CHƯƠNG
THỨ HAI
TƯ
TRÀO CỦA CÁC BỘ PHÁI
TRƯỚC
NGÀY ĐẠI THỪA PHẬT GIÁO HƯNG KHỞI
TIẾT
THỨ NHẤT: NGUYÊN ỦY CỦA CÁC BỘ PHÁI.
Đức
Phật nhập diệt tuy là một sự kiện vô cùng trọng đại
đối với giáo đoàn Nguyên thủy Phật giáo, song thật ra,
trong khoảng thời gian 45 năm hoằng hóa cho đến khi nhập diệt,
những phương châm nên áp dụng cho việc tu trì và tiến hành
công cuộc truyền đạo, trên đại thể đã được đức Phật
xác lập rồi. Khi nhập diệt Phật đã di chúc cho người đệ
tử thân tín là tôn giả A Nan, “Các ông phải lấy giáo pháp
làm ngọn được, lấy pháp làm nơi nương tựa, hãy tự mình
thắp đuốc lên mà đi!” chính là ý ấy. Nói cho cùng thì
không ngoài việc lấy giáo pháp của Phật để lại làm tiên
chuẩn và quy định hành vi của mình, hơn nữa phải lấy Phật
làm trung tâm để duy trì giáo đoàn. Sau khi đức Phật nhập
diệt, hành vi của các đệ tử chưa thành thục không khỏi
chỗ mê lầm, nhưng nhờ có các vị niên trưởng đã trù hoạch
một phương châm hữu hiệu để cũng cố và duy trì giáo đoàn.
Theo truyền thuyết thì sau Phật nhập diệt không lâu, công
việc đầu tiên của họ là kết tập kinh điển. Tôn giả
Đại Ca Diếp làm chủ tọa, A Nan và Ưu Ba Ly thuật lại kinh,
luật. Đại hội gồm 500 người họp ở một nơi để biên
tập tất cả giới luật và giáo pháp của Phật đã chỉ
dạy để xác lập phương châm mà giáo đoàn nên tiến hành.
Sau đó chỗ nói tất cả kinh, luật, luận hiện giờ được
lưu truyền, đều đã được kết tập hoàn hảo trong kỳ
đại hội này. Điều đó dĩ nhiên là không thể tin được.
Song ít nhất kỳ đại hội ấy cũng đã xác định những
kinh, luật căn bản được áp dụng cho nhu cầu duy trì giáo
đoàn theo một hình thức nào, và đó là một sự thật không
thể phủ nhận.
Tăng
đoàn bấy giờ tuy bầu Tôn Giả Ca Diếp làm bậc chủ tọa
và các vị tôn túc khác làm huynh trưởng, nhưng thật thì
họ đều lấy kinh, luật của Phật làm tiêu chuẩn. Các vị
tỳ khưu, một mặt ra công tu dưỡng cho bản thân, một mặt
dạy bảo đệ tử và tiếp dắt tín đồ để noi theo tinh
thần truyền đạo của đức Phật và mở rộng phạm vi của
giáo hội. Bởi vậy, sau khi Phật nhập diệt khoảng một trăm
năm, tuy vẫn lấy các đô thị lớn dọc theo sông Hằng làm
trung tâm, song giáo đoàn đã lan tràn đến cả hai niềm Nam
và Bắc Ấn Độ. Nhưng điều đáng tiếc là trong đó, lúc
bấy giờ thiếu một cơ quan thống nhất. Lúc đầu, tuy giáo
đoàn ở Ma Kiệt Đà vẫn còn khuynh hướng trung tâm, song vì
các huynh trưởng lần lượt qua đời mà phạm vi giáo đoàn
lại quá rộng, thêm vào đấy là óc địa phương hoặc vì
sự khó khăn vì kinh tế, nên tăng chúng trong giáo đoàn ở
các nơi xa xăm không những đã dần dần không thể không gặp
gở vào thời kỳ nhất định (mùa mưa), mà còn thiếu cả
sự liên lạc với nhau nữa. Bởi thế, đối với việc giải
thích cũng như áp dụng giáo pháp của Phật đã có ít nhiều
điểm sai khác vì sự bất đồng quan điểm giữa tăng chúng
trong giáo đoàn. Đó là lẽ tất nhiên, mặc dầu Phật đã
nhập diệt mới trong vòng một năm thôi, nhưng cũng là một
sự kiện khó tránh khỏi. Duy sự bất đồng ấy đã không
đi quá trớn, và trong vòng một trăm năm, nó vẫn chưa có
gì đặc biệt đáng chú ý, nhưng dù sao vẫn có sự bất hòa
ngấm ngầm giữa tăng chúng, cuối cùng nó đưa đến sự rạn
nứt và chia rẽ thật sự.
Bất
luận theo kinh điển Nam Tôn (văn Pali) hay kinh điển Bắc Tôn
(văn Sanscrit), đều nói sự chia rẽ đó bắt đầu vào khoảng
hơn một trăm năm sau khi Phật nhập diệt, nhưng thật ra về
điểm này, giữa Nam Tôn và Bắc Tôn có nhiều chỗ bất đồng.
Thí dụ: Theo Nam Tôn (Đảo sử) thì giáo đoàn phương Đông
lấy thành Phệ Xá Ly Bạt Kỳ (Vaissali) làm trung tâm, bấy
giờ đối với giới luật, đã phạm mười điều trái phép,
và bị vị Chủ tọa của giáo đoàn phương Tây là niên trưởng
Gia Xá tố cáo. Do đó, một cuộc họp giữa các đại biểu
của giáo đoàn bốn phương được triệu tập để cảnh cáo
việc làm phi pháp của giáo đoàn phương Đông, đồng thời
các vị niên trưởng Thượng tọa cũng trù liệu một hội
nghị kết tập lần thứ hai. Song phái Đại Chúng không phục
tòng quyết định cảnh cáo họ, và cũng tổ chức một cuộc
họp riêng để chống đối với cuộc kiết tập lần thứ
hai, thế là sự chia rẽ thành bộ phái: Thượng tọa bộ (phái
già) và Đại chúng bộ (phái trẻ) đã hình thành rõ rệt.
Nhưng theo Bắc Tôn (Dị bộ ôn luật), tuy cũng nhận sự chia
rẽ là biến cố hơn một trăm năm sau Phật nhập diệt, nhưng
nó đã xẩy ra trong một cuộc hội nghị tại Ma ha đà (?).
Trong khi hội nghị bàn cải về tư cách và nhân cách của
các vị La Hán, có người đưa ra năm thuyết mới (sẽ thuật
sau), và chính đề nghị ấy đã đưa đến kết quả chia thành
Thượng tọa bộ không thừa nhận thuyết mới và Đại chúng
bộ thừa nhận thuyết mới. Đó là đầu mối chia rẽ của
các bộ phái.
Theo
Nam Tôn thì việc phân phái ấy là kết quả của sự bất
đồng ý kiến về quy luật giáo đoàn, còn Bắc Tôn thì lại
cho là kết quả của sự bất đồng quan điểm về giáo lý.
Song, căn cứ vào sự thể đương thời mà nhận xét thì thuyết
Nam Tôn có lẽ đúng hơn, là vì sự ứng dụng quy luật giáo
đoàn tùy theo tính cách địa phương nên mới có những điểm
bất đồng, và đó là nguyên nhân chủ yếu đã đưa đến
sự chia rẽ đầu tiên. Nhưng trong thời gian ấy dĩ nhiên sự
bất đồng quan điểm về giáo lý cũng đã ngấm ngầm tồn
tại. Về sau điểm đó tuy có thể trở thành nguyên nhân chia
rẽ bộ phái sau này, song nguyên nhân đầu tiên vẫn được
coi là vì vấn đề quy luật.
Sau
khi xu thế bộ phái đã đưa đến sự chia rẽ công khai, thì
đối với nhiều vấn đề khác trong giáo đoàn cùng một địa
phương, người ta cũng dễ có những quan niệm bất đồng.
Hơn nữa, vì giữa giáo đoàn ở các địa phương thiếu sự
liên lạc với nhau, nên lại càng dễ phát huy những sắc thái
riêng. Do đó, trong khoảng từ một trăm đến ba bốn trăm
năm sau Phật nhập diệt, ta có thể thấy rõ thời đại cạnh
tranh phát khởi của các bộ phái. Trong lịch sử giáo hội
thông thường chỉ nói có 18 bộ phái, nhưng thật ra thì giữa
các bộ phái lại chia ra thành nhiều chi phái khác nữa.
TIẾT
THỨ HAI: SỰ BẤT ĐỒNG VỀ LẬP TRƯỜNG CHỦ YẾU GIỮA NGUYÊN
THỦY PHẬT GIÁO VÀ BỘ PHÁI PHẬT GIÁO.
Lập
trường của Nguyên thủy Phật giáo cho rằng hết thảy đều
do tâm, nghĩa là căn cứ vào thái độ của tâm chủ trì thế
nào để quyết định giá trị của vũ trụ. Nhưng đồng thời
đứng trên lập trường thường thức mà nhận xét, thì Nguyên
thủy Phật giáo vẫn thừa nhận vũ trụ thực tại ngoài tâm.
Như đã nói ở trên, các tư trào Ấn Độ thời bấy giờ
đều thừa nhận thuyết luân hồi, hoặc thần thoại vũ trụ
quan, tuy Phật Giáo cũng chấp nhận, song không có hại gì cho
Phật Giáo cả. Nhưng cũng lại do đó mà trong tư tưởng Nguyên
thủy Phật giáo đã sinh ra sự phân phái trọng yếu. Bất
cứ ai, nếu nghiên cứu Nguyên thủy Phật giáo một cách vô
tư, đều không thể phủ nhận sự thực ấy. Duy đặc điểm
của Nguyên thủy Phật giáo là: ta chỉ cần chi phối tâm ta,
tất cả có thể chi phối được vũ trụ khách quan, bởi vì
thế giới thực tại bên ngoài rất tương ứng với tâm của
ta. Theo ý nghĩa trên, ta có thể gọi Nguyên thủy Phật giáo
là “Luân lý duy tâm luận”.
Thế
còn lập trường của các bộ phái thì ra sao? Về điểm này,
đại lượt ta có thể chia thành ba bộ hệ để khảo sát:
1)
Phân biệt thượng tọa bộ. Lập trường của bộ này căn
cứ trên Khế Kinh, thừa nhận đó là giáo lý của Phật, đem
chỉnh lý, sưu tập định nghĩa và phân biệt tính chất của
những chương mục chủ yếu trong Khế Kinh để cảnh cáo các
học giả đừng đi quá trớn mà xa lìa Khế Kinh, do đó mới
tụ nhân là “Phân biệt bộ”. Xét bề ngoài thì lập trường
của bộ này tuy gần giống với lập trường của Nguyên thủy
Phật giáo, song trên vấn đề quan điểm bộ này không có
thái độ hơn, thua như Nguyên thủy Phật giáo, mà chỉ có
thái độ thỏa hiệp thôi. Tóm lại, kiến giải của bộ này
chỉ khuynh hướng thực tại luận thường thức và đó là
lẽ rất tự nhiên. Phương pháp khảo sát của bộ này tuy
có tính cách tỷ mỷ, nhưng lại không có được sự tổng
hợp như một mà là hết thảy trong Duyên sinh quan của Nguyên
thủy Phật giáo. Như vậy, ta không thể cho phân biệt Thượng
tọa bộ là đại biểu cho tinh thần căn bản của Nguyên thủy
Phật giáo, chỉ có thể được coi như một trong các bộ phái
mà thôi. Song đứng về phương diện hình thức lấy năm bộ
A-Hàm làm Thánh điển nguyên thủy mà nhận xét, lập trường
của Phân biệt thượng tọa bộ tuy bình phàm nhưng rất vững
vàng, mạnh mẽ. Tôi tin rằng trong quá trình triển khái cũng
không thể bỏ qua lập trường trên.
2)
Hữu-Bộ_Lập trường của bộ này, vì muốn noi theo hệ thống
của Phân biệt thượng tọa bộ, nên đã tận lực phát huy
khuynh hướng thực tại luận. Nói là Tâm cũng được, và
Vật cũng được, đều có yếu tố tồn tại. Đương nhiên,
tiến thêm một bước nữa để khảo sát xung đột với Khế
Kinh thì hết thảy đều có thực tại tính. Không những chỉ
có ở hiện tại, mà cả ở quá khứ hoặc ở vị lai, hết
thảy các pháp đều có thể nói là tồn tại cho nên Hữu
bộ mới lấy câu “Ba thời thực có pháp thể thường có”
làm tiêu biểu. Về phương pháp luận cứu thì Hữu bộ có
vẻ rành rẽ dùng lý luận Phật Giáo để khoáng trương thế
lực của mình, gây ảnh hưởng lớn đến các giáo phái tư
tưởng trực tiếp của Thượng tọa bộ chỉ có thể được
coi là đại biểu của Thượng tọa bộ hệ mà thôi. Ta cần
ghi nhớ điểm đó.
3)
Đại chúng bộ_Bộ này để đối lại với chủ nghĩa khách
quan của Thượng tọa bộ hệ_tư tưởng của Nguyên thủy
Phật giáo_mới lấy chủ nghĩa chủ quan làm lập trường tư
tưởng đặc thù của mình. Nhưng không may, Đại chúng bộ
thiếu kinh luận hoàn bị, cho nên lý luận tinh tế của bộ
này không biết ra sao, chỉ thấy truyền lại những thuyết
rời rạc: “Hết thảy các pháp đều là giả danh, không có
thực thể” hoặc: “Các pháp chẳng qua là đống tro tàn”.
Tóm
lại, Đại chúng bộ đứng trên lập trường Duy tượng luận,
mà đó là đặc chất về vũ trụ quan của bộ này vậy. Tức
cũng như Nguyên thủy Phật giáo nói hết thảy đều do thái
độ của tâm chủ trì mà quyết định. Theo quan hệ luận
thực tiễn suy lên một bước nữa, ta thấy Đại chúng bộ
muốn từ nơi nhận thức tiến đến cái gọi là “hết thảy
không ngoài biểu tượng của tâm (Parjnapti)”. Ta có thể nói
đó là lập trường tiến bộ của Đại chúng bộ. Tư tưởng
“không” trong kinh Bát Nhã sau này chính cũng bởi tư tưởng
ấy mà phát đạt. Nhưng đến Du quân phái thuộc Đại chúng
bộ hệ, thì hiển nhiên là một phái chủ trương “hết thảy
đều là không”.
Trở
lên, tôi đã trình bày một cách đại lược về lập trường
của các bộ phái Phật Giáo, nếu lại chiếu theo giáo điều
căn bản của Nguyên thủy Phật giáo mà nhận xét đặc chất
của vấn đề chủ yếu đó, thì: giáo điều của Nguyên thủy
Phật giáo tất nhiên là Tứ Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
Khổ, Tập thuyết minh nhân quả thế gian làm yếu tố cho duyên
sinh lưu chuyển; Diệt, Đạo thuyết minh nhân quả xuất thế
gian, làm yếu tố chi duyên sinh trở về trạng thái vắng lặng.
Tuy vậy nói là Bộ phái Phật Giáo, song vấn đề then chốt
vẫn không ngoài Tứ Đế. Nhưng đến thời đại các bộ phái
thực sự triển khai, thì quan điểm của vấn đề là: khoảng
giữa Khổ Tập và Diệt Đạo còn có nhiều điểm sai khác
nữa. Chẳng hạn như: lấy thế giới thực tại làm đề mục
chủ yếu, hay đặc vấn đề Giải Thoát làm chủ? Nếu giờ
ta đem quan điểm của các bộ phái đã kể ở trên mà khảo
sát, ta có thể tóm tắc như sau: Các phái thuộc Thượng tọa
bộ lấy việc giải quyết vấn đề luân hội làm trung tâm
để phát triển, lấy luân hồi làm chủ thể để xây dựng
các học thuyết của mình. Đối với khuynh hướng thực tại,
hoặc bất luận một tư tưởng nào sau này đều là kết quả
phát xuất từ quan điểm ấy. Tóm lại, Thượng tọa bộ lấy
Khổ, Tập làm trung tâm, và lấy nó làm quy tắc đến thế
giới quan. Còn Đại chúng bộ thì lại lấy việc tu hành giải
thoát làm mục tiêu tối cao để tiến hóa, như lập trường
Duy tượng luận thuyết minh sự tu hành giải thoát, đều do
quan niệm đó mà ra cả. Nếu nói theo Tứ đế thì Đại chúng
bộ lấy Diệt, Đạo làm điểm xuất phát, rồi đem ứng dụng
để đi đến thế giới quan.
Như
vậy ta thấy sự sai khác giữa Nguyên thủy Phật giáo và Bộ
phái Phật giáo là ở vấn đề lấy Tứ Đế làm trung tâm.
Thế nhưng ta nên khảo sát toàn thể vấn đề hay chia ra Khổ,
Tập trước và Diệt, Đạo sau để tiến tới thế giới quan?
Sự bất đồng giữa Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ ở
chỗ lấy thế giới thực tại làm chủ hay lấy thế giới
lý tưởng làm chủ? Ta có thể chỉ đó là điểm sai khác.
Mặc dù vậy, cả hai đều lấy Tứ Đế quan làm trung tâm,
tuy mỗi bên diễn giải và ứng dụng không giống nhau, song
cũng đứng trên một lập trường căn bản.
Trở
nên, tôi chỉ mới quan sát về đại thể mà thôi. Thực ra,
tư tưởng của Đại chúng bộ hệ cũng gần với lập trường
tư tưởng của Thượng tọa bộ, mà tư tưởng của Thượng
tọa bộ hệ cũng gần với lập trường tư tưởng của Đại
chúng bộ. Tuy thế nhưng không phải hoàn toàn là một, điều
đó tưởng không cần nói. Sau đây tôi xin đề cập đến
những vấn đề của các Bộ Phái.
TIẾT
THỨ BA: PHẬT ĐÀ QUAN.
Đức
Phật là người sáng lập đạo Phật, đồng thời cũng là
một đề tài tối quan trọng trong lịch sử giáo lý của Phật
Giáo. Theo một ý nghĩa nào đó ta có thể nói rằng sự phát
triển về Phật Đà Quan là nguyên nhân chủ yếu làm cho giáo
lý Phật Giáo biến thiên và triển đạt. Do đó, vấn đề
Bộ phái Phật Giáo liên quan với Bồ Tát luận được coi
là một vẫn đề vô cùng trọng đại.
Ngay
lúc còn sinh thời, đức Phật cũng đã được các đề tử
thân tín coi là một bậc siêu nhân. Trong thần thoại giới
thời bấy giờ, Ngài được tôn lên hàng đầu, trên các vị
thiên thần trọng yếu, như Phạm Thiên Đế Thích v.v…và
là bậc thầy của cả ba cõi, bậc cứu tinh của Trời, Người.
Tuy vậy các đệ tử Phật bấy giờ vẫn không quên rằng
Ngài là người của trần gian, và đều biết rõ cách sinh
hoạt hàng ngày của Ngài. Như thế ta có thể thấy quan niệm
của đệ tử về đức Phật đại khái ở chỗ họ cho Phật
tuy ở nhân gian, nhưng là bậc cao siêu nhất, một người đã
hoàn toàn giải thoát. Sau khi Phật nhập diệt thì quan niệm
ấy lại biến thành quan niệm về giáo đoàn. Nhưng đến thời
đại bộ phái, về phương diện thần học, thì sự giải
thích quan niệm đó đã không làm thỏa mãn nhu cầu của các
học giả. Như vậy thì quan niệm cứu kính về Phật ở chỗ
nào?. Đức Phật có thật hay chỉ giả hiện mà thôi? Tuy cùng
là người giải thoát nhưng Phật và các vị đệ tử (La Hán)
của Ngài khác nhau ở điểm nào? Những vấn đề ấy thường
được nêu ra, và cùng lấy giáo lý làm đề mục nên mới
có Phật Đà Luận.
Về
điểm này, bất luận là phái nào, đều cũng đã có sự quyết
định. Phật và các vị đệ tử tuy đều là những bậc giải
thoát, nhưng bước đường tu hành có chỗ không giống nhau,
mà cách dụng lực cũng có điểm sai biệt. Phật không những
chỉ hạn cục trong một đời đức Thích Ca, mà như trong kinh
Bản Sinh đã nói, không biết bao kiếp trước kia đã tu hạnh
Bồ Tát, đến kiếp cuối cùng mới giác ngộ đạo Bồ Đề
(Bodhi) mà đạt đến quả vị Phật. Bởi thế Ngài mới có
đầy đủ 32 tướng tốt đẹp, và như vậy, về phương diện
dụng lực, Ngài khác xa các vị khác. Ngài còn có 18 pháp bất
cộng, tuy lăn lộn trong vòng sinh tử để cứu độ chúng sinh,
nhưng Ngài vẫn tự tại, giải thoát. Đó là tính chất đặc
thù của Phật. Còn các đệ tử Thanh Văn (Sravaka) nghe giáo
pháp của Phật mà trở thành Phật tử, nhưng vì chỉ muốn
chóng được giác ngộ, nên về phương diện đức tướng,
trí tuệ so với Phật, không khỏi có chỗ kém cõi. Nhất là
phương diện độ sinh, tuy các vị đệ tử không phải không
cố gắng, nhưng chưa hẳn các vị đã coi đó là nghĩa vụ
chính, mà thật thì chỉ lấy việc tự giác làm mục đích
căn bản. Bởi thế, các vị Thanh Văn La Hán chỉ cần nghe
lời Phật dạy là ai cũng có thể giác ngộ, chứng đạo,
nhưng duy chỉ có Phật mới thật là bậc đại giác, và trải
qua nhiều đời kiếp Ngài mới thị hiện một lần trên thế
giới Sa Bà này: Đó là quan niệm chung về Phật đã được
tất cả các bộ phái thừa nhận. Đặc biệt về phía Đại
chúng bộ còn đưa những khuyết điểm của các vị La Hán
so sánh với Phật để đề cao tư cách của Phật. Nhưng đại
khái thì các Bộ phái cùng chủ trương Phật và La Hán đều
đã giải thoát như nhau.
Song
nếu tiến lên bước nữa mà khảo sát về trình độ Phật
xem có phải siêu nhân gian không, thì giữa các Bộ phái lại
có nhiều kiến giải khác nhau. Nói một cách đại thể thì:
Thượng tọa bộ chú trọng vào sự tồn tại của Phật lịch
sử. Về phương diện nhục thể, mặc dầu Phật có đủ các
đức tướng, đầy đủ diệu dụng, nhưng rốt cuộc cũng
không khỏi có sự hạn chế nhất định. Sắc thân của Phật
tuy to lớn nhưng cũng có một hạn lượng nhất định; thọ
mệnh của Phật tuy lâu dài nhưng cũng có biên tế nhất định,
chứ không phải vô biên tế. Lại nữa vì sắc thân Phật
là kết quả của nghiệp báo từ kiếp trước rớt lại, nên
mặc dầu chính Ngài không còn khởi phiền não, chứ chưa phải
tuyệt đối không có. Thí dụ: Có người dâm nữ thấy thân
hình của Phật mà phát khởi dục tình, có kẻ ngoại đạo
thấy Phật mà sinh lòng ghen ghét, giận dữ. Không những thế,
Phật tuy ở thế gian, nhưng tất cả những lời Ngài nói chưa
hẳn đã là những lời vô lậu xuất thế, mà cũng có lúc
Ngài nói những việc tầm thường hàng ngày ở thế gian. Lại
nữa, tuy Phật có trí tuệ rộng lớn, có lòng từ bi bao la
và có sức thần thông cao cả, có thể dắt dẫn thế gian.
Nhưng nếu biến cái vô thường thành cái thường còn, và
hóa cái không thành cái có, thì việc đó Phật cũng không
thể làm được. Phật sở dĩ có bản chất Phật là ở chỗ:
về lãnh vực tinh thần, Phật có trí tuệ thuần khiết, có
đức từ bi và sức tự tại nhưng về phương diện nhục
thể, Phật vẫn có một giới hạn nhất định. Nói thế không
có nghĩa làm tôn nghiêm về quyền uy của Phật. Tất cả các
phái thuộc Thượng tọa bộ hệ đều chủ trương như vậy,
và mục đích để đối lại với năng lực lý tưởng hóa
của Đại chúng bộ hệ. Quan niệm về Phật như một nhân
vật lịch sử để bảo tồn hiện thực tính là một quan
niệm rất thực tiễn, ta không thể bỏ qua.
Đứng
về phía Đại chúng bộ mà quan sát Phật, thì chỉ căn cứ
vào Phật tính rồi dần dần lý tưởng hóa sắc thân thành
một đặc sắc duy nhất. Chẳng hạn như Thuyết xuất thế
bộ đã siêu nhân hóa thân Phật, nên mới mệnh danh là Thuyết
xuất thế phái. Nhưng theo Tôn luân luận thì Đại chúng bộ
đều chủ trương Phật thân là thanh tịnh vô lậu (cho đến
các thứ Phật bài tiết ra cũng thơm tho khác hẳn với của
người đời). Đó là việc vi diệu, bất khả tư nghị, Phật
là một đấng toàn trí, toàn năng, hiểu biết hết thảy,
và tùy ý chuyển vận hết thảy. Nếu dùng sức của Phật,
thì dù cái vô thường mà muốn biến nó thành thường còn
đều có thể được. Nhất là về phương diện giáo hóa độ
sinh thì lại vô cùng vi diệu. Phật vì nguyện độ sinh mới
ra đời, cho nên tất cả những lời Phật nói đều là lời
thuyết pháp. Hơn nữa, Phật chỉ dùng một tiếng mà có thể
nói được hết thảy mọi pháp, và đều hợp với trình độ
hiểu biết của chúng sinh. Cứ như thế, giáo đồ Đại chúng
bộ đề cao bản chất của Phật dần dần đến mức không
còn giới hạn nữa. Tiến lên một nấc nữa, theo Đại chúng
bộ, sự xuất hiện của đức Phật trên cõi đời này chẳng
qua vì nguyện cứu độ chúng sinh mà giả hiện đó thôi, chứ
thật thì Phật vốn ở trên cung trời Đâu Suất, việc ứng
thế, thuyết pháp chỉ là thị hiện chứ không phải sự thực.
Tóm lại, Thượng tọa bộ hệ trước sau vẫn lấy Phật
lịch sử (ứng thân?) làm nền tảng để tiến tới Phật
Đà Quan; còn Đại chúng bộ hệ thì căn cứ vào cái lý niệm
về Phật làm cơ bản để quan sát. Nói theo thuật ngữ thì
quan niệm của Đại chúng bộ về Phật có thể cho là ở
khoảng giữa pháp thân và báo thân.
TIẾT
THỨ TƯ: HỮU TÌNH QUAN.
Đối
với vấn đề thế giới quan, các bộ phái Phật Giáo đã
có nhiều nhận xét rồi, đến như hữu tình quan (lấy nhân
loại làm trung tâm) thì chỗ kiến giải của các phái lại
càng khác nhau. Những điểm đặc biệt là: bản chất của
hữu tình quan như thế nào? Tâm tính là trong sạch hay nhơ
bẩn? Và cái tướng trạng luân hồi ra sao? Đó là những vấn
đề đã phát sinh bao nhiêu luận thuyết khác nhau. Theo Nguyên
thủy Phật giáo, trên hình thức Duyên sinh luận thì vấn đề
đó tuy đã thành Vô-ngã-luận, nhưng như trên đã nói, một
mặt cho là vô ngã mà lại thừa nhận có luân hồi, mặt khác
chuyên đứng trên lập trường thực tiễn để giải quyết
những vấn đề ấy, thì về phương diện luận lý, như thế
không được rõ ràng, khúc chiết. Cho nên, tất cả còn phải
chờ sự giải quyết của các Bộ phái Phật Giáo.
Trước
hết hãy bàn về bản chất của hữu tình. Theo Nguyên thủy
Phật giáo thì cái gọi là Hữu tình (sinh vật-Sattvasatta),
chẳng qua do nhiều yếu tố hợp thành, ngoài những yếu tố
đó ra, ta không thấy có một nguyên lý cố định đặc thù
nào tồn tại cả. Mà những yếu tố ấy không ngoài sắc
(vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (tri giác), hành (ý chí),
thức (ý thức), đó là ngũ uẫn hòa hợp lại mà thành hình
thái hữu tình. Song năm yếu tố ấy thường cứ kế tiếp
nhau sinh diệt luôn luôn, cho nên trong đó ta không thể tìm
được một cá thể cố định thường còn. Nếu trong đó
có một cá thể quán thông cả trước sau, thì đó chỉ là
cái “nghiệp” ở kiếp trước, do kiếp trước tạo nghiệp
và tập thành cái gọi là tính cách vô ý thức, rồi một
mặt trở thành nguyên động lực quy định việc đặc thù
hóa ngũ uẫn ở kiếp sau, mặt khác cứ tiếp tục gây nghiệp.
Cái gọi là luân hồi chẳng qua cũng chỉ là sự nối tiếp
mãi mãi của cái nghiệp đó mà thôi. Cho nên, hữu tình cứu
kính chỉ là một sản vật do nhiều duyên hòa hợp mà có,
tự nó không có một nguyên lý cố định nào cả. Tuy vậy,
nó vẫn kế tục mà không gián đoạn, vẫn biến diệt chứ
không đứng yên, bởi vậy ta không thể cho nó là “thường”
hay “đoạn” như thế mới đúng với chân lý trung đạo.
Song đến thời đại Bộ phái Phật Giáo thì tư tưởng ấy
khai triển như thế nào?
Về
phía Phân biệt thượng tọa bộ, hay ít nhất vào thời đại
bắt đầu phân chia bộ phái, thì đại khái các phái vẫn
theo tư tưởng đó. Đối với các vấn đề trên, trong bảy
bộ luận của Phân biệt thượng tọa bộ, ta không thấy một
lý thuyết mới nào đặc sắc cả, đó là một bằng chứng
cụ thể. Nhưng một khi đã coi luân hồi là trọng yếu như
đã nói ở trên, thì trên căn bản lý luận, lại phát sinh
ra nhiều vấn đề khác mà ta không thể bỏ qua được.
Chẳng hạn vấn đề đầu tiên là: giữa đời này với kiếp
sau có một cái trung gian làm liên lạc hay không? Vì trong lúc
sinh mệnh giao nhau thay đổi thì ngũ uẫn cũ phải tiêu diệt,
nhường chỗ cho ngũ uẫn mới phát sinh để chuyển kiếp.
Tuy phân biệt thượng tọa bộ đã thuyết minh vấn đề đó
nhưng vẫn chưa được sánh tỏa. Bởi vậy, quan niệm của
phái Số luận cho rằng, cái thân nhỏ nhiệm bị thu hút vào
linh hồn_hình thái trung gian_là một quan niệm để lý giải.
Hữu bộ, Chính lượng bộ và Đông sơn bộ căn cứ vào quan
niệm đó mà lập nên thuyết Trung-hữu (Antarabhava, có trung
gian); còn Phân biệt thượng tọa bộ và đã số các phái
thuộc Đại chúng bộ thì lại chủ trương thuyết Vô-trung-hữu
(không có trung gian). Vấn đề đó tuy đã trở thành nguyên
nhân của các cuộc tranh luận kịch liệt giữa các Bộ phái
Phật Giáo, song ta có thể nói tóm tắt là: Thượng tọa bộ
hệ có khuynh hướng thực tại luận thì thừa nhận thuyết
Trung hữu, còn Đại chúng bộ hệ đứng trên lập trường
Duy tượng luận thì phủ nhận thuyết ấy. Kết luận như
thế thì không phải là quá đáng.
Đã
lấy thuyết Trung hữu làm cơ quan liên lạc giữa lúc sống
và sau khi chết để thừa nhận có hình thái trung gian, rồi
lại tiến bước nữa, cho bản chất hữu tình là ngũ uẫn
nên lại thừa nhận có một nguyên lý sinh tồn quán thông
(tức quan niệm lấy nghiệp làm sinh mệnh luận), đó cũng
là sự tiến triển tất nhiên vậy. Trong những thuyết đã
làm cho tư tưởng tiến bộ đến điểm đó, trước hết ta
phải kể đến thuyết “Ngã” của Độc tử bộ và Chính
lượng bộ chủ trương không phải “uẫn” cũng không phải
lìa “uẫn”, rồi đến thuyết “Cùng sinh tử uẫn” của
Hóa địa bộ, và thuyết “Tế ý thức” của Kinh lượng
bộ v.v…Sau này, Phân biệt thượng tọa bộ lại còn thừa
nhận cái gọi là “Phân thức nữa (Bhavanga)”. Tất cả lý
thuyết đó đều căn cứ vào tư tưởng hữu ngã của Thượng
tọa bộ hệ mà lần lần tiến triển.
Đại
chúng bộ hệ đối với những thuyết bản chất sinh tồn
phức tạp ấy trước sau vẫn bài xích, nhưng chiếu theo văn
tự thì ít nhất Đại chúng bộ hệ chủ trương thuyết nhân
duyên sinh. Song, đứng trên lập trường trên, các học giả
thuộc Đại chúng bộ hệ căn cứ vào sự giải thoát tối
hậu để tìm hiểu cái tâm, rồi đề xướng thuyết “Bản
tịnh” cho rằng cái tâm của ta bản lai là thanh tịnh, còn
phiền não chẳng qua là khách trần mà thôi. Nếu xét cho cùng,
ta thấy tư tưởng đó vẫn có khuynh hướng hữu ngã luận.
Thuyết Thế thân của Đại chúng bộ cũng thừa nhận căn
bản thức, tức là chỉ cái đó vậy. Tóm lại, Đại chúng
bộ hệ trước sau vẫn giữ nguyên lập trường bài xích tất
cả học thuyết chủ trương một linh hồn cố định. Song,
nếu tìm đến căn nguyên sinh thành của các hiện tượng hữu
tình, ta không thể không thừa nhận một nguyên lý vĩnh viễn
duy trì sự liên tục có thứ tự, và ta có thể nói đó là
một đặc chất hiển nhiên về hữu tình quan của các bộ
phái Phật Giáo. Tư tưởng A-lại-gia thức hay Như-lai-tạng
của Đại Thừa Phật Giáo sau này cũng do hệ thống đó mà
phát đạt.
Căn
cứ theo lý luận về bản chất ở trên mà xét nhận lý luận
về tam lý của Bộ phái Phật Giáo, thì đại khái ta có thể
chia thành hai trào lưu lớn: Cơ giới chủ nghĩa (mécanisme)
và Sinh cơ chủ nghĩa (Vitalisme). Nguyên thủy Phật giáo bắt
đầu nhận xét sự kinh quá phức tạp của tâm, tiến lên
một bước, chuyên khảo sát và phân tích tác dụng tâm lý,
và cho rằng không nhiều thì ích, trong sự kinh quá ấy có
bao hàm tính chất máy móc, cho nên gọi Cơ giới chủ nghĩa.
Quan niệm về tâm lý của Phân biệt thượng tọa bộ chính
là ở đó. Còn Sinh cơ chủ nghĩa thì cho tâm là một nguyên
lý thống nhất, tuy có nhiều tác dụng tâm lý khác nhau, nhưng
rốt cuộc cũng không ngoài hình thức của nguyên lý đó. Đứng
trên lập trường ấy mà nhận xét, ta thấy Kinh lượng bộ
và phái Số luận thuộc phái Án-đạt-la là đại biểu của
chủ nghĩa đó. Tóm lại, Nguyên thủy Phật giáo lấy hoạt
động tâm lý làm cứ điểm để quan sát hết thảy, đến
thời đại Bộ phái Phật Giáo thì quan niệm về tâm lý ấy
được phát triển mạnh, và vì thế đã sinh ra nhiều luận
thuyết khác nhau, điều đó ta cũng không lấy làm lạ.
Tựu
trung, vấn đề đầu tiên trở thành nguyên nhân của các cuộc
nghị luận là: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý (lục thức)
vốn là tác dụng biệt thể hay đồng thể mà tác dụng khác
nhau? Theo sự giải thích của Nguyên thủy Phật giáo thì cho
lục thức là biệt thể cũng được mà cho là đồng thể
cũng được. Vì cách giải thích bất định ấy mà đã sản
sinh ra nhiều vấn đề rắc rối. Về điểm này, đại đa
số các bộ phái tuy chủ trương thuyết biệt thể, nhưng trong
đó lại cũng có phái chủ trương thuyết nhất thể cho nên
mới dùng câu thí dụ “sáu cửa sổ (sáu thức) một con vượn
(chỉ ý thức)” để thuyết minh học phái của mình. Điều
đó ta thấy trong Thành thực luận.
Vấn
đề thứ hai: dù cho tâm thức là sáu hay một đi nữa thì
trong những tác dụng tâm lý ấy, cái gọi là “tâm sở”
(Caitasika) và tâm vương (Citta) độc lập kia thuộc loại khác
hay cũng chỉ nên coi là tác dụng bất đồng của tâm thức?
Nếu theo hệ thống cơ giới mà khảo sát tâm (như Phân biệt
thượng tọa bộ và Hữu bộ v.v…) thì tâm vương và tâm
sơ khác nhau, giữa tâm vương và tâm sở chỉ có sự quan hệ
tương ưng (Samprayukta), nhưng khi hiện hành thì cũng không ngoài
một hành tướng. Đến các nhà Duy tượng luận theo Sinh cơ
chủ nghĩa (như Kinh lượng bộ, Vương sơn bộ, Nghĩa thành
bộ, hay Thành thật luận cũng thế), thì lại chủ trương
ngoài tâm vương ra không thể có tâm sở tồn tại biệt lập
được. Lại nữa, trong Phiền não luận còn có một điểm
đặc biệt về tâm sở. Chẳng hạn như phân biệt giữa Triền
(Paryavathama) và Tùy miên (Anusya, tức sử) cũng xảy ra sự
tranh luận giữa các bộ phái. Vì Triền hay Tùy miên thật
ra là tên gọi khác của phiền não, nhưng đến các bộ phái
Phật Giáo thì một mặt cho nó là ý thức, mặt khác lại
giải thích là vô ý thức, do đó mới trở thành nguyên nhân
của những luận thuyết khác nhau.
Phân
biệt thượng tọa bộ và Hữu bộ thì cho rằng, Triền và
Thụy miên cũng là ý thức phiền não,, nếu bảo nó là sai
khác thì chẳng qua đó là cách dụng pháp có rộng, hẹp khác
nhau mà thôi. Hóa địa bộ, Kinh lượng bộ và Án đạt la
phái v.v…thì lại cho Triền là phiền não ý thức, về phương
diện tính chất, hai cái không giống nhau. Như vậy, sau tác
dụng của tâm ta có thừa nhận lãnh vực vô ý thức hay không?
Đó là điểm ta cần lưu ý, vì nó rất quan trọng đối với
quan niệm về tâm lý trong Phật Giáo.
Trở
nên, tôi mới chỉ tạm nêu ra tài liệu của ba đề mục Thiền
Tông tác đại biểu cho tâm lý quan của Bộ phái Phật Giáo,
chứ thật ra, nếu muốn nghiên cứu tường tận cả các vấn
đề về đặc chất của tâm lý quan trong Bộ phái Phật Giáo,
ta lại phải tìm ở chỗ khác. Vì ở đây hiện giờ tôi chưa
thể tiến tới điểm đó, nên hãy tạm cắt đứt. Duy có
điều ta nên ghi nhớ là: Bộ phái Phật Giáo đã cố gắn
nghiên cứu vấn đề tâm lý mục đích chỉ mong giải quyết
vấn đề thiện, ác về phương diện luân lý, và vấn đề
mê, ngộ về phương diện tôn giáo để làm một tiêu chuẩn
thực tiển. Căn cứ vào đó ta nhận thấy quan niệm về tâm
lý của Bộ phái Phật Giáo tuy chưa thoát hẳn được lãnh
vực của cái gọi là Tâm lý học luân lý, hay Tâm lý học
tôn giáo, nhưng nếu so với Nguyên thủy Phật giáo thì đã
tiến bộ khá xa, nghĩa là đã biết khai thác tất cả các
luận thuyết thuộc phương diện tâm lý. Về điểm này, dù
sao đi nữa, ta cũng không thể không công nhận là một đặc
sắc lớn lao.
Sau
đây tôi xin nói qua về tướng trạng luân hồi. Như trên kia
đã nói, về vấn đề này, có phái lập ra thuyết Trung hữu,
thì lại có phái phủ nhận thuyết đó; có phái đề xướng
thuyết luân hồi chủ thể, lại cũng có phái phủ nhận luân
hồi chủ thể. Đối với cái tướng trạng cụ thể lưu chuyển
không ngừng thì mỗi bộ phái thuyết minh một cách khác, điều
đó tưởng không cần nói. Song ở đây ta hãy tạm gác vấn
đề dị đồng của các phái đó mà chỉ đề cập đến một
thuyết đã manh nha ngay từ thời đại Nguyên thủy Phật giáo,
nhưng vẫn chưa thành một hình thức nhất trí cho thuyết Luân
hồi. Nếu vấn đề được quy định một cách đơn giản
để trở thành hình thức Luân hồi thì ta có thể thu vào
ba điểm chính là: Hoặc, Nghiệp và Khổ. Nghĩa là do phiền
não mà có những hành vi thiện ác mà có quả báo. Đem những
hành vi đó phối hợp với quá khứ, hiện tại, vị lai, chia
thành 12 nhân duyên để thuyết minh hình thức luân hồi (Duyên
sinh quan), do 12 nhân duyên mà có sinh, lão, bệnh, tử. Vô minh
(hoặc), Hành (nghiệp) thay cho tất cả phiền não và nghiệp
tập ở quá khứ. Thức là tinh thần chủ thể đi đầu thai
sau khi chết và trước khi sinh. Danh sắc, Lục nhập, xúc, thụ
là những cơ quan sinh lý và tâm lý, hoạt động phát triển
mà thành một hữu tình độc lập, đó là quả hiện tại.
Từ đây do ái dục và thù (chấp trước và duy trì đời sống
hiện tại, đồng thời gieo nhân cho sự sống ở tương lai,và
cũng đã quy định rõ rệt của kiếp sống tương lai”. Lại
tiến lên bước nữa là “Hữu”. Từ đây sau khi chết, sinh
vào một cảnh giới nhất định, một mặt hưởng thụ vui,
hay chịu đựng khổ, mặt khác chịu định luật già, ốm
(đau) và chết. Đó là sự sống tương lai. Nếu ta cứ theo
trạng thái trở đi trở lại như vừa kể ở trên mà khảo
sát, ta sẽ thấy có luân hồi vô cùng.
thuyết
luân hồi tuy đã được nói đến rất sớm trong các kinh Đại
duyên phương tiện trong Trường A Hàm, và kinh Trà Đế trong
Trung A Hàm nhưng phải đợi đến thời đại Bộ phái Phật
Giáo nó mới được giải thích một cách tường tạn, và
tuy cũng có nhiều sự giải thích khác nhau, song một hình thức
nhất định về luân hồi đã dần dần được thuyết minh
một cách rất cụ thể, và sau cùng là luân hồi lại được
giải thích theo thuyết Tam thế nhân quả (nhân quả ba đời).
Như
vậy căn cứ vào hình thức trên, các loài hữu tình là do
nghiệp tập mà có, và bất cứ loài nào, đều thụ sinh trong
ba cõi Dục, Sắc và Vô sắc, trong vòng lục đạo từ địa
ngục, ngã quỹ, súc sinh, a-tu-la cho đến cõi người và cõi
trời, tuy cũng có cơ hội được thụ hưởng khoái lạc, song
sự thụ hưởng ấy không phải thường còn mãi mãi. Vì kết
quả do nghiệp lực chi phối, cho nên nếu ta đứng trên lập
trường tự cho giải thoát hoàn toàn mà tình thần đòi hỏi
để nhận xét, thì ta có thể nói một cách tóm tắt rằng:
ba cõi chỉ là thế giới khổ đau mà thôi. Muốn giải thoát
thế giới khổ đau ấy để được sống cuộc đời tự đo
chân chính vĩnh viễn thì đó là thế giới lý tưởng Niết
Bàn. (Trở lên tuy chủ yếu theo quan điểm của thực tại
luận để khảo sát, nhưng cách giải thích như trên cũng rất
tương đương với quan điểm của Duy tượng luận. Vì, tuy
là phái theo Duy tượng luận, song ít nhất trên phương diện
hiện tượng, vẫn thừa nhận có luân hồi trong ba cõi).
TIẾT
THỨ NĂM: TU CHỨNG LUẬN.
Đối
với Nguyên thủy Phật giáo, ta có thể nói rằng, tu hành và
giải thoát luận trong sắc thái đặc biệt của Bộ phái Phật
Giáo. Nguyên thủy Phật giáo quan tâm đến tất cả các vấn
đề đạo đức thế gian, nhưng đến Bộ phái Phật giáo,
về chuyên khuynh hướng về chủ nghĩa xuất gia, cho nên chỉ
cố gắng phát huy đạo xuất gia mà thôi, đó là một điểm.
Tuy cũng là đạo xuất gia nhưng mục tiêu của Nguyên thủy
Phật giáo là thể nghiệm Niết Bàn ngay ở kiếp này. Song
đến Bộ phái Phật Giáo, vì quá quan tâm đến vấn đề luân
hồi, cho nên đối với việc thể nghiệm Niết Bàn ngay ở
kiếp này tuy cũng chú ý, nhưng đồng thời cũng đã mơ tưởng
đến một cảnh giới lý tưởng chân chính, tức là cảnh
giới Vô dư Niết Bàn sau khi chết, đó là điểm thứ hai.
Đối với Nguyên thủy Phật giáo, giới luật hay bất cứ
một đức mục nào chỉ cần áp dụng triệt để, đều có
thể là phương tiện đưa ta đến cùng một sự ngộ đạo,
cùng một giải thoát. Nhưng đến Bộ phái Phật giáo, vì quá
lưu tâm đến vấn đề phân tích cho nên thừa nhận rằng
những giới luật hay đức mục, có nhiều ý nghĩa đặc biệt
khác nhau, rồi đem bày đặt thành cấp bậc để làm cho đạo
trình tiến triển trong việc tu hành, đó là điểm thứ ba.
Cũng vì những cấp bậc tu hành để đạt đến địa vị
giải thoát hết sức phức tạp, cho nên Bộ phái Phật giáo
không thừa nhận cái tất nghiệp đơn thuần của Nguyên thủy
Phật giáo, đó là điểm thứ tư.
Như
thế, quan niệm về tu chứng của Bộ phái Phật giáo đã trở
thành một vấn đề vô cùng phiền toái, nan giải, và cũng
vì thế mà đã nảy sinh ra rất nhiều thuyết bất đồng.
Song, ở đây tôi chưa đề cập đến tất cả vấn đề đó
một cách tỷ mỷ mà chỉ tìm những điểm trọng yếu để
thuyết minh mà thôi.
Điểm
then chốt trong việc tu đạo, không cần nhắc lại nhiều,
là ở chỗ diệt trừ phiền não để được tỏ ngộ. Đối
với mục đích chung cùng ấy, Đại chúng bộ căn cứ vào
thuyết “tâm tính bản tịnh” (tâm tính người ta vốn trong
sạch). Cái gọi là “tỏ ngộ” chẳng qua là chỉ làm cho
cái tâm trở lại thể tính thanh tịnh sẳn có của nó mà
thôi. Còn Phân-biệt-thượng-tọa-bộ _Thuyết-nhất-thiết-hữu-bộ
thì căn cứ vào thuyết “tâm và tâm sở biệt thể” (thể
tính của tâm vương và tâm sở khác nhau). Muốn được tỏ
ngộ phải làm cho tâm sở-tâm phiền não xa lìa (bất tương
ứng) tâm vương_tâm thiện. Như vậy, trên lý luận tuy có
chỗ bất đồng nhưng trên thực tế, diệt trừ phiền não
để bồi bổ trí kiến mà phát đạt đến mục đích cuối
cùng là đạo giải thoát, thì cả hai phái đều giống nhau.
Cái phương thức giải thoát đó tuy có nhiều loại sai biệt,
nhưng trên đại thể thì tất cả đều nói là có hai: 1) thấy
đạo (Darsanamarga) và 2) tu đạo (Bhavanamarga). Thấy đạo là
phép bồi bổ trí tuệ, chuyên quán sát để thể hội lấy
đạo Tứ Đế, tu đạo là phép bồi bổ tình ý, đả phá
tất cả thói quen của bản năng và diệt trừ mọi phiền
não.
Tựu
trung, thấy đạo là vì là lý luận cho nên đến một thời
kỳ nào đó, có thể thực hiện được một cách mau chóng;
còn tu đạo vì là bất đồng trên tính chất cho nên lại
cần phải tu tập dần dần mới có thể thực hiện được.
Điều đó tuy đã thành thông lệ về pháp tướng, nhưng đối
với việc thấy đạo nhanh hay chậm thì các bộ phái lại
có nhiều luận thuyết khác nhau. Chẳng hạn Chính lượng bộ
thì cho rằng trong việc thấy đạo cũng bao hàm cả tiệm tu
(tu dần dần), bởi thế đã trở thành một vấn đề to tác
trong giáo giới. Về phía chủ trương “đốn” (nhanh chónh)
thì coi Tứ Đế là một đề mục toàn thể; còn về phía
chủ trương “tiệm” (dần dần) thì lấy Khổ, Tập, Diệt,
Đạo, đến một trình độ nào đó, làm phạm trù (catégerie)
độc lập. Đại khái lý luận của các bộ phái khác nhau
ở điểm đó. Dù chủ trương “Đốn” hay “Tiệm”, nếu
do chỗ thấy đạo rồi quan sát chân lý Tứ Đế một cách
thấu đáo để lĩnh hội, thì đó là yếu kiện lớn lao trong
việc tu hành giải thoát. Nếu hoàn thành được sự nghiệp
ấy, thì hành giả đã chứng được Sơ quả Dự Lưu (Srota-apama),
nghĩa là đã được dự vào hàng Thánh nhân. Đã chứng Sơ
quả rồi, phải trải qua bảy lần sinh tử luân hồi nữa
mới đạt quả giải thoát cứu kính là quả A La Hán. Từ
Sơ quả, hành giả tu tập theo nhiều phương pháp để diệt
trừ mọi phiền não trong tâm ý để lần lượt tiến lên
quả vị thứ hai là Nhất lai (Sakrdagamin), quả vị thứ ba
là Bất hoàn (Agamin), và quả vị thứ tư là A La Hán (Arhat).
Tựu trung, khi đến được quả thứ hai, hành giả còn phải
trải qua một lần sinh tử luân hồi nữa mới đến quả A
La Hán, cho nên gọi là Nhất lai. Đến quả thứ ba, khi chết
đi, hành giả được sinh lên cõi trời, và ở luôn trên cõi
trời mà chứng nhập Niết Bàn, không phải trở lại nhân
gian nữa, cho nên gọi là Bất hoàn. Từ Sơ quả đến quả
thứ ba, tuy chưa thoát ly hẳn sự luân hồi, song nhờ công
phu tu luyện, sự luân hồi của hành giả đã dần dần giảm
bớt. Và tuy đã chứng vào quả Thánh nhân, nhưng hành giả
vẫn còn phải tu tập theo quá trình nhất định,cho nên kêu
là hữu học_còn có chỗ phải học (Saik-sa, sekha). Đến quả
thứ tư là quả A La Hán (Ứng), hành giả đã diệt trừ hết
thảy phiền não, đạt đến quả vị tự giác, nghĩa là “những
việc nên làm đều đã làm trọn vẹn, không còn dục vọng,
không phải sinh tử luân hồi nữa”. A La Hán được gọi
là (Ứng), vì hành giả đã trải qua nhiều giai đoạn tu chứng
từ Sơ quả mới đến địa vị ấy, cho nên xứng đáng nhận
sự cúng dường tín thí của mọi người. Tóm lại, đến
quả A La Hán là người đệ tử Phật đã đạt được địa
vị tối cao, đã hoàn thành sự nghiệp tu đạo một cách cứu
kính. Cũng do đó mà được mệnh danh là vô học_không còn
gì phải học (Asaikksa, asekha).
Song
thật ra quả vị đó rốt ráo cũng không ngoài cảnh giới
tự giác, trong ấy do trình độ của mỗi người mà có nông,
sâu khác nhau. Nhưng cái phương thức “sở tác dĩ biện”_
đã làm trọn vẹn những điều phải làm (Krtakaraniya) ấy
chưa thể giải quyết được những vấn đề thầm kín, nhỏ
nhiệm. Đó là lý do đã phát sinh nhiều luận thuyết bất
đồng giữa các bộ phái Phật Giáo liên quan đến vấn đề
tư cách của một vị La Hán. Ta có thể nói tóm tắt như sau:
Thượng tọa bộ hệ hết sức đề cao giá trị của địa
vị La Hán, nhưng Đại chúng bộ hệ lại lấy Phật làm vị
tối cao, và coi địa vị La Hán là thường. Đại chúng bộ
hệ (nhất là Án đạt la phái) cho rằng, dù là một vị La
Hán đi nữa nếu nhục thể còn tồn tại, thì còn có hiện
tượng duy tinh trong mộng mị, đối với giáo lý còn có chỗ
nghi vấn, cũng có khi không tự biết là mình đã chứng ngộ,
hoặc có khi phải do thầy chỉ bảo cho mới biết là mình
đã chứng La Hán. Lại nữa, tuy là quả La Hán, nhưng vẫn
phải dùng một phương tiện nào đó, chẳng hạn nếu không
nhờ tiếng “Khổ” thì cõi lòng đôi khi không được phẳng
lặng, bình thản. Khi những sự kiện ấy được nêu ra nghiễm
nhiên nó đã trở thành một vấn đề to tác trong giáo giới.
Theo tôi, mặc dù Thượng tọa bộ có phản đối thế nào
đi nữa thì đó cũng là một sự thật. Bởi vì, một người
nhất đán chứng được quả La Hán tự giác chăng nữa, có
lúc cũng do một lẽ gì đó mà nhãng đi, điều ấy rất có
thể có và đó là một luận đề đã gây sôi nổi giữa các
bộ phái và kết quả đã nảy sinh ra những luận thuyết Hữu
thoái (có trở lui) và Vô thoái ( không trở lui). Về điểm
này, tuy phân biệt Thượng tọa bộ, hoặc Hóa địa bộ, Kinh
lượng bộ v.v…lấy cách thức làm tiêu chuẩn mà chủ trương
thuyết Vô thoái, nhưng Chính lượng bộ, Đại chúng bộ, Hữu
bộ v.v…thì lại lấy sự thực làm nền tảng mà thừa nhận
thuyết Hữu thoái. Song sự thừa nhận thuyết ấy không có
nghĩa là thối chuyển hoàn toàn, mà chỉ thừa nhận đôi khi
vị La Hán cũng còn có trạng thái tự như một người phàm
phu, cho nên nhất đán đã chứng được quả La Hán thì
quyết không thì bao giờ mất nữa. Về điểm này, bất luận
là phái nào cũng đều công nhận như thế cả.
Dù
chủ trương thuyết Hữu thoái hay thuyết Vô thoái, song còn
có nhục thể thì tuy là một vị La Hán cũng vẫn không khỏi
có những nhược điểm của con người. Đó là một sự thật.
Trong nội tâm, mặc dầu một vị La Hán đã đạt tới trạng
thái vắng lặng và giải thoát tuyệt đối, nhưng về ngoại
thể, không nhiều thì ít, vẫn còn có chướng ngại. Căn cứ
vào ý nghĩa ấy mà nhận xét một vị La Hán, tuy hiện đã
chứng Niết Bàn, song đứng trên lập trường luân hồi mà
nói, thì La hán chưa phải là quả vị cứu kính. Thời đại
bấy giờ, các bộ phái Phật giáo gọi quả vị La-Hán là
Hữu Dư Niết Bàn (Sa-UpadisesaNirvana). Tuy là Niết Bàn nhưng
thân thể vẫn còn để trả cái nghiệp ở kiếp trước. (Danh
từ Hữu Dư Niết Bàn lúc đầu chỉ áp dụng cho quả thứ
ba thôi, nhưng ở đây lại xác định ý nghĩa có thân nhưng
đã được giải thoát). Đến một thời kỳ nào đó, bỏ
hẳn cái xác thịt này đi, tức là chứng được cái Vô dư
Niết Bàn (Anupadisesa-nirvana), một cảnh giới hoàn toàn vắng
lặng, không sinh không diệt, nghĩa là một trạng thái giải
thoát tuyệt đối. Song tiến lên một bước nữa, làm thế
nào để hiểu được một cảnh giới như thế? Điểm đó
giữa các bộ phái Phật Giáo có nhiều luận thuyết khác nhau.
Bởi vì cảnh giới ấy trên thực tế, cắt đứt mọi nhân
duyên quan hệ, cho nên nếu nói theo phương diện này, thì nó
là cảnh giới hoàn toàn hư vô, mà nói theo phương diện khác,
tuy nó là hư vô, ngôn ngữ, văn tự không thể diễn đạt
được, nhưng tất cả các bộ phái khác, trên một hình thức
nào đó, đều thừa nhận có một cảnh giới tích cực. Nhất
là Đại chúng bộ chủ trương thuyết Tâm tính bản tịnh,
như Độc tử bộ (Bạt đề tử bộ) thành lập thuyết không
phải “ngã” (cái ta) cũng không lìa “ngã”, cho cảnh giới
đó là một trạng thái thường lạc ngã tịnh (lúc nào cũng
yên vui, trong sạch và giải thoát).