CHƯƠNG
THỨ TƯ
ÐẠI
THỪA PHẬT GIÁO TỪ SAU THỜI ÐẠI LONG THỤ
ĐẾN
THỜI ĐẠI VÔ TRƯỚC VÀ THẾ THÂN.
TIẾT
THỨ NHẤT :
Ý
NGHĨA SỰ KẾT TẬP NHỮNG KINH ÐIỂN CHỦ YẾU CỦA
ÐẠI
THỪA ÐƯƠNG THỜI .
Nhờ
có Long thụ ra đời để chỉnh đốn và chú giải các kinh
điển Ðại Thừa , nên Ðại Thừa đã có hệ thống và biểu
hiện thành Giáo hội. Song, đứng về phương diện lý luận
mà khảo sát thì trong các kinh điển Ðại Thừa, ít nhất
còn có một số điểm thiếu sót. Ðiểm thứ nhất là căn
cứ tối hậu của thuyết "Chân Không Diệu Hữu" chưa được
giải thích một cách ổn thỏa.
Như
trên đã nói, Chân Không là kết luận của vọng tâm duyên
sinh quan, còn Diệu Hữu là cái cảnh giới đã diệt trừ vọng
tâm mà làm sáng tỏ thể tướng của tịnh tâm. Trong các kinh
điển Ðại Thừa từ trước đặc biệt giữa cái vọng tâm
và tịnh tâm ấy như thế nào? Làm thế nào để phân biệt
được vọng tâm duyên sinh quan và tịnh tâm duyên sinh quan?
Ðiều đó trong các kinh Ðại Thừa từ xưa vẫn chưa nói rõ.
Ðiểm
thứ hai là vấn đề hết thảy chúng sinh thành Phật, trên
căn cứ luận lý, điểm này vẫn chưa được rõ ràng. Cái
gọi là Tam-thừa sai khác, gọi là chỉ có Nhất-thừa, tuy
có nhiều cách thuyết pháp nhưng tại sao lại như thế? Ðiều
đó trong kinh điển vẫn chưa đá động đến. Kinh Pháp Hoa
tuy đã nêu lên ý nghĩa hết thảy đều quy về một Phật-Thừa
và lấy thuyết Tân-huân-chủng-tử (kinh nghiệm) làm căn cứ,
nghĩa là trải qua nhiều kiếp luân hồi ở quá khứ, ít nhất
mỗi người cũng đã từng nghe Kinh Pháp Hoa một lần, nhưng
đó chỉ dựa vào một lý do thần thoại mà thôi, chủ ý Kinh
Pháp Hoa muốn nêu lên thuyết "hết thảy chúng sinh đều có
Phật tính" nhưng vẫn chưa nói rõ ra.
Ðiểm
thứ ba là luận về Phật đà còn nhiều chổ khuyết điểm,
nhất là quan niệm về pháp thân chưa được hoàn toàn. Như
trước đã nói tư tưởng pháp thân trong Tiểu Thừa Phật
Giáo, đặc biệt đến thời đại Long thụ, tư tưởng ấy
đã rất quen thuộc, song khái niệm về Pháp thân, Ứng thân
ngoài Tấn-pháp-giới-tụng (nếu thật là tác phẩm của Long
thụ) ra, cũng vẫn chưa được giải thích một cách minh bạch.
Song, đã từ nhân thân của Phật (Ứng thân), hoặc từ kết
quả của sự tu hành đạt đến Phật lý tưởng (Báo thân),
thì Phật sở dĩ có cái bản tính Phật tất phải có một
Pháp-thân, và Pháp-thân ấy phải có một ý nghĩa nhất định
để nêu rõ giới hạn và quan hệ với hai thân kia, đó là
điều tất yếu .
Như
thế, chủ yếu muốn giải quyết ba điểm đó, cho nên sau
Long thụ đã có nhiều kinh điển mới được kết tập. Ðó
là các kinh điển liên quan đến những vấn đề: Như-lai-tạng,
A-lại-gia-thức, Phật-tính và Pháp-thân-thường-trụ .v.v.
Tuy lúc đó là Hoa Nghiêm, nhưng cũng lại là Bát Nhã, Tịnh-độ-giáo-hệ
và Thiền-hệ, và những kinh điển từ trước thời Long thụ
tiếp tục đến bây giờ cũng được thêm bớt và bổ chính
nhiều. Nhưng dù sao, nếu nói nhữg kinh điển sau thời Long
thụ có đặc sắc gì đi nữa chẳng qua cũng chỉ bao hàm những
tư tưởng kể trên đây mà thôi .
Song,
nếu đối với Bộ-phái-Phật Giáo mà nói thì những kinh điển
ấy đem tư tưởng "Tâm-tính-bản-tịnh-khách-trần-phiền-não"
của Ðại-chúng-bộ-hệ hay "Sinh-mệnh-quan-sinh-cơ-luận" của
Thượng-tọa-bộ-hệ mà Ðại Thừa hóa thêm. Còn nếu đối
với ngoại đạo mà nói, những kinh điển ấy, không nhiều
thì ít, là nhu cầu cần đáp ứng với chủ trương Phệ-đàn-đà
(Vedanta) hoặc chủ trương Số-luận (Sàmkhyà) vậy . Chính
vì những lý do ấy mà kinh mới xuất hiện .
TIẾT
THỨ HAI :
CÁC
LOẠI KINH ÐIỂM MỚI VÀ LỊCH TRÌNH THÀNH LẬP.
Song
có bao nhiêu kinh điển mới đã phát huy được những đặc
sắc trên? Kể ra thì rất nhiều, nhưng nếu theo thứ lớp
mà đan cử thì đại khái có những kinh điển sau đây:
Kinh
Như-lai-tạng, Kinh Bất-tăng-bất-giảm, Kinh Ðại-pháp-cổ,
Kinh Thắng-mạn, Kinh Vô-thượng-y, Kinh Ðạt-thừa-niết-bàn,
Kinh Giải-thâm-mật, Kinh Ðại-thừa-A-tỳ-đạt-ma (chưa dịch)
và Kinh Nhập-lăng-già. Tất cả những kinh điển trên không
có một bộ nào mà Long thụ dẫn chứng cả.
Nếu
theo sự nghiên cứu lịch sử dịch kinh mà phán đoán thì những
kinh điển kể trên được kết tập sau thời đại Long thụ,
đó là điểm không còn nghi ngờ gì nữa. Xét trên đại thể,
ta có thể nói những kinh đó đã xuất hiện trước thời
đại Vô-Trước và Thế -Thân.
Căn
cứ vào những kinh điển đó mà nhận xét Phật-tính-luận
của Thế-thân là một điều rất rõ ràng. Về tên các kinh,
trong Phật-tính-luận tuy chỉ đề cập đến ba bộ là: Kinh
Thắng-mạn, kinh Vô-thượng-y và kinh Giải-thâm-mật, song theo
nội dung Phật-tính-luận mà phán đoán thì kinh Như-lai-tạng,
kinh Ðại-thừa-niết-bàn có lẽ cũng đều là lợi dụng kinh
Lăng-già: điều đó ta có thể suy luận mà biết. Theo sự
giải thích phần Cửu-dụ của kinh Như-lai-tạng trong Phật-tính-luận,
quyển thứ tư, thì kinh Như-lai-tạng có thật. Lại như kinh
Ðại-thừa-niết-bàn, tuy không có tên trong Phật-tính-luận,
nhưng thuyết "Hết thảy chúng sinh có Phật-tính", thuyết "Pháp-thân
thường còn", hay thuyết "Thường-lạc-ngã-tịnh", đặc biệt
là thuyết "pháp-thân không phải xưa vốn không mà nay có,
xưa vốn có mà nay không" (Phật-tính-luận quyển 4), có điểm
nhất trí với luận "Bản-vô-kim-hữu-trước không nay có"
và được gọi là chú giải kinh Ðại Thừa-niết-bàn. Như
vậy ta có thể tin chắc rằng, kinh Ðại-pháp-cổ chịu ảnh
hưởng của kinh đó mà xuất hiện. Nhưng kinh Ðại Thừa-niết-bàn
đã trải qua nhiều giai đoạn sửa chữa mới thành có hình
thái ngày nay, nên niên đại của kinh này, so với kinh Vô-thượng-y
và kinh Ðại-pháp-cổ, có lẽ đã được thành lập sau. Còn
kinh Giải-thâm-mật không nói đến Như-lai-tạng mà lấy A-tựu
trung, kinh Giải-thâm-mật không nói đến Như-lai-tạng mà lấy
A-lại-gia-thức làm chủ vị, muốn theo nhận thức luận để
thuyết minh sự khai triển của vạn vật. Về điểm này kinh
Giải-thâm-mật tuy có hơi khác với các kinh điển chủ trương
Như-lai-tạng, nhưng đứng về phương diện đại quan mà nhận
xét thì vẫn là đại biểu cho kinh Như-lai-tạng. Kinh Lăng-nhập-già
lại muốn thuyết minh tư tưởng Chân-như-duyên-khởi.
Tóm
lại , tất cả các kinh điển thuộc trào lưu Như-lai-tạng
và A-lại-gia-thức đại khái đều xuất hiện sau cùng (duy
có kinh Lăng-già có lẽ sau thời đại Thế-thân) .
Dưới
đây tôi tưởng nên nhận xét sơ lược đặc chất tư tưởng
và ý nghĩa phổ thông của những kinh kể trên .
TIẾT
THỨ BA:
ÐẶC
CHẤT TƯ TƯỞNG CỦA CÁC KINH ĐIỂN
KINH
ÐẠI-PHƯƠNG-ÐẲNG-NHƯ-LAI-TẠNG.
Trước
hết bắt đầu từ kinh Như-lai-tạng. Theo truyền thuyết thông
thường thì bộ kinh này do hai ngài Trúc-phái-hộ và Pháp-tổ
ở đời Tây Tấn dịch (290-306 T.L). Nhưng trong truyền thuyết
đó một điểm khả nghi mà ngày nay chúng ta không thể tin
được. Kinh Như-lai-tạng hiện tồn tại là do hai Ngài Giác-Hiền
và Bất-Không đời Ðông Tấn dịch là Ðại-Phương-Quãng-Như-Lai-Tạng-Kinh,
nhất là bản dịch của Giác-Hiền rất được lưu hành.
Theo
chổ tôi biết, danh từ Như-lai-tạng (Tathagatugarbha được
dùng đầu tiên trong kinh Thập-Ðịa, là chổ thuyết minh, về
ngôi thứ mười kể từ Vô-chướng-ngại giải thoát trở
xuống trong tám loại giải thoát, lúc đó mới có danh từ
Như-lai-tạng-giải-thoát.
Nhưng
trong kinh Thập-Ðịa, ý nghĩa danh từ đó vẫn chưa được
rõ ràng, thật sự trên vấn đề ý thức, thì đến kinh Như-lai-tạng
danh từ ấy mới được dùng làm thuật ngữ. Theo kinh Như-lai-tạng
mà nhận xét thì Như-lai-tạng chẳng qua là tên gọi khác của
Phật-tính.
Cái
tâm của chúng ta tuy bị phiền não trói buộc, che lấp, nhưng
trong đó vẫn có đầy đủ đức tính của Như-lai, mà cái
tâm tính đó dù Phật có ra đời hay không, nó cũng không thêm,
không bớt, cho nên kêu nó là "pháp tự nhiên như thế". Chỉ
vì phiền não che lấp, nên tâm đó không thể hiện ra được,
và chính vì muốn làm cho nó sáng tỏ trở lại nguyên thể
của nó nên Phật mới ra đời. Mà cái chủng tử thành Phật
bản lai vẫn nằm sẳn trong tâm chúng sinh, đó là điểm then
chốt của toàn bộ kinh Như-lai-tạng và đã dùng chín loại
tỷ dụ để nói rõ điểm đó.
Tóm
lại, nếu chi nhận xét theo bề ngoài thì tuy cái tâm đó bị
coi là nhơ bẩn, nhưng trong cái nhơ bẩn ấy vẫn bao hàm một
thể tính cực kỳ quý báu. Trong Phật-tính-luận (quyển 4)
của Thế Thân và Bảo tính luận của Kiên Tuệ, cái tâm đó
đã được thuyết minh một cách rõ ràng. Nếu theo lịch sử
giáo lý Như-lai-tạng mà nói thì đó luận thuyết rất danh
tiếng.
Trên
thực tế, kinh Như-lai-tạng chuyên suy tầm và phát triển cái
khả năng tính thành Phật trong nội Tâm, nhưng đặc chất
Như-lai-tạng như thế nào? Sự quan hệ giữa Như-lai-tạng
và phiền não ra sao? Và mối tương quan giữa Như-lai-tạng
và sự sinh tử luân hồi như thế nào? Ðó là vấn đề chưa
được thảo luận đến mà điều đó cho ta thấy kinh Như-lai-tạng
mới chỉ là sản phẩm phôi pha.
KINH
BẤT TĂNG BẤT GIẢM
Kế
thừa tư tưởng như-lai-tạng phôi pha kể trên, muốn đem tư
tưởng ấy triển khai thêm một bực nữa để thành lập một
giáo lý có hệ thống hẳn hoi: đó là chủ trương của kinh
Bất tăng Bất Giảm (Bồ Ðề Lưu Chi dịch-530 T.L).
Kinh
này có được nói đến trong Phật tính luận, và trong Cửa
kính Nhất thừa Bảo tính luận, Kiên Tuệ cũng có dẫn chứng,
cho nên về phương diện tư tưởng sử Như-lai-tạng, bộ kinh
này cần phải được chú ý đến.
Chúng
sinh nguyên lai chẳng qua chỉ sinh ra rồi chết đi trong một
pháp giới, cho nên nhận xét một cách đại quan thì mê cũng
không bớt căn cứ của kinh này là: Chúng sinh giới tức Như-lai-tạng,
Như-lai-tạng tức là pháp thân, mà pháp thân thì không thêm
không bớt, cho nên chúng sinh giới lấy pháp thân đó làm tính,
nói theo lập trường Ðệ nhất nghĩa đế, cũng là không sinh
không diệt. Song còn sống, chết trong cõi chúng sinh, thì còn
có những trạng thái mê, ngộ khác nhau thì điều đó như
thế nào?
Ðiểm
này, kinh Bất tăng bất giảm muốn theo ba lập trường để
giải thích:
Thứ
nhất cái thể tương ứng của Như-lai-tạng với Pháp thanh
tịnh. Thứ hai, thể bất tương ứng của Như-lai-tạng và
Pháp phiền não bất thanh tịnh. Thứ ba, thể bình đẳng của
Như-lai-tạng và Pháp hằng hữu.
Thứ
nhất: phương diện tương ứng của Như-lai-tạng tức là tâm
tính vốn thanh tịnh, nói theo danh từ trong Khởi Tính luận,
thì đó tâm Chân như môn. Thuyết minh về điểm này kinh Bất
tăng bất giảm nói: "Tôi theo pháp giới chân như thanh tịnh
này, vì chúng sinh mà nói khách trần phiền não ô nhiễm tự
tính thanh tịnh tâm không thể nghĩ bàn".
Thứ
hai: tuy không xa lìa Như-lai-tạng, song không tương ứng với
Như-lai-tạng, đó là phương diện "khách trần phiền não",
là "vô minh trụ địa", nói theo danh từ Khởi Tính luận, là
tâm sinh diệt môn, cho nên kinh này nói "Tôi y theo pháp bị
phiền não ràng buộc, không tương ứng, không thể nghĩa bàn
này, vì chúng sinh mà nói khách trần phiền não ô nhiễm tự
tính thanh tịnh tâm không thể nghĩ bàn".
Thứ
ba: để dung hợp cả hai lập trường kể trên, kinh này nói:
"Tức là hết thảy các pháp căn bản, đầy đủ mọi pháp,
trong thế pháp, không xa lìa các pháp chân thực, nắm giữ
tất cả mọi pháp bao hàm hết thảy các pháp". Nói theo Khởi
Tính luận thì đại khái đó là cái đương thể của A-lại-gia
thức cùng với sinh diệt và không sinh diệt, không phải một
cũng không phải khác. Nhưng kinh Bất tăng bất giảm vẫn chưa
tiến đến điểm đó, nghĩa là chưa nói đến cái đương
thể không sinh không diệt, trong sạch và thường còn.
Nếu
căn cứ vào câu: "Vì chúng sinh mà nói pháp giới thanh tịnh
không thể nghĩ bàn" mà nhận xét thì trong câu trên tuy tổng
hợp đương thể của tâm tính bản tịnh và khách trần phiền
não, nhưng đó chỉ được coi là lấy sự thuyết minh về
phương diện thanh tịnh làm chủ thể mà thôi.
Tóm
lại, lập trường kinh Bất tăng bất giảm, nếu so sánh với
Khởi Tính luận thì về phương diện giáo lý còn có nhiều
điểm chưa được hoàn bị, nhưng so với kinh Như-lai-tạng,
muốn đem tư tưởng Như-lai-tạng suy rộng đến nguyên lý
thuyết minh, về điểm này, kinh Bất tăng bất giảm tỏ ra
đã tiến bộ hơn kinh Như-lai-tạng nhiều.
KINH
THẮNG MAN.
Cùng
với kinh Bất tăng bất giảm có một địa vị ngang nhau là
kinh Thắng Mạn, tức kinh Sư tử hống nhất thừa đại phương
tiện phương quãng ( có hai bảng dịch do Ngài Cầu-na-bạt-đà-la
đời Lưu Tống dịch vào năm 436 sau Tây lịch, và ngài Bồ
Ðề lưu chi dịch vào khoảng từ 503-535).
Ðứng
trên lập trường toàn thể của kinh này mà nhận xét, tuy
nêu lên những vấn đề to tát như: Thập đại thụ, Tam đại
nguyện, Nhiếp thụ chính pháp, Tam thừa phương tiện, Nhất
thừa chân thực, Như-lai-tạng v..v. nhưng nếu chuyên đứng
trên lập trường Như-lai-tạng mà nhận xét có thể nói: kinh
Thắng Mạn cũng chỉ theo lập trường và chủ trương của
kinh Bất tăng bất giảm mà thôi. Nhưng kinh Thắng Mạn tiến
bộ hơn kinh Bất tăng bất giảm ở điểm thuyết minh pháp
thân (Như-lai-tạng) là thường, lạc, ngã, tịnh và muốn bắt
nguồn từ căn bản vô minh để giải quyết hết thảy. Song,
xét theo phương diện khác, đem cái đặc sắc Nhất pháp giới
của kinh Bất tăng bất giảm đứng trên ba loại lập trường
kể trên mà nhận xét, so sánh thì kinh Thắng Mạn lại kém
kinh Bất tăng bất giảm ở chổ thiếu hệ thống tổ chức.
Như
vậy nếu loại bỏ khuyết điểm của cả đôi bên, ta có
thể nói cả hai kinh đó đều cùng một trình độ tư tưởng.
Riêng về điểm khảo sát vấn đề phiền não tinh tế thì
địa vị kinh Thắng Mạn vẫn phải đặt sau kinh Bất tăng
bất giảm: đó là điều xác đáng.
Theo
kinh Thắng Mạn, Như-lai-tạng là cái tâm Bồ Ðề chán nổi
khổ cầu sự vui, đó là nguyên động lực thúc đẩy mọi
cố gắng có tính cách tôn giáo. Ðồng thời, lấy nguyên
lý không sinh, không diệt, thường còn bất biến làm cơ sở
cho hết thảy các pháp mà chi trì, thành lập sinh tử cũng
ở Như-lai-tạng, đó là điểm nhất trí với kinh Bất tăng
Bất giảm. Cái tự thể đó là Pháp thân tạng, là cảnh giới
Như Lai, là Niết Bàn, là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Nhưng,
như ai cũng biết chỉ vì khách trần phiền não ấy, nói theo
tinh thần của kinh này, là cái Tâm vô minh bất tương ứng
(Vô minh, vô ý thức), nói theo Khởi Tín luận thì đó là tâm
vô minh bỗng nhiên phát khởi; và cái hình tướng của nó
vô cùng nhỏ nhiệm rất khó biết được, bởi thế kinh này
cho rằng chỉ có Như-Lai mới biết được việc đó mà thôi.
Do đó mới gọi nó là cảnh giới bất khả tư nghì của Như-Lai
(đã tóm tắt trong chương Tư-tin-thanh-tịnh ở trên). Bởi
vậy, tuy cùng thuyết minh Như-lai-tạng, nhưng vì lập trường
khác nhau, nên ta có thể đứng ở cả hai phương diện để
khảo sát.
Một
là nhận xét theo cái tự thể lìa phiền não mà cố gắng
diệt phiền não tạng. Kinh Thắng Mạn gọi đó là hai loại
Như-lai-tạng: Không Như-lai-tạng và Bất-không-Như-lai-tạng
( như thực không kính và Như thực bất không kính chúng do
đấy mà ra) Tóm lại, đặc sắc của tư tưởng Như-lai-tạng
trong kinh Thắng Mạn ở hai điểm sau:
1)
Từ cái tiêu đích lý tưởng để suy tâm đến Như-lai-tạng,
trong lúc thuyết minh về nguyên lý, ta không thể không thừa
nhận trong đó có cả tác dụng vô minh, bởi thế nên phải
thuyết minh bằng cách nào đó là một việc vô cùng khó khăn.
2)
Lấy tự thể của cái tiêu đích lý tưởng làm nguyên lý
tồn tại của Như-lai-tạng để quan sát, nhưng trong đó vẫn
có một năng lực phá hoại, ấy là muốn đứng trên hai phương
diện để suy nghiệm mà hai phương diện đó, về mặt luân
lý, đều là một vấn đề tất nhiên, đồng thời cũng là
điểm tựa của Phật-tính-luận và Khởi-tính-luận. Ðây
là điểm mà ta cần phải đặc biệt lưu ý.
KINH
VÔ THƯỢNG Y
Căn
cứ theo kinh Thắng Mạn ở trên và kinh Ðại-niết-bàn sẽ
nói ở sau, để thành lập tư tưởng Như-lai-tạng là kinh
Vô-thượng-y (575 T.L do ngài Chân Ðế dịch; kinh Thậm-hy-hữu
của Huyền-Trang là một bộ phận của bộ kinh đó). Bộ kinh
này đã được trích dẫn rất nhiều trong đầu quyển Phật
tính luận và Cứu-kính-bảo-tính luận và rất có ý nghĩa
trọng yếu đối với sự phát triển của Pháp-tân luận,
Phật-tính luận .v.v..
Nói
một cách đại thể thì chủ trương của kinh này cũng với
những kinh đã nói ở trên đều giống nhau. Nghĩa là, đứng
về phương diện bản chất mà khảo sát thì chúng sinh giới
và Như-lai-giới, tuy bản tính của nó đều thanh tịnh, nhưng
dần dần bị khách trần phiền não che lấp quấy rối nên
cứu kính chưa thoát khỏi hẳn được cái xác phiền não.
Nếu lìa hẳn được phiền não tức là tự thân Như-lai-tạng,
là Pháp-thân là như như, là thực tế, là tịch diệt, là
thường, lạc, ngã, tịnh, là Ðệ nhất nghĩa đế, cho nên
lập trường của kinh này, đại khái cũng đồng nhất với
kinh Bất tăng bất giảm và kinh Thắng Mạn.
Song,
đứng về phương diện lịch sử tư tưởng Như-lai-tạng mà
nói, thì đặc sắc của kinh này ở chổ nào? Ðối với vấn
đề đó ta có thể nói tóm tắt trong một câu là: kinh này
thật ra không có một đặc sắc nào cả, chỉ hoàn toàn chú
trọng về phương diện tu hành. Ðứng trên lập trường tu
hành, kinh này chia căn cơ là năm loại. Ðiểm này rất có
quan hệ với Ngũ-tính, Các-biện-luận và Nhất-xiển-đề
thành Phật luận trong kinh Ðại Thừa-niết-bàn. Ðó là ta
cần phải đặc biệt chú ý.
Năm
loại căn cơ là:
Nhất-xiển-đề
(Icchantika);
Ngoại-đạo.
Thanh-văn.
Duyên-giác.
Phật.
Nhất-xiển-đề
là hạng nhưng chấp trược trong ba cõi, phỉ báng Ðại Thừa,
là hạng người mà trong các kinh nói quyết định không được
thành Phật. Tuy nhiên, trong các kinh này đức Phật lại thuyết
đạo Bồ Tát để phá trừ nghiệp chướng đó, và như vậy
ta có thể nói cuối cùng Nhất-xiển-đề cũng được thừa
nhận có khả năng thành Phật.
Ngoại
đạo là những người cố chấp theo cái tư kiến của mình,
và vì muốn phá trừ tính cố chấp ấy cho nên đức Phật
mới nói Bát Nhã.
Thanh
văn là hạng người sợ sinh tử, và vì muốn diệt trừ sự
sợ hải ấy cho nên đức Phật mới nói phá hư không tam muội
môn.
Duyên
giác là hạng người không đoái tưởng đến lợi ích của
kẻ khác, và vì muốn đối trị cái lầm lỗi ấy cho nên
đức Phật nói Ðại Bi.
Cứ
như thế tu theo Ðại Thừa, thông suốt được Bát Nhã, đạt
đến phá hư không tam muội môn, tu hạnh đại bi rồi cuối
cùng thông đạt đến Thường, lạc, ngã, tịnh, tức là chân
chính thành Phật. mà chủ ý của Ðại Thừa này ở chổ:
"Ðạt đến cảnh giới Như-lai vô nhiễm vô trước vào sinh
tử để chuyển sinh tử, ở trong phiền não mà chứng đại
phương tiện, trụ nơi vô trụ tịch tĩnh Niết Bàn và mau
thành "A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-Bồ-Ðề" (Phẩm Như-lai giới
thứ hai) Kinh Vô thượng y này đều xướng cái gọi là Bất
trụ niết bàn tuy là kết quả tự nhiên rằng đó là cái
đặc sắc duy nhất của kinh này.
KINH
ÐẠI NIẾT BÀN
Căn
cứ vào tư tưởng Như-lai-tạng hay Phật tính trong các kinh
nói trên nghĩa là căn cứ vào tiên thiên chuyên cầu thành
Phật, cho nên mới đứng trên phương diện luân lý hoặc tâm
lý để tìm ra kết luận. Song, tư tưởng trên không nhất
định chỉ đứng về phương diện tiến bộ đó, mà còn đứng
về phương diện tất yếu nữa, do đó ta có thể thấy sự
thành công ấy đã đạt đến một mức tiến triển khá lớn
lao: đem hình nhi thượng hóa Pháp thân thường trụ quan. Sau
khi đức Phật nhập diệt, Pháp thân được coi là chân lý
thường trụ và được truyền bá một cách rộng rãi và cũng
được coi là lời di chúc của Phật trong lúc nhập diệt.
Cái tư tưởng giáo pháp thường trụ chyển qua lấy lý pháp
làm pháp thân, làm pháp giới, chủ trương tư tưởng thường
trụ, đó là lập trường của kinh Hoa Nghiêm như đã nói ở
trên. Song pháp thân quan nói trên lại bỏ nhân cách của Phật
Thích Ca mà lấy giáo pháp làm trung tâm, do đó theo lập trường
này, ta nhận thấy nhân cách của Phật ở đây không được
chú ý lắm. Ðể bổ khuyết vào điều thiếu sót đó, tuy
có sự tin tưởng ở Phật vị lai hay Phật ở các phương
khác, song dù thế nào chăng nữa, căn cứ vào đức Phật lịch
sử để tìm một kết quả thường còn, đó tức là tư tưởng
đã thành hình trong kinh Pháp Hoa, ở phẩm Vô Lượng Thọ.
Song trong kinh Pháp Hoa, lấy khả năng tính thành Phật của
hết thảy chúng sinh để thuyết minh sự luân tập giáo hoá
ở quá khứ và để thích ứng với tư tưởng đó lại căn
cứ vào thọ mệnh vô lượng của Phật để nói đến sự
thành Phật rất lâu xa về quá khứ, đối với thời gian,
vẫn có thể lấy hình thái biểu hiện, mà chưa tiến tới
cực độ của nội tâm để chứng minh tư tưởng đó. Như
vậy cũng không khác gì những điều đã nói ở trên. Ði xa
một chút nữa lấy tư tưởng Như-lai-tạng hay Phật tính làm
căn cứ, nghĩa là căn cứ vào Phật lịch sử để chủ trương
Pháp thân thường trụ, đó là lập trường kinh Ðại Niết
Bàn.
Kinh
Ðại-thừa-niết-bàn nguyên là kinh Tiểu Thừa Niết Bàn phát
triển mà thành, và đã trải qua nhiều giai đoạn, mới chuyển
đến hình thái ngày nay. Kinh này tuy có lợi dụng học thuyết
Vệ-Ðà và Số-luận, nhưng chịu rất nhiều ảnh hưởng thời
Long thụ, như kinh Bát Nhã, kinh Pháp-Hoa và kinh Thủ Lăng Nghiêm
Tam Muội v.v. Nhưng tôi rất tiếc rằng tôi vẫn chưa thể
quyết định được rằng, trong các kinh điển thuộc về Như-lai-tạng-hệ,
kinh nào có trước kinh Niết Bàn và kinh nào có kinh Niết Bàn?
Song tìm hiểu các kinh thuộc về Như-lai-tạng hệ nào đã
chịu ảnh hưởng của kinh Ðại-niết-bàn nhiều nhất là
một điều không khó khăn mấy. Nhưng đặc chất tư tưởng
của kinh Ðại-thừa-niết-bàn là như thế nào? Nói một cách
đại thể thì lập trường của kinh Ðại-thừa-niết-bàn
cũng tương tự như các kinh điển đã nói ở trên. Kinh Ðại
Thừa-niết-bàn chủ trương những thuyết sau đây: Pháp thân
thường trụ, Thường-lạc-ngã-tịnh là thuộc tính của Niết-Bàn,
hết thảy chúng sinh đều có Phật tính và Nhất-xiển-đề
cuối cùng cũng có ngày thành Phật. Mà trong những thuyết
này, tư tưởng Pháp-thân-thường-trụ được lấy làm trung
tâm: đó là đặc sắc của kinh Ðại-thừa-niết-bàn.
Nay
ta hãy thử xem thứ tự thành lập của kinh này: như trên đã
nói, Pháp-thân-quan đã được thành lập trước kinh này, rồi
tiến thêm một bước nữa, tìm hiểu ý nghĩa sâu xa của Pháp-thân-quan,
tóm lại điều này liên quan đến vấn đề "bỏ mê cầu ngộ".
Song bỏ mê cầu ngộ là nhu cầu giải thoát. Mặc dầu con
người đều có cái đương thể của Pháp-thân. Do đó lấy
pháp thân quan làm trung tâm điểm là đặc sắc của kinh Ðại
Thừa-niết-bàn. Còn những thuyết như: "Hết thảy chúng sinh
đều có Phật tính", "Kết hợp Như-lai-tạng", "Bồ-đề-tâm",
"Pháp-thân", "Phật-thân" v.v. chẳng qua cũng chỉ là quan sát
nội tâm mà thôi.
Ðặc
sắc của kinh Ðại Thừa-niết-bàn không phải chỉ ở điểm
hoạt động tâm lý, mà còn đem hình nhi thượng hóa Như-lai-tạng,
Pháp-thân và Phật-tính. Phật-đà chung cũng chỉ là Như-lai-tạng,
là Pháp-thân, là Phật-tính đã thực hiện được cái đương
thể một cách như thật, nghĩa là không ngoài việc thực hiện
sinh mệnh vĩnh viễn. Do đó sự nhập diệt của đức Thế-Tôn
quyết không phải có tính cách tiêu cực thực hiện của đại
ngã, là vĩnh viễn tồn tại, là yên vui rốt ráo và là tuyệt
đối thanh tịnh; đó cũng là cái lý do mà Niết-Bàn và cũng
là cái đương thể của Thường-Lạc-Ngã-Tịnh. Như thế,
cái nhục thân của Phật tuy đã diệt nhưng cái Chân-Thân
vẫn còn, mà cái Chân-Thân đó vì muốn tế độ chúng sinh
nên mới có Hoá-thân và Ứng-thân, đó là kết luận tự nhiên
phải có.
Từ
Pháp-thân-thường-trụ-quan, không bao lâu đã tiến đến Phật-thân-thường-trụ-quan,
lấy kinh Pháp-Hoa làm bối cảnh, xuất phát từ kinh Ðại Thừa-Niết-Bàn,
đó là điều mà kinh Kim-Quang-Minh đã chủ trương.
Kinh
Niết-Bàn, từ quan niệm hết thảy đều có Phật-tính mà
tiến đến quan niệm Phật-thân-thường-trụ cho nên mới có
cái quy kết tất nhiên là: hết thảy đều thành Phật. Hết
thảy chúng sinh đã điều có Phật-tính, đều có thể thành
Phật, thì bất cứ là chúng sinh nào đều phải nên nắm lấy
cái cơ hội thuận tiện cho sự triển khai Phật-tính đó.
Nhưng đến đây, một vấn đề thực sự được nêu lên là:
đặt kinh Ðại Thừa-Niết-Bàn vào hàng đầu các kinh điển
thuộc Như-lai-tạng-hệ, hết sức chủ trương thuyết "thảy
đều thành Phật", song cũng có những học giả tuyệt đối
không tin thuyết này: kinh Ðại Thừa Niết-Bàn gọi hạng người
đó là Nhất-xiển-đề, nghĩa là dứt thiện căn, bất tín.
Giải quyết vấn đề này trên căn bản tôn giáo thực tế
quả thật rất khó khăn.
Kinh
Ðại Thừa Niết-Bàn được coi là sản vật thuộc thời kỳ
đầu, trước hết theo bản của ngài Pháp-Hiển, tức là bản
dịch 40 quyển của Ðàm-Vô-Sấm, nhưng trong mười quyển đầu,
tuy chủ trương thuyết "Xiển-đề thành Phật", song trên lý
luận thuyết đó chưa được triệt để. Rồi từ đó mà
tiến lên cho đến Sư-Tử-Hống Bồ Tát phẩm thứ 23 thì hoàn
toàn thừa nhận Nhất-xiển-đề thành Phật. "ta thường nói
rằng ngay đến Nhất-xiển-đề cũng có Phật-tính".
Hạng
Nhất-xiển-đề tuy không có thiện pháp, nhưng Phật-tính vẫn
thiện vì sau này họ sẽ có thiện pháp. Nhất-xiển-đề có
Phật-tính. Tại sao vậy? Là vì "Nhất-xiển đề chắc chắn
sẽ thành Vô-thượng-chính-Ðẳng-chính giác". Ðó là lý do
mà kinh Niết-Bàn chủ trương thuyết "Nhất-xiển-đề thành
Phật". Và đó cũng là chủ trương của kinh Pháp-Hoa từ trước
đến nay. Căn cứ vào đó ta thấy kinh Niết-Bàn đã đưa đến
cái kết luận tối hậu cho kinh Pháp-Hoa và sở dĩ các nhà
học Phật Trung Hoa quan niệm như vậy cũng do lẽ đó.
Thuyết
Như-lai-tạng, thuyết Tất Hữa Phật-tính, Thường, Lạc, Ngã,
Tịnh, Phật-thân-thường-trụ, Xiển-đề thành Phật v.v. tuy
không phải tất cả đều do kinh Niết-Bàn chủ trương, nhưng
vì Niết-Bàn là một bộ kinh lớn, địa vị của nó rất
quan trọng và được tôn sùng, cho nên về mọi phương diện
tất cả những luận thuyết và tư tưởng nói trên đều chịu
rất nhiều ảnh hưởng của nó. Kinh Ðại-phương-vô-tưởng
(một tên nữa là kinh Ðại Vân do Ðàm-vô-sấm dịch) v.v.
đều là những bộ kinh kế thừa tư tưởng đó. Lại như
kinh Vô-thượng-y đã nói ở trên, vì chổ nhận xét có hơi
khác cho nên cũng được coi là cùng thuộc trào lưu này. Riêng
chỉ có kinh Ðại Pháp Cổ (Cầu Na Bạt Ðà dịch 435-468 T.L)
đã lấy tư tưởng của kinh Niết-Bàn làm bối cảnh chủ
yếu cho nên đã chiếm một địa vị rất quan trọng trong
tư tưởng giới Phật giáo Ấn Ðộ thời bấy giờ. Khi những
kinh điển này được truyền sang Trung Quốc, về tất cả
mọi phương diện, đều có liên quan rất mật thiết với
nhau cho nên cuối cùng đã thành lập riêng một phái gọi là
Niết-Bàn tôn.
Bản
dịch đầu tiên của bộ kinh này là bản dịch vào thời Ðông
Tấn (418 T.L), do ngài Pháp Hiển và Giác Hiển cùng dịch dưới
cái tên Ðại Ban Mê Bàn kinh, gồm có sáu quyển. Bản dịch
này tương đương với kinh Niết-Bàn quyển thứ mười. Bản
dịch thứ hai là bản dịch của Ðàm Vô Sấm tại Bắc Kinh
(421 T.L) dưới tiêu đề: Ðại Ban Niết Bàn kinh gồm 40 quyển.
Bản dịch này chính là tổng thể của bộ Ðại Thừa Niết
Bàn vậy. Ngoài ra sau này còn có một bản dịch nữa chia làm
hai quyển gọi là Ðại Ban Niết Bàn kinh, do ngài Nhược Na
Bạt Ðà La và Hội Ninh đời nhà Ðường cùng dịch hai quyển
này cộng thêm với 40 quyển trước để làm thành một bộ
Ðại Thừa Niết bàn được coi là rất đầy đủ. Tất cả
40 quyển này, từ bản dịch của ngài Pháp Hiển đem chia ra
thành chương, tiết cho việc khảo tra gọi là Nam Bản.
KINH
GIẢI THÂM MẬT
Những
tư tưởng Như-lai-tạng (Phật-tính, Pháp-thân) đã đề cập
ở trên đều là thích ứng với cái gọi là nhu cầu hướng
thượng, nhưng cũng chính do đó mà một vấn đề khác được
nêu lên: giữa lập trường tư tưởng đó với thế giới
tạp nhiễm nên phải thuyết minh như thế nào? Nhận xét theo
tư tưởng Ðại Thừa đến thời đại Long thụ như: Bát Nhã,
Hoa Nghiêm, Duy Ma thì hết thảy mọi vật trong ba cõi đều
do Tâm biến hiện. Nhưng cái Tâm đó hoạt động như thế
nào để biểu hiện thành cái thế giới sai vạn biệt này?
Vấn đề đó Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Duy Ma thuyết minh một cách
rất đơn giản: sở sĩ có cái thế giới giả dối này là
do cái tâm vô minh vọng tưởng, còn nếu cái tâm trong sạch,
vắng lặng thì cái thế giới Tịnh-độ cũng sẽ hiển hiện.
Ðó là luận thuyết đã nói ở trên. Song đối với vô minh,
thì trong cái vô minh trụ địa thừa nhận vô ý thức là căn
bản của vô minh (Tâm bất tương ứng) đồng thời đối với
tịnh thức thì thừa nhận Phật-tính và Như-lai-tạng. Vậy
thì sự quan hệ giữa vô minh và tịnh thức thì như thế nào?
Hai nguyên tố đó phôi hợp như thế để chuyển hiện thành
thế giới? Ðó là vấn đề không thể không nêu ra, và căn
cứ vào những nhu cầu thực tiễn ở trên, không thể không
tiến tiến sự khảo sát về bản thể luận. Do đó, đến
đây tư tưởng Ðại Thừa Phật Giáo, trên phương diện học
vấn, đã chuyển biến để thành lập nên cái gọi là Duy-Thức-Phật-Giáo.
Ðứng
về phương diện học vấn mà khảo cứu thì Duy-Thức-Phật-Giáo
tuy đã được thành lập bởi những nổ lực của Vô-trước,
Thế-thân và 10 vị đại-luận-sư khác, nhưng nếu căn cứ
vào những kinh điển đã hình thành từ trước thì Duy-Thức-Phật-Giáo
thực đã manh nha từ kinh Giải-Thâm-Mật và Nhập-Lăng-Già.
Tựu trung kinh Giải-Thâm-Mật là kinh điển cơ bản của Pháp-Tướng-Tôn
sau này, và đối với Du Già Phật Giáo, tức là Phật Giáo-hệ
Vô-trước-Thế-thân, chiếm một địa vị rất trọng yếu.
Những
bản dịch của kinh này tại Trung Quốc thì có: Thâm-Mật-Giải-Thoát-kinh
gồm 5 quyển do ngài Huyền-Trang dịch (645). Ðó là những bản
dịch được coi là hoàn bị nhất. Ngoài ra còn có những bản
dịch khác của Cầu-Na-Bạt-Ðà-La và Chân-Ðế v.v.
Ðặc
chất tư tưởng của kinh Giải-Thâm-Mật tuy có nhiều nhưng
ta hãy nói đến cái đặc chất chủ yếu hơn cả là:
1)
Ngoài thức thứ sáu, lập thêm một thức nửa gọi là A-lại-gia-thức
( Alayavjna-tạng-thức) hay A-Ðà-Na-Thức ( Adanavijnana-chấp-trì-thức)
và được gọi là thức thứ bảy. Ở thời kỷ Long thụ,
thức thứ bảy được ví như lông rùa sừng thỏ, sau này
trong thức thứ sáu thừa nhận có Như-lai-tạng. Rồi đến
khi muốn biến cải nó để tạo thành nguyên lý hiện thực,
cho nên kinh Giải Thâm Mật mới lập nên thức thứ bảy mà
lúc đầu gọi chung là A-lại-gia hay A-đà-na ( nhưng đến sau
này A-lại-gia được coi là thức thứ tám và A-đà-na được
coi là tức thứ bảy, song Giải Thâm Mật vẫn chưa có sự
phân biệt như thế).
Ðến
đây ngoài Như-lai-tạng hay Phật-tính ra, vì sự phát triển
của các học phái Tiểu Thừa, còn có những quan niệm như:
"không phải ngã uẩn, cũng không lìa ngã uẩn" và "hữu phân
thức", "ý thức vi tế", "cùng sinh tử uẩn" v.v. cũng có rất
nhiều ảnh hưởng . Nhưng tính chất của A-lại-thức hoặc
A-đà-na-thức như thế nào? Kinh này nói: "Thức A-đà-na vô
cùng nhỏ nhiệm, tất cả những chủng tử như dòng chảy
cuồn cuồn không ngừng, đối với người ngu si ta không giảng
giải vì sợ họ khó phân biệt rồi chấp nó làm cái tử".
Còn về danh từ thì kinh này giải thích: " Thức này cũng gọi
là A-đà-na-thức, bởi vì nó có công năng chất chứa, giấu
diếm mọi chủng tử. Nó cũng còn được gọi là tâm, bởi
vì nó tích tụ và tu dưỡng năm yếu tố: sắc, thanh, hương,
vị và xúc". Nói một cách đơn giản thì bản tính hay nguyên
lý của tâm tức A-lại-gia-thức, như dòng nước chảy, nó
là nguyên nhân của tất cả mọi sự tạo tác, là nguyên lý
bảo thủ tất cả mọi kinh nghiệm là chủ thể của sự luân
hồi và cũng là chủ thể của sự giác ngộ. Song, nhận xét
theo kinh này thì bản tính của nó vốn thanh tịnh như Như-lai-tạng,
hay như Hộ-Pháp sau này đã nói là bất tịnh? Về vấn đề
này vẫn chưa có sự biện minh nào là rõ ràng cả. Như ở
trên tuy đã căn cứ vào tư tưởng vô minh và tư tưởng như-lai-tạng
làm căn bản để giải thích nhưng dù sao thì cũng đã thiên
trọng về phương diện vô minh nhiều hơn, nếu đứng trên
lập trường lý tưởng mà nói thì tuy rằng nó được coi
như một nhu yếu thanh tịnh, song đứng trên lập trường hiện
thực mà nói thì nó có thể được coi là bất tịnh. Vì theo
giáo lý Phật Giáo phải như thế mới hợp lý. Vấn đề này
tuy có phân hóa nhiều thứ, nhưng trong kinh Giải Thâm Mật
vẫn chưa có một quyết định nào minh bạch cả.
2)
Ðể thích ứng và xác lập thuyết A-lại-gia-thức nên có
thuyết tam tướng tam vô minh. Tam tướng là: Biến kế sở
chấp tướng (Parihalpi-talahsana), Y tha khởi tướng (Pratantra)
và Viên thành thực tướng (Parinispana-1). Biến kế sở chấp
tướng là nhập thức sai lầm; Y tha khởi tướng nghĩa là
nhờ vào một sự vật khác mà phát sinh, bao hàm từ thường
thức đến khoa học trong thế giới hiện tượng; Viên thành
thực tướng thực nghĩa là tất cả sự vật đều có bản
thể chân thật và bình đẳng. Tuy kinh này chia bản thể đó
thành: lưu chuyển chân như, tướng chân như, liễu biệt chân
như (thức tính), an lập chân như (khổ đế), tà hạnh chân
như (đạo đế), nhưng tóm lại đều lấy tính bình đẳng
làm chân tướng đặc biệt của nó. Cũng như từ trước tới
nay thường phân chia thế giới này thành hai loại hư vọng
và chân thực (không tính) bây giờ kinh này lại chia thành
ba loại và đó là điểm đặc thù của Tam-Tướng-Quan. Song
ba tướng trên nếu lại đem quy về đại thể thì tất cả
đều không ngoài cái tâm: biến kế sở chấp dực vào cái
danh hoặc tướng, đó là biểu hiện của tâm chứ thật ra
nó không có đặc tính tồn tại (tướng vô tự tính); Y tha
khởi là phải nhờ nhân duyên mới sinh ra các pháp, mà nhân
duyên thì đều do tâm, cho nên tự nó cũng không có đặc tính
riêng biệt (sinh vô tự tính); viên thành thực là nhờ cái
tâm thanh tịnh mới có, như vậy ngoài tâm ra nó cũng không
có tự tính (thắng nghĩa vô tự tính) bởi thế nên mới có
danh từ Tam Tướng Tam Vô Tính và cũng do đó mà Duy Thức Tông
quy về cái KHÔNG, điều này rất rõ ràng.
3)
Kinh này nói: "Lúc đầu, vì hàng Thanh Văn nói pháp Tứ Ðế",
nghĩa là kinh điển Tiểu Thừa, nói cho những người chưa
hiểu nghĩa nghe; sau đó vì các hàng Bồ Tát nói các pháp cao
siêu như: vô tự tính, vô sinh diệt, bản lai thanh tịnh, tự
tính niết bàn, nhưng vẫn chưa nói đến chổ triệt để;
nay theo lập trường kinh Giải Thâm Mật căn cứ vào thuyết
Tam Tướng Tam Vô Tính, và các hàng Tam Thừa mà nói hết thảy
các pháp đều không có tự tính, tuyệt đối yên tịnh và
đó mới là đã nói đến chổ cùng cực.
Kinh
này được kết tập sau cùng so với các kinh Ðại Thừa kể
trên mà lại đưa ra một thuyết mới về A-lại-gia-thức thì
không những đã khác hẳn kinh Pháp Hoa theo lập trường Tam
Thừa khai hội, mà trái lại, đứng trên lập trường "Tam
Thừa các biệt" về điểm này cần phải được phê phán
và giải thích. Mà lập tường Tam Thừa các biệt sau này lại
đã trở thành cái gọi là Ngũ-tính các biệt, đó là điểm
hết sức phải chú ý. Theo kinh này thì thuyết "Chỉ có pháp
Nhất Thừa" trong kinh Pháp Hoa ám chỉ nghĩa" Tam Thừa cùng
chung một đạo thanh tịnh", như thế không có nghĩa là kinh
Pháp Hoa phủ nhận những tính chất sai khác (Thượng, Trung,
Hạ) của Tam Thừa. Nghĩa là về phương diện tính chất vẫn
phải có Thanh Văn, Duyên Giác và Phật, mà người đã quyết
định ở vào tính chất hạ biệt thì dù có dùng phương tiện
nào đi nữa cũng không thể làm cho họ chuyển hướng đến
Phật Thừa được. Và như đã nói ở trên, kinh này chuyên
đứng trên lập trường hiện thực để thuyết minh tiêu đích
lý tưởng, cho nên giáo hội hiện thực không thể chú trọng
đến địa vị của Thanh Văn, đó cũng là kết luận tự nhiên.
Tóm
lại, theo một ý nghĩa nào đó thì kinh này cũng có thể được
coi như là những luận thuyết khác, tuy có đề cập đến
nhiều vấn đề, nhưng chỉ có phần thứ ba và phần thứ
tư như đã thuật ở trên là những đặc chất tư tưởng
lớn lao nhất của kinh này, và lý do tồn tại của nó cũng
ở đó.
Lại
nữa, trong những kinh điển hiện nay còn lại, bộ kinh Giải
Thâm Mật này tuy là bộ kinh đại biểu cho tư tưởng A-lại-gia-thức
trước thời đại Thế Thân, nhưng đứng về phương diện
văn họ , ngoài kinh Giải Thâm Mật ra, còn có nhiều kinh khác
nói về A-lại-gia-thức. mà bộ nổi tiếng nhất trong số
này là kinh Ðại Thừa A Tỳ Ðạt Ma hay A tỳ Ðạt Ma Ðại
Thừa. Nhiếp Ðại Thừa Luận của Vô Trước chính là sự
giải thích phẩm Nhiếp Ðại Thừa trong Ðại Thừa A Tỳ Ðạt
Ma-Tập luận (chẳng hạn như quyển thứ 7, quyển thứ 9, thứ
28), Nhiếp Ðại Thừa luận (Huyền Trang dịch quyển đầu,
quyển 9, quyển 3, quyển 32, quyển 36) và thành Duy Thức luận
v.v. tất cả đều đã trích dẫn rất nhiều từ kinh Ðại
Thừa A Tỳ Ðạt Ma, mà địa vị của kinh này cũng gần tương
đương vơi kinh Giải Thâm Mật. Rất tiếc rằng trong những
bản dịch chữ Hán lưu truyền đến nay không được toàn
bộ, nhưng nhờ những sự trích dẫn từ các kinh luận khác
ta có thể thu thập lại để nghiên cứu.
KINH
NHẬP LĂNG GIÀ
Kinh
Giải Thâm Mật tuy nhận trào lưu Như-lai-tạng mà phát sinh,
nhưng hơi nghiêng về phương hướng khác. Giờ muốn dựa vào
đó để mở ra một chân trời mới, lại lợi dụng kinh Giải
Thâm Mật để trở về tư tưởng Như-lai-tạng, đồng thời
quyết định tiêu chuẩn lý tưởng rồi sau mới thuyết minh
hiện thực: đó là lập trường của kinh Nhập Lăng Già. Kinh
này vẫn còn lưu truyền bản văn tiếng Phạn, còn cái bản
dịch chữ Hán thì có: bản dịch đời Tống (Lăng Già A Bạt
Ða La Bảo kinh, gồm 4 quyển do Cầu Na Bạt Ða La dịch vào
khoảng năm 443); bản dịch đời Ngụy (Nhập Lăng Già Kinh,
gồm 10 quyển, do Bồ Ðề Lưu Chi dịch khoảng năm 553); bản
dịch đời Ðường (Ðại Thừa Nhập Lăng Già kinh, gồm 7
quyển, do Thực Xoa Nan Ðà dịch khoảng năm 700). ba bản dịch
này, đứng trên phương diện nghiên cứu, là những tài liệu
rất đầy đủ. Nhưng nội dung rất phức tạp, nếu muốn
đứng về phương diện tập quán mà nhận xét ý nghĩa của
nó là một vấn đề vô cùng khó khăn. Song nếu nhận xét
chổ căn bản tư tưởng của kinh này, thì ta sẽ thấy quan
niệm chủ yếu của nó đều xoay quanh những vấn đề sau
đây: Ngũ-pháp, Tam-tính, Bát-thức, Nhị-vô-ngã. Toàn bộ kinh
này chỉ loay hoay thuyết minh những vấn đề đó.
Thí
dụ, quyển thứ tư trong Lăng-già-a-bạt-đa-la-bảo-kinh nói:
"Tất cả Phật-pháp đều nằm trong năm pháp, bản tự tính,
tam thức và hai vô ngã. "Năm pháp, ba tự-tính, bát thức và
hai vô ngã bao trùm cả Phật pháp".
Năm
pháp là: Danh (nama), Tướng (nimitta), Phân-biệt (samkalpa), Chính-trí
(samyagjnana), Như-như (tathata-chân như). Trong Du-già-sư-địa-luận,
Hiển Dương-thánh-giáo luận và Phật-tính luận v.v. đều
có nói đến năm pháp đó.
Danh
là cái tên để chỉ sự vật; tướng là chỉ cho sự tưởng
tượng do cái danh mà có; phân biệt là sự phán đoán giữa
danh và tướng ba cái đó thuộc về bộ phận Biết-kế-chấp
và Y-tha-khởi. Chính-trí là cái trí sáng suốt, thấy rõ rằng
danh và tướng đều không có thực thể, còn Như-như là cái
Chân Như bình đẳng làm đối tượng cho trí tuệ. Năm pháp
đó là phần chủ quan và khách quan của cả hai cảnh giới
mê và ngộ. Còn Tam-tính như trên đã nói là Biến-kế-chấp.
Y-tha-khởi và Viên-thành-thực. Nhưng trong kinh Giải-thâm-mật
cũng đã nói về Tam-tính một cách rất tường tận, nhất
là về tính Y-kha-khởi tương đương với thuyết "Chủng tử
hiện hành, hiện hành huân chủng tử" tuy có chổ tiến triển
về tư tưởng rất rõ rệt, nhưng tóm lại cũng không ngoài
việc đứng trên lập trường Ngũ-pháp so với Tam-tính để
thuyết minh danh, tướng, phân biệt tương đương với biến-kế,
Y-tha; Chính-trí, Như-như tương đương với Viên thành thực.
Còn trong tám thức thì lấy thức A-lại-gia trong kinh Giải-thâm-mật
làm thức thứ tám thêm một thức thứ bảy là Mạt-na-thức
(Manas), như thế là ngoài sáu thức phổ thông ra còn có thêm
hai thức thứ bảy và thứ tám. Như vậy, so với kinh Giải-thâm-mật,
kinh này đã tiến bộ thêm một bước nữa.
Song
nói đúng ra, luận Bát-thức trong kinh này còn có nhiều chổ
khúc mắc, do đó cũng có nhiều điểm khiến cho người ta
khó lòng nhận định được những ý nghĩa xác đáng. Nếu
nói một cách đại thể thì kinh này trước hết muốn chia
tám thức ra làm hai hay ba loại (bản dịch đời Tống, 4 quyển
lăng già chia làm ba loại, còn nguyên bản tiếng Phạn và hai
bản dịch đời Ngụy, đời Ðường thì chia làm hai loại).
Ba loại là: Chân-thức (Jiativjnana), Hiện-thức (Khyativijnana),
Phân-biệt-thức (Vastuprakal pavijnana). hai loại là: Hiện-thức,
Phân-biệt-thức. Khi chia làm ba thì do chân thức mà thấy được
cái bản thái của A-lại-gia-thức, rồi do hiện thức mà chỉ
rõ trạng thái hoạt động của A-lại-gia-thức, còn phân-biệt-thức
là chỉ vào bảy thức trước. Khi chia làm hai loại thì trong
hiện thức bao hàm cả trạng thái căn bản và trạng thái
của thức A-lại-gia. Nhưng kinh này coi sự quan hệ giữa thức
thứ tám và bảy thức trên như thế nào? Về điểm này, theo
kinh Lăng Già thì sở dĩ có hiện-thức (thức thứ tám) là
vì sự huân tập và chuyển biến vô cùng màu nhiệm mà có
(Acintyavasanaparinamahetukam), chân thức (thức chân-như) là do
vô minh huân tập rồi tiếp tục hoạt động chuyển biến
mà có, phân biệt thức là do sự phân biệt cảnh giới (visayavikal-pahetukam),
hơn nữa cũng do sự huân tập vọng động từ kiếp vô thủy
(anadikalaprapaneavasana), nghĩa là như danh tướng v.v. đã nói
ở trên làm đối tượng cho nó, rồi lại lấy tập khí của
danh, tướng làm tài liệu để tiếp tục sự hoạt động
luân chuyển và cái tác dụng giữa hai thức đó cũng có sự
quan hệ mật thiết, chẳng hạn muốn tìm nguồn gốc của
bảy thức trước thì chỉ cần nhận xét sự chuyển biến
của thức thứ tám, đồng thời thức thứ tám trở thành
hiện thức mà hoạt động cũng là do bảy thức trước cung
cấp tài liệu. Cho nên, ta có thể nói sự quan hệ giữa hai
thức đó không phải một mà cũng không phải khác nhau. Như
vậy, bất luận là chủ quan hay khách quan, nếu nói một cách
tổng quát thì thức thứ tám phải nhờ vào sự phân biệt
của bảy thức trước mới có sự hoạt động, chứ chính
nó thì không có tự tính. Tóm lại, hết thảy không ngoài
những đợt sóng trùng điệp giữa cái biển ý-thức; đó
là Duy-thức-quan của kinh Nhập-Lăng-Già.
Ðối
với cái công phu và căn cứ để lóng lặng những đợt sóng
trong biển ý-thức mà an trụ trong chân-như thì kinh này chia
các thức ra làm ba tướng: chân-tướng (Jatiaksanna), nghiệp-chướng
(jarmalaksana) và chuyển-tướng (pravitilaksana). Chân tướng là
bản thể của thức, nghiệp-tướng là nghiệp lực huân tập
của bản thể đó, còn chuyển-tướng là trạng thái hoạt
động của thức. Ba trạng thái đó theo kinh này, thì bất
luận một trong tám thức đều có những cái bản thể chân
thật là chân tướng của thức thứ tám. Nhờ công phu tu luyện,
đặt biệt là nhờ vào quan niệm và sự thể hiện lẽ nhân
pháp đều là không, cuối cùng nghiệp tướng và chuyển tướng
có thể bị tiêu diệt . Trong lúc cái nghiệp tướng và chuyển
tướng này tiêu diệt thì những lớp sóng trong biển ý thức
đều ngừng hoạt động. Và cái đương thể đó được gọi
là Như-lai-tạng, Chân-như, Niết-bàn, Pháp-thân, cũng có khi
gọi là không, là vô cấu thức (cũng có khi gọi là thức
thứ chín), và lúc ấy thật mới có thể nói được là cái
bản thể không sinh, không diệt, thanh tịnh tuyệt đối. Nhưng
lập trường của kinh này là ở quyển thứ nhất trong kinh
Lăng Già A Bạt Ða La Bảo kinh, quyển thứ hai trong Nhập Lăng
Già kinh và quyển thứ nhất trong Ðại Thừa Nhập Lăng Già
kinh. Như vậy kinh này đã điều hòa giữa tư tưởng Như-lai-tạng
và tư tưởng A-lại-gia-thức thừa nhận hai mặt tịnh và
bất tịnh của thức A-lại-gia. Từ phương diện bất tịnh
phát khởi hiện tượng giới phân biệt, từ phương diện
tịnh mà xác tập Pháp-thân, Niết bàn, Chân như của bình
đẳng giới, không phân biệt, thật có điểm gần giống như
tư tưởng "Nhất tâm nhị môn" trong Khởi Tính luận. Song đứng
về phương diện hữu thể mà nói, kinh này tuy lập ra thức
thứ bảy, nhưng nhiệm vụ của nó còn có rất nhiều chổ
lờ mờ, tuy thừ nhận hai phương diện của thức A-lại-gia,
nhưng chổ quan hệ đó vẫn có nhiều chổ chưa được sáng
tỏ và ở nhiều điểm khác nhau còn thiếu tính cách triệt
để. Ðối với lập trường của kinh này, từ xưa đến nay
đã có nhiều cách giải thích khác nhau và điều đó không
phải không có lý do.
Tóm
lại, một mặt kinh này lấy tư tưởng "không quán" của Bát
Nhã làm bối cảnh, mặt khác tiếp nhận cả tư tưởng Duy
thức hệ của kinh Giải Thâm Mật mà chủ trương tư tưởng
Như-lai-tạng, và mặc dù ở nhiều điểm nghĩa lý không được
thông suốt nhưng đồng thời với kinh Ðại Thừa Mật Nghiêm
(Ðịa Bà Ha La dịch vào đời nhà Ðường), theo một ý nghĩa
nào đó đã có thể đạt đến chổ cực ý của triết học
Ðại Thừa. Ðiều này không một ai có thể phủ nhận.
TIẾT
THỨ TƯ :
NHỮNG
KINH ÐIỂN KỂ TRÊN VỚI TIỂU THỪA PHẬT GIÁO.
Trở
lên, chúng tôi đã trình bày một cách khái quát lập trường
chủ yếu của những kinh điển thuộc Như-lai-tạng-hệ. Dưới
đây để có được một nhận xét rõ ràng hơn, chúng tôi
lại xin đưa ra những điểm cộng thông với các kinh điển
đó.
Trước
hết, ta hãy nhận xét theo phương diện lịch sử: dù là Như-lai-tạng-quan
hay A-lại-gia-thức-quan đều đã được thành lập sau Long
thụ, nhưng ta cũng có thể thấy những tư tưởng ấy đã
manh nha ngay từ các kinh Tiểu Thừa, Tựu trung, Như-lai-tạng-quan
chủ yếu đã phát xuất từ thuyết "Tâm-tính-bản-tịnh" của
Ðại-chúng-bộ; A-lại-gia-thức-quan có rất nhiều điểm chịu
ảnh hưởng của thuyết "Sinh-cơ-sinh-mệnh" của Thượng-tọa-bộ-hệ;
thêm vào đó từ thời Long Thụ, giữa lúc phái Số-Luận và
Phệ-Ðàn-Ða dần dần nắm được thế lực, thì không nhiều
thì ít, tư tưởng cũng có ảnh hưởng quan hệ điều đó
không thể phủ nhận được. Nhưng nhận xét theo lập trường
Ðại Thừa thì hai tư tưởng này đều là nhân trào lưu Ðại
Thừa mà đặc biệt phát huy nguyên-lý-diệu-hữu trong "chân-không-diệu-hữu-quan"
đã được thành lập trước thời Long Thụ để quyết định
một trình độ nhận thức thỏa đáng đối với hiện tượng
và thành lập "Không-quan" để làm cơ sở phát huy, đó là
một sự thật không thể hoài nghi được.
Thứ
đến, nhận xét theo lập trường lý luận thì sở dĩ tư tưởng
Như-lai-tạng được thành lập là vì muốn thuyết minh cái
khả năng tính căn bản (bản giác) thành Phật, và đặc biệt
đem hình nhi thượng hóa tất cả nhu cầu của sinh mệnh, cái
đó được gọi là "bản giác bản vị". Còn tư tưởng A-lại-gia-thức
chủ yếu thuyết minh cái xu hướng trở về cảnh "ngộ" cái
đó được gọi là "thuỷ giác bản thể". Vậy hai tư tưởng
trên có quan hệ với nhau như thế nào? Ðiều này phải lấy
kinh Lăng Già và kinh Mật Nghiêm làm trung tâm điểm của những
cố gắng của các bậc luận sư từ Thế-Thân trở xuống
để trả lời.
Thứ
ba, nhận xét theo Phật-đà luận thì Pháp-thân-quan, Báo-thân-quan
và Ứng-thân-quan tuy cũng đã được đề cập đến trong nhữnh
kinh điển Ðại Thừa trước thời Long thụ nhưng về Pháp-thân-quan
vẫn chưa được thuyết minh một cách rõ ràng. Từ như-lai-tạng-thường-trụ-quan
để rồi biến thành Tam-thân-quan (có khi nói là Tứ-thân-quan),
thì ít nhất những tài liệu của những tư tưởng đó như
đã nói trong các kinh điển kể trên cũng đã dần dần khai
triển lắm rồi, và đó cũng chính là đặc chất giáo lý
đã phát đạt sau thời Long Thụ.
Như
vậy là những kinh điển kể trên, đối với lập trường
căn bản của Phật Giáo đã xây thêm nền tảng của một
quan niệm mới. Nhưng đứng trên phương diện thực tiễn mà
nhìn nhận thì cơ sở mới đó đã được khai thác như thế
nào? Thật ra về điểm này chưa đề ra được nhiều nhận
xét mới. Về những mục tu hành có phần tinh tế, ngoài sáu
pháp Ba-la-mật ra, đặc biệt còn thêm: phương tiện, nguyện
lực và trí, để tạo thành mười pháp Ba-la-mật. Tóm lại,
tuy có thêm những phần tỉ mỉ ấy nhưng đối với vấn đề
xã hội, cá nhân, vẫn chưa thấy dấu hiệu mới được đề
ra để giải quyết những vấn đề đó.
Duy
đối với vấn đề Giáo Hội, thì Tam Thừa (Thanh Văn, Duyên-Giác,
Bồ-Tát) hay Ngũ Thừa (Thanh Văn, Duyên-Giác, Bồ-Tát, Bất-Ðịnh,
Nhất-Xiển-Ðề) về phương diện khả năng tính căn bản
có chổ khác nhau hay cuối cùng có con đường dung thông lẫn
nhau? Tuy vấn đề này đã được nói đến trong kinh Pháp Hoa
với tư tưởng Tam Thừa Khai Hội hoặc trong kinh Hoa Nghiêm
với tư tưởng Biệt Giáo nhất thừa v.v. nếu nghiên cứu
một cách tỉ mỉ, lấy xã hội thực tiễn làm mục tiêu,
thì theo một ý nghĩa nào đó, vấn đề này có thể được
coi là một vấn đề mới. Lại nữa, trong số những kinh điển
kể trên, tuy không phải tất cả, nhưng vài ba bộ như kinh
Niết Bàn, kinh Thắng Mạn, kinh Lăng Già v.v. đặc biệt lập
nên phẩm đoạn mục đề xướng ra thuyết ăn chay, chưa hẳn
là theo cái kết luận tất nhiên của thuyết Như-lai-tạng,
mà trái lại đã chịu ảnh hưởng của xã hội Bà-la-môn
thời bấy giờ. Tuy nhiên, trong các kinh điển thuộc Như-lai-tạng
ấy, đặc biệt thấy chủ trương thuyết "thực tịnh nhục"
của Giáo hội Tiểu Thừa như thế có thể nói đó là một
cuộc tân vận động . Lại nữa, đối với cái trạng thái
lý tưởng tối cao của sự tu hành thì những kinh điển kể
trên tuy cũng nhận "Vô dư niết bàn" là trạng thái cao nhất
nhưng vì quan niệm Thường Lạc Ngã Tịnh, được nảy sinh
đồng thời Niết Bàn được giải thích một cách tích cực
nên kết quả là quan niệm về Ứng-thân đã được phát đạt,
vĩnh viễn không bao giờ nhập diệt, vì muốn tế độ hết
thảy chúng sinh nên lúc nào cũng ở trong trạng thái hoạt
động và trạng thái được gọi là "Vô trụ niết bàn". tư
tưởng này đã manh nha ngay từ thời kỷ đầu trong các kinh
điển Ðại Thừa, cho nên ta có thể nói đó là một đặc
chất phát triển trong các kinh điển kể trên.
Sau
hết, các kinh điển kể trên đã được thành lập tại địa
phương nào? Về điểm này, bất luận là kinh Ðại Thừa Niết
Bàn hay kinh Ðại Pháp Cổ, kinh Vô Tưởng, đều nói rằng
những kinh điển đó đã được lưu hành ở phương Nam, nhất
là đến kinh Lăng Già thì lấy bờ biển Nam Hải làm địa
điểm thuyết pháp. Căn cứ và nhận xét theo điều đó người
ta thấy rằng những kinh điển nói trên và kinh Bát Nhã đều
có thể đã được thành lập ở Nam Ấn Ðộ. Song, lúc đầu
những tư tưởng có thể đã bị ảnh hưởng rất nhiều của
Ðại Thừa Hệ Phương Nam, đó có thể cũng là một sự thật.
Nhưng nếu căn cứ vào những chứng tích mà nhận xét một
cách tỉ mỉ thì trái lại các kinh điển kể trên đã được
thành lập ở Trung Ấn hoặc Bắc Ấn, đều này có vẻ xác
đáng hơn. Trong kinh Niết Bàn nói rằng, kinh này từ pương
Nam tiến về nước Kế Tân rồi được lưu hành tại đó;
còn đối với kinh Lăng Già nếu lấy phương Nam làm địa
lý để khảo sát thì thật không chính xác; kinh Thắng Mạn
lấy A Du Xà (Ayodhya) thuộc Trung Ấn làm trung tâm để phát
động phong trào Ðại Thừa. Kiểm điểm lại những sự thật
đó rồi đem đặt trung tâm điểm vào miền Trung Ấn, theo
tôi đó là điểm xác đáng hơn cả. Duy có điều ta nên nhớ
là những kinh điển này đã được sản sinh bởi nến văn
hóa dưới triều vua Cấp Ða (khỏang từ thế kỷ thứ tư
đến thế kỷ thứ sau Tây lịch) và cũng do đó mà A Du Xà
được nhận làm trung tâm. Ðến cuối thế kỷ thứ tư, Chiên
Ðà Cấp Ða (Chandragupta) Ðệ nhị rời kinh đô về A Du Xà,
thì A Du Xà nghiễm nhiên đã trở thành trung tâm văn hóa chính
trị vậy.