ngón tay lấy thức ăn, là thế nào?»
Già-na
Tử thưa:
«Bạch
Đại đức Trưởng lão, ăn đủ rồi, xả oai nghi, không làm
pháp dư thực, được dùng hai ngón tay lấy thức ăn để ăn
không?»
Ly-bà-đa
nói:
«Không
được làm như vậy.»
Già-na
tử hỏi:
«Điều
này đức Phật chế cấm tại chỗ nào?»[13]
Ly-bà-đa
trả lời:
«Tại
nước Xá-vệ. Nhơn có vị không làm phép dư thực mà ăn,
cho nên Phật chế cấm. Già-na Tử lại hỏi:
«Thưa
Đại đức Trưởng lão, được giữa xóm làng[14] hay không?»
Ly-bà-đa
hỏi lại:
«Được
giữa xóm làng, là thế nào?»
Già-na
Tử nói:
«Thưa
Đại đức Trưởng lão, ăn đủ rồi, xả oai nghi, không làm
pháp dư thực, đi đến khoảng giữa hai thôn, được ăn.»
Ly-bà-đa
nói:
«Không
được làm như vậy.»
Già-na
Tử hỏi:
«Điều
này đức Phật chế cấm ở chỗ nào?»
«Tại
nước Xá-vệ. Nhơn có vị không làm pháp dư thực mà ăn,
cho nên đức Phật chế cấm.»
Già-na
Tử hỏi:
«Bạch
Đại đức Trưởng lão, được trong chùa[15] hay không?»
Ly-bà-đa
hỏi:
«Được
trong chùa, là thế nào?»
Già-na
Tử trả lời:
«Bạch
Đại đức Trưởng lão, nghĩa là ở trong chùa được biệt
chúng yết-ma.»
Ly-bà-đa
nói:
«Không
[970a1] được làm như vậy.»
Già-na
Tử hỏi:
«Đức
Phật chế cấm điều này ở đâu?»
«Tại
thành Vương xá. Chế cấm trong Kiền độ Bố-tát.»
Già-na
Tử hỏi:
«Kính
Đại đức Trưởng lão, được phép hứa khả sau[16] hay không?»
Ly-bà-đa
hỏi lại:
«Thế
nào là được phép hứa khả sau?»
Già-na
Tử thưa:
«Bạch
Đại đức Trưởng lão, tại nội giới, được phép biệt
chúng yết-ma nếu sau đó được hứa khả.»
Ly-bà-đa
nói:
«Không
được làm như vậy.»
Già-na
Tử hỏi:
«Điều
này đức Phật chế cấm ở chỗ nào?»
«Tại
Thành Vương xá. Cấm chế thuộc trong Kiền độ Bố-tát.»
Già-na
Tử lại hỏi:
«Được
thường pháp[17] hay không?»
Ly-bà-đa
lại hỏi:
«Thế
nào gọi là được thường pháp?»
Già-na
Tử thưa:
«Bạch
Đại đức Trưởng lão, việc này làm như vậy rồi, nói như
vậy, xưa nay làm như vậy.»
Ly-bà-đa
nói:
«Tỳ-kheo
biết chăng? Nên quán sát Tu-đa-la, Tỳ-ni, nghiệm xét Pháp
Luật. Nếu không quán sát Tỳ ni không nghiệm xét Pháp Luật,
mà trái nghịch Pháp thì, nếu đã làm không nên làm, chưa
làm cũng không nên làm. Nếu quán sát Tu-đa-la, Tỳ-ni, kiểm
xét Pháp Luật, cùng Tu-đa-la mà cùng pháp luật tương ưng,
không trái với pháp sẵn có, thì những điều đã làm hay
chưa làm đều nên làm.»
Già-na
tử hỏi:
«Bạch
Đại đức Trưởng lão, được hòa[18] hay không?»
Ly-bà-đa
hỏi:
«Thế
nào là được hòa?»
«Bạch
Đại đức Trưởng lão, ăn đủ rồi, xả oai nghi, dùng tô
du, mật, sanh tô, thạch mật, tô, hòa chung lại, được ăn
không?»
Ly-bà-đa
nói:
«Không
được làm như vậy.»
Già-na
Tử lại hỏi:
«Điều
này được đức Phật chế cấm ở đâu?»
«Tại
nước Xá-vệ. Nhơn có vị không tác pháp dư thực mà ăn,
nên Phật đã chế cấm.»
Già-na
tử lại hỏi:
«Bạch
Đại đức Trưởng lão, muối ngủ chung[19] được phép không?»
Ly-bà-đa
hỏi lại:
«Muối
ngủ chung được phép, là thế nào?»
«Bạch
Đại đức Trưởng lão, dùng muối ngủ chung nêm trong thức
ăn rồi ăn.»
Ly-bà-đa
nói:
«Không
được làm như vậy.»
Già-na
Tử hỏi:
«Điều
này được đức Phật chế ở đâu?»
«Tại
nước Xá-vệ. Trong Kiền độ Dược đã chế cấm.»
Già-na
Tử lại hỏi:
«Bạch
Trưởng lão Đại đức, được uống ruợu xà-lâu-la[20] hay
không?»
Ly-bà-đa
nói:
«Không
được uống như vậy.»
Già-na
Tử hỏi:
«Điều
này được đức Phật chế cấm ở đâu?»
«Tại
nước Câu-thiểm-di. Vì Trưởng lão tỳ-kheo Sa-già-đà[21]
nên Phật đã chế cấm.»
Già-na
Tử lại hỏi:
«Bạch
Đại đức Trưởng lão, được phép cất chứa tọa cụ không
cắt rọc[22] hay không?»
Ly-bà-đa
nói:
«Không
được cất chứa như vậy.»
Già-na
tử hỏi:
«Điều
này đức Phật chế cấm tại chỗ nào?»
«Tại
nước Xá-vệ. Vì Nhóm sáu tỳ-kheo nên chế cấm.»
Già-na
Tử lại hỏi:
«Bạch
Đại đức Trưởng lão, được phép nhận vàng bạc[23] hay
không?»
Ly-bà-đa
nói:
«Không
được thọ nhận như vậy.»
Già-na
Tử hỏi:
«Điều
này được đức Phật chế cấm ở đâu?»
«Tại
thành Vương-xá, vì Bạt-nan-đà Thích Tử nên đã chế cấm.»
Già-na
tử thưa:
«Bạch
Đại đức Trưởng lão, tại Tỳ-xá-ly, tỳ-kheo Bà-xà Tử
thi hành mười điều này mà nói là như pháp thanh tịnh, là
Phật cho phép. Ngày bố-tát họ khuyến khích đàn-việt cúng
dường vàng bạc cho chúng Tăng, rồi sai người phân chia.»
Ly-bà-đa
nói:
«Thầy
đừng nói với người khác.»
«Tại
sao vậy?»
«Sợ
các tỳ-kheo chỗ hiểu biết không đồng nhau, đưa đến tỳ-kheo
không hòa hợp. Tỳ-kheo, Thầy có thể đến trong núi A-vu-hằng
hà,[24] nơi đó có tỳ-kheo Tam-phù-đà[25] là đồng Hoà thượng
với tôi, cùng với sáu mươi tỳ-kheo Ba-la-ly Tử[26] chung sống.
Các vị ấy đều là những người dũng mãnh tinh tấn, không
hề có sự sợ sệt. Thầy đem nhân duyên ấy trình bày đầy
đủ với các vị ấy đó, rồi cùng hẹn đến bên bờ sông
Bà-kha, tôi cũng sẽ đến đó.»
Khi
ấy tỳ-kheo Da-xá Già-na Tử liền đến núi kia, chỗ ở của
Tam-phù-đà và đem nhân duyên ấy trình bày đầy đủ với
các vị ấy, và hẹn đến bờ sông Bà-kha, sẽ gặp Đại
đức Ly-bà-đa cũng đến đó.
Bấy
giờ, tỳ-kheo Bà-xà Tử ở Tỳ-xá-ly nghe tỳ-kheo Da-xá Già-na
Tử đi các nơi tìm trợ bạn, liền đem chiếc y tốt nhất
ở Tỳ-xá-ly đến chỗ người đệ tử của Ly-bà-đa nói:
«Tôi
đem chiếc y tốt nhất này đến đây để cúng cho Đại đức
Ly-bà-đa. Nhưng thôi, nay không cúng nữa mà xin cúng cho Thầy.
Thầy nhận cho.»
Vị
đệ tử của Ly-bà-đa nói:
«Thôi!
thôi! Tôi không nhận.»
Tỳ-kheo
Bà-xà Tử ân cần khuyên, có tánh cách bắt ép khiến cho vị
kia nhận. Khi vị kia nhận rồi Bà-xà Tử nói:
«Thưa
Trưởng lão, tỳ-kheo hai nước Ba-di-na[27] và Ba-lê[28] cùng
nhau tranh cãi. Đức Thế Tôn xuất thế tại Ba-di-na. Lành thay!
Trưởng lão bạch giùm tôi lên Đại đức Thượng tọa rằng,
‘tỳ-kheo hai nước Ba-di-na và Ba-lê cùng nhau tranh cãi. Đức
Thế Tôn xuất thế tại Ba-di-na. Lành thay! Đại đức hãy
trợ tỳ-kheo Ba-di-na.»
Vị
kia liền trả lời:
«Đại
đức Trưởng lão Ly-bà-đa được nhiều người tôn kính.
Tôi không dám thưa.»
Vị
kia bị cưỡng bức quá, liền đến chỗ Ly-bà-đa bạch:
«Kính
bạch Đại đức, tỳ-kheo hai nước Ba-di-na và Ba-lê cùng nhau
tranh cãi. Đức Thế Tôn xuất thế tại Ba-di-na. Nguyện xin
Đại đức hãy trợ tỳ-kheo Ba-di-na.»
Ly-bà-đa
liền trả lời:
«Ngươi
ngu si, muốn kéo ta vào trong bộ chúng bất tịnh chăng? Ngươi
hãy đi! Ta không cần ngươi.»
Vị
kia bị đuổi rồi liền đến Tỳ-xá-ly, chỗ tỳ-kheo Bà-xà
Tử thưa:
«Trưởng
lão, trước đây tôi nói với Thầy, Đại đức Ly-bà-đa được
nhiều người tôn kính. Tôi không dám nói. Nay tôi bị khiển
trách.»
Vị
kia hỏi, bị khiển trách thế nào?
«Ngài
khiển trách, đuổi tôi đi.»
Vị
kia lại hỏi:
«Thầy
bao nhiêu hạ?»
«Tôi
mười hai hạ.»
«Thầy
đã mười hai hạ mà còn sợ bị đuổi hay sao?»
«Ngài
ấy không chịu tôi làm thị giả, làm sao không sợ?»
Bấy
giờ, Ly-bà-đa cùng các tỳ-kheo nói:
«Nay
chúng ta hãy đến ngay chỗ đã phát sinh tránh sự.»
Các
vị ấy đi bằng thuyền theo sông Hằng đến đó. Gặp lúc
trời nóng, mệt mỏi, nên ghé thuyền vào bờ để nghỉ khỏe
nơi bóng mát.
Lúc
ấy, tại thôn Bà-sưu[29] có Trưởng lão đang trên đường
đi, suy nghĩ: «Trong việc tranh cãi này, nay ta nên xem xét Tu-đa-la,
Tỳ-ni để biết ai là pháp ngữ, ai là phi pháp ngữ.» Vị
kia liền xem xét Tu-đa-la, Tỳ-ni; nghiệm xét Pháp Luật, nên
biết tỳ-kheo nước Ba-lê là pháp ngữ; tỳ-kheo bước Ba-di-na
là phi pháp ngữ.
Bấy
giờ, có vị trời không hiện hình, khen ngợi:
«Lành
thay, thiện nam tử, như người quan sát biết tỳ-kheo Ba-lê
là như pháp ngữ, tỳ-kheo Ba-di-na là phi pháp ngữ.»
Bấy
giờ, các Trưởng lão liền cùng nhau đến Tỳ-xá-ly. Tại
Tỳ-xá-ly có Trưởng lão là Nhứt Thiết Khứ[30] là bậc tối
thượng tọa trong Diêm-phù-đề. Khi ấy, Tam-phù-đà nói với
Ly-bà-đa rằng:
«Nay,
ta nên đến trong thất thượng tọa Nhất Thiết Khứ nghỉ
đêm, để nói việc này cho Thương tọa nghe.»
Hai
người cùng đến đó. Ban đêm Trưởng lão Nhất Thiết Khứ
tọa thiền tư duy đã trải qua một thời gian lâu, Ly-bà-đa
suy nghĩ: «Thượng tọa này, tuổi đã già, khí lực suy yếu,
mà còn tọa thiền lâu thế này huống là ta, tại sao không
ngồi như vậy?» Ly-bà-đa liền cũng ngồi tư duy trong một
thời gian lâu. Trưởng lão Nhất Thiết Khứ lại nghĩ: «tỳ-kheo
khách này đi đường xa mỏi mệt còn tọa thiền tư duy như
thế này, huống là ta mà không ngồi lâu.» Vì vậy Trưởng
lão kia lại ngồi tư duy một thời gian lâu nữa. Khi trời
đã sáng hẳn, Trưởng lão Nhất Thiết Khứ nói với Ly-bà-đa
rằng:
«Thưa
Trưởng lão, đêm nay ngài tư duy pháp gì?»
Ly-bà-đa
trả lời:
«Trườc
kia tôi còn là bạch y, thường tập từ tâm. Đêm nay tôi tư
duy và nhập vào tam muội từ.»
Vị
kia liền nói:
«Như
vậy là đêm nay ngài nhập tiểu định.»
«Tại
sao vậy?»
«Từ
tâm tam muội là tiểu định.»
Ly-bà-đa
hỏi lại Đại đức Nhất Thiết Khứ:
«Đêm
nay Ngài tư duy pháp gì?»
Nhất
Thiết Khứ nói:
«Trước
đây, khi tôi còn là bạch y, tập pháp Không. Đêm nay phần
nhiều tôi nhập vào tam muội Không.»
Ly-bà-đa
nói:
«Như
Thế là đêm nay Đại đức tư duy pháp đại nhơn.»
«Tại
sao vậy?»
«Pháp
đại nhơn là nhập tam muội Không. »
Ly-bà-đa
liền nghĩ:
«Bây
giờ, chính là lúc ta có thể đem nhân duyên trước đây nói
cho Đại đức Nhất Thiết Khứ biết.»
Vị
kia hỏi:
«Kính
thưa Đại đức Trưởng lão, được phép dùng hai ngón tay
để lấy thức ăn hay không?»
«Thế
nào là dùng hai ngón tay lấy thức ăn?»
«Thưa
Đại đức, ăn đủ rồi, [971a1] xả oai nghi, không làm pháp
dư thực, được phép dùng hai ngón tay để lấy thức ăn?»
Đáp:
«Không
được làm như vậy.»
«Điều
này được đức Phật chế chỗ nào?»
«Tại
nước Xá-vệ. Nhơn có vị không làm pháp dư thực mà ăn nên
đức Phật đã chế cấm.»
Trình
bày từng điều một như trên, cho đến ngày bố-tát thọ
nhận vàng bạc rồi sai người phân chia, như trên.
Vị
kia liền nói:
«Đừng
nên nói với người khác. Sợ nhơn tâm không đồng, đưa đến
việc không hòa hợp.»
Thượng
tọa Nhất Thiết Khứ là đệ nhất Thượng tọa. Tam-phù-đà
là đệ nhị Thượng tọa. Ly-bà-đa là đệ tam Thượng tọa.
Bà-sưu Thôn là đệ tứ Thượng tọa. Tôn giả A-nan là Hòa
thượng của các vị ấy đó.
Trưởng
lão Nhất Thiết Khứ là người hiểu biết Tăng sự, nên bấy
giờ Thượng tọa liền tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng luận Pháp Tỳ ni. Đây là
lời tác bạch.»
Khi
ấy, tỳ-kheo Ba-di-na nói tỳ-kheo Ba Lê rằng:
«Các
Thầy có thể mời người bình đáng.[31]»
Tỳ-kheo
Ba Lê liền nói:
«Thượng
tọa Nhất Thiết Khứ, Ly-bà-đa, Da-xá, Tô-mạn-na[32] là người
bình đáng của chúng tôi.»
Tỳ-kheo
Ba-lê nói với tỳ-kheo Ba-di-na rằng:
«Các
Thầy cũng nên mời người bình đáng.»
Tỳ-kheo
kia liền nói:
«Trưởng
lão Tam-phù-đà, Ba-sưu Thôn, Trưởng lão Sa-lưu,[33] Bất-xà-tô-ma[34]
là người bình đáng của chúng tôi.»
Trong
số đó có tỳ-kheo A-di-đầu[35] có khả năng làm người khuyến
hoá.[36] Các tỳ-kheo kia nói:
«Nên
ghi tên tỳ-kheo này vào trong túc số. Tại sao vậy? Ở tại
chỗ này, vị kia khuyến hóa cho chung ta.»
Do
vậy, vị kia được ghi vào túc số.
Các
Thượng tọa liền nghĩ: «Nếu chúng ta hỏi sự việc này
ở trong chúng thì sợ sanh ra tránh sự khác, không biết ai
nói đúng, ai nói sai. Nay, chúng ta nên lựa chọn, rồi bình
luận nơi chỗ riêng biệt.» Rồi các Trưởng lão lại nghĩ,
«Chúng ta nên bình luận sự việc nơi nào cho thích hợp?»
Bèn nói, «Trong rừng Bà-lê[37].»
Bấy
giờ, Trưởng lão Nhất Thiết Khứ liền tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Đây là tỳ-kheo đã được Tăng
cử. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận
trong rừng Bà-lê, luận Pháp Tỳ ni. Các tỳ-kheo khác không
được có mặt. Đây là lời tác bạch.»
Tác
bạch như vậy rồi nên yết-ma, sai hai, ba tỳ-kheo lấy dục
của các tỳ-kheo khác đến trong rừng Bà-lê.
Khi
ấy, Thượng tọa Nhất Thiết Khứ dùng nhơn duyên này tập
hợp tỳ-kheo Tăng. Các Thượng tọa đều tập hợp. Thượng
tọa Nhất Thiết Khứ liền tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng luận Pháp Tỳ ni. Đây là
lời tác bạch .»
Khi
ấy, Ly-bà-đa liền tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng hỏi Thượng tọa Nhất Thiết
Khứ Pháp Tỳ ni. Đây là lời tác bạch.»
Thượng
tọa Nhất Thiết Khứ lại liền tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng khiến Ly-bà-đa hỏi, tôi trả
lời Pháp Tỳ ni. Đây là lời tác bạch.»
Ly-bà-đa
hỏi:
«Thưa
Đại đức Thượng tọa, được dùng hai ngón tay tịnh hay
không?»
Vị
được hỏi liền hỏi lại:
«Hai
ngón tay tịnh là thế nào?»
«Thưa
đại Trưởng lão, ăn đủ rồi, xả oai nghi, được dùng hai
ngón tay lấy thức ăn để ăn?»
Vị
được hỏi trả lời:
«Không
được làm như vậy.»
«Điều
này được đức Phật chế cấm ở đâu?»
«Tại
nước Xá-vệ. Vì có vị không tác pháp dư thực mà ăn, cho
nên Phật đã chế cấm.»
Đây
là việc thứ nhất phi pháp, phi tỳ ni, phi lời Phật dạy.
Sau
khi đồng thuận nơi chỗ riêng rồi, liền bỏ xuống một
xá-la. Kiểm xét như vậy từng việc một, cho đến việc thứ
mười, tất cả đều là phi pháp, phi tỳ-ni, phi lời Phật
dạy. Cứ một việc như vậy là bỏ xuống một xá-la. Rồi
các Trưởng lão kia nói như vầy:
«Nay
chúng ta đã đồng thuận nơi chỗ riêng biệt mười việc
này rồi, bây giờ chúng ta ở giữa Tăng kiểm nghiệm như
vậy. Vì sao? Để mọi người đều được biết.»
Các
Trưởng lão đều đến Tỳ-xá-ly.
Thượng
tọa Nhất Thiết Khứ tập hợp tỳ-kheo Tăng rồi tác bạch:
«Đại
đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng luận Pháp Tỳ ni. Đây là
lời tác bạch.»
Trưởng
lão Ly-bà-đa liền tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng hỏi Thượng tọa Nhất Thiết
Khứ pháp này. Đây là lời tác bạch.»
Khi
ấy, thượng tọa Nhất Thiết Khứ liền tác bạch:
«Đại
đức Tăng, xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng khiến Ly-bà-đa hỏi Pháp Tỳ
ni, tôi trả lời. Đây là lời tác bạch.»
Ly-bà-đa
liền hỏi:
«Bạch
Đại đức Trưởng lão, dùng hai ngón tay, tịnh hay không?»
Nhất
Thiết Khứ hỏi lại:
«Hai
ngón tay tịnh, là thế nào?»
«Thưa
Đại đức Trưởng lão, ăn đủ rồi, xả oai nghi, không làm
pháp dư thực, dùng hai ngón tay lấy thức ăn để ăn.»
Thương
tọa Nhất Thiết Khứ nói:
«Không
được làm như vậy.»
«Điều
này được đức Phật chế cấm ở đâu?»
«Tại
nước Xá-vệ. Nhơn có vị không làm pháp dư thực mà ăn nên
Phật đã chế cấm.»
Đây
là việc thứ nhất phi pháp, phi tỳ-ni, phi lời Phật dạy.
Kiểm
nghiệm giữa Tăng xong, bỏ xuống một xá-la. Như vậy tuần
tự kiểm xét cho đến việc thứ mười, tất cả đều phi
pháp, phi tỳ-ni, phi lời Phật dạy.
Mỗi
việc kiểm nghiệm giữa Tăng xong, đều bỏ xuống một xá-la.
Tại Tỳ-xá-ly, bảy trăm vị A-la-hán tập hợp để luận
Pháp Tỳ-ni, cho nên gọi là «Thất bách tập Pháp Tỳ ni.»
[1]
Bạt-xà Tử, xem cht. trên.
[2]
So sánh 10 điều của Pali, Vin.ii. 294. Xem giải thích ở đoạn
sau.
[3]
Da-xá ca-na Tử 耶舍迦那子. Pali: Yasa-Kākaṇḍakaputta, đệ
tử của A-nan.
[4]
Châu Kế 珠髻. Xem, Phần I Ch, v. Ba dật đề 18. Pali: Maṇicūlaka,
một người thôn trưởng. Vin.ii. 296; S. iv. 325.
[5]
Pali, S. iv. 326: tiṇaṃ tiṇatthikena pariyesitabbaṃ… na...kenaci
pariyāyena jātaruparajataṃ sāditabbaṃ pariyesitabbaṃ, «ai cần
cỏ thì xin cỏ…nhưng không vì bất cứ nhân duyên gì cho
phép cầu xin vàng bạc.»
[6]
Bà-xà Tử; trên kia, âm là Bạt-xà Tử.
[7]
Ly-bà-đa 離婆多. Pali: Revata, vị trưởng lão này sống ở
Soreyya, «thông bác, tinh thông A-hàm, Luật, Mattika…», Vin.ii.
299. Trùng tên với Revata, vị trưởng lão em út của ngài Xá-kợi-phất.
[8]
Bà-kha 婆呵. Pali: Payāga. Lộ trình từ Payāga đến Soreyya
của Revata, phỏng lại lộ trình Phật đi từ Verañja (Tỳ-lan-nhã,
chỗ Xá-lợi-phất thỉnh Phật chế giới cho tỳ-kheo) đến
Bārāṇasī, ngang qua Soreyya, Saṅkassa và Kaṇṇakujja.
[9]
Già-na-ủy-xà 伽那慰闍. Pali: Kaññakujja. Xem cht. 8 trên.
[10]
A-già-lâu-la 阿伽樓羅. Pali: Aggaḷapura, Vin.ii. 299.
[11]
Tăng-già-xa 僧伽賒. Pali: Saṅkassa. Xem cht. 8 trên.
[12]
Đắc nhị chỉ sao 得二指抄. Pali: dvaṅgulakappa, nhị chỉ
tịnh, được giải thích: dvaṅgulāya chāyāya vītivattāya,
(được phép ăn quá trưa) khi bóng chưa quá hai ngón tay. Liên
hệ điều luật phi thời thực. Vin.ii. 230.
[13]
Xem Phần i, Ch. v. Ba-dật-đề 35.
[14]
Đắc thôn gian 得村間. Pali, ibid. : gāmantarakappo. thôn gian
tịnh; như Tứ phần.
[15]
Đắc tự nội 得寺內. Pali: āvāsakappo, trú xứ tịnh.
[16]
Đắc hậu thính khả 得後聽可. Pali: anumatikappo, tùy hỷ tịnh;
giải thích: kappati bhante vaggena saṅghena kammaṃ kātuṃ, āgate
bhikkhū anumesāmāti, được phép tác yết ma biệt chúng, nếu
các tỳ-kheo đến sau nói, «chúng tôi tuỳ hỷ.»
[17]
Đắc thường pháp 得常法. Pali: āciṇṇakappo, thường hành
tịnh, «Được phép làm, vì Hoà thương của tôi, A-xà-lê
của tôi đã làm như thế.» Vin.ii. 301.
[18]
Đắc hoà 得和. Pali: amathitakappa, được phép nếu chưa ngưng
kết: đã ăn xong (túc thực), được phép uông sữa (khīra),
nếu sữa chưa thành sữa đông (lạc). Vin. ii. 301.
[19]
Diêm cộng túc 鹽共宿, chỉ muối để dành cách đêm. Pali:
siṅgiloṇakappo, giác diêm tịnh, được phép mang muối theo
trong cái sừng, khi ăn, lấy ra dùng.
[20]
Xa-lâu-la tửu 飲闍樓羅酒. Pali: kappati jalogiṃ pātuṃ, được
phép uống rượu pha. Rượu jalogi (xa-lâu-la), chỉ rượu loãng,
hay nước trái cây để lâu mà chưa lên men thành rượu. Ngũ
phần 30 (T22n1421 tr.192b01): rượu cất mà chưa chín.
[21]
Xem Phần I, Ch. v Ba-dật-đề 51.
[22]
Bất cát tiệt tọa cụ 不割截坐具. Ngũ phần 30 (T22n1421
tr.192b01): làm tọa cụ tuỳ ý lớn nhỏ. Pali: adasakaṃ nisīdanaṃ,
tọa cụ không làm viền.
[23]
Pali: kappati jātarūparajaṃ. Như Tứ phần.
[24]
A-vu-hằng hà sơn 阿吁恒河山. Pali: Ahogaṅgā, tên một ngọn
núi ở Bắc Ấn, nằm bên thượng lưu sông Hằng (uddhaṃ Gaṅgāya).
[25]
Tam-phù-đà 三浮陀. Pali: Sambhūta.
[26]
Ba-la-ly Tử 波羅離子. Pali: Pāṭheyyakā (Pāveyyakā), các tỳ-kheo
người Pāva (Bà-ba hay Ba-hòa, xem trên), một thủ phủ của
người Vajjī. Trong kết tập này, họ đứng về phía Revata.
Họ được gọi là những người phương Tây.
[27]
Ba-di-na 波夷那. Pāciṇakā, các tỳ-kheo phương Đông, nhưng
người ủng hội 10 điểm của Vajjiputtaka.
[28]
Ba-lê 波梨. Trên kia phiên âm là Pa-la-ly Tử; xem cht. 26.
[29]
Bà-sưu thôn 婆搜村. Pali: Sahajāti, tên một thị trấn, chỗ
của Sāḷha. Ngũ phần 30: Sa-lan 沙蘭.
[30]
Nhất Thiết Khứ 一切去. Pali: Sabbakāmi.
[31]
Bình đáng nhân 平當人. Ngũ phần (T22n1421 tr.193c21): đoán
sự chủ 斷事主. Pali: ubbāhikāya, bối thẩm đoàn.
[32]
Tô-mạn-na 蘇曼那. Pali: Sumana.
[33]
Sa-lưu 沙留. Pali: Sāḷha. Tức trên kia nói Trưởng lão người
Bà-sưu thôn.
[34]
Bất-xà-tô-ma 不闍蘇摩. Pali: Khujjasobhita.
[35]
A-di-đầu 阿夷頭. Pali: Ajita, bấy giờ mới 10 hạ, nhưng được
tham dự, làm người phu tòa (āsana-paññāpaka) sắp chỗ cho
bồi thẩm đoàn.
[36]
Khuyến hoa 勸化. Ngũ phân: phu toà 敷座. Pali: āsana-paññapaka,
xem cht. 35 trên.
[37]
Bà-lê lâm 婆梨林. Pali: Vālikārāma, Tăng viện Vālika ở Vesāli.