THIÊN
THỨ NHẤT
LỊCH
SỬ TƯ TƯỞNG CỦA ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO
CHƯƠNG
MỘT: TỔNG LUẬN
TIẾT
THỨ NHẤT: ĐỊA VỊ LỊCH SỬ CỦA PHẬT GIÁO
TRONG
TƯ TRÀO CỦA ẤN ĐỘ.
Từ
xưa, Ấn Độ là một nước tôn giáo, triết học và thi ca,
cho nên trào lưu tư tưởng phát sinh và nảy nở ở Ấn Độ
rất nhiều và dưới những hình thức khác nhau, nhưng tư trào
rộng lớn hơn cả là tư trào Phật Giáo. Song, Phật Giáo đã
chiếm một địa vị như thế nào trong những tư trào ở Ấn
Độ?
Trong
lịch sử tư tưởng Ấn Độ, Phật Giáo là sản phẩm thuộc
thời kỳ thứ tư. Thời kỳ thứ nhất là thời đại Lê-Câu-Vệ-Đà
(Rg-veda_1.500-1.000 trước T.L.) chuyên sùng bái các hiện trượng
thiên nhiên và là thời đại của dân tộc Aryan mở đường
tiến thủ. Đứng về phương diện tư tưởng, ta có thể cho
đó là thời đại “thần thoại vũ trụ quan”. Thời kỳ
thứ hai là Giạ-Nhu-Vệ-Đà_thời đại Phạm ngữ_(1.000-800
trước T.L.). Giống người Aryan từ các địa phương Ngũ Hà
tiến vào lưu vực sông Hằng (Gange), thấy đất đai phì nhiêu
mới sống cuộc đời định cư tại những khu vực dọc theo
con sông ấy. Đó là thời đại mà chế độ hà khắc (bốn
giai cấp) và những lễ nghi tôn giáo vô cùng phức tạp được
thiết lập, tức là thời đại Bà La Môn giáo vậy.
Tư
tưởng Bà La Môn rất bao quát, dùng chế độ và lễ nghi là
nền tảng cho vũ trụ luận, cho nên ta có thể cho thời kỳ
này là thời đại “Tế đàn vũ trụ quan”. Thời kỳ thứ
ba là thời đại U-Ba-Ni-Sát (Upanishad_800-500 trước T.L.). Về
phương diện hình thức, thời kỳ này tuy thừa kế tư trưởng
thời kỳ trước, song đã dần dần thay đổi và cuối cùng
đã khai sáng một thời đại lấy con người làm trung tâm
để giải quyết hết thảy, tức là thời kỳ Bản ngã triết
học được thành lập. Do đó đến đây, ta có thể thấy
một biến chuyển lớn lao đã xẩy ra trong tư tưởng giới
Ấn Độ.
Những
trào lưu tư tưởng kể trên tuy triển khai qua ba thời kỳ
khác nhau, nhưng chung quy cũng đều bắt nguồn từ tư tưởng
Vệ-Đà. Đến tư trào thứ tư thì có rất nhiều điểm bất
đồng. Chẳng hạn, nói về địa dư thì ba thời kỳ trước
chủ yếu lấy thượng lưu sông Hằng làm trung tâm, mà thời
kỳ thứ tư thì lại lấy khu vực hạ lưu sông Hằng làm cứ
điểm phát huy tư tưởng. Nói về giai cấp thì những thời
kỳ trước chỉ có giòng tăng Sĩ Bà La Môn là người biểu
hiện và khai thác tư tưởng, đến thời kỳ thứ tư thì không
những chỉ có tư tưởng Bà La Môn mà còn thấy cả hoạt
động của giai cấp thống trị Sát-đế-lợi nữa. Do đó,
nếu đứng về phương diện tư tưởng mà nói, thời kỳ này
tuy cũng lấy tư tưởng truyền thống Bà La Môn của ba thời
kỳ trước làm bối cảnh dùng mọi hình thức để mở rộng,
song cái tư tưởng đầy sức sống ấy chính là tư tưởng
tự do, coi thường truyền thống (phần nhiều trái với Bà
La Môn). Đến đây, các giáo phái có chủ trương tín ngưỡng
khác nhau lần lượt kế tiếp nhau mọc lên. Bởi thế ta có
thể gọi thời kỳ này là thời đại cách mạng của các
giáo phái (500-300 trước T.L.). Nhờ xu thế ấy mà trong thời
kỳ này Phật Giáo cũng quật khởi. Đứng trong tư trào thứ
tư này mà nhận xét, thì đại khái Phật Giáo đã chiếm địa
vị như sau:
Như
ta đã thấy trào lưu tư tưởng bộc phát trong thời kỳ thứ
tư, tuy có nhiều xu hướng khác nhau, nhưng đại lược ta có
thể chia thành hai hệ thống: Bà La Môn giáo hệ và Phi Bà
Là Môn giáo hệ. Bà La Môn giáo hệ nhận uy quyền của thánh
kinh Về-Đà và tính cách thiêng liêng của chủng tộc Bà La
Môn, còn Phi Bà La Môn giáo hệ muốn hoàn toàn đứng trên
lập trường tự do để giải thích và phê phán hết thảy.
Hề thống này có thể được coi là đại biểu của thời
kỳ thứ tư. Cũng có một vài giáo phái không những chỉ có
ảnh hưởng trong thời đại đức Phật, mà cả đến những
thế hệ sau vẫn còn có uy lực, chẳng hạn như sáu Lục Sư
chính là một giáo phái tự do vậy.
Song
ảnh hưởng của những giáo phái ấy đối với nhân tâm và
sự cảm hóa đương thời ra sao? Giáo hệ Bà La Môn vì theo
quan niệm truyền thống, nên có nhiều điểm tuy đã ăn sâu
vào nền tảng xã hội, nhưng với thời đại mới thì cũng
đã có nhiều điểm không còn được thích ứng nữa. Còn
phái tự do tân tiến tuy có ảnh hưởng lớn đối với lòng
người khi đã bừng tỉnh nhưng vì thiếu tính chất kiện
toàn trong việc hoạt động và lại đi quá đà, đến nỗi
gây nguy hại cho thể đạo nhân tâm, theo trong kinh sách của
Phật Giáo đã chép thì đó là một sự thật hiển nhiên,
không còn nghi ngờ. Nói tóm lại, tư tưởng giới thời bấy
giờ, hệ thống cũ dần dần suy sụp, mà hệ thống mới vẫn
chưa được xây dựng trên một nền tảng vững chắc, cho
nên đứng về phương diện này mà nhận xét thì thấy có
sự tích cực hoạt động, nhưng ở một phương diện khác
thì lại vô cùng hỗn độn, bởi vậy không khỏi khiến cho
lòng người rơi vào một trạng thái bất an!
Chính
vào lúc lòng người bất an, tư tưởng hỗn loạn ấy mà đức
Phật Thích Ca (560-480 trước T.L.), sau khi đã tự tìm ra chân
lý, đem đạo Giác Ngộ truyền bá khắp nơi, và Phật Giáo
đã thực sự bắt nguồn từ giai đoạn đó. Đứng về phương
diện tư tưởng mà nói, tuy Phật Giáo dĩ nhiên không thuộc
giáo hệ Bà La Môn giáo mà dung hòa, thống nhất, xa hẳng con
đường cực đoan, theo lập trường trung đạo, sáng lập một
nền đạo pháp vừa mới mẻ, vừa kiện toàn để dẫn đường
cho thế gian, đó là đặc điểm vĩ đại nhất của Phật
Giáo. Mặc dầu đứng ở địa vị độc đáo và có sức cảm
hóa mãnh liệt, nhưng trong lúc trào lưu tư tưởng mới, cũ
giao nhau, Phật Giáo cũng có thái độ tùy cơ, tùy thời và
một tinh thần bao dung, quãng đại, và dần dần khiến cho
lòng người quy hướng và ổn định.
Lúc
đầu, Phật Giáo chỉ là một trong những giáo phái chủ yếu,
nhưng lần lần vượt xa hẳn các giáo phái khác, có thế lực
rất lớn trong xã hội. Đặc biệt trong lịch sử chính trị
Ấn Độ có Hoàng đế A Dục (Ashoka)-(268-226 trước T.L) đã
tận lực truyền bá Phật Giáo không những chỉ bành trướng
ở Ấn Độ mà còn lan tràn ra các nước ngoài, đó chính là
đầu mối của Phật Giáo thế giới vậy. Từ đây trở đi,
phạm vi của Phật Giáo càng ngày càng được mở rộng, đồng
thời về phương diện nội tại, Phật pháp thực thể tuy
bất biến song vì muốn thích ứng với phong trào tư tưởng
của mỗi thời đại, nên về hình thức và phương pháp được
áp dụng để truyền đạo đã có thay đổi ít nhiều. Như
trong bộ Tiểu thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận (cùng một
tác giả) đã nói, từ Nguyên thủy Phật giáo tiến đến Bộ
phái Phật giáo, rồi lại từ Bộ phái Phật giáo tiến đến
Đại thừa Phật giáo, kết quả là thế lực của giáo hội
Phật Giáo đã bành trướng khắp miền Tiểu Á. Cho đến thế
kỷ thứ V, VI sau Tây Lịch thì tổ chức giáo lý lại càng
phát đạt và đã hấp thụ tất cả tư tưởng tinh hoa của
Ấn Độ (hấp thụ cả tệ đoan của thời đại cũng có)
để nghiễm nhiên trở thành một tôn giáo lớn nhất. Khởi
thủy Phật Giáo tuy là một chi phái trong tư trào Ấn Độ,
song bất luận về phương diện nào, nội dung cũng như hình
thức, so với toàn bộ tư trào Ấn Độ, Phật Giáo vẫn có
một ý nghĩa siêu việt hơn, điều đó là một sự thật hiển
nhiên, không ai có thể phủ nhận.
Cũng
vì Phật Giáo bao hàm một ý nghĩa như thế và cũng nhân chí
khí của dân chúng Ấn Độ muốn trở lại chủ nghĩa truyền
thống, vả lại cũng do phạm vi của Phật Giáo rộng rãi,
không tránh khỏi sự hấp thụ những tệ bệnh, cho nên từ
thế kỷ thứ VIII, ngay trên lãnh thổ Ấn Độ bởi lẽ Phật
Giáo được phát triển mạnh mẻ như vậy là nhờ ở tinh
thần từ bi, bình đẳng, mà tinh thần ấy lại rất cần thiết
cho sự đoàn kết của nhân dân Ấn Độ bất cứ về phương
diện nào, xã hội hay chính trị. Khi họ trở lại với tinh
thần truyền thống rồi, chế độ giai cấp hà khắc lại
được tái lập, tinh thần đoàn kết dân tộc tan rã, đó
là một trong những nguyên nhân khiến cho Ấn Độ phải chịu
sự đô hộ của ngoại ban. Song Phật Giáo không phải hoàn
toàn tiêu diệt ở Ấn Độ, về hình thức, Phật Giáo có
vẻ suy vi, nhưng tinh thần Phật Giáo thì bất diệt. Mấy năm
gần đây các phong trào chấn hưng Phật Giáo tại Ấn Độ
đã bắt đầu hoạt động mạnh cho nên rất có thể Phật
Giáo lại có cơ phục hưng.
TIẾT
THỨ HAI: ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG GIỮA TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘ VÀ TƯ
TƯỞNG PHẬT GIÁO.
Phật
Giáo tuy siêu việt tất cả tư tưởng Ấn Độ, song Phật
Giáo cũng phát sinh ở Ấn Độ, và như đã nói ở trên, tùy
thời thích ứng với tư tưởng mà phát đạt, cho nên cũng
có rất nhiều điểm tương đồng với tư tưởng Ấn Độ.
Nếu muốn hiểu rõ tư trào Phật Giáo ở Ấn Độ, trước
hết ta phải lưu ý về điểm này. Ta hãy thử đưa ra mấy
sự kiện dưới đây, ta sẽ thấy những điểm tương đồng
ấy:
1)
Vấn đề trung tâm:
Tư
tưởng Ấn Độ tuy thiên sai, vạn biệt, song đều đưa đến
một điểm then chốt, đó là việc giải quyết vấn đề nhân
sinh. Những nhà tư tưởng Ấn Độ đi tìm chân lý là mong
tìm ra chỗ quy hướng của kiếp người, tìm lấy một phương
châm thực tiễn để quyết định cho lẽ sống, chứ không
phải họ chỉ suy tư những điều không tưởng viễn vông,
do đó mới tạo thành trung tâm điểm của tư tưởng. Vấn
đề trung tâm của Phật Giáo cũng ở điểm ấy. Bởi vậy,
khi nghiên cứu Phật Giáo, như Khang Đức đã nói, ta phải
đứng trên lập trường thực tiễn mới có thể quan sát được
chính xác.
2)
Điểm quan sát cơ bản:
Đối
với việc giải quyết vấn đề nhân sinh, trong tư tưởng
Ấn Độ cũng có rất nhiều thuyết khác nhau, nhưng tựu trung
đều quan sát quanh vấn đề “Bản Ngã”. Bản Ngã là trung
tâm của vũ trụ, là cuốn sách chứa đầy ý nghĩa thâm áo
và có một giá trị vô cùng cao cả. Về sau, trong tư tưởng
giới Ấn Độ cũng có người không tán thành quan điểm đó,
nhưng chung quy ta cũng không thấy một thuyết nào là không
lấy vấn đề Bản Ngã làm điểm quan sát cơ bản. Thuyết
“Vô Ngã” của Phật Giáo, mới nhìn ta thấy có vẻ như
mâu thuẫn với lập trường Bản Ngã, nhưng thực ra thì cũng
chỉ giải thích Bản Ngã dưới một hình thức khác mà vẫn
lấy Bản Ngã làm trung tâm điểm, như thế không có gì sai
biệt cả.
3)
Sự nhất trí về nhân sinh quan và vũ trụ quan:
Từ
vấn đề nhân sinh quan, tất nhiên lại phải tiến đến vấn
đề vũ trụ, mà cái đặc sắc về vũ trụ quan của các học
phái Ấn Độ ở chỗ họ cho rằng vũ trụ là phản ảnh rộng
lớn của con người. Nói một cách khác, muốn khảo sát vũ
trụ phải đứng trên lập trường nhân sinh để quy định
bản chất của vũ trụ. Như vậy, con người là tiểu vũ trụ
trong cái đại vũ trụ. Khuynh hướng ấy đã có từ ngàn xưa
và được lưu truyền qua các thế hệ dưới nhiều hình thức.
Vũ trụ quan của Phật Giáo cũng thừa nhận rằng, vũ trụ
chẳng qua chỉ là sản phẩm do tâm biến hiện. Về vấn đề
nầy tôi xin bàn rõ ở các chương sau.
4)
Nghiệp lực chi phối con người:
Đối
với cái sức chi phối vận mệnh con người, tuy các giáo phái
Ấn Độ lập ra nhiều nguyên lý, song bất luận nguyên lý
nào cũng đều do cái sức căn bản đó là “Nghiệp”. Nghiệp
là những hành vi thiện hay ác mà ta đã tạo tác ở kiếp
trước, rồi chất chứa trong tạng thức của ta để đến
kiếp này trở thành động lực chi phối vận mệnh của ta.
Tư tưởng ấy đã hình thành và tản mát trong các kinh thâm
áo từ xưa, đến khi các giáo phái tranh nhau phát khởi thì
đều thâu nạp tư tưởng đó. Phật Giáo tuy chủ trương thuyết
Vô Ngã, song cũng thừa nhận thuyết nghiệp báo và thuyết
luân hồi, điều đó cũng không ngoài trào lưu đương thời.
Lại
nữa, kết quả của thuyết nghiệp báo và luân hồi đã đem
lại một ý nghĩa bao quát liên quan đến các loài sinh vật;
người ta đều công nhận rằng, các loài sinh vật vì cứ
lẩn quẩn trong vòng sinh tử nên đều có thể là họ hàng,
thân thuộc của nhau trong nhiều đời kiếp. Đó cũng là điểm
nhất trí của các phái. Thế rồi ngay từ thời kỳ thần
thoại, người ta cũng đã cho rằng trời, thần, tiên, ma quỷ
cho đến các loài ở địa ngục đều là sinh vật cả. Điểm
này các phái lại cũng chủ trương như nhau và như thế là
về hữu tình quan của các phái đều nhất trí.
5)
Quan niệm yếm thế và giải thoát:
Do
ảnh hưởng của thuyết luân hồi mà xưa kia người ta cho
rằng cõi trời là một nơi sung sướng cao tột, song cuối
cùng họ lại bảo đó không phải là một chỗ vĩnh viễn
yên vui. Từ sau thời kỳ các học phái mọc lên, trong tư tưởng
giới Ấn Độ đều có huynh hướng yếm thế. Nhưng nói cho
đúng, khuynh hướng yếm thế không nhất định là do quan niệm
luân hồi phát sinh. Nếu nói theo một ý nghĩa khác, ta có thể
cho rằng, vì người ta quá tôn sùng quan niệm lý tưởng nên
mới có khuynh hướng yếm thế. Nhưng dù sao chăng nữa thì
quan niệm luân hồi cũng đã làm khuynh hướng yếm thế biểu
hiện một cách rõ rệt. Đó là một sự thật lịch sử hiển
nhiên, và kết quả của khuynh hướng ấy khiến cho toàn thể
tư tưởng giới Ấn Độ đi tìm sự giải thoát, nghĩa là
muốn thoát khỏi cái kiếp người đầy lo âu để đến một
cảnh giới lý tưởng yên vui, bất biến. Đó cũng là lẽ
tự nhiên. Cho nên nói giải quyết vấn đề nhân sinh, bất
luận theo ý nghĩa nào, đều lấy sự giải thoát làm mục
tiêu. Do đó vấn đề giải thoát trong tư tưởng Ấn Độ
trở thành vấn đề trung tâm, Phật Giáo dĩ nhiên cũng không
ngoài công lệ ấy.
6)
Thiền định là phương pháp để giải thoát:
Phương
pháp để đạt tới sự giải thoát là quan niệm thực tiễn
của các phái. Không cần nói ta cũng thấy rằng, những phương
pháp đó có nhiều sắc thái bất đồng. Nhưng ta hãy cứ giả
tưởng rằng, trong các phái đó nếu có một phương pháp cộng
đồng thì phương pháp ấy là lối tu thiền định, tức là:
Tam muội (Samadhi), Tĩnh lự (Dhyana) và Du già (Yoga). Trong Tam
học của Phật Giáo , ba môn đó được mệnh danh là Định
học, trong Bát chánh đạo thì gọi là Chính định. Như vậy
tất cả các phái đều áp dụng phương pháp thiền định
để đạt đến giải thoát.
Nếu
đứng về phương diện đó mà khảo sát, ta thấy Phật Giáo
tuy nói là căn cứ vào cái trí tự giác của đức Phật, song
về mặt hình thức của tư tưởng thì có rất nhiều chỗ
tương đồng với các tư tưởng phái đương thời. Nhưng có
một điểm đặc thù, là Phật Giáo không phải là một sản
phẩm của lý luận trừu tượng, mà rất thực tế, có liên
hệ đến toàn dân, tùy căn cơ, trình độ giáo hóa cho mọi
hạng người, đó là đặc điểm ta cần phải ghi nhớ.
TIÉT
THỨ BA: ĐẶC TÍNH CỦA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO.
Nếu
nói Phật Giáo có nhiều điểm giống với các tư tưởng phái
đương thời, thì đặc tính của tư tưởng Phật Giáo ở
chỗ nào? Đó là một câu hỏi tất nhiên phải được nêu
lên. Nói tỷ mỷ thì vấn đề đó rất phiền phức, nhưng
nói một cách đại thể thì Phật Giáo cũng có những tư tưởng
đặc thù, có thể nêu ra thành nhiều số mục. Song nếu khảo
sát một cách tổng hợp thì những tư tưởng căn bản của
Phật Giáo đã biến thành đặc tính lưu bá. Chẳng hạn như
Phật, Pháp, Duyên sinh, Tâm, Trung đạo,v.v…đều có tính chất
lưu bá. Tuy có chia ra như thế song thật thì cũng chỉ từ
một trung tâm mà phát xuất. Bất luận một điểm nào, nếu
suy cứu đến triệt để, đều có quan hệ đến toàn thể,
đó cũng là lập trường căn bản của Phật Giáo. Từ Phật
giáo Nguyên thủy tiến đến Tiểu Thừa và Đại Thừa Phật
Giáo, tuy nói là nhất quán, song ngày nay điểm chủ yếu vẫn
phải căn cứ vào Phật giáo Nguyên thủy. Dưới đây tôi xin
trình bày một cách rất đơn giản những sự kiện có liên
quan với nhau để ta nhận rõ chỗ khái yếu của nó.
1)
Phật_ Phật Giáo sau này tuy đã phát triển và thay đổi rất
nhiều, song đều lấy nhân cách, giáo pháp và hành động của
đức Phật làm nền tảng, bất luận nơi nào, hể có Phật
Giáo đều như thế cả. Ngoài đức Phật lịch sử ra, sau
này còn có Phật và Bồ Tát lý tưởng khác, nhưng cũng do
đức Phật Thích Ca khai thị, chỉ bày thì ta mới có thể
biết đến, song đều đó cũng không ngoài đức Phật lịch
sử. Các đệ tử của Phật xưa kia cũng như ngày nay đều
nói: Pháp của chúng ta, lấy đức Thế Tôn làm gốc, đức
Thế Tôn là nhãn mục, đức Thế Tôn là nơi y chỉ. Tất cả
Phật Giáo đồ đều tin chắc như thế, bất cứ ở thời
đại nào, hay quốc độ nào, nếu xa lìa niềm tin ấy thì
không còn là Phật Giáo nữa. Song đây không phải là tin mù
mờ, mà là một đức tin đã được thể nghiệm qua giáo pháp,
nhân cách và hành động của đức Phật mới có. Cho nên đức
tin của Phật Giáo có một đặc điểm rất mạnh đối với
các giáo phái khác.
2)
Pháp_ Phật Giáo tuy lấy đức Phật làm trung tâm để thành
lập, song nói theo Phật Giáo, đức Phật _dù là Phật lý tưởng
chăng nữa_không giống như một vị thần của các tôn giáo
khác chủ trương, hoặc giống bất cứ vị thần thiên nhiên
nào, mà được chỉ coi là do sức tu hành của người ta đã
đạt đến quả vị Phật mà thôi. Đó là điểm nhất trí,
biến thông cả Đại Thừa và Tiểu Thừa. Người ta đã có
căn cứ là mình có thể thành Phật, thì dù có nói bao nhiêu
Pháp chăng nữa cũng không ngoài vấn đề thực tu, thực nghiệm
để giác ngộ được Pháp (Dhamma), đó cũng lại là giải
đáp chung của Phật Giáo. Song Pháp đây là “Pháp tự nhiên
như thế”, dù có Phật ra đời hay không, nó vẫn là cái
đạo vĩnh viễn, bất biến. Đức Phật chẳng qua là người
đã giác ngộ và thể nghiệm được Pháp ấy, rồi vì chúng
ta mà chỉ bày, mong cho chúng ta cũng chứng ngộ được Pháp
ấy mà thôi. Giáo lý quán thông tuy như vậy, song nói về đại
thể thì vẫn nói đến Phật nhiều hơn, dù là Phật lịch
sử hay Phật lý tưởng cũng được. Tóm lại, Pháp có thể
dùng một phương thức nhất định để nhân cách hóa. Đến
khi Đại Thừa phát triển, thì đặc Pháp thân (Pháp) trước
Ứng thân (nhân cách của Phật, lý ấy cũng không ngoài khuynh
hướng nhân cách hóa Pháp vậy. Đứng về phương diện thực
tế mà nói thì Pháp Phật là nhất như, tuy là chân tinh thần
của Phật Giáo, song bất luận thế nào chăng nữa, nếu nói
đến quan niệm cơ bản của Phật Giáo mà không lấy Phật
làm trung tâm để tiến đến trung tâm của Pháp thì không
thể được.
3)
Duyên sinh_Như trên đã nói Pháp, nhưng Pháp đây là gì? Nói
theo dụng ngữ thông thường của Phật Giáo thì có nhiều
nghĩa, nhưng đứng về mặt lý mà giải thích thì Pháp tức
là cái pháp tắc Duyên sinh (Pratity Asamutpada). Cho nên nói: “Hễ
thấy Duyên sinh là thấy được Pháp, mà hễ hiểu được
Pháp là hiểu Duyên sinh” Hoặc: “Duyên sinh, Pháp trụ, Pháp
vị, không liên quan gì đến việc Như Lai xuất thế hay không
xuất thế”. Như vậy, nếu ai hiểu được Pháp tức là thành
người giác ngộ, mà hiểu pháp cũng không ngoài vấn đề
ngộ đạt lý Duyên sinh. Đức Phật hiện tại trong lịch sử
cũng do hiểu được lý Duyên sinh ấy dưới gốc cây Bồ Đề
mà thành bậc Đại Giác. Vậy duyên sinh quan là trung tâm của
Pháp quan đó là một sự thật hiển nhiên. Nếu giả thích
một cách tỷ mỷ thì duyên sinh có nhiều ý nghĩa, song cũng
không ngoài quan niệm căn bản là: “Vật này có, cho nên vật
khác có, cái này không thì cái kia cũng không; vật này sinh,
cho nên vật khác sinh, mà cái này diệt thì cái kia cũng diệt”.
Nói cho dể hiểu hơn, hết thảy hiện tượng đều do nhân
duyên mà phát sinh, đều liên quan mật thiết với nhau mà tồn
tại, thật ra không có một nguyên lý thực thể nào cả. Nói
theo thuật ngữ trong Phật Giáo thì: “Các pháp là vô thường,
vạn vật vô ngã, hết thảy đều là không”. Đó là căn
cứ vào lý duyên sinh, đồng thời cũng là kết luận theo lý
duyên sinh.
Theo
lý duyên sinh thì tất cả các pháp đều thay đổi, sinh, diệt
cho đến sự khổ, vui cũng thế, chứ riêng nó không có tự
tính. Hiểu được lý ấy tức là đã đạt đến sự giải
thoát. Xem thế đủ biết, Phật Giáo nói giải thoát là phải
thấu suốt lý duyên sinh để đến được thể “không tịch”.
Song phải hiểu rằng, thể nghiệm “không tịch” không có
nghĩa là trở về với cái “hư vô tuyệt diệt” mà chỉ
là đả phá thành kiến chấp ngã hẹp hồi của người đời
mà thôi. Sau khi thể nghiệm được “tính không” thì một
chân trời tự do mới cũng bắt đầu hé mở. Phật Giáo gọi
chân trời ấy là “Chân không diệu hữu”. Song thế giới
diệu hữu chỉ thấy được về phương diện khách quan, cho
nên trên quan hệ thành lập, vẫn tiến hành theo lý duyên sinh.
Duy có điểm khác với trước: lập trường trước kia (tự
nhiên thái) chỉ có trói buộc, khổ não, trái lại, đến thời
kỳ này, hết thẩy đều hướng về tự do. Như vậy là lý
duyên sinh đã đổi sự thúc phọc thành tự do. Nói đúng ra
chỉ có Đại Thừa chủ trương diệu hữu duyên sinh quan mà
thôi. Như Vô tận duyên sinh quan trong kinh Hoa Nghiêm; Thực tướng
quan trong kinh Pháp-Hoa; Tịnh độ quan trong kinh Vô lượng thọ;
Chân như quan trong Khởi-Tín-Luận, tất cả đều xuất phát
từ quan niệm đó.
Tóm
lại, cùng một duyên sinh quan, do sự lưu truyền, biến hóa
mà trở thành nguyên nhân chủ yếu của giáo lý triển khai
rất phức tạp của Phật Giáo. Song điểm căn bản và nhất
quán là:
a)
Hết thẩy đều do nhân duyên hòa hợp mà thành chứ không
có thực thể tồn tại riêng biệt.
b)
Cuối cùng, hết thẩy đều do tâm của ta.
Đó
là nhân sinh quan và vũ trụ quan của Phật Giáo, khác hẳng
với lập trường của các giáo phái khác chủ trương một
đấng chúa tể, và đó là điểm đặc thù của Phật Giáo.
4)
Tâm_Vấn đề duyên sinh tuy có thể diển tả theo nhiều cách,
song điểm phát xuất của nó cũng không ngoài Tâm, nếu lìa
Tâm là nguồn gốc của duyên sinh quan, cho nên cái gọi là
Pháp, là Duyên sinh rốt cuộc cũng không ngoài cái tâm tưởng
biểu hiện của ta. Đó là điểm căn bản độc nhất của
Phật Giáo, Tiểu Thừa cũng như Đại Thừa. Điều phục lấy
Tâm đã trở thành một phương châm tu dưỡng quyết định
trong Phật Giáo. Do đó, khi nói đến duyên sinh, tất nhiên
ta phải đề cập đến Tâm, vì giữa hai điểm ấy có một
mối quan hệ rất mật thiết, và nếu ta hiểu rõ dụng ý
căn bản của Phật Giáo, ta không thể quên điểm hệ trọng
đó.
5)
Trung Đạo_Dù nói Pháp hay duyên sinh, song chung quy cũng chỉ
là Tâm, và phương diện tư tưởng và hành vi, như thế sợ
không khỏi thiếu mất kiện toàn tính. Phật Giáo xoay quanh
vấn đề Tâm, muốn xác lập một phương châm sinh hoạt đúng
mức, không thái quá, không bất cập, nên mới xướng lên
Trung đạo. Sự ứng dụng thuyết trung đạo ấy tuy tùy theo
thời cơ có sai khác, song điểm hệ trọng là thái độ phê
phán và thực tiễn đối với giá trị nhân sinh. Và cũng vì
tôi quan niệm như thế, nên tôi hãy thử xin trình bày hai điểm
sau đây:
Trước
hết xin nói đến điểm phê phán giá trị nhân sinh. Như trong
Duyên sinh quan ta đã thấy sự sống của ta chuyển biến không
ngừng và do một định luật tất nhiên chi phối, và vì thế
nên bị trói buộc khổ não. Đối với nhân sinh, Phật Giáo
cho là khổ bởi vậy mới lấy tự do giải thoát làm lý tưởng
tiêu chuẫn. Song sự khổ não và trói buộc ấy không phải
sự thực tồn tại khách quan, mà là căn cứ vào thái độ
của tâm ta cả, nghĩa là ta cứ khư khư chấp lấy cái “ngã”
giả dối là cái “ta” chân thật rồi thù mưu, tính kế
để làm cho nó thỏa mãn mọi đòi hỏi, nên mới có khổ
não, trói buộc; nếu ta có thể vượt hẳn ra ngoài vòng tham
dục của cái “ngã” nhỏ nhoi ấy, thì không những ta sẽ
không thấy khổ, thấy trói buộc, mà trái lại ta sẽ thấy
mọi cảnh giới tự do và yên vui vô hạn. Như trên đã nói,
dù là mục đích giải thoát của đạo Phật. Dù Phật Giáo
có cho nhân sinh là thống khổ thật, nhưng đứng trên lập
trường giải thoát của đạo Phật lại cho nhân sinh có một
giá trị cao quý. Bởi thế nếu đem so sánh Phật Giáo với
bất cứ giáo phái nào ở Ấn Độ, ta có thể nói Phật Giáo
là nhân sinh khẳng định luận (Proposition Affirmative). Song điều
đó hoàn toàn lấy tâm làm tiêu chuẩn nên mới có một kết
luận trung đạo để phê phán giá trị nhân sinh.
Thế
rồi đem phương châm thực tiễn thích ứng với sự sống
trung đạo quan nên mới có danh từ “không khổ” “không
vui”. Nghĩa là, theo chủ nghĩa khoái lạc cũng không phải
là cuộc sống chính đáng, mà tự dầy vò, hành hạ thân thể
cho cực khổ cũng lại là cuộc sống ngu si. Lối sống chân
chính là phải điều hòa khổ, vui theo sự sinh hoạt của tinh
thần. Điểm ấy tuy là kết luận của Phật Giáo, song là
điểm khởi sơ do đức Phật đề xướng khi Ngài khai sáng
đạo Phật, cho nên mới có một kết luận trung đạo để
phê phán giá trị nhân sinh.
Rồi
đến vấn đề thích dụng Trung đạo quan giữa cá nhân với
xã hội. Chủ yếu của Phật Giáo là cứu độ hết thảy,
song lúc đầu chưa hẳn đã lấy toàn thể xã hội làm mục
tiêu, mà là cứu độ từng cá nhân. Nhưng căn cứ cứu độ
của Phật Giáo được đặt trên lập trường tâm, chứ không
như các giáo phái Bà La Môn, đối với việc cứu giúp cá
nhân còn có hạn chế. Nếu người ta quyết tâm thì ai cũng
có khả năng giải thoát, ai cũng có tư cách để trở thành
một bậc giác ngộ. kết quả là Phật Giáo đã trở nên chủ
nghĩa tôn trọng nhân cách, chủ nghĩa bình đẳng và từ bi,
cao cả. Trong các giáo phái khác, ta không thấy một sắc thái
luân lý huy hoàng như thế. Tóm lại, ta thấy Phật Giáo đi
từ chủ trương cứu độ cá nhân đến chủ trương cứu độ
toàn thể xã hội, và căn cứ trên sự thực lịch sử, ta
thấy Phật Giáo đã biến thành một tôn giáo xã hội. Song
vấn đề được nêu lên là: Nói cứu độ toàn thể xã hội
có đúng không? Về điểm này trên thực tế, lập trường
của Phật Giáo tuy rất hoạt động, nhưng lý tưởng của
Phật Giáo vẫn là trung đạo, nghĩa là tuy cứu độ cá nhân
mà là cứu độ xã hội, tuy cứu độ xã hội, mà là cứu
độ cá nhân, điều đó đã trở nên mục tiêu tối cao của
Phật Giáo.
6)
Kết_Trở nên, tôi đã nêu ra những đề mục chủ yếu, đại
biểu cho tư tưởng đặc thù của Phật Giáo. Trong những chương
sau tôi sẽ trình bày sự tương quan giữa các đề mục ấy.
Tư tưởng Phật Giáo nói ra tuy rất phiền toái, nhưng nếu
lý hội được thì trong những cái phiền toái ấy, ta có thể
nắm được một nguyên tắc cực kỳ đơn giản. Nhưng trong
kinh Hoa Nghiêm nói: “Tâm, Phật, chúng sinh, ba cái đó không
sai khác”, hay: “Mười hai nhân duyên đều do một tâm”.
Tuy là câu nói hàm súc, song nó đã diễn đạt được cái
tinh thần rất đơn giản của Phật Giáo.
Tóm
lại, tinh thần căn bản của Phật Giáo là căn cứ trên cái
tâm để nhận định pháp tắc nhân duyên sinh, rồi lại căn
cứ vào pháp tắc nhân duyên sinh để phê phán sự vật một
cách có lý luận và thực tiễn.