CHƯƠNG
VI.
TỲ-NI
TĂNG NHẤT[1]
Tôi
nghe như vầy, một thời, Phật ở tại tinh xá Kỳ-hoàn, trong
vườn của Cấp Cô Độc Thực, nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
«Các
Thầy nên lắng nghe, khéo suy nghĩ! Nếu tỳ-kheo nào dùng văn
cú tương tợ[2] để ngăn trở Pháp và Tỳ-ni, thì tỳ-kheo
này sẽ khiến cho nhiều người không được lợi ích, tạo
ra các nghiệp khổ, để tiêu diệt chánh pháp. Tỳ-kheo nào
tùy thuận văn cú, không trái Pháp và Tỳ-ni, thì tỳ-kheo
này làm lợi ích nhiều người, không khiến tạo ra các khổ
nghiệp, và chánh pháp được tồn tại lâu dài.
«Này
các tỳ-kheo, các Thầy cần phải tùy thuận văn cú, đừng
thêm bớt trái với Pháp và Tỳ-ni. Hãy học tập như vậy.»
Đức
Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tin ưa
và thọ trì.
Đức
Phật dạy :
«Nếu
tỳ-kheo nào, phi pháp nói là pháp, pháp nói là phi pháp, thì
tỳ-kheo này sẽ khiến nhiều người không được lợi ích,
chỉ tạo ra các nghiệp khổ để diệt chánh pháp thôi. Tỳ-kheo
nào, phi pháp nói là phi pháp, pháp nói là pháp, thì tỳ-kheo
này sẽ lợi ích nhiều người, tạo ra các thiện nghiệp,
khiến chánh pháp tồn tại lâu dài. Vậy, các Thầy nên tùy
theo lời dạy này: phi pháp nên nói là phi pháp, pháp nói là
pháp. Hãy học tập như vậy.»
Đức
Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tin ưa
và thọ trì.
Bấy
giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Nếu
tỳ-kheo nào, phi tỳ-ni nói là tỳ-ni, tỳ-ni nói là phi tỳ-ni,
thì sẽ khiến nhiều người không được lợi ích, và chỉ
làm các nghiệp khổ để diệt chánh pháp. Trường hợp tỳ-kheo
nào, phi tỳ-ni nói là phi tỳ-ni, tỳ-ni nói là tỳ-ni, thì
sẽ lợi ích được nhiều người, không tạo ra các khổ nghiệp,
khiến chánh pháp tồn tại lâu dài.
«Vậy,
các Thầy nên tùy theo lời dạy này: phi tỳ-ni nói là phi tỳ-ni,
tỳ-ni nói là tỳ-ni. Hãy học tập như vậy.»
Đức
Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tin ưa
và thọ trì.
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo tiếp:
«Nếu
tỳ-kheo nào, phi chế lại chế, đã chế lại đoạn, thì những
việc làm như vậy dần dần khiến cho giới bị hủy hoại,[3]
khiến nhiều người không được lợi ích, tạo ra các nghiệp
khổ, khiến diệt chánh pháp. Nếu tỳ-kheo nào, phi chế không
chế, đã chế không đoạn, thì như vậy lần lần khiến cho
giới thành tựu, lợi ích nhiều người, không tạo ra các
nghiệp khổ, khiến chánh pháp tồn tại lâu dài. Vậy, các
Thầy, phi chế không được chế, đã chế không được đoạn,
nên tùy theo giới luật đã chế mà học.»
Các
tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tin ưa và thọ trì.
Bấy
giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Như
Lai ra đời, vì thấy những lỗi lầm, nên bằng một nghĩa,
vì các Thanh văn kiết giới, nhiếp thủ Tăng. Do một nghĩa
này nên Như Lai vì các Thanh văn mà kiết giới.»
Phật
nói như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tín ưa và thọ
trì. Cho đến chánh pháp tồn tại lâu dài. Mỗi đoạn đều
nói như vậy.
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo tiếp:
«Như
Lai ra đời, bằng một nghĩa, vì các tỳ-kheo chế yết-ma ha
trách, nhiếp thủ Tăng. Do một nghĩa này nên Như Lai ra đời,
vì các tỳ-kheo chế yết-ma ha trách.»
Phật
nói như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tín ưa và thọ
trì. Cho đến chánh pháp tồn tại lâu dài. Mỗi đoạn đều
nói như vậy.
Cũng
vậy, yết-ma tẫn, yết-ma y chỉ, yết-ma ngăn không cho đến
nhà bạch y, yết-ma tác bất kiến tội cử, yết-ma không sám
hối, yết-ma không bỏ ác kiến. Kiểm xét pháp luật chế
định, chế thọ y chỉ, chế phạm phạt, chế cử tội, chế
ức niệm, chế cầu thính, chế tự ngôn, chế ngăn a-nậu-bà-đà,[4]
chế ngăn thuyết giới, chế ngăn tự tứ, chế giới, chế
thuyết giới, chế bố-tát, chế yết-ma bố-tát, chế tự
tứ, chế yết-ma tự tứ, chế bạch, bạch yết-ma, chế bạch
nhị yết-ma, chế bạch tứ yết-ma, chế phú tàng, cho bản
nhật trị, cho ma-na-đỏa, cho xuất tội, chế bốn ba-la-di,
chế mười ba tăng-già-bà-thi-sa, hai bất định, ba mươi ni-tát-kỳ,
chín mươi ba-dật-đề, bốn ba-la-đề-đề-xá-ni, thức-xoa-ca-la-ni,
bảy diệt tránh.»
Mỗi
một đoạn đều như yết-ma quở trách.
I.
MỘT PHÁP
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
1.
Nói một lời liền thành xả giới. Nói như vầy: «Tôi xả
Phật.» Nói một lời như vậy, liền thành xả giới.»
Đức
Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tin ưa
thọ trì.
2.
Nói, «Tôi xả Pháp,» «tôi xả Tăng,» «tôi xả Hòa thượng,»
«tôi xả đồng Hòa thượng, xả A-xà-lê, xả đồng A-xà-lê,
xả các tỳ-kheo tịnh hạnh, xả giới, xả Tỳ-ni, xả học
sự, tôi là bạch y, hãy nhớ cho tôi là người giữ vườn,
hãy nhớ cho tôi là ưu-bà-tắc, hãy nhớ cho tôi là sa-di, hãy
nhớ cho tôi là ngoại đạo, là đệ tử ngoại đạo, hãy
nhớ cho tôi chẳng phải là Sa-môn Thích tử [5].»
Mỗi
mỗi trường hợp cũng đều như trên.
II.
HAI PHÁP
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
1.
Có hai loại phạm: một là khinh; hai là trọng.[6] Đó là hai
loại phạm.
Đức
Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tin ưa
thọ trì.
2.
Lại có hai việc: một là khinh mà hữu dư,[7] hai là khinh mà
được tác yết-ma.
3.
Lại có hai việc: ba-la-di, tăng-già bà-thi-sa.
4.
Lại có hai việc: ba-la-di, thâu-lan-giá.
5.
Lại có hai việc: ba-la-di, ba-dật-đề.
6.
Lại có hai việc: ba-la-di, ba-la-đề-đề-xá-ni.
7.
Lại có hai việc: ba-la-di, đột-kiết-la.
8.
Lại có hai việc: ba-la-di, ác thuyết.
9.
Tăng-già bà-thi-sa, cho đến ác thuyết cũng như vậy.[8] Thâu-lan-giá,
cho đến ác thuyết cũng như vậy. Ba-dật-đề, cho đến ác
thuyết cũng như vậy. Ba-la-đề-đề-xá-ni, cho đến ác thuyết
cũng như vậy. Đột-kiết-la, ác thuyết cũng như vậy.
Đức
Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
10.
Có hai sự thấy mà người xuất gia không nên hành: phi pháp
thấy là pháp, pháp thấy là phi pháp.[9]
11.
Lại có hai sự thấy: tỳ-ni nói là phi tỳ-ni, phi tỳ-ni nói
là tỳ-ni.
12.
Lại có hai kiến giải: phi phạm thấy là phạm, phạm thấy
là phi phạm.[10]
13.
Lại có hai sự thấy: khinh thấy là trọng, trọng thấy là
khinh.
14.
Lại có hai sự thấy: hữu dư thấy là vô dư, vô dư thấy
là hữu dư.[11]
15.
Lại có hai sự thấy: thô ác thấy là phi thô ác, phi thô ác
thấy là thô ác.[12]
16.
Lại có hai sự thấy: cựu pháp[13] thấy là phi cựu pháp,
phi cựu pháp thấy là cựu pháp.
17.
Lại có hai sự thấy: chế thấy là phi chế, phi chế thấy
là chế.[14]
18.
Lại có hai sự thấy: thuyết thấy là phi thuyết, phi thuyết
thấy là thuyết.[15]
19.
Lại có hai sự thấy: rượu thấy là chẳng phải rượu, chẳng
phải rượu thấy là rượu.
20.
Lại có hai sự thấy: ẩm thấy phi ẩm, phi ẩm thấy là ẩm.[16]
21.
Lại có hai sự thấy: thực thấy phi thực, phi thực thấy
là thực.[17]
22.
Lại có hai sự thấy: thời thấy phi thời, phi thời thấy
là thời.[18]
23.
Lại có hai sự thấy: tịnh thấy không tịnh, không tịnh thấy
là tịnh.[19]
24.
Lại có hai sự thấy: trọng thấy phi trọng, phi trọng thấy
là trọng.
25.
Lại có hai kiến giải: nạn thấy phi nạn, phi nạn thấy là
nạn.[20]
26.
Lại có hai sự thấy: không có trùng thấy là có trùng, có
trùng thấy là không trùng.
27.
Lại có hai sự thấy: phá thấy là không phá, không phá thấy
là phá.[21]
28.
Lại có hai sự thấy: chủng thấy là phi chủng, phi chủng
thấy là chủng.[22]
29.
Lại có hai sự thấy: nghĩa đã giải[23] thấy là nghĩa chưa
giải, nghĩa chưa giải thấy là nghĩa đã giải.
30.
Lại có hai sự thấy: khả thân thấy phi thân, phi thân thấy
là khả thân.[24]
31.
Lại có hai sự thấy: sợ thấy là không sợ, không sợ thấy
là sợ.[25]
32.
Lại có hai sự thấy: đạo thấy là phi đạo, phi đạo thấy
là đạo.[26]
33.
Lại có hai sự thấy: khả hành thấy phi hành, phi hành thấy
là khả hành.
34.
Lại có hai sự thấy: xuất ly thấy không xuất ly, không xuất
ly thấy là xuất ly.
35.
Lại có hai sự thấy: khí (vất bỏ) thấy là không khí, không
khí thấy là khí.[27]
36.
Lại có hai sự thấy: thấy thế gian thường, thấy thế gian
vô thường.
37.
Lại có hai sự thấy: thấy thế giới có biên tế, thấy thế
giới không biên tế.
38.
Lại có hai sự thấy: thân tức là mạng, thân khác mạng khác.
39.
Lại có hai sự thấy: Như Lai có diệt độ, Như Lai không diệt
độ.[28]
40.
Lại có hai sự thấy: Như Lai vừa có vừa không diệt độ,
Như Lai chẳng phải có chẳng phải không diệt độ.[29]
Trong
Phật pháp có hai sự thấy như vậy, người xuất gia không
được hành, nếu hành thì sẽ như pháp trị.
Phật
nói như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tin ưa và thọ
trì.
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
41.
Có hai loại tỳ-ni: hữu phạm tỳ-ni,[30] hữu tránh tỳ-ni.[31]
42.
Lại có hai loại tỳ-ni: phạm tỳ-ni, kết sử tỳ-ni.[32]
43.
Lại có hai loại tỳ-ni: tỳ-kheo tỳ-ni, tỳ-kheo-ni tỳ-ni.
44.
Lại có hai loại tỳ-ni: phương tỳ-ni, biến tỳ-ni.[33]
Đây
là hai loại tỳ-ni.
Phật
nói như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tin ưa và thọ
trì.
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
45.
Có hai hạng người sống không an lạc: một là ưa sân, hai
là ôm lòng oán.[34]
46.
Lại có hai pháp: một là cấp tánh, hai là khó xả.
47.
Lại có hai pháp: một là xan, hai là tật đố.
48.
Lại có hai pháp: một là khi trá, hai là siểm khúc.
49.
Lại có hai pháp: một là tự cao, hai là ưa tranh cãi.
50.
Lại có hai pháp: một là ưa trang sức, hai phóng dật.
51.
Lại có hai pháp: một là mạn, hai là tăng thượng mạn.
52.
Lại có hai pháp: một là tham, hai là nhuế.
53.
Lại có hai pháp: một là khen mình, hai là chê người.
54.
Lại có hai pháp: một là tà kiến, hai là biên kiến.
55.
Lại có hai pháp: một là khó dạy, hai là không nhận giáo
huấn.[35]
Hai
hạng người như vậy sống không an lạc.
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
56.
Tỳ-kheo hữu học, tâm chưa đạt đến vô học, thường cầu
tu tập tăng tấn thắng pháp, có hai pháp được nhiều lợi
ích, khiến đắc điều chưa đắc, nhập chỗ chưa nhập, chứng
pháp chưa chứng.
Hai
pháp đó là: khéo (biết) phạm,[36] khéo hay trừ phạm. Người
học như vậy, tâm chưa đạt đến vô học, thường cầu tu
tập tăng tấn thắng pháp, có hai pháp được nhiều lợi ích,
khiến đắc điều chưa đắc, nhập chỗ chưa nhập, chứng
pháp chưa chứng. Cho nên các ngươi hãy siêng năng tu tập học
pháp như vậy.
Phật
nói như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tin ưa và thọ
trì.
57.
Đức Phật bảo các tỳ-kheo:
Có
tỳ-kheo tâm chưa đạt đến vô học, thường cầu tu tập
tăng tấn thắng pháp, có hai pháp được nhiều lợi ích, khiến
đắc điều chưa đắc, nhập chỗ chưa nhập, chứng pháp chưa
chứng.
Hai
pháp đó là: đối với các đáng nhàm chán thì sanh nhàm chán;
nhàm chán rồi chánh ức niệm đoạn trừ. Người học như
vậy tâm chưa đạt đến vô học, thường cầu tu tập tăng
tấn thắng pháp, có hai pháp được nhiều lợi ích, khiến
đắc điều chưa đắc, nhập chỗ chưa nhập, chứng pháp chưa
chứng. Cho nên các ngươi, đối với cái đáng nhàm chán thì
sanh nhàm chán; nhàm chán rồi chánh ức niệm đoạn trừ.
Đức
Phật nói kệ:
Người
sáng, tâm nhàm chán ,
Nơi
những gì đáng chán.
Vô
úy không sợ sệt,
Người
hay đoạn, đắc thánh.
Tỳ-kheo
chánh niệm đoạn,
Đặng
vô thượng chánh đạo.
Không
hề có thối chuyển,
Được
trụ nơi Niết-bàn.
Phật
nói như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tin ưa và thọ
trì.
Bấy
giờ đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:
58.
Phá giới đọa trong hai đường, địa ngục và súc sanh; trì
giới sanh hai đường nhơn và thiên.
59.
Tạo ác nghiệp trong chỗ khuất kín, sanh đọa trong hai đường
địa ngục và súc sanh. Tạo thiện nghiệp trong chỗ khuất
kín, đặng sanh nơi hai đường thiên và nhơn.[37]
60.
Tà kiến sanh hai đường địa ngục [992a1] và súc sanh. Chánh
kiến sanh hai đường thiên và nhơn.
61.
Thánh đệ tử Phật tôn quý giữa trời người, có hai pháp
không được giải thoát: một là phạm giới, hai là không
thấy phạm.[38]
62.
Có hai pháp tự mình được giải thoát: một là không phạm,
hai là thấy phạm.
63.
Có hai pháp không được giải thoát: một là phạm mà không
thấy tội, hai là thấy phạm mà không như pháp sám hối.
64.
Có hai pháp tự mình được giải thoát: một là thấy phạm
tội, hai là phạm mà có thể như pháp sám hối.
65.
Có hai pháp không được giải thoát: một là thấy tội mà
không như pháp sám hối, hai là như pháp sám hối mà người
kia không nhận.
66.
Có hai pháp tự mình được giải thoát: một là thấy tội
mà có thể như pháp sám hối, hai là như pháp sám hối mà
người kia có thể như pháp thọ.
67.
Trói buộc, không trói buộc cũng như vậy.
68.
Có hai thứ thanh tịnh: một là không phạm, hai là sám hối.[39]
Phật
nói như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tín ưa và thọ
trì.
Đức
Phật dạy các tỳ-kheo tiếp:
69.
Có hai loại người hủy báng Như Lai: một là không tin ưa
lại oán ghét, hai là tin ưa nhưng không hiểu thọ trì.
«Cho
nên, nay ta bảo các người, để biết ý nghĩa này: hủy báng
Như Lai thì mắc đại trọng tội. Nếu hủy báng tất cả
chư thiên và người trong đời, hoặc Ma, Phạm vương, sa-môn,
bà-la-môn, tội đó còn nhẹ. Hủy báng Như Lai, tội kia rất
nặng.»
Phật
nói như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tín ưa và thọ
trì.
70.
Lại có hai loại[40] hủy báng Như Lai: một phi pháp nói là
pháp, hai là pháp nói phi pháp.
71.
Có hai loại không hủy báng Như Lai: một là phi pháp nói phi
pháp, hai là pháp nói pháp.
72.
Có hai loại hủy báng Như Lai: một là phi tỳ-ni nói tỳ-ni,
hai là tỳ-ni nói phi tỳ-ni.
73.
Có hai loại không hủy báng Như Lai: một là phi tỳ-ni nói
là phi tỳ-ni, hai là tỳ-ni nói tỳ-ni.
74.
Có hai loại hủy báng Như Lai: một là phi chế nói là chế,
hai đã chế mà đoạn.
75.
Có hai loại không hủy báng Như Lai: một là phi chế, hai là
chế mà không đoạn.
76.
Có hai pháp[41] hủy báng Như Lai: một là phi pháp nói pháp,
hai là pháp nói phi pháp.
77.
Có hai pháp không hủy báng Như Lai: một là phi pháp nói phi
pháp, hai là pháp nói pháp.
78.
Cho đến thuyết nói phi thuyết cũng như vậy.
79.
Hai xứ, hai sự, hai kiến cũng như vậy.
80.
Lại có hai pháp không thọ nhận thiện giáo của Như Lai cũng
như vậy.
81.
Lại có hai pháp vi nghịch Như Lai cũng như vậy.
82.
Lại có hai pháp kiên trì tranh thuyết cùng Như Lai cũng như
vậy.
83.
Lại có hai pháp không phụng thờ Như Lai cũng như vậy.
84.
Lại có hai pháp không gặp Như Lai cũng như vậy.
85.
Lại có hai pháp thô lỗ, không có từ tâm đối với Như Lai
cũng như vậy.
Phật
nói như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tin ưa và thọ
trì.
Bấy
giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
86.
Có hai chúng, một là chúng pháp ngữ, hai là chúng phi pháp
ngữ.
Thế
nào là chúng phi pháp ngữ? Trong chúng không dẫn Pháp Tỳ ni,
không đem lời Phật dạy để nói. Sống với nhau mà không
dạy điều nên dạy. Sống với nhau mà không chấm dứt điều
nên chấm dứt. Đó gọi là phi pháp ngữ chúng.
Thế
nào gọi là chúng pháp ngữ? Trong chúng dùng Pháp Tỳ ni, nói
theo lời Phật dạy, dạy nhau điều nên dạy, chấm dứt điều
nên chấm dứt. Đó gọi là pháp ngữ chúng.
Trong
hai chúng này, chúng được pháp ngữ Ta khen ngợi là tôn quý.
Phật
nói như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tin ưa và thọ
trì.
87.
Lại có hai chúng, chúng như pháp và chúng không như pháp.
Thế
nào là chúng không như pháp? Trong chúng, người phi pháp có
thế lực, người như pháp không có thế lực; người phi pháp
có bạn bè, người như pháp không có bạn bè. Yết-ma phi pháp,
không tác yết-ma như pháp; tác yết-ma phi tỳ-ni, không tác
yết-ma như tỳ-ni; phụng hành phi pháp, không hành như pháp.
Đó gọi là phi pháp chúng.
Thế
nào là chúng như pháp? Trong chúng, người như pháp có thế
lực, người phi pháp không có thế lực; người như pháp có
bạn bè, người không như pháp không có bạn bè. Tác yết-ma
như pháp, không tác yết-ma phi pháp; tác yết-ma như tỳ-ni,
không tác yết-ma phi tỳ-ni; phụng hành như pháp, diệt trừ
phi pháp. Đó gọi là chúng như pháp.
Trong
hai chúng này, chúng như pháp được ta khen ngợi là tôn quý.
Phật
nói như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tin ưa và thọ
trì.
88.
Có hai chúng; chúng bằng nhau,[42] chúng không bằng nhau cũng
như vậy.
Bấy
giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
89.
«Nếu pháp luật của nước, quyền lực của vua yếu thì
bọn giặc xí thạnh. Bấy giờ, pháp vương[43] ra vào không
được an lạc. Các tiểu vương của những nước ven biên
cương không thuận theo giáo lệnh. Nhơn dân ở trong nước
cũng không ra vào an lạc, sanh nghiệp bị phế bỏ, ưu khổ,
tổn giảm, không được lợi ích. Cũng vậy, tỳ-kheo phi pháp
có thế lực thì tỳ-kheo như pháp không có thế lực. Tỳ-kheo
như pháp không được an lạc, hoặc ở trong chúng, hoặc ở
chỗ trống vắng, cũng không được nói. Khi ấy yết-ma phi
pháp được thực hiện; yết-ma như pháp không được thực
hiện; tác yết-ma phi tỳ ni, mà không tác yết-ma như tỳ-ni,
phi pháp được hành, mà như pháp không được thi hành. Chúng
không cần hành tinh tấn, để đắc điều chưa đắc nhập
chỗ chưa nhập, chứng pháp chưa chứng. Như vậy, khiến cho
chư thiên, nhân dân không được lợi ích, thọ khổ lâu dài.»
Phật
nói như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tín ưa và thọ
trì.
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
90.
«Nếu pháp luật của nước, quyền lực của vua mạnh thì
sức giặc yếu. Hoặc tất cả đều đến quy phục hoặc chạy
trốn. Bấy giờ, vị pháp vương ra vào an lạc, không có buồn
lo. Tiểu vương các nước ven biên thuận tùng giáo lệnh. Nhơn
dân trong nước cũng được an lạc, sinh nghiệp tự do, không
có các ưu khổ, được nhiều lợi ích, không có tổn giảm.
Cũng vậy, tỳ-kheo như pháp đặng thế lực, tỳ-kheo phi pháp
không thế lực. Tỳ-kheo phi pháp đến chỗ tỳ-kheo như pháp
phải tùy thuận theo giáo lệnh, không dám trái nghịch, hoặc
sẽ bỏ trốn, không làm các điều ác. Khi ấy, tỳ-kheo như
pháp an ổn đặng vui. Nếu ở trong chúng hoặc ở chỗ trống
vắng đều được nói. Tác yết-ma như pháp, không tác yết-ma
phi pháp; tác yết-ma như tỳ-ni, không tác yết-ma phi tỳ-ni,
như pháp được phụng hành, phi pháp không được áp dụng.
Siêng năng tinh tấn tu hành, để đắc điều chưa đắc nhập
chỗ chưa nhập, chứng pháp chưa chứng, khiến cho chư thiên
nhơn dân được đại lợi ích.»
Phật
nói như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ tín ưa và thọ
trì.
Bấy
giờ, Xá-lợi-phất nói với các tỳ-kheo:
91.
«Thưa các Trưởng lão, khi có việc đấu tranh mà tỳ-kheo
cử tội người và tỳ-kheo có tội không tự quán sát; nên
biết, tránh sự này lại tăng trưởng, không được diệt
trừ như pháp, như tỳ ni, khiến các tỳ-kheo không được
an lạc. Nếu tỳ-kheo cùng tranh cãi, tỳ-kheo cử tội người
và tỳ-kheo có tội, mỗi người đều tự quan sát lỗi lầm,
thì việc tranh cãi này không tăng trưởng sâu rộng mà được
như pháp, như tỳ-ni trừ diệt, các tỳ-kheo được sống an
lạc.
«Này
các tỳ-kheo, thế nào là tự quán sát lỗi lầm? Tỳ-kheo có
tội nghĩ: ‹Ta đã phạm việc như vậy. Vị kia thấy ta phạm
điều sai quấy. Nếu ta không phạm thì vị kia không thấy
được ta phạm điều sai quấy. Vì ta phạm cho nên vị kia
thấy ta phạm. Nay ta nên tự hối lỗi, khiến vị kia không
dùng ác ngữ để quở trách ta. Nếu ta làm như vậy, khiến
thiện pháp tăng trưởng.› Đó gọi là tỳ-kheo có thể tự
quán sát lỗi của mình.
«Thế
nào [993a1] là tỳ-kheo cử tội người, tự quán sát lỗi kia?
Vị kia nghĩ: ‹Tỳ-kheo kia phạm điều sai quấy, khiến ta
thấy được. Nếu tỳ-kheo kia không phạm điều sai quấy thì
ta không thấy. Do tỳ-kheo kia phạm điều sai quấy, khiến ta
thấy được; nếu vị ấy có thể chí thành sám hối thì
không khiến cho ta phải dùng ác ngôn. Như vậy khiến cho thiện
pháp tăng trưởng.› Tỳ-kheo cử tội người tự quán sát
lỗi kia là vậy.
«Nếu
tỳ-kheo có tránh sự, tỳ-kheo cử tội người và tỳ-kheo
có tội, có thể tự quán sát lỗi kia như vậy, thì lỗi lầm
này không tăng trưởng, được chấm dứt như pháp, như tỳ-ni,
như lời Phật dạy, các tỳ-kheo được sống an lạc.»
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói như vậy. Các tỳ-kheo nghe rồi hoan
hỷ, tin ưa thọ trì.
Bấy
giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
92.
Có hai loại si:[44] một là phạm tội, hai là phạm không thấy.[45]
Đó là hai loại si.
93.
Lại có hai loại trí: một là không phạm tội, hai là phạm
tội nhưng thấy. Đó là hai loại trí.
94.
Lại có hai loại si: một là phạm tội mà không thấy, hai
là thấy phạm tội mà không như pháp sám hối. Đó là hai
loại si.
95.
Lại có hai loại trí: một là thấy phạm tội, hai là thấy
tội mà có thể như pháp sám hối. Đó là hai loại trí.
96.
Lại có hai loại si: một là thấy tội không như pháp sám
hối, hai là như pháp sám hối mà vị kia không thọ nhận.
97.
Lại có hai loại trí: một là thấy tội sám hối như pháp,
hai là sám hối như pháp được vị kia thọ nhận. Đó là
hai loại trí.
Đức
Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo nghe rồi hoan hỷ, tin ưa thọ
trì.
Bấy
giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
98.
Vì các tỳ-kheo có lỗi lầm nên đức Thế Tôn chế pháp đoạn
tránh với hai nghĩa[46]: một là người khó điều phục khiến
được điều phục; hai là người biết hổ thẹn được an
lạc.
Vì
hai nghĩa này nên đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo chế pháp đoạn
tránh. Đức Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo nghe rồi hoan
hỷ, tin ưa thọ trì.
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
99.
Tỳ-kheo cử tội người, muốn cử tội người nên tu hai pháp:
một là chơn thật, hai là không sân. Nên tu hai pháp như vậy.
100.
Tỳ-kheo bị cử cũng nên tu hai pháp như vậy: một chơn thật,
hai không sân.
Đức
Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo nghe rồi hoan hỷ, tin ưa thọ
trì.
Bấy
giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
101.
Tỳ-kheo có hai pháp làm cho chánh pháp tiêu diệt nhanh chóng:
phi pháp nói là pháp, pháp nói là phi pháp; cho đến thuyết,
phi thuyết[47] cũng vậy.[48]
Hai
xứ, hai sự, hai phạm cũng như vậy.
102.
Lại có hai pháp không thể sanh thiện pháp: từ pháp, phi pháp,
cho đến thuyết, phi thuyết cũng như vậy.
Hai
xứ, hai sự, hai phạm cũng như vậy.
103.
Lại có hai pháp tỳ-kheo tự phá hoại, được liệt vào hạng
phạm tội, bị người có trí chê trách, thọ nhiều tội báo:
từ pháp, phi pháp, cho đến nói, không nói cũng như vậy.
Hai
xứ, hai sự, hai phạm cũng như vậy.
104.
Lại có hai pháp tỳ-kheo đọa vào địa ngục như tên bắn:
từ pháp, phi pháp, cho đến thuyết, phi thuyết cũng như vậy.
Hai
xứ, hai sự, hai phạm cũng như vậy.
Bấy
giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
105.
Có hai pháp khiến chánh pháp tồn tại lâu dài: phi pháp nói
phi pháp, pháp nói là pháp, cho đến thuyết, phi thuyết cũng
như vậy.
Hai
xứ, hai sự, hai phạm cũng như vậy.
106.
Lại có hai pháp, tỳ-kheo có thể sanh các pháp thiện: phi pháp
nói phi pháp, pháp nói là pháp, cho đến thuyết, phi thuyết
cũng như vậy.
Hai
xứ, hai sự, hai phạm cũng như vậy.
107.
Lại có hai pháp, tỳ-kheo không tự phá hoại, không phạm tội,
không bị người trí quở trách, thọ phước vô lượng: phi
pháp nói phi pháp, pháp nói là pháp, cho đến thuyết, phi thuyết
cũng như vậy.
Hai
xứ, hai sự, hai phạm cũng như vậy.
108.
Lại có hai pháp, tỳ-kheo tự mình đặng sanh thiên nhanh như
tên bắn: phi pháp nói phi pháp, pháp nói là pháp, cho đến
thuyết, phi thuyết cũng như vậy.
Hai
xứ, hai sự, hai phạm cũng như vậy.
109.
Tỳ-kheo có hai pháp đáng bị cử tội: phi pháp nói là pháp,
pháp nói là phi pháp cho đến nói, không nói cũng như vậy.
Đáng
bị tác ức niệm, tác tự ngôn, tác ngăn a-nậu-bà-đà, ngăn
thuyết giới, ngăn tự tứ cũng như vậy.
Hai
xứ, hai sự, hai phạm cũng như vậy.
110.
Lại có hai pháp tỳ-kheo bị cử tội như pháp[49]: phi pháp
nói là pháp, pháp nói là phi pháp, cho đến thuyết, phi thuyết
cũng như vậy.
Hai
xứ, hai sự, hai phạm cũng như vậy.
Tác
ức niệm, tác tự ngôn, tác ngăn a-nậu-bà-đà, ngăn thuyết
giới, ngăn tự tứ cũng như vậy.
111.
Lại có hai pháp tỳ-kheo đáng bị trao cho yết-ma ha trách:
phi pháp nói là pháp, pháp nói là phi pháp, cho đến nói, không
nói cũng như vậy. Hai xứ, hai sự, hai phạm cũng như vậy.
Yết-ma
tẩn[50], yết-ma y chỉ, yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch
y, yết-ma cử tội cũng như vậy.
Hai
xứ, hai sự, hai kiến cũng như vậy.
112.
Có hai pháp tăng trưởng hữu lậu: không hổ thẹn với điều
đáng hổ thẹn, hổ thẹn với điều không đáng hổ thẹn.
Có hai pháp này thì tăng trưởng hữu lậu.[51]
113.
Có hai pháp không tăng trưởng hữu lậu: hổ thẹn với điều
đáng hổ thẹn, không hổ thẹn với điều không đáng hổ
thẹn.
114.
Lại có hai pháp tăng trưởng hữu lậu: bất tịnh thấy là
tịnh, tịnh thấy là bất tịnh.[52] Có hai pháp như vậy thì
tăng trưởng hữu lậu.
115.
Lại có hai pháp không tăng trưởng hữu lậu: không tịnh thấy
là không tịnh, tịnh thấy là tịnh. Có hai pháp như vậy thì
không tăng trưởng hữu lậu.
116.
Lại có hai pháp tăng trưởng hữu lậu: không phạm thấy là
phạm, phạm thấy là không phạm. Có hai pháp như vậy thì
tăng trưởng hữu lậu.
117.
Lại có hai pháp không tăng trưởng hữu lậu: không phạm thấy
không phạm, phạm thấy là phạm. Có hai pháp như vậy thì
không tăng trưởng hữu lậu.
118.
Lại có hai pháp tăng trưởng hữu lậu: nặng thấy là nhẹ,
nhẹ thấy là nặng. Có hai pháp như vậy thì tăng trưởng
hữu lậu.
119.
Lại có hai pháp không tăng trưởng hữu lậu: nhẹ thấy là
nhẹ, nặng thấy là nặng. Có hai pháp như vậy thì không tăng
trưởng hữu lậu.
120.
Lại có hai pháp tăng trưởng hữu lậu: vô dư thấy là hữu
dư, hữu dư thấy là vô dư. Có hai pháp như vậy thì tăng
trưởng hữu lậu.
121.
Lại có hai pháp không tăng truởng hữu lậu: vô dư thấy là
vô dư, hữu dư thấy là hữu dư. Có hai pháp như vậy thì
không tăng trưởng hữu lậu.
122.
Lại có hai pháp tăng trưởng hữu lậu: phi pháp thấy là pháp,
pháp thấy là phi pháp. Có hai pháp như vậy thì tăng trưởng
hữu lậu.
123.
Lại có hai pháp không tăng trưởng hữu lậu: phi pháp thấy
là phi pháp, pháp thấy là pháp. Có hai pháp như vậy thì không
tăng trưởng hữu lậu.
124.
Lại có hai pháp tăng trưởng hữu lậu: phi chế lại chế,[53]
đã chế lại đoạn. Có hai pháp như vậy thì tăng trưởng
hữu lậu.
125.
Lại có hai pháp không tăng trưởng hữu lậu: phi chế không
chế, đã chế thì không đoạn. Có hai pháp như vậy thì không
tăng trưởng hữu lậu.
126.
Có hai lời thành xả giới: ‹Tôi xả Phật, xả Pháp,› cho
đến ‹tôi không phải là sa-môn Thích tử,› như trên.[54]
127.
Đức Như Lai ra đời, thấy các lỗi lầm nên vì các tỳ-kheo
chế giới với hai nghĩa: một là nhiếp thủ Tăng, hai là khiến
cho Tăng hoan hỷ.[55]
128.
Lại có hai pháp: một là khiến người không tin sẽ tin, hai
là khiến người đã tin thì tin tăng trưởng.
129.
Lại có hai pháp: một là người khó điều phục được điều
phục, hai là tỳ-kheo biết tàm quý được sống an lạc.
130.
Lại có hai pháp: một là khiến chánh [994a1] pháp tồn tại
lâu dài, hai là nhiếp thủ tỳ-ni.
131.
Lại có hai pháp: một là đoạn trừ oán đời hiện tại,
hai là đoạn oán đời vị lai.
132.
Lại có hai pháp: một là diệt hữu lậu hiện tại, hai là
diệt hữu lậu vị lại.
133.
Lại có hai pháp: một là đọan khủng bố hiện tại, hai là
trừ khủng bố vị lai.
134.
Lại có hai pháp: một là đoạn trọng tội hiện tại, hai
là đoạn trọng tội vị lai.
135.
Lại có hai pháp: một là đoạn bất thiện pháp hiện tại,
hai là đoạn bất thiện pháp vị lai. Vì hai nghĩa này, đức
Thế Tôn vì các tỳ-kheo chế 21 Yết-ma
136.
Lại có hai pháp, vì hai pháp nên đức Thế Tôn chế yết-ma
ha trách:[56] một là nhiếp thủ đối với Tăng, hai là khiến
cho Tăng hoan hỷ, cho đến đoạn bất tịnh pháp hiện tại,
bất thiện pháp vị lai cũng như trên.
Như
vậy mỗi một câu cho đến bảy diệt tránh, như pháp yết-ma
ha trách. Đức Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo nghe rồi hoan
hỷ, tin ưa thọ trì.[57]
III.
BA PHÁP
1.
Bấy giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
Có
ba yết-ma nhiếp tất cả yết-ma. Ba yết-ma ấy là: bạch yết-ma,[58]
bạch nhị yết-ma, bạch tứ yết-ma. Đó là ba pháp yết-ma
nhiếp tất cả các yết-ma.
Đức
Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo nghe rồi hoan hỷ, tin ưa thọ
trì.
2.
Bấy giờ, đức Thế Tôn ở tại thành Vương-xá, bảo các
tỳ-kheo:
Có
ba trường hợp trao ức niệm tỳ-ni phi pháp. Ba phi pháp ấy
là:
a.
Hoặc có tỳ-kheo phạm trọng tội, hoặc ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay thâu-lan-giá. Các tỳ-kheo nói là phạm ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay thâu-lan-giá, và hỏi: «Ngươi có nhớ phạm ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa,
thâu-lan-giá không?» Vị kia nói: «Căn bổn không thấy.[59]
Này các Trưởng lão! Tôi không nhớ có phạm ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa,
thâu-lan-giá. Đừng nạn vấn tôi mãi.» Các tỳ-kheo cứ nạn
vấn không thôi, nên vị đó đến Tăng xin ức niệm tỳ-ni.
Nếu Tăng cho vị đó ức niệm tỳ-ni, thì đó là trao ức
niệm tỳ-ni phi pháp.
b.
Hoặc có tỳ-kheo phạm trọng tội, hoặc ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay thâu-lan-giá. Các tỳ-kheo nói là phạm ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay thâu-lan-giá, bèn hỏi: «Ngươi có nhớ phạm ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa,
thâu-lan-giá không?» Vị kia nói: «Căn bản không thấy. Thưa
các Trưởng lão, tôi không nhớ có phạm trọng tội như vậy.
Tôi phạm tiểu tội. Tôi sẽ sám hối thanh tịnh. Các Trưởng
lão đừng nạn vấn tôi mãi.» Vì các tỳ-kheo cố nạn vấn
không thôi, nên vị đó đến Tăng xin ức niệm tỳ-ni. Nếu
Tăng trao cho ức niệm tỳ-ni, thì đó là trao ức niệm tỳ-ni
phi pháp.
c.
Hoặc có tỳ-kheo phạm trọng tội, hoặc ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay thâu-lan-giá. Các tỳ-kheo hỏi: «Ngươi có nhớ phạm, trọng
tội ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa, hay thâu-lan-giá không?»
Vị đó nói: «Căn bản không thấy. Thưa các Trưởng lão,
tôi không nhớ có phạm trọng tội ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay thâu-lan-giá. Tôi phạm tiểu tội, đã sám hối thanh tịnh.
Các Trưởng lão đừng cật vấn tôi.» Vì các tỳ-kheo cật
vấn không thôi, nên vị kia đến Tăng xin ức niệm tỳ-ni.
Nếu Tăng trao cho ức niệm tỳ-ni thì là phi pháp.
Đó
là ba loại trao ức niệm tỳ-ni phi pháp.
3.
Có ba trường hợp trao ức niệm tỳ-ni như pháp:
a.
Nếu tỳ-kheo không phạm trọng tội, hoặc ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay thâu-lan-giá. Các tỳ-kheo khác nói là phạm trọng tội
ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa, thâu-lan-giá, bèn hỏi: «Ngươi
nhớ phạm trọng tội, hoặc ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay thâu-lan-giá như vậy không?» Vị kia không nhớ có phạm
nên nói: «Thưa Trưởng lão, tôi không nhớ phạm trọng tội,
hoặc ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa, hay thâu-lan-giá như
vậy. Các Trưởng lão đừng cật vấn tôi.» Vì các tỳ-kheo
cứ cật vấn không thôi, cho nên vị kia cố nhớ lại kỹ,
rồi đến Tăng xin ức niệm tỳ-ni. Nếu Tăng trao cho ức niệm
tỳ-ni thì đó là trao ức niệm tỳ-ni như pháp.
b.
Nếu tỳ-kheo không phạm trọng tội, hoặc ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay thâu-lan-giá. Các tỳ-kheo khác nói là phạm trọng tội,
hoặc ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa, hay thâu-lan-giá, bèn
hỏi: «Ngươi phạm ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa, thâu-lan-giá,
có nhớ không?» Vị kia không nhớ có phạm, nên nói: «Trưởng
lão, tôi không nhớ phạm trọng tội, ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay thâu-lan-giá như vậy.» Tôi phạm tiểu tội, sẽ như pháp
sám hối thanh tịnh. Các Trưởng lão đừng cật vấn tôi.»
Vì các tỳ-kheo cứ cật vấn mãi không thôi, nên vị kia cố
nhớ lại kỹ, rồi đến Tăng xin ức niệm tỳ-ni. Nếu Tăng
trao cho ức niệm tỳ-ni thì đó là trao ức niệm tỳ-ni như
pháp.
c.
Hoặc tỳ-kheo không phạm trọng tội, hoặc ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay thâu-lan-giá. Các tỳ-kheo khác nói là phạm trọng tội,
hoặc ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa, hay thâu-lan-giá, bèn
hỏi: «Ngươi phạm trọng tội, ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay thâu-lan-giá như vậy, có nhớ không?» Vị kia không nhớ
có phạm nên nói: «Thưa Trưởng lão, tôi không nhớ phạm
trọng tội, ba-la-di, tăng-già-bà-thi-sa, thâu-lan-giá như vậy.
Tôi phạm tiểu tội, đã sám hối thanh tịnh. Các tỳ-kheo
đừng cật vấn tôi.» Vì các tỳ-kheo cứ cật vấn mãi không
thôi, nên vị kia cố nhớ lại kỹ rồi đến Tăng xin ức
niệm tỳ-ni. Nếu Tăng trao cho ức niệm tỳ-ni, thì đó là
trao ức niệm tỳ-ni như pháp.
Đó
là ba trường hợp trao ức niệm tỳ-ni như pháp.
4.
Lại có ba trường hợp trao cho bất si tỳ-ni phi pháp:
a.
Nếu tỳ-kheo không si cuồng mà dối làm si cuồng, phạm nhiều
bất tịnh hạnh, chẳng phải pháp sa-môn. Các tỳ-kheo khác
nói: «Ngươi phạm trọng tội, hoặc ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay thâu-lan-giá.» Vị kia nói: «Tôi điên cuồng tâm loạn,
phạm nhiều bất tịnh hạnh, chẳng phải pháp sa-môn. Đó
chẳng phải là việc tôi cố ý làm, mà là do si cuồng. Các
Trưởng lão đừng nên cật vấn tôi.» Vì các tỳ-kheo cứ
vẫn cật vấn không thôi, nên vị kia đến giữa Tăng xin bất
si tỳ-ni. Nếu Tăng cho bất si tỳ-ni, tức là cho bất si tỳ-ni
phi pháp.
b.
Nếu tỳ-kheo không si cuồng mà dối làm si cuồng, phạm nhiều
bất tịnh hạnh, chẳng phải pháp sa-môn. Các tỳ-kheo khác
nói là phạm trọng tội, ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa,
hay Thâu-lan-giá, bèn hỏi: «Ngươi nhớ phạm trọng tội,
ba-la-di, hoặc tăng-già-bà-thi-sa, hay thâu-lan-giá không?» Vị
kia nói: «Trước đây, tôi si cuồng tâm loạn, phạm nhiều
bất tịnh hạnh, chẳng phải pháp sa-môn, chẳng phải do tôi
cố ý làm, mà là vì si cuồng nên làm như vậy. Như người
nhớ việc trong mộng, tôi cũng như vậy. Các Trưởng lão đừng
nên cật vấn tôi.» Vì các tỳ-kheo vẫn cứ cật vấn không
thôi, [995a1] nên vị kia đến trong Tăng xin bất si tỳ-ni. Nếu
Tăng cho bất si tỳ-ni, tức là cho bất si tỳ-ni phi pháp.
c.
Nếu tỳ-kheo không si cuồng mà dối làm si cuồng, phạm nhiều
bất tịnh hạnh, chẳng phải pháp sa-môn. Các tỳ-kheo khác
nói là phạm trọng tội, ba-la-di, hoặc Tăng gìa bà thi sa,
hay thâu-lan-giá, bèn hỏi: «Ngươi nhớ phạm trọng tội, ba-la-di,
hoặc tăng-già-bà-thi-sa, hay thâu-lan-giá không?» Vị kia nói:
«Trước đây, tôi si cuồng nên làm như vậy. Như người từ
trên núi cao rơi xuống, chỉ nắm được một ít cỏ cây mà
thôi. Các Trưởng lão đừng nên cật vấn tôi.» Vì các Trưởng
lão vẫn cố cật vấn không thôi, nên vị kia đến giữa Tăng
xin bất si tỳ-ni. Nếu Tăng trao cho pháp bất si tỳ-ni, tức
là trao bất si tỳ-ni phi pháp.
Đó
là ba trường hợp trao bất si tỳ-ni phi pháp.
5.
Lại có ba trường hợp trao Bất si tỳ-ni như pháp:
a.
Nếu tỳ-kheo si cuồng nên phạm nhiều bất tịnh hạnh, chẳng
phải pháp sa-môn. Sau đó, vị kia trở lại bình phục. Các
tỳ-kheo khác nói: «Ngươi phạm trọng tội, ba-la-di, hoặc
tăng-già-bà-thi-sa, hay thâu-lan-giá như vậy, có nhớ hay không?»
Vị kia nói: «Trước đây tôi si cuồng nên phạm nhiều bất
tịnh hạnh, chẳng phải pháp sa-môn; chẳng phải do tôi cố
làm, mà vì cuồng si. Các Trưởng lão đừng gạn hỏi tôi.»
Vì các tỳ-kheo cứ gạn hỏi mãi không thôi, nên vị kia khi
si cuồng chấm dứt, đến trước Tăng xin bất si tỳ-ni. Nếu
Tăng cho bất si tỳ-ni, tức là trao bất si tỳ-ni như pháp.
b.
Nếu tỳ-kheo si cuồng nên phạm nhiều bất tịnh hạnh, chẳng
phải pháp sa-môn. Sau đó, vị kia trở lại bình phục. Các
tỳ-kheo khác nói: «Ngươi phạm trọng tội, ba-la-di, hoặc
tăng-già-bà-thi-sa, hay thâu-lan-giá như vậy, có nhớ hay không?»
Vị kia nói: «Trước đây tôi si cuồng nên phạm nhiều bất
tịnh hạnh, chẳng phải pháp sa-môn; chẳng phải do tôi cố
làm, mà vì cuồng si. Như người nhớ lại việc làm trong mộng.
Các Trưởng lão đừng nên gạn hỏi tôi.» Vì các tỳ-kheo
vẫn cứ gạn hỏi không thôi, nên vị kia sau khi si cuồng chấm
dứt, đến trước Tăng xin bất si tỳ-ni. Nếu Tăng trao cho
bất si tỳ-ni, tức là trao bất si tỳ-ni như pháp.
c.
Nếu tỳ-kheo si cuồng nên phạm nhiều bất tịnh hạnh, chẳng
phải pháp sa-môn. Sau đó, vị kia trở lại bình phục. Các
tỳ-kheo khác nói: «Ngươi phạm trọng tội, ba-la-di, hoặc
tăng-già-bà-thi-sa, hay thâu-lan-giá như vậy, có nhớ hay không?»
Vị kia nói: «Trước đây tôi si cuồng nên phạm nhiều bất
tịnh hạnh, chẳng phải pháp sa-môn; chẳng phải do tôi cố
làm, mà vì cuồng si. Tôi nhớ như người từ trên núi cao
rơi xuống chỉ nắm được một ít cỏ cây mà thôi. Các Trưởng
lão đừng cật vấn tôi.» Vì các tỳ-kheo cứ cật vấn mãi
không thôi, nên vị kia, sau khi cuồng si dứt, đến trước
Tăng xin bất si tỳ-ni. Nếu Tăng cho bất si tỳ-ni, tức là
trao cho bất si tỳ-ni như pháp.
Đó
là ba trường hợp trao bất si tỳ-ni như pháp.
6.
Có ba loại điều phục pháp:[60] ha trách, tẩn xuất, y chỉ.
Đó là ba pháp điều phục.
7.
Có ba pháp diệt tránh: Dùng lời của nhiều người, tội xứ
sở, cỏ che đất. Đó là ba pháp diệt tránh.
8.
Lại có ba pháp, nên gọi tỳ-kheo đến hiện tiền rồi tác
bạch, sau đó mới tác ba yết-ma. Ta nói pháp như vậy, đắc
xứ sở, yết-ma thành tựu. Nếu tỳ-kheo ưa đấu tranh, Tăng
nên trao cho ba loại yết-ma: hoặc yết-ma ha trách, hoặc yết-ma
y chỉ, hoặc yết-ma tẩn.
Đức
Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ, tin ưa
thọ trì.
9.
Bấy giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo, có ba pháp không được
cho thọ đại giới: một là phá giới, hai là phá kiến, ba
là phá oai nghi.[61] Người có ba pháp như vậy không được
cho thọ đại giới.
146.
Có ba pháp nên cho thọ đại giới: Không phá giới, không phá
kiến, không phá oai nghi. Người có ba pháp như vậy nên cho
thọ đại giới.
10.
Tỳ-kheo có ba pháp, Tăng nên trao cho pháp yết-ma ha trách: phá
giới, phá kiến, phá oai nghi. Phạm vào ba pháp như vậy Tăng
nên trao cho pháp yết-ma quở trách.
11.
Hoặc yết-ma tẫn, hay yết-ma y chỉ, yết-ma ngăn không cho
đến nhà bạch y, yết-ma cử, cũng như vậy.
12.
Người bị cử có ba pháp, không được cho giải yết-ma: Nên
thấy[62] mà không thấy, nên sám mà không sám, nên xả mà
không xả.[63] Vi phạm vào ba pháp như vậy, không được vì
họ giải yết-ma.
13.
Người bị cử[64] có ba pháp nên vì họ giải yết-ma: Nên
thấy thì thấy, nên sám thì sám, nên xả thì xả. Làm được
ba pháp như vậy, nên vì họ giải yết-ma.
14.
Người bị cử có ba pháp, không được vì họ giải yết-ma:
Nên thấy mà không thấy, nên sám mà không sám, nên tin mà
không tin. Ai có ba pháp như vậy, không được cho giải yết-ma.
15.
Người bị cử có ba pháp nên cho giải yết-ma: Nên thấy thì
thấy, nên sám thì sám, nên tin thì tin. Ai có ba pháp như vậy,
nên cho giải yết-ma.
16.
Tỳ-kheo có ba pháp nên trao cho pháp yết-ma ngăn không cho đến
nhà bạch y: Trước người bạch y mà chê trách Phật, Pháp,
Tăng. Ai có ba pháp như vậy, nên trao cho pháp yết-ma ngăn không
cho đến nhà bạch y.
17.
Trao cho tỳ-kheo pháp yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y
nên bằng ba pháp để cân nhắc: xứng lượng tỳ-kheo, xứng
lượng bạch y, xứng lượng sự việc.
18.
Lại có ba pháp: xứng lượng tỳ-kheo, xứng lượng bạch y,
xứng lượng yết-ma.
19.
Lại có ba pháp: Xứng lượng tỳ-kheo, xứng lượng bạch y,
xứng lượng tội phạm.
20.
Lại có ba pháp: có thật hay không thật, có làm hay không làm,
đáng trao cho pháp yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch y, hay
không đáng trao cho pháp yết-ma ngăn không cho đến nhà bạch
y. Đó là ba việc cân nhắc để trao cho tỳ-kheo yết-ma ngăn
không cho đến nhà bạch y.
21.
Lại có ba pháp tác yết-ma quở trách phi pháp phi tỳ-ni yết-ma
không thành, không đắc xứ sở. Ba pháp ấy là, không tác
cử, không tác ức niệm, không tác tự ngôn.
22.
Lại có ba pháp: không phạm, tội phạm không thể sám, hoặc
tội đã sám rồi.
23.
Lại có ba pháp: không tác cử, phi pháp, biệt chúng.
24.
Lại có ba pháp: không tác ức niệm, phi pháp, biệt chúng .
25.
Lại có ba pháp: không tác tự ngôn, phi pháp, biệt chúng.
26.
Lại có ba pháp: không phạm, phi pháp, biệt chúng.
27.
Lại có ba pháp: tội phạm không thể sám hối, phi pháp, biệt
chúng.
28.
Lại có ba pháp: tội phạm đã sám hối, phi pháp, biệt chúng.
29.
Lại có ba pháp: không hiện tiền, phi pháp, biệt chúng.
Có
ba pháp như vậy, tác yết-ma quở trách phi pháp, phi tỳ-ni,
không thành, không đắc xứ sở.
30.
Có ba pháp tác yết-ma quở trách như pháp, như tỳ-ni thành
tựu, đắc xứ sở (đúng cách) (ngược lại với câu trên,
để khỏi phiền nên không chép ra).[65]
31.
Có ba việc lộng âm xuất tinh tăng-già-bà-thi-sa: hồi tưởng,
lộng, xuất bất tịnh. Làm ba việc như vậy phạm tăng-già-bà-thi-sa.
32.
Lại có ba việc: hồi tưởng, lộng, muốn xuất bất tịnh
màu xanh, hoặc xuất bất tịnh màu xanh, tăng-già-bà-thi-sa.
33.
Nếu hồi tưởng, lộng, muốn xuất bất tịnh màu xanh, cho
đến xuất bất tịnh màu vàng, hoặc đỏ, hoặc trắng, hoặc
đen, hoặc màu sữa, hoặc bất tịnh màu lạc tương, tăng-già-bà-thi-sa.
34.
Nếu hồi tưởng, lộng, cho đến muốn xuất bất tịnh màu
nước sữa, hoặc xuất, tăng-già-bà-thi-sa.
35.
Nếu hồi tưởng, lộng, muốn xuất bất tịnh màu lạc tương,
cho đến xuất bất tịnh màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen,
tăng-già-bà-thi-sa.
36.
Cũng vậy, vì khoái lạc, vì làm thuốc, vì thử nghiệm, vì
phước đức, vì tế trời, vì thiện đạo, vì bố thí, vì
lấy giống, vì vọc chơi, vì buông tuồng, vì thử sức, vì
[996a1] nhan sắc, vì dễ ngươi; tất cả đều phạm tăng-già-bà-thi-sa.
37.
Đối với nội sắc cũng như vậy. Đối với ngoại sắc cũng
như vậy. Đối với nội ngoại sắc cũng như vậy. Nếu đối
với nước, với gió, với hư không cũng như vậy.
38.
Có ba hạng người phạm: không điên cuồng, không thác loạn,
không thống não. Đó là ba hạng người phạm.
39.
Có ba hạng người không phạm: điên cuồng, thác loạn, thống
não. Đó là ba hạng người không phạm.
40.
Có ba loại chúng sanh mà hành dâm với, phạm ba-la-di: nhơn,
phi nhơn, súc sanh. Đó là ba loại chúng sanh hành dâm phạm
ba-la-di.
41.
Lại có ba loại: phụ nữ, đồng nữ, hai căn.
42.
Lại có ba loại: phụ nữ, đồng nữ, huỳnh môn.
43.
Lại có ba loại: phụ nữ, đồng nữ, nam tử.
44.
Lại có ba: nam tử, hai căn, huỳnh môn.
45.
Lại có ba loại phụ nữ mà hành dâm với, phạm ba-la-di: phụ
nữ loài người, phụ nữ loài phi nhơn, súc sanh cái.
46.
Đồng nữ cũng như vậy. Hai căn cũng như vậy. Huỳnh môn
cũng như vậy. Nam tử cũng như vậy.
47.
Với phụ nữ loài người, hành dâm tại ba chỗ: đại tiện,
tiểu tiện và miệng, phạm ba-la-di
48.
Phụ nữ phi nhơn, phụ nữ súc sanh; đồng nữ loài người,
đồng nữ phi nhơn; súc sanh cái, người hai căn, phi nhơn hai
căn, súc sanh hai căn cũng như vậy.
49.
Có ba loại trộm phạm ba-la-di: tự mình lấy, hiện tiền chỉ
bảo lấy, sai phái người đi lấy.
50.
Lại có ba: không nghĩ tưởng của mình mà lấy, không lấy
tạm, chẳng phải thân tình mà lấy.
51.
Lại có ba: của người, ý tưởng là của người, dời khỏi
chỗ cũ.
52.
Có ba loại đoạn mạng phạm ba-la-di: người có ý tưởng
là người, hoặc dùng thân, hay dùng miệng để đoạn mạng.
Đó là ba loại đoạn mạng phạm ba-la-di.
53.
Có ba loại đoạn mạng người không phạm ba-la-di: người
mà tưởng là phi nhơn, hoặc dùng thân, hay dùng miệng để
đoạn mạng. Đó là ba loại đoạn mạng người mà không phạm
ba-la-di.
54.
Có ba loại tự xưng đặng pháp thượng nhơn phạm ba-la-di:
không đắc nói đắc, không nhập nói nhập, không chứng nói
chứng. Đó là ba loại.
55.
Lại có ba loại: phạm do thân, phạm do miệng, phạm do cả
thân và miệng.[66] Đó là ba loại (Trong ba điều phạm này
lại có bốn vế khác tên: vế thứ nhất nói, ba loại tướng.[67]
Vế hai, nói ba loại chú. Vế ba, nói ba phi oai nghi.[68] Vế
bốn, nói ba tà mạng[69])[70]
56.
Lại có ba: Tham, nhuế, si. Đó là ba.
57.
Lại có ba: Thân dục, khẩu dục, thân khẩu dục. Đó là ba.[71]
58.
Lại có ba: Thân nhuế, khẩu nhuế, thân khẩu nhuế. Đó là
ba.
59.
Lại có ba: Thân si, khẩu si, thân khẩu si. Đó là ba.
60.
Lại có ba: Thân dục hại, khẩu dục hại, thân khẩu dục
hại.[72] Đó là ba. Nhuế si cũng như vậy.
61.
Có ba hạng người phạm: một là Tăng, hai là số đông người,
ba là một người.[73]
62.
Có ba hạng người sám hối: Tăng, số đông người, một người.
63.
Có ba hạng người nên thọ sám hối: Tăng, số đông người,
một người.
64.
Có ba hạng người phạm ni-tát-kỳ: Tăng, số đông người,
một người.
Phạm
ni-tát-kỳ nên đối trước ba hạng người xả: Tăng, số
đông người, một người.
65.
Có ba hạng người thọ ni-tát-kỳ: Tăng, số đông người,
một người.
66.
Có ba loại im lặng: biết mà im lặng, không biết mà im lặng,
si mà im lặng.
67.
Có ba loại trụ: giới trụ, kiến trụ, yết-ma trụ.
68.
Lại có ba: giới trụ, kiến trụ, oai nghi trụ.
69.
Lại có ba: giới trụ, kiến trụ, mạng trụ.
70.
Lại có ba hạng người tranh chấp: hoặc Tăng, hoặc số đông
người, hoặc một người.
71.
Có ba hạng người khơi dậy tranh chấp: hoặc Tăng, hoặc số
đông người, hoặc một người.
72.
Có ba hạng người xả tranh chấp: Tăng, số đông người,
hoặc một người.
73.
Nên đối trước ba hạng người để xả: hoặc Tăng, hoặc
số đông người, hay một người.
74.
Có ba hạng người diệt tranh chấp: Tăng, số đông người,
hay một người.
75.
Có ba hạng người nên diệt tranh chấp: Tăng, số đông người,
một người.
76.
Có ba hạng người được diệt tranh chấp: Tăng, số đông
người, hay một người.
77.
Tỳ-kheo có ba thứ chánh ngữ nên nói với tỳ-kheo: phá giới,
phá kiến, phá oai nghi.
78.
Cử tội tỳ-kheo khác nên dùng ba việc: nghe, thấy, nghi.
79.
Có ba loại che giấu: che giấu phá giới, che dấu phá kiến,
che dấu phá oai nghi.
80.
Có ba cách phát lồ: phá giới, phá kiến, phá oai nghi.
81.
Có ba loại sám hối: phá giới, phá kiến, phá oai nghi.
82.
Có ba loại yết-ma phóng dật:[74] Yết-ma phá giới, yết-ma
phá kiến, yết-ma phá oai nghi.
83.
Có ba học: tăng giới học, tăng tâm học, tăng huệ học.
Đó là ba học.
84.
Lại có ba học: oai nghi học, tịnh hạnh học, ba-la-đề-mộc-xoa
học. Đó là ba học.
85.
Bấy giờ, có số đông tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn đầu
mặt kính lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên, bạch đức
Thế Tôn:
«Đại
đức là chủ của Pháp, nói về học. Vậy thế nào là học?»
Đức
Phật bảo các tỳ-kheo:
«Học
nơi giới, nên gọi là học.
«Thế
nào là học giới? Tăng giới học, tăng tâm học, tăng tuệ
học, cho nên gọi là học. Khi vị kia tăng giới học, tăng
tâm học, tăng tuệ học, được điều phục, dứt sạch tham
dục, sân nhuế, ngu si. Vị kia khi đã dứt sạch hết tham dục,
sân si rồi không tạo bất thiện, không gần các ác. Đó gọi
là học.»
Đức
Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ, tin ưa
thọ trì.
86.
Đức Phật hỏi các tỳ-kheo:
«Các
ngươi học những gì? Thế nào học?»
Các
tỳ-kheo bạch Phật:
«Đại
đức là căn bản của Pháp, là chủ pháp, như điều đức
Thế Tôn vừa dạy chúng con thọ trì, cho nên gọi là học.»
87.
Lại có ba học: tăng giới học, tăng tâm học, tăng tuệ học.
Học ba môn học này sẽ đạt được quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,
A-na-hàm, A-la-hán. Cho nên cần phải tinh tấn học ba môn học
này.
88.
Bấy giờ Tôn giả A-nan ở trong Kê viên, thành Ba-la-lê Tử.[75]
Khi ấy, có Khổng tước quan bà-la-môn[76] đến chỗ Tôn giả
thăm hỏi rồi, ngồi qua một bên, bạch Tôn giả rằng:
«Sa-môn
Cù-đàm tại sao vì các tỳ-kheo chế tăng giới học, tăng
tịnh hạnh học, tăng ba-la-đề-mộc-xoa học?»
Tôn
giả trả lời:
«Nhằm
mục đích điều phục tham dục, sân nhuế, ngu si, khiến cho
tận diệt, nên đức Thế Tôn vì các tỳ-kheo chế giới.»
Vị
kia lại hỏi:
«Nếu
tỳ-kheo đắc lậu tận của A-la-hán, vị kia học cái gì?»
Tôn
giả A-nan trả lời:
«Tham
dục, sân nhuế, ngu si hết, không tạo bất thiện, không gần
các ác, việc cần đã làm xong, gọi là vô học.»
Bà-la-môn
hỏi:
«Như
điều vừa nói, được gọi là vô học phải không?»
A-nan
trả lời:
«Chính
như vậy.»
Tôn
giả A-nan nói như vậy. Khổng tước quan Bà-la-môn nghe rồi
hoan hỷ tin ưa thọ trì.
89.
Đức Thế Tôn ở trong thôn Băng-già-di,[77] nước Ma-kiệt,
vì các tỳ-kheo dùng vô số phương tiện nói giới pháp. Bấy
giờ, có tỳ-kheo cựu trú thuộc họ Ca-diếp[78] xuất gia.
Tỳ-kheo này nghe đức Thế Tôn nói pháp, không sanh lòng tin
ưa, ưu sầu không vui, nói:
«Đức
Thế Tôn cứ khủng bố chúng ta.»[79]
Khi
đức Thế Tôn di chuyển đến thành Vương-xá không lâu, tỳ-kheo
họ Ca-diếp kia tâm tự hối hận, nói: «Ta đặng điều bất
thiện, thiệt hại. Đức Thế Tôn đã vì các tỳ-kheo dùng
vô số phương tiện nói giới, mà ta không sanh lòng tin ưa,
sầu ưu không vui, lại nói: ‹Thế Tôn cứ khủng bố chúng
ta.› Nay ta cần phải đối trước đức Thế Tôn chí thành
sám hối.»
Vị
tỳ-kheo kia liền khoác y, bưng bát đi qua thành Vương-xá, đến
chỗ đức Thế Tôn, [997a1] đầu mặt kính lễ sát chân, rồi
ngồi qua một bên, đem nhân duyên trên bạch lên đức Thế
Tôn một cách đầy đủ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy đầu
mặt kính lễ sát chân, chí thành hối quá:
«Kính
bạch Đại đức, con ngu si, vô trí, bất thiện. Đức Thế
Tôn đã vì các tỳ-kheo dùng vô số phương tiện nói giới
pháp mà con sanh lòng không tin ưa, ôm sự ưu não, nói: ‹Thế
Tôn cứ khủng bố chúng ta mãi.› Cúi xin Đại đức nhận
sự hối quá của con!»
Phật
bảo tỳ-kheo:
«Ngươi
tự sám hối sự ngu si, vô trí, bất thiện của mình. Ta đã
vì các tỳ-kheo nói giới. Ngươi tự mình không tin ưa, ôm
lòng ưu sầu, nói: ‹Đức Thế Tôn cứ khủng bố chúng ta
mãi.› Ở trong giáo pháp của Ta, ai có thể chí thành như
pháp sám hối thì được tăng ích. Ngươi sám hối thì nên
sanh tâm yểm ly. Tỳ-kheo, ngươi chí thành như pháp sám hối.
Ta vì ngươi thọ nhận.»
Bấy
giờ, tỳ-kheo Ca-diếp kia kính lễ sát chân Phật rồi ngồi
lui qua một bên. Đức Phật bảo tỳ-kheo:
«Nếu
Thượng tọa đã không học giới cũng không khen ngợi giới,
mà nếu có tỳ-kheo khác ưa học giới, khen ngợi giới, lại
cũng không tùy thời khuyến khích, khen ngợi. Tỳ-kheo Ca-diếp,
Ta không khen ngợi hạng Thượng tọa như vậy. Tại sao? Nếu
Ta khen ngợi, khiến các tỳ-kheo sẽ thân cận. Nếu có ai thân
cận, khiến người khác học tập pháp (của vị) đó; thì
người học tập theo pháp đó sẽ thọ khổ lâu dài. Vì thế
cho nên, này tỳ-kheo Ca-diếp, Ta thấy lỗi lầm của Thượng
tọa như vậy nên không khen ngợi. Hàng trung hạ tọa cũng
như vậy. (Đây là hàng Thượng, Trung, Hạ toạ không như pháp.
Kế tiếp theo có hàng Thượng, Trung, Hạ tọa như pháp, ngược
lại văn trên, sợ phiền nên không chép ra).[80]
Đức
Phật dạy như vậy. Tỳ-kheo Ca-diếp hoan hỷ, tin ưa thọ trì.
90.
Bấy giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Thí
như có con lừa cùng đi với bầy bò, tự nói: ‹Ta cũng là
bò, ta cũng là bò.› Nhưng lông của lừa thì không giống
bò, chân của lừa không giống bò, tiếng kêu không giống
bò. Cùng đi với bò, tự nói là bò, cũng như vậy. Có người
ngu đi theo tỳ-kheo như pháp, tự nói ta là tỳ-kheo. Người
ngu này không có tăng giới, tăng tâm, tăng huệ như thiện
tỳ-kheo, cùng đi với chúng Tăng, tự nói là tỳ-kheo. Do đó,
các ngươi cần phải siêng năng tu tập tăng giới, tăng tâm,
tăng tuệ.»
Đức
Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ, tin ưa
thọ trì.
91.
Đức Thế Tôn ở tại Tỳ-xá-ly. Bấy giờ có tỳ-kheo người
Bạt-xà đến chỗ đức Thế Tôn, đầu mặt kính lễ sát
chân, rồi ngồi qua một bên bạch đức Thế Tôn rằng:
«Giới
được thuyết trong mỗi nửa tháng nhiều quá, con không thể
học hết số giới nhiều như vậy.»
Đức
Phật dạy rằng:
«Ngươi
học ba giới: Tăng giới, tăng tâm, tăng tuệ thôi. Thầy học
ba giới như vậy sẽ đạt đến chỗ mà tham dục, sân nhuế,
ngu si diệt tận, không tạo bất thiện, không gần các ác.»
Tỳ-kheo
thưa:
«Bạch
Đại đức, con nguyện hoan hỷ thọ trì.»
Tỳ-kheo
người Bạt-xà sau nghe đức Thế Tôn lược dạy rồi, một
mình ở tại chỗ khuất, tinh cần không phóng dật. Đầu đêm
sau đêm chuyên ý cảnh tỉnh, tư duy mục đích xuất gia. Tu
tập không lâu, đặng vô thượng tịnh hạnh, ngay hiện tại
mà tự biết tự chứng đắc, «Sự sanh đã dứt, phạm hạnh
đã lập, việc cần đã làm xong, không thọ sanh trở lại.»
Tỳ-kheo người Bạt-xà tự biết chứng A-la-hán.
Đức
Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ, tin ưa
thọ trì.
92.
Bấy giờ, đức Phật bảo các tỳ-kheo:
«Có
ba học: tăng giới học, tăng tâm học, tăng tuệ học.
«Thế
nào là tăng giới học?[81]
«Có
tỳ-kheo tôn trọng giới, lấy giới làm chủ; không đặt trọng
nơi định, không lấy định làm chủ; không trọng nơi tuệ,
không lấy tuệ làm chủ. Tỳ-kheo ấy ở nơi giới có phạm
nhẹ liền sám hối. Tại sao vậy? Trong đây, không phải như
đồ dùng đã vỡ, đá đã vỡ. Nếu là giới nặng, tỳ-kheo
ấy phải kiên trì, khéo trụ nơi giới, nên thân cận hành
trì, không hành (với giới) bị sứt mẻ, không hành (giới)
nhiễm ô, thường tu tập như vậy. Vị kia đoạn năm hạ kết
sử,[82] sanh lên cõi trên mà Niết-bàn ở đó,[83] không trở
lại nơi đây.[84]
«Nếu
tỳ-kheo trọng giới, lấy giới làm chủ; trọng nơi định,
lấy định làm chủ; không trọng tuệ, không lấy tuệ làm
chủ, như trên.
«Nếu
tỳ-kheo trọng giới lấy giới làm chủ, trọng định lấy
định làm chủ, trọng tuệ lấy tuệ làm chủ. Vị kia lậu
diệt tận, đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Ngay trong hiện tại, tự thân chứng ngộ, tự biết, ‹Sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc cần đã làm xong,
không còn tái sanh nữa.[85]› Người hành trọn đủ, thì thành
tựu trọn đủ.[86] Người hành không trọn đủ, thì thành
tựu không trọn đủ.[87] Ta nói, giới này không phải luống
không.»
Đức
Phật dạy như vậy. Các tỳ-kheo sau khi nghe, hoan hỷ, tin ưa
thọ trì.
93.
Lại có ba học: tăng giới, tăng tâm, tăng tuệ học.
Thế
nào là tăng giới học? Có tỳ-kheo hành trì giới trọn đủ,
hành trì định một ít, hành trì tuệ một ít. Vị kia đoạn
năm hạ kết sử, sanh lên kia mà nhập Niết bàn, không sanh
trở lại cõi này.
Nếu
không thể đến chỗ như vậy, thì có thể ba kết là tham
dục, sân nhuế, si thành mỏng,[88] đắc quả Tư-đà-hàm, sanh
trở lại thế gian, liền tận cùng biên tế của khổ.
Nếu
không thể đến chỗ như vậy thì có thể đoạn ba kết[89]
đặng quả Tu-đà-hoàn, không đọa ác đạo, quyết định
đạt đến đạo, bảy lần sanh thiên thượng, bảy lần sanh
trong loài người,[90] liền hết khổ tế. Nếu tỳ-kheo hành
trì giới đầy đủ, hành trì định đầy đủ, hành trì tuệ
một ít thì cũng như trên.
Nếu
tỳ-kheo hành trì giới đầy đủ, hành trì định đầy đủ,
hành trì tuệ đầy đủ thì cũng như trên.
94.
Lại có ba học: tăng giới học, tăng tâm học, tăng tuệ học.
Thế
nào là Tăng giới học? Tỳ-kheo thọ trì đầy đủ Ba-la-đề-mộc-xoa
giới, thành tựu oai nghi, e sợ với cả khinh giới, xem nặng
như kim cương, bình đẳng học tập các giới. Đó gọi là
tăng giới học.
Thế
nào là tăng tâm học? Tỳ-kheo xả dục ác,[91] cho đến nhập
được đệ tứ thiền. Đó là tăng tâm học.
Thế
nào là Tăng tuệ học? Tỳ-kheo như thật biết Khổ đế, biết
Tập, Diệt, Đạo. Đó gọi là tăng tuệ học.
95.
Lại có ba học: tăng giới, tăng tâm, tăng tuệ học.
Tăng
giới, tăng tâm như trên.
Tăng
tuệ học là tỳ-kheo biết bên trong có tham dục, như thật
biết. Bên trong không có tham dục, như thật biết. Nếu chưa
sanh tham dục, như thật biết. Nếu chưa sanh tham dục, sau đó
sanh, như thật biết. Nếu đã sanh tham dục, có thể đoạn,
như thật biết. Nếu tham dục chưa sanh, không khiến sanh, như
thật biết.
Sân
nhuế, thùy miên, trạo hối, nghi[92] cũng như vậy.
Tỳ-kheo
kia nghĩ: Ta ở nơi sắc được nhận thức bởi mắt có tham
dục, sân nhuế, như thật biết; không tham dục sân nhuế,
như thật biết; ở nơi sắc được nhận thức bởi mắt tham
dục, sân nhuế chưa sanh sẽ không sanh, như thật biết; ở
nơi sắc được nhận thức bởi mắt tham dục, sân nhuế chưa
sanh sẽ sanh, như thật biết; ở nơi sắc được nhận thức
bởi mắt tham dục, sân nhuế đã sanh được đoạn diệt,
như thật biết; ở nơi sắc được nhận thức bởi mắt tham
dục, sân nhuế đã đoạn sau không sanh lại, như thật biết.
Tai, mũi, lưỡi, thân, ý, cũng như vậy.
Lại
nữa, tỳ-kheo bên trong có niệm giác ý,[93] như thật biết;
trong không có niệm giác ý, như thật biết; niệm giác ý chưa
sanh sẽ không sanh, như thật biết; niệm giác ý chưa sanh sẽ
sanh, như thật biết; niệm giác ý đã sanh được tu tập đầy
đủ, như thật biết; niệm giác ý chưa sanh, phương tiện
khiến sanh, như thật biết. Cũng vậy, pháp giác ý, tinh tấn
giác ý, ỷ giác ý, định giác ý, hỷ giác ý, hộ giác ý[94]
cũng như vậy.
96.
Lại có ba tụ: trì giới tụ, định tụ, tuệ tụ.
97.
Tỳ-ni có [998a1] ba trả lời: thấy như vậy, nghe như vậy,
nhẫn khả như vậy.[95]
98.
Tỳ-kheo có ba điều diệt chánh pháp: phi chế lại chế, chế
lại đoạn, không theo điều đã chế mà làm.
99.
Tỳ-kheo lại có ba pháp không diệt chánh pháp: (ngược lại
câu trên).
100.
Có ba trường hợp vọng ngữ trọn vẹn: biết trước mà muốn
nói dối, khi đang nói dối biết là nói dối, nói dối rồi
biết là nói dối.
101.
Lại có ba trường hợp thật ngữ trọn vẹn (ngược lại
nghĩa trên).
102.
Lại có ba loại sứ giả: một là đẳng (phần) sứ, hai là
tăng (phần) sứ, ba là giảm (phần) sứ.
Thế
nào vọi là đẳng (phần) sứ? Người sứ có thể thọ giáo,
mà không thêm không bớt, tùy theo sự nghe mà nói lại, đó
gọi là đẳng (phần) sứ.
Thế
nào gọi là tăng (phần) sứ? Người sứ thọ giáo rồi, vì
muốn tăng thêm ích lợi nên nói thêm, đó gọi là tăng (phần)
sứ.
Thế
nào gọi là giảm (phần) sứ? Người sứ thọ giáo rồi, không
nói lại đầy đủ, đó gọi là giảm (phần) sứ.
103.
Lại có ba hạng con: Con bằng (cha mẹ), con hơn (cha mẹ), con
không bằng (cha mẹ).
Thế
nào gọi là con bằng? Cha mẹ có tín, giới, thí, huệ. Con
cũng có tín, giới, thí, huệ. Đó gọi là con bằng.
Thế
nào là con hơn? Cha mẹ không có tín, giới, thí, huệ, mà con
có tín, giới, thí, huệ. Đó gọi là con hơn.
Thế
nào gọi là con không bằng? Cha mẹ có tín, giới, thí, tuệ,
mà con không có tín, giới, thí, huệ. Đó gọi là con không
bằng.
Phật
nói kệ:
Con
bằng và con hơn,
Nên
cầu con như vậy,
Đừng
cầu con không bằng,
Tại
gia không lợi ích,
Con
kia thường như pháp,
Thiện
hành ưu-bà-tắc,
Thành
tựu tín trì giới,
Bố
thí không xan lẫn
Như
trăng không mây che.
Tại
gia cũng như vậy.[96]
104.
Lại có ba bệnh: Hoặc có bệnh, dù được thức ăn tùy ý
hay không được; dù được thuốc tùy bệnh hay không được;
dù được người nuôi bệnh tốt tùy ý, hay không được;
dù thế người bệnh cũng chết, không thể khỏi bệnh mà
được lành. Hoặc có bệnh nhân như vậy.
Hoặc
có bệnh nhân, dù được thức ăn tùy ý hay không được;
dù được thuốc tùy bệnh hay không được; dù được người
nuôi bệnh tốt tùy ý, hay không được; mà bệnh nhân này
không chết, khỏi bệnh được lành. Hoặc có bệnh nhân như
vậy,
Hoặc
có bệnh nhân nếu không được thức ăn tùy ý, không được
thuốc tùy bệnh, không được người nuôi bệnh tốt tùy ý,
bệnh nhân này sẽ chết, không thể khỏi bệnh được lành.
Nếu được thức ăn tùy ý, được thuốc tùy bệnh, được
người nuôi bệnh tốt, thì người bệnh này không chết, khỏi
bệnh được lành. Hoặc có bệnh nhân như vậy.
Trong
số đó, đối với bệnh nhân nếu không được thức ăn tùy
ý, không được thuốc tùy bệnh, không được người nuôi
bệnh tốt tùy ý, bệnh nhân này sẽ chết, không thể khỏi
bệnh được lành; hoặc nếu được thức ăn tùy ý, được
thuốc tùy bệnh, được người nuôi bệnh tốt, thì người
bệnh này không chết, khỏi bệnh được lành; Ta vì hạng
người bịnh này, cho phép người bệnh ăn thức ăn tùy ý,
thuốc tùy bệnh, người nuôi bệnh tốt. Vì nhân duyên người
bệnh này nên đối với những bệnh nhân khác cũng nên cho
người chăm nuôi cung dưỡng.
105.
Có ba loại si:[97] một là phạm tội, hai là không thấy tội,
ba là thấy tội không như pháp sám hối. Đó là ba loại si.
106.
Có ba loại trí tuệ:[98] một là không phạm tội, hai là phạm
tội có thể thấy, ba là thấy tội có thể sám hối.
107.
Có ba loại si: một là phạm tội mà không thấy, hai là thấy
phạm tội mà không sám hối, ba là sám hối mà không như pháp,
nên vị kia[99] không chấp nhận.
108.
Có ba loại trí tuệ: (Ngược nghĩa với câu trên).
109.
Có ba loại an cư: tiền an cư, trung an cư, hậu an cư.
110.
Đối với pháp luật của Thánh thì ca hát như khóc, múa nhảy
như cuồng, cười đùa như con nít.[100]
111.
Có ba loại bất tịnh nhục không được ăn: thấy, nghe, nghi
vì mình mà làm.
112.
Có ba loại tịnh nhục nên ăn: không thấy, nghe, nghi không
vì mình mà làm.
113.
Có ba ngày bố-tát: ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày
mồng một.[101]
114.
Có ba hạng người bố-tát: Tăng, số đông người, hoặc một
người.[102]
115.
Có ba hạng người tác pháp bố-tát: Tăng, số đông người
hoặc một người.[103]
116.
Có ba hạng người cần tác pháp bố-tát: Tăng, số đông người,
hoặc một người.[104]
117.
Hoặc biết mà làm, hoặc không biết mà làm, hoặc thấy mà
làm.
118.
Hoặc biết mà làm, hoặc không biết mà làm, hoặc si mà làm.
119.
Hoặc thân, hoặc miệng, hoặc thân khẩu đầy đủ.
120.
Có ba thứ nên bình đoán là phạm tội: một là tựa của
giới,[105] hai là chế, ba là trùng chế.
121.
Có ba pháp bình đoán là không phạm: tựa của giới,[106] chế,
trùng chế.
122.
Có ba thứ tịnh. Có ba thứ bất tịnh. Có ba thứ cho phép.
Có ba thứ không cho phép cũng như vậy.
123.
Có ba không cung kính: Phật, Pháp, Tăng.[107]
124.
Lại có ba không cung kính: Phật, Pháp, Giới.
125.
Lại có ba không cung kính: Phật, Pháp, Định.
126.
Lại có ba không cung kính: Phật, Pháp, Cha Mẹ.
127.
Có ba không cung kính: Phật , Pháp, thiện pháp.
128.
Cung kính có ba. Ba mục (tức ngược lại các mục trên).
129.
Lại có ba bị cử:[108] Một là không thấy, hai không sám hối,
ba ác kiến không bỏ.
130.
Có ba pháp Tăng nên tác phúc bát:[109] trước tỳ-kheo mà hủy
báng Phật, Pháp, Tăng.
131.
Lại có ba niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
132.
Lại có ba niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Giới.
133.
Lại có ba niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Thí.
134.
Lại có ba niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Thiên.[110]
135.
Lại có ba thành tựu: trì giới thành tựu, định thành tựu,
tuệ thành tựu.
136.
Lại có ba: giới thành tựu, định thành tựu, giải thoát
thành tựu.
137.
Lại có ba: giới thành tựu, định thành tựu, kiến giải
thoát huệ thành tựu.
138.
Lại có ba hạ tiện pháp: đao tiện, y tiện, sắc tiện.[111]
139.
Lại có ba hoại sắc: xanh, đen, mộc lan.
140.
Lại có ba pháp gọi là trì luật: trì giới Ba-la-đề-mộc-xoa
đầy đủ, đa văn, tụng hai bộ giới thông suốt không nghi.
141.
Lại có ba: trì giới Ba-la-đề-mộc-xoa đầy đủ, đa văn,
quảng tụng tỳ-ni thông suốt không nghi.
142.
Lại có ba: trì giới Ba-la-đề-mộc-xoa đầy đủ, đa văn,
trụ trong tỳ-ni không động.
143.
Lại có ba: trì giới Ba-la-đề-mộc-xoa đầy đủ, đa văn,
thiện xảo phương tiện có khả năng diệt tránh sự.
144.
Lại có ba biện:[112] biện tỳ-kheo, biện không phóng dật,
biện thanh tịnh hành.
145.
Lại có ba ngày tự tứ: ngày mười bốn, ngày mười lăm,
mồng một.[113]
146.
Lại có ba hạng người tự tứ: Tăng, số đông người, một
người.
147.
Lại có ba hạng người tác pháp tự tứ: Tăng, số đông người,
một người.
148.
Lại có ba hạng người cần tác pháp tự tứ: Tăng, số đông
người, một người.[114]
149.
Lại có ba hạng: biết, không biết, thấy.
150.
Lại có ba hạng: biết, không biết, si.
151.
Lại có ba hạng: t